1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiệu quả trám bít ống tủy chân răng của bioroot rcs nghiên cứu in vitro

36 199 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xi măng trám bít ống tủy được sử dụng để liên kết với côn gutta-percha hoặc các loại côn đặc khác để tạo nên một khối đồng nhất trong ống tủy chân răng.. Vì vậy, rất nhiều nghiên cứu về

Trang 2

MỞ ĐẦU

Điều trị nội nha thành công liên quan đến tất cả các giai đoạn trong quá trình điều trị bao gồm sửa soạn, tạo hình và làm sạch ống tủy, trám bít ống tủy và cả giai đoạn trám tạm giữa các lần hẹn hay trám kết thúc Trong đó, giai đoạn trám bít ống tủy đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của điều trị nội nha Hệ thống ống tủy phải được bít kín hoàn toàn để ngăn ngừa tái nhiễm khuẩn và vi kẽ bên trong ống tủy Việc bít kín vùng chóp của ống tủy chân răng nhằm ngăn ngừa các vi khuẩn còn sót và các độc tố của chúng từ mô quanh chóp thấm vào chóp răng [40] Hiện nay, rất nhiều vật liệu cũng như phương pháp trám bít ống tủy đã được phát triển nhằm làm tăng chất lượng của việc điều trị nội nha

Xi măng trám bít ống tủy được sử dụng để liên kết với côn gutta-percha hoặc các loại côn đặc khác để tạo nên một khối đồng nhất trong ống tủy chân răng

Có nhiều loại xi măng trám bít ống tủy được phân loại theo thành phần chính của chúng: oxyt kẽm – eugenol, calcium hydroxide Ca(OH)2, nhựa polymer, glass ionomer, và silicon Trong đó, xi măng nội nha AH26 hay AH Plus (có chất căn bản

là nhựa polymer) thường được sử dụng như một vật liệu tham chiếu để so sánh với các loại xi măng mới [4]

Trong những năm gần đây, các loại vật liệu có chất căn bản là tricalcium silicate đã được giới thiệu và sử dụng phổ biến trong chữa răng và che tủy do nó có khả năng bám dính cao, phóng thích ion canxi và hoạt tính sinh học Dựa trên các đặc tính trên, một loại xi măng trám bít ống tủy mới có thành phần chính tricalcium silicate được giới thiệu là BioRootTM RCS (Septodont, Saint-Maur-des-Fosses, France) Loại xi măng này có khả năng phóng thích calcium hydroxide sau khi đông, hình thành pha calcium phosphate khi tiếp xúc với dung dịch sinh lý, ít gây độc trên tế bào dây chằng nha chu và kích thích các yếu tố tăng trưởng tạo máu và tạo xương, do đó BioRootTM RCS có tính tương hợp sinh học cao [11]

Trang 3

Mặc dù đã có nhiều loại vật liệu được giới thiệu trên thị trường nhưng chưa

có một loại vật liệu nào đạt được sự bít kín hoàn toàn hệ thống ống tủy Theo Ingle

và Bakland, nguyên nhân thất bại thường gặp nhất trong điều trị nội nha (60%) là

do xuất hiện vi kẽ, không bít kín hoàn toàn ống tủy chân răng [33] Tình trạng vi kẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kỹ thuật trám bít ống tủy, tính chất vật lý và hóa học của vật liệu trám bít,… [3] Vì vậy, rất nhiều nghiên cứu về vi kẽ đã được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả trám bít ống tủy của các loại vật liệu, đặc biệt là đối với những loại xi măng mới

Vì là vật liệu mới, nên hiện nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam cũng như chưa có nhiều nghiên cứu trên thế giới được thực hiện để đánh giá hiệu quả trám bít ống tủy chân răng của BioRootTM RCS Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng tôi thực hiện đề tài với câu hỏi nghiên cứu:

Có sự khác biệt về mức độ vi kẽ của các răng sau khi được trám bít ống tủy bằng xi măng BioRootTM RCS và AH26 không?

Mục tiêu:

1 So sánh mức độ vi kẽ vùng chóp của các răng được trám bít bằng xi măng BioRootTM RCS và AH26 ở từng thời điểm 2 ngày và 30 ngày sau khi trám bít ống tủy

2 Mô tả giao diện giữa mô răng và xi măng BioRootTM RCS với AH26 bằng kính hiển vi điện tử quét

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Xi măng nội nha

Xi măng nội nha là các chất dùng để gắn kết các vật liệu trám bít ống tủy (côn bạc, côn gutta-percha) vào thành ống tủy Trước khi đông cứng, xi măng nội nha có thể làm trơn, chảy vào và trám bít các ống tủy phụ, nhánh bên và các lỗ chóp phụ trong các phương pháp lèn [4]

1.1.1 Xi măng nội nha với chất căn bản là oxyt kẽm – eugenol:

1.1.2 Xi măng nội nha với chất căn bản là nhựa polymer

Đây là loại xi măng nội nha cao phân tử, có tính ổn định và có khả năng dán dính vào thành ống tủy, được trình bày dưới dạng bột và chất lỏng hoặc 2 ống bột nhão Gồm các loại nhựa epoxy (Diglycidyl ether bisphenol – A) và các amin cùng chất phụ trợ [4]

Nổi tiếng nhất trong nhóm xi măng này là loạt sản phẩm AH Mẫu đầu tiên được phát triển hơn 50 năm trước bởi Andre Schroeder tại Thụy Sĩ, sử dụng nhựa big-phenol và sử dụng methamine để trùng hợp Vì methamine (còn được biết như

là urotropin) phóng thích formaldehyde trong quá trình phản ứng, sau này các chất thay thế được tìm thấy là là các amin có tác dụng trùng hợp mà không thành lập formaldehyde

Các nhãn hiệu thương mại: AH26, AH Plus (Dentsply Maillerfer, Swizerland), Endorez (Ultradent), Acrosel (Septodont), Topseal (Maillerfer, Swizerland)

Trang 5

AH26 lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1957, là loại nhựa epoxy có độ hòa tan thấp, có tính chảy và dính vào ngà, có thời gian làm việc 4,5 giờ và thời gian đông đặc 12 – 48 giờ

Bảng 1.1 Thành phần của xi măng AH26

1.1.3 Xi măng nội nha với chất căn bản là calcium hydroxide

1.1.4 Xi măng nội nha với chất căn bản là glass ionomer

1.1.5 Xi măng nội nha với chất căn bản là silico

1.1.6 Xi măng nội nha với chất căn bản là calcium silicate

Vật liệu có thành phần chính là calcium silicate điển hình là MTA Đây là hỗn hợp của xi măng Porland và bismuth, có thành phần bột bao gồm dicalcium silicate, tricalcium silicate, tricalcium aluminate và nước để trộn là nước cất MTA

đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực chữa răng nội nha như trám bít ống tủy, điều trị thủng sàn, che tủy, trám ngược…do nó có khả năng kích thích tái khoáng hóa và bám dính cao vào mô răng

Năm 2015, một loại xi măng TBOT mới có chất căn bản là tricalcium silicate

đã được giới thiệu BiorootTM

RCS (Septodont, Saint-Maur-des-Fossés, Pháp) chứa tricalcium silicate và zirconium oxide Đây là một vật liệu cải tiến, sử dụng công nghệ silicate hoạt tính sinh học để tạo ra một vật liệu có thành phần calcium silicate nguyên chất mà không chứa thành phần nhựa và monomer nên xi măng không bị co trong quá trình đông, cho phép dán dính chặt vào thành ống tủy chân răng Đồng

Trang 6

thời, loại xi măng này cũng không chứa eugenol, vì thế thích hợp với tất cả các hệ thống dán, không gây nhuộm màu răng và ít nhạy cảm sau điều trị Chất cản quang zirconium oxide có ưu điểm hơn so với bismuth oxide (trong MTA) là không ảnh hưởng đến khả năng hydrate hóa của xi măng, cải thiện tính đồng nhất của hỗn hợp

xi măng, tăng đặc tính cơ học của vật liệu và là một chất tương hợp sinh học tốt Thành phần chất lỏng của BioRootTM RCS chủ yếu là nước, calcium chloride (chất gia tốc) và tác nhân giảm nước Xi măng BioRootTM RCS có thời gian làm việc khoảng 15 phút và thời gian đông đặc ít hơn 4 giờ Ngoài ra, vật liệu này có độ pH cao, có thể lên đến hơn 11, tạo ra môi trường kiềm thuận lợi cho sự lành thương [11]

Bảng 1.2 Thành phần của xi măng BioRoot TM RCS

Tricalcium silicate

Calcium chloride Tác nhân giảm nước Zirconium oxide

Povidone

1.2 Các phương pháp đánh giá vi kẽ vùng chóp răng

1.2.1 Phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm

1.2.2 Phương pháp dịch chuyển chất lỏng

1.2.3 Phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm

1.2.4 Phương pháp thấm nhập vi khuẩn và độc tố sinh ra từ vi khuẩn

1.3 Các nghiên cứu đánh giá vi kẽ vùng chóp răng

Nghiên cứu của Saeedeh Sadr và cs (2015), thực hiện trên 70 răng một chân đánh giá vi kẽ khi trám bít ống tủy bằng kỹ thuật một côn với các loại xi măng nội nha khác nhau: AH26, GIC, ZOE Các răng được chia thành 3 nhóm thử nghiệm (mỗi nhóm 20 răng) và 2 nhóm chứng âm và chứng dương Vi kẽ được đánh giá bằng phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm Kết quả cho thấy AH26 có khả năng

Trang 7

trám bít tốt hơn cả vì số lượng vi kẽ ở nhóm này thấp nhất (p<0,05) Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở nhóm trám bằng GIC và ZOE [47]

Raqueli Viapiana và cs (2013), khảo sát giao diện giữa ngà răng và 5 loại xi măng trám bít ống tủy: xi măng AH Plus, xi măng Portland chứa micro-zirconium oxide, nano-zirconium oxide, micro-niobium oxide, nano-niobium oxide Giao diện giữa ngà răng và các loại xi măng nội nha được đánh giá bằng chất đánh dấu huỳnh quang, đặc tính hóa học của giao diện ngà – xi măng được khảo sát bằng kính hiển

vi điện tử quét Kết quả cho thấy không có sự xâm nhập của chất đánh dấu huỳnh quang vào giao diện giữa ngà răng và các loại xi măng thực nghiệm Các loại xi măng trám bít ống tủy có khả năng xâm nhập vào ống ngà cao hơn ở phần thân và 1/3 giữa chân răng [57]

S Sevimay và A Kalayci (2005), đánh giá khả năng trám bít ống tủy và đáp ứng với ngà răng của hai loại xi măng nội nha dựa trên nền nhựa Nghiên cứu được thực hiện trên 55 răng cửa hàm trên được chia là hai nhóm (mỗi nhóm 25 răng) và 5 răng còn lại lại làm nhóm chứng Các răng được sửa soạn và trám bít với côn gutta-percha và xi măng AH Plus hoặc EndoRez Trong mỗi nhóm thử nghiệm, 20 răng được dùng để đánh giá vi kẽ bằng phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm xanh methylene 2% trong 7 ngày; 5 răng còn lại được quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét Kết quả cho thấy giá trị trung bình của vi kẽ khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm thử nghiệm (p<0,01) Khi quan sát trên kính hiển vi điện tử quét, cả hai loại xi măng đều có đáp ứng với ngà răng ở phía thân và 1/3 giữa chân răng tốt hơn 1/3 chóp Ở 1/3 chóp, AH Plus đáp ứng với ngà tốt hơn EndoRez Tóm lại, xi măng AH Plus có khả năng trám bít ống tủy và đáp ứng với ngà răng tốt hơn EndoRez [50]

Viapiana R và cs (2015), đánh giá khả năng trám bít của xi măng BioRootTMRCS và AH Plus Nghiên cứu thực hiện trên 20 răng cối nhỏ hàm dưới với ba phương pháp: chụp cắt lớp, đánh dấu huỳnh quang và dịch chuyển chất lỏng Kết quả cho thấy mức độ vi kẽ của nhóm răng được trám bít bằng xi măng BioRootTM

Trang 8

RCS và AH26 khác biệt không có ý nghĩa thống kê khi đánh giá bằng phương pháp đánh dấu huỳnh quang và dịch chuyển chất lỏng Khi sử dụng phương pháp chụp cắt lớp, mức độ vi kẽ của nhóm răng trám bít bằng xi măng BioRootTM RCS cao hơn có ý nghĩa so với nhóm răng được trám bít bằng xi măng AH26 Tác giả còn ghi nhận các phương pháp có sự tương quan yếu [58]

Trang 9

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên 50 răng cối nhỏ hàm dưới của người đã nhổ

2.2 Phương tiện nghiên cứu

Vật liệu:

- Xi măng nội nha BioRootTM RCS (Septodont, Saint-Maur-des-Fosses, France): được đóng gói dưới dạng lọ thủy tinh chứa bột (15g) và tép nhựa chứa chất lỏng để trộn riêng (35 tép nhựa, mỗi tép chứa 0,20ml chất lỏng) Số lô sản xuất: B18997; hạn sử dụng: 08/2018

- Xi măng nội nha AH26 (Dentsply DE trey, Germany): được đóng gói dưới dạng lọ thủy tinh chứa bột (8g) và tuýp nhựa chứa chất lỏng để trộn riêng (10g) Số lô sản xuất: 1510000440; hạn sử dụng: 06/2010

- Nước muối sinh lý (Mekophar)

- Dung dịch SBF: là dung dịch giả dịch thể người, có thành phần các ion tương tự như máu trong cơ thể con người Thành phần ion trong dung dịch được thể hiện như sau [37]:

Bảng 2.3 Nồng độ các ion trong dung dịch SBF (mM/l)

Plasma 142.0 5.0 2.5 1.5 103.0 27.0 1.0

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Thử nghiệm in vitro

Mẫu nghiên cứu gồm 50 răng cối nhỏ hàm dưới Các răng được xác định chiều dài làm việc với trâm K số 10 hoặc 15, sau đó tạo hình ống tủy với hệ thống ProTaper Lấy ngẫu nhiên 4 răng làm nhóm chứng âm và dương (mỗi nhóm gồm 2 răng), 46 răng còn lại chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm, mỗi nhóm 23 răng:

Nhóm 1: trám bít với xi măng AH26, chia ngẫu nhiên làm 3 nhóm nhỏ:

- Nhóm 1A (10 răng): đánh giá sự thấm nhập phẩm nhuộm sau 2 ngày

- Nhóm 1B (10 răng): đánh giá sự thấm nhập phẩm nhuộm sau 30 ngày

- Nhóm 1C (3 răng): đánh giá giao diện giữa xi măng và thành ngà răng; xi măng và côn gutta-percha sau 1 tháng ngâm trong dung dịch SBF

Nhóm 2: trám bít với xi măng BioRootTM RCS, chia làm 3 nhóm nhỏ:

- Nhóm 2A (10 răng): đánh giá sự thấm nhập phẩm nhuộm sau 2 ngày

- Nhóm 2B (10 răng): đánh giá sự thấm nhập phẩm nhuộm sau 30 ngày

- Nhóm 2C (3 răng): đánh giá giao diện giữa xi măng và thành ngà răng; xi măng và côn gutta-percha sau 30 ngày ngâm trong dung dịch SBF

Hai nhóm chứng: không trám bít ống tủy

- Nhóm chứng dương: không trám bít ống tủy, trám buồng tủy bằng xi măng trám GIC sau đó sơn cách ly bằng sơn móng tay cách chóp 2mm Nhóm chứng này nhằm chứng minh phẩm nhuộm chỉ có thể xâm nhập vào trong ống tủy qua lỗ chóp chân răng

- Nhóm chứng âm: không trám bít ống tủy, trám buồng tủy bằng xi măng trám GIC sau đó sơn cách ly bằng sơn móng tay toàn bộ răng (phủ kín

Trang 11

chóp răng) Nhóm chứng này nhằm chứng minh khả năng cách ly của sơn móng tay

2.3.2 Các bước thực hiện:

2.3.2.1 Chọn răng và bảo quản răng:

- Chọn răng: 50 răng cối nhỏ hàm dưới có một ống tủy thẳng Chụp phim quanh chóp để xác định răng chưa điều trị tủy và không bị vôi hóa ống tủy

- Bảo quản răng: sau khi nhổ, răng được cạo vôi (nếu có) và lấy sạch mô mềm còn dính trên bề mặt chân răng, chú ý không gây tổn hại bề mặt này, ngâm trong dung dịch nước muối 0,9%, thay dung dịch mỗi 24 giờ, bảo quản ở nhiệt độ phòng, thời gian bảo quản không quá 2 tháng

2.3.2.2 Sửa soạn ống tủy:

- Mở đường vào ống tủy bằng mũi khoan Endo Access và Endo – Z

- Xác định chiều dài làm việc: dùng trâm số 10 hay 15 đưa vào ống tủy cho đến khi nhìn thấy đầu trâm ngay lỗ chóp răng Đo chiều dài trâm và trừ đi 0,5mm (chiều dài làm việc trên lâm sàng)

- Sửa soạn bằng trâm Protaper Universal quay máy với phương pháp bước tới Thiết lập chương trình trên WaveOneTM Endo Motor dùng cho trâm ProTaper Universal:

 Trâm S1: mô men xoắn 3.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm S2: mô men xoắn 1.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F1: mô men xoắn 1.5 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F2: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

Trang 12

 Trâm F3: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F3: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F4: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F5: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút Dùng trâm K số 10 hoặc15 thông suốt ống tủy Sử dụng trâm Protaper S1 đưa vào ống tủy, sửa soạn với động tác quét và làm rộng ống tủy không quá chiều dài trâm K số 15 thăm dò ban đầu (khoảng 2/3 chiều dài ống tủy chân răng), sau đó sửa soạn tới đúng chiều dài làm việc Rút dụng cụ ra khỏi ống tủy và bơm rửa Tương tự, sửa soạn ống tủy tới đúng chiều dài làm việc bằng trâm S2 với động tác quét, trâm F1, F2, F3, F4, F5 với động tác lên xuống thụ động Động tác đưa trâm xuống nhẹ nhàng không áp lực, nếu cảm giác bị chặt thì rút nhẹ trâm lên rồi sau đó mới đưa xuống tiếp Sau mỗi lần thay dụng cụ và khi kết thúc quá trình sửa soạn, thực hiện bơm rửa với NaOCl 3%, lau sạch các rãnh trâm bằng gạc ẩm

Trong quá trình sửa soạn:

+ Dùng Glyde phủ lên trâm làm chất bôi trơn

+ Dùng ống chích bơm rửa 2ml dung dịch NaClO 3% giữa mỗi lần thay trâm và khi kết thúc quá trình sửa soạn ống tủy

Sửa soạn xi măng trám bít:

Trộn xi măng AH26 và BioRootTM RCS theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Trang 13

Kỹ thuật trám bít ống tủy một côn:

- Thử côn gutta – percha ProTaper cỡ F5 đến hết chiều dài làm việc

- Lau khô ống tủy bằng côn giấy, đưa xi măng trám bít vào thành ống tủy bằng K-file 30

- Phủ một lớp xi măng mỏng lên côn và đưa côn đến chiều dài làm việc

- Cắt phần côn gutta – percha dư bằng cây cắt côn hơ nóng

- Trám buồng tủy bằng vật liệu trám GIC

2.3.2.4 Chụp phim kiểm tra và lưu giữ mẫu

Chụp hai phim quanh chóp theo hai hướng ngoài – trong và gần – xa cho tất

cả răng đã được trám bít ống tủy để đánh giá ống tủy được trám kín theo ba chiều trong không gian

Đánh giá sự trám kín ống tủy trên phim X quang quanh chóp và phân loại mẫu răng đủ tiêu chuẩn và không đủ tiêu chuẩn trám kín ống tủy, bước này do chính người nghiên cứu thực hiện:

- Mẫu răng đủ tiêu chuẩn: trên phia X quang quanh chóp có hình ảnh ống tủy thuôn đều, cản quang đồng nhất

- Mẫu răng không đủ tiêu chuẩn: trên phim X quang quanh chóp có hình ảnh ống tủy bị khắc, cản quang không đồng nhất, có vùng thấu quang giữa khối vật liệu trám bít và thành ống tủy Các mẫu răng không đủ tiêu chuẩn bị loại bỏ và được thay thế

Lưu giữ mẫu ở nhiệt độ 37oC độ ẩm tương đối 100% trong 48 giờ, đảm bảo

xi măng trám bít ống tủy đông cứng hoàn toàn

2.3.2.5 Nhuộm màu

Trang 14

- Dùng sơn móng tay màu đỏ sơn cách chóp răng 2mm, nhằm không cho phẩm nhuộm thâm nhập vào ống tủy qua bề mặt chân răng, với ba lớp sơn mỏng, mỗi lớp cách nhau 2 giờ để tạo sự khô ở mỗi lớp

- Đối với nhóm chứng âm, sơn 3 lớp hết toàn bộ răng (phủ kín chóp răng)

- Đối với nhóm chứng dương, sơn 3 lớp cách chóp 2mm

- Sau 2 giờ quét sơn móng tay, ngâm các răng ở nhóm 1A, 2A vào dung dịch phẩm nhuộm xanh methylene 2%, 37oC, pH trung tính

- Sau 48 giờ, 4 răng ở cả hai nhóm chứng âm và dương, 10 răng ở nhóm 1A và 10 răng ở nhóm 2A được lấy ra khỏi dung dịch phẩm nhuộm, loại

bỏ lớp sơn bằng dung dịch có chứa aceton và rửa dưới vòi nước 5 phút để loại bỏ phẩm nhuộm bám trên bề mặt chân răng, sau đó thổi khô răng

- Sau 30 ngày, 10 răng ở nhóm 1B và 10 răng ở nhóm 2B được lấy ngẫu nhiên ra khỏi dụng dịch SBF và thực hiện các bước nhuộm màu tương tự với nhóm răng 1A và 2A

2.3.2.6 Bảo quản răng trong dung dịch SBF

Các răng ở nhóm 1B, 1C, 2B, 2C sau khi trám bít được ngâm trong dung dịch BSF ở 37oC trong 30 ngày

2.3.2.7 Chia chân răng theo chiều dọc:

Dùng đĩa cắt kim cương cắt dọc răng theo hướng ngoài trong, song song với trục chân răng sao cho qua trung tâm chân răng và cắt ngang qua lỗ chóp răng

2.3.2.8 Đo mức thâm nhập phẩm nhuộm

Mức thâm nhập phẩm nhuộm qua vùng chóp răng sau khi TBOT 2 ngày và

30 ngày được quan sát và chụp ảnh dưới kính hiển vi soi nổi độ phóng đại × 10 lần với bộ kết nối kính hiển vi Optikam B5

Trang 15

Sử dụng phần mềm Imagej để đo mức thâm nhập phẩm nhuộm vào trong ống tủy từ phía chóp ở cả hai nửa cắt của chân răng Chọn giá trị lớn hơn là độ thâm nhập phẩm nhuộm của răng

- Khoảng cách thâm nhập màu: được xác định bằng khoảng cách từ đầu tận cùng của khối vật liệu trám bít đến vị trí thâm nhập sâu nhất của phẩm nhuộm về phía thân răng

- Việc đo đạc được thực hiện bởi hai quan sát viên có kinh nghiệm

- Đơn vị đo tính bằng mm

2.3.2.9 Quan sát giao diện giữa khối vật liệu trám bít với thành ngà răng

Các răng ở nhóm 1C và 2C sau khi lấy ra khỏi dung dịch SBF, cắt ngang thân răng tại vị tri 1/3 chóp bằng đĩa cắt kim cương và đánh bóng bằng giấy nhám nước có độ mịn tăng dần: 1200, 1500, 2000 bằng máy LaboPol-5 của hãng Struers®

Sau đó, mẫu được quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét (SEM)

2.3.3 Các biến nghiên cứu

Mức độ vi kẽ: là khoảng cách thâm nhập màu, được xác định bằng khoảng cách từ đầu tận cùng của khối vật liệu trám bít đến vị trí thâm nhập sâu nhất của phẩm nhuộm về phía thân răng Đơn vị đo tính bằng mm

2.3.4 Xử lý số liệu và phân tích thống kê:

Ghi nhận số liệu và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0

2.3.5 Kiểm soát sai lệch thông tin

Các răng nghiên cứu được chia nhóm ngẫu nhiên

Mức độ thâm nhập phẩm nhuộm được đo đạc theo kiểu “mù”, thực hiện bởi hai quan sát viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực nội nha Hai quan sát viên thực hiện việc đo mẫu độc lập nhau và ghi nhận kết quả vào phiếu theo mã số của mẫu Sau khi thu thập số liệu, tiến hành phép kiểm tương quan nội lớp để đánh giá tương quan kết quả giữa hai quan sát viên trong mỗi lần đo Giá trị tương quan: k > 0,95 cho thấy không có sự khác biệt về kết quả đo giữa hai quan sát viên (phụ lục 9)

Trang 16

Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

1A

Sau TBOT

1B

30 ngày (SBF)

1C

30 ngày (SBF)

Xanh methylene SEM

50 răng cối nhỏ hàm dưới

đã nhổ

NHÓM THỰC NGHIỆM

2B

30 ngày (SBF)

2C

30 ngày (SBF)

Xanh methylene SEM

Trang 17

Chương 3 KẾT QUẢ

Nghiên cứu được thực hiện trên 50 răng cối nhỏ hàm dưới đã nhổ Chọn 4 răng để làm 2 nhóm chứng dương và âm, chọn 6 răng để quan sát giao diện sau khi TBOT 30 ngày với hai loại xi măng BioRootTM RCS và AH26 (mỗi nhóm 3 răng)

40 răng còn lại được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm, mỗi nhóm 10 răng để đo mức

độ thâm nhập xanh methylene vào trong ống tủy tại hai thời điểm 2 ngày và 30 ngày sau khi TBOT bằng hai loại xi măng BioRootTM RCS và AH26

Mức độ vi kẽ được xác định bằng mức thâm nhập cao nhất của xanh methylene tính từ đầu tận cùng của khối vật liệu về phía thân răng Sự thâm nhập phẩm nhuộm được quan sát và đo đạc qua hình chụp bằng kính hiển vi soi nổi với phần mềm Imagej Đơn vị đo được tính bằng mm

Quan sát các răng thuộc nhóm chứng, chúng tôi nhận thấy:

- Ở nhóm chứng âm, không có sự thâm nhập của phẩm nhuộm vào trong ống tủy chân răng (hình 3.10a và 3.10b)

- Ở nhóm chứng dương, phẩm nhuộm hiện diện trên suốt chiều dài ống tủy chân răng (hình 3.10c và 3.10d)

Hình 3.10 Nhóm chứng âm và nhóm chứng dương

Trang 18

3.1 Đặc điểm vùng chóp chân răng sau khi đã trám bít

Quan sát vùng chóp của các răng đã được trám bít, chúng tôi nhận thấy ở tất

cả các nhóm đều có số lượng răng có sự thâm nhập phẩm nhuộm xanh methylene vào trong ống tủy nhiều hơn số răng không có sự thâm nhập xanh methylene

Hình 3.11 Không có sự thâm nhập xanh methylene (xi măng BioRoot TM RCS)

Ngày đăng: 20/03/2021, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w