Một trong những lý do chính, đó là vì việc nghiên cứu về các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn chưa được áp dụng nhiều trong thực tế các hệ thống viễn thông mà chỉ dừng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
PHẠM ĐĂNG BUA
NGHIÊN CỨU CÁC KỸ THUẬT ĐỒNG BỘ
TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖN LOẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
KỸ THUẬT TRUYỀN THÔNG
Trang 2M ỤC LỤC
Lời cảm ơn 4
LỜI CAM ĐOAN 5
TÓM TẮT LUẬN VĂN 6
SUMMARY OF THE THESIS 8
DANH SÁCH CÁC THU ẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT 10
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ 12
MỞ ĐẦU 18
1 Lý do chọn đề tài 18
2 Lịch sử nghiên cứu 18
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 22
4 Đóng góp mới của luận văn 22
5 Phương pháp nghiên cứu 23
6 Kết cấu của luận văn 23
NỘI DUNG 25
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THÔNG TIN SỐ SỬ DỤNG ĐẶC TÍNH HỖN LOẠN VÀ ĐỘNG HỌC PHI TUYẾN 25
1.1 Giới thiệu 25
1.2 Truyền thông vô tuyến dựa trên động học phi tuyến và hỗn loạn 27
1.3 Tổng quan về hỗn loạn 28
1.3.1 Giới thiệu 28
1.3.2 Ứng dụng hỗn loạn vào truyền thông 29
1.3.2.1 Điều chế tương tự 29
1.3.2.2 Điều chế số 29
1.3 2.3 Trải phổ dãy trực tiếp 30
1.4 Truyền thông vô tuyến dựa trên động học phi tuyến và hỗn loạn 31
1.4.1 Thông tin vô tuyến sử dụng sóng mang hỗn loạn 31
1.4.2 Điều chế vị trí xung hỗn loạn vô tuyến 38
1.5 Một số hệ thống hỗn loạn điển hình 41
1.5.1 Hệ thống Lorenz 41
1.5.2 Hệ thống Rossler 42
1.5.3 Mạch Chua 43
1.5.4 Mạch dao động Colpitts 44
Trang 3Kết luận chương 1 45
Chương 2 TỔNG QUAN CÁC KỸ THUẬT ĐỒNG BỘ TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖN LOẠN 46
2.1 Giới thiệu 46
2.2 Khái niệm cơ bản về đồng bộ hỗn loạn 47
2.3 Tổng quát hóa các nội dung đã được nghiên cứu 48
2.4 Đồng bộ có mã hóa thông tin 49
Kết luận 54
2.4 Một số kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn 55
2.4.1 Khái niệm về một số loại đồng bộ trong hệ thống hỗn loạn
55
2.4.2 Đồng bộ dự đoán 56
2.4.2.1 Giới thiệu 56
2.4.2.2 Một số ví dụ 58
2.4.3 Đồng bộ tổng quát 60
2.4.3.1 Giới thiệu 60
2.4.3.2 Lý thuyết về đồng bộ tổng quát 61
2.4.3.3 Đồng bộ tổng quát trong các hệ thống 61
Kết luận 64
2.4.4 Đồng bộ trễ 64
2.4.4.1 Giới thiệu 64
2.4.4.2 Lý thuyết về đồng bộ trễ 64
2.4.5 Đồng bộ xạ ảnh 66
2.4.5.1 Giới thiệu 66
2.4.5.2 Đồng bộ xạ ảnh trong hệ thống hỗn loạn MLCL 66
2.4.5.3 Điều khiển trong đồng bộ xạ ảnh 70
Kết luận 73
2.4.6 Đồng bộ hoàn chỉnh ngược 73
2.4.6.1 Giới thiệu 73
2.4.6.2 Đồng bộ hoàn chỉnh ngược trong hệ thống đa hồi tiếp Ikeda 73
Kết luận 76
Kết luận chương 2 76
Trang 4Chương 3 PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ
B Ộ PHÁT TÍN HIỆU DAO ĐỘNG HỖN LOẠN 77
3.1 Gi ới thiệu hệ thống hỗn loạn 77
3.2 Hệ thống Lorenz 77
3.3 H ệ thống Rossler 85
3.3 Hệ thống Linz và Sprott 91
3.4 Hệ thống Chua 98
Kết luận chương 3 106
Chương 4 NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT ĐỒNG BỘ TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN H ỖN LOẠN VÀ ÁP DỤNG KỸ THUẬT ĐỒNG BỘ HOÀN CH ỈNH TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN HỖN LOẠN 107
4.1 Đồng bộ hỗn loạn 107
4.2 Kh ả năng đồng bộ từ việc kiểm soát hệ thống hỗn loạn 108
4.2.1 Khả năng kiểm soát nội tại cho khả năng đồng bộ hoàn chỉnh
109
4.2.2 Khả năng theo dõi nội tại cho khả năng đồng bộ hoàn chỉnh 110
4.3 Kh ả năng đồng bộ hoàn chỉnh 111
4.4 Đồng bộ hệ thống Lorenz 112
4.4.5 Đồng bộ hoàn chỉnh hệ thống Lorenz sử dụng mô phỏng thuần túy toán học 127
4.5 Đồng bộ hệ thống Rossler 132
4.6 Đồng bộ của hệ thống Linz và Spott 143
4.7 Đồng bộ hệ thống Chua 152
Kết luận chương 4 164
KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU 165
KẾT LUẬN 165
HƯỚNG NGHIÊN CỨU 166
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 167
PHỤ LỤC HÌNH VẼ MÔ PHỎNG CÁC KIẾN TRÚC SIMULINK 172
Trang 5Lời cảm ơn
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy giáo, cô giáo - các nhà khoa học của Viện Điện tử Viễn thông, Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian học
tập và nghiên cứu tại trường Đặc biệt, em xin cảm ơn thầy giáo PGS TS Vũ Văn Yêm đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, định hướng nghiên cứu và giúp đỡ em
trong quá trình làm luận văn Đề tài rất mới và khó, mặc dù đã cố gắng hết sức, song luận văn của em vẫn còn nhiều thiếu sót, kính mong Quý thầy cô và đồng nghiệp đóng góp ý kiến để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ em hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2014
Học viên
Phạm Đăng Bua
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là do tôi tự nghiên cứu và
th ực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Văn Yêm
Hà Nội, ngày 23 tháng 03 năm 2014
Học viên:
Phạm Đăng Bua
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tín hiệu hỗn loạn, nhất là hỗn loạn trong viễn thông đã được biết đến từ lâu thông qua các nghiên cứu về điều chế xung hỗn loạn, trải phổ tín hiệu hỗn loạn… Sự thực là
hiện tượng hỗn loạn hiện diện trong hầu như tất cả các ngành khoa học như: toán học,
vật lý, y học, sinh học, thiên văn và dự báo thời tiết, viễn thông… Nhưng riêng trong lĩnh vực viễn thông, hỗn loạn vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi Mặc dù tín hiệu hỗn
loạn có tính bảo mật truyền thông rất cao Một trong những lý do chính, đó là vì việc nghiên cứu về các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn chưa được áp
dụng nhiều trong thực tế các hệ thống viễn thông mà chỉ dừng lại ở các nghiên cứu, ứng
dụng trong quân sự và công nghệ cao của các nước có nền khoa học phát triển trên thế
giới Kể từ khi công bố khoa học của Louis M Pecora và Thomas L Carrol thuộc viện nghiên cứu hải quân Mỹ đưa ra trong bài báo “Synchronization in Chaotic System” đăng trên tạp chí Physical Review Letters năm 1990 thì việc nghiên cứu về đồng bộ hỗn loạn trong hệ thống thông tin mới có bước đột phá từ đây Trong bài báo, Pecora và Carrol
đã tiến hành đồng bộ các hệ thống hỗn loạn bằng cách kết nối hệ thống hỗn loạn phụ (Slave) phi tuyến với hệ thống hỗn loạn chủ (Master) bằng tín hiệu điều khiển thông thường Họ đã sử dụng tiêu chuẩn là dấu hiệu của các số mũ phụ Lyapunov Họ đã tiến hành đồng bộ hỗn loạn trên mạch điện tử thật áp dụng ý tưởng trên Điều đó đã chứng
tỏ khả năng đồng bộ giữa các hệ thống thông tin hỗn loạn là hoàn toàn khả thi và có khả năng ứng dụng cao trong viễn thông cũng như các ngành khoa học khác có liên quan đến hỗn loạn Tính khả thi để đồng bộ hai hệ thống hỗn loạn lần đầu tiên được thực hiện
dựa trên lý thuyết đề xuất bởi Pecora và Carroll, và sau đó được tổng quát cho khái niệm đồng bộ tích cực - thụ động (Master - Slave) được đề xuất bởi Kocarev và Parlitz Chính
vì thành công trong việc nghiên cứu đồng bộ hỗn loạn của Pecora và Carrol, Kocarev
và Parlitz cùng với các nhà khoa học tiên phong khác trong lĩnh vực nghiên cứu các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn đã khiến cho đồng bộ hỗn loạn ngày càng trở thành đề tài được quan tâm và nghiên cứu của các nhà khoa học trên toàn thế
giới trong tất cả các lĩnh vực nói chung và viễn thông nói riêng
Với mục đích của luận văn là nghiên cứu các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn, tác giả muốn đóng góp một phần nhỏ việc tổng hợp kiến thức về mặt
lý thuyết của động học phi tuyến và hỗn loạn ứng dụng trong truyền thông, ví dụ như điều chế xung hỗn loạn, trải phổ tín hiệu hỗn loạn… đã được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Tác giả nghiên cứu lý thuyết các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin
hỗn loạn, đồng bộ hỗn loạn có mã hóa thông tin để phục vụ trong truyền thông Tác giả
tổng hợp, phân tích các phương pháp đồng bộ hỗn loạn đã được nghiên cứu: đồng bộ
tổng quát, đồng bộ pha, đồng bộ trễ, đồng bộ dự đoán, đồng bộ xạ ảnh, đồng bộ hoàn
chỉnh, đồng bộ hoàn chỉnh ngược Sau đó, tác giả đi sâu vào việc thiết kế, mô phỏng 4
Trang 8hệ thống thông tin hỗn loạn điển hình là Lorenz, Rossler, Chua, Linz và Sprott trên Matlab-Simulink Tác giả đi sâu vào nghiên cứu đồng bộ hoàn chỉnh tiếp cận theo quan điểm hình học, các hệ phương trình vi phân được phân tích và tính toán sử dụng công
cụ toán học chính ở đây là ma trận Tác giả tính toán lỗi hệ thống đồng bộ, tính toán và thiết kế lệnh điều khiển đồng bộ hỗn loạn trên Matlab-Simulink Các bộ tạo dao động
hỗn loạn trên sẽ được tiếp tục dùng để mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh sử dụng một tín
hiệu là lệnh điều khiển đồng bộ hỗn loạn Các kết quả đồng bộ sẽ được đưa ra dưới dạng
đồ thị, bảng biểu và các attractor để chứng minh chính xác hệ thống đã đạt được đồng
bộ hoàn chỉnh Thiết kế mô hình đồng bộ hoàn chỉnh của các hệ thống thông tin hỗn
loạn trên là khá chi tiết và sẽ được sử dụng làm hướng nghiên tiếp theo của luận văn đó
là thiết kế, lập trình đồng bộ hoàn chỉnh mạch trên vi mạch khả trình FPGA Tác giả cũng có thể làm theo hướng thiết kế và chế tạo mạch điện tử đồng bộ hoàn chỉnh sử
dụng linh kiện chính đơn giản là vi mạch khuếch đại thuật toán
Trang 9SUMMARY OF THE THESIS
Signal of chaos especially chaos in tele-communication was already known many years ago through the studies about modulating chaotic impulsion, spreading chaotic signal The fact that phenomenon of chaos has occurred in almost sciencies such as mathematics, physics, medecine, biology, astronomy, weather forcast tele-communication, philosophy, but especially in the field of tele-communication, chaos has not been widely applied although signal of chaos has a very hight secrecy of communication One of the main reasons is that the studies about the techniques of synchronization in the system of chaotic communication have not been widely applied
in the system of tele-communication however they stand at the studies of applying in military, excellent industries of the countries with the developed sciencies in the world Since when the scientific promulgation of Louis M Pecora and Thomas L Carrol belonging to the US institute of naval forces was presented in the article
“synchronization in chaotic system” published on the magazine “Physical Review letters 1990”, from that time on the studies about synchronization of chaos in the system of communication have rapidly developed In the article, Pecora and Carrol had carried out synchronizing the chaotic systems by combining the minor chaotic non-clinear system with the chaotic Master system by using normal controll signal They had used the standard which was the sign of minor exponents Lyapunov They had carried out synchronizing chaos on the real electric circuit applying that idea The matter had proved that the ability of synchronizing chaotic communication systems was completely possible and it could have excellent possibility of applying in tele-communication as well as in other sciences concerning with chaos It was possible to synchonize two chaotic systems which was firstly carried out on the theory presented by Pecora and Carroll, then comprehended for the idea of active and passive synchonization (Master – Slave) presented by Kocarev and Patlitz It was the success in studying synchronizing chaos by Pecora and Carroll, Kocarev and Patlitz, and other advanced scientists in the field of studying the techniques of synchonization in the chaotic communication systems that made synchronizing chaos become the subject which was interested and studied by the scientists all over the world in the whole fields in general and in tele-communication
in particular
Through the theme of the thesis: Studying the techniques of synchronization in chaotic communication system, we wish to take a small part in collecting knowledge about theory of non-linearities and chaos applied in tele-communication such as modulating chaotic impulsion, spreading signal already studied by the scientists We will study the theory of the techniques of synchronization in chaotic communication
Trang 10system, synchronization of chaos with encoding communication in order to serve communication
tele-We will synthesize and analyze the chaotic synchronization methods were researched: general synchronization, phase synchronization, delay synchronization, anticipating synchronization, projective synchronization, complete synchronization, opposite complete synchronization After that we will carry out designing the simulink for four model chaotic communication systems such as Lorenz, Roslers, Linz and Spott and Chua on Matlab simulink We will study complete synchronization bordered according to the standpoint of geometry, the differential equation systems will be enalysed and calculated by using chief mathematical instrument which is Matric We will calculate the errors of synchronizing system, calculate and design controll command of chaotic synchronization on Matlab simulink Generators of chaotic oscilation will be still used to simulate complete synchronization using a signal which
is controll command for the complete synchronization The results of synchronization will be presented with the diagrams, lists and illustrating attractors To prove exactly the success of the complete synchronization, designing dummy of completely synchronizing the chaotic communication system is very detailed And it will be used for the next study of the thesis That is designing, programming complete synchronization of number circuit on Field Programmable Gate Array (FPGA) We can also design and make electric circuit for the complete synchronization using the main component part which simply is algorism amplification microcircuit
Trang 11DANH SÁCH CÁC THU ẬT NGỮ VÀ TỪ VIẾT TẮT
4 BPSK Binary Phase Shift Keying Khóa chuyển dịch pha nhị phân
5 CDSK Correlation Delay Shift Keying Khóa chuyển dịch trễ tương quan
7 COOK Chaotic On-Off Keying Khóa đóng mở hỗn loạn
8 CPPM Chaotic Pulse Position Modulation Điều chế vị trí xung hỗn loạn
9 CPRG Chaotic Pulse Regenerator Bộ tái tạo xung hỗn loạn
12 DCSK Differential Chaos Shift Keying Khóa chuyển dịch hỗn loạn vi sai
15 FPGA Field Programmable Gate Array Vi mạch khả trình
Trang 1223 PRS Projective Synchronization Đồng bộ xạ ảnh
24 SCSK Symmetric Chaos Shift Keying Khóa chuyển dịch hỗn loạn cân bằng
Trang 13DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ khối của hệ thống thông tin số 26
Hình 1.2 Hoạt động của DCSK: (a) Bộ phát và (b) Bộ thu 32
Hình 1.3 Hoạt động của CDSK: (a) bộ phát, (b) bộ thu 33
Hình 1.4 Hoạt động của SCSK: (a) bộ phát, (b) bộ thu 35
Hình 1.5 Đặc tính hoạt động của các phương pháp tách sóng dựa trên các phương pháp tương quan: (a) DCSK, (b) CDSK, và (c) SCSK 35
Hình 1.6.Hiệu năng của của các phương phápDCSK, CDSK và SCSK với M =100……
37
Hình 1.7 Minh họa cơ bản phương pháp CPPM 39
Hình 1.8 Hiệu suất làm việc của các cơ chế điều chế PPM:PPM (cơ chế điều chế vị trí xung có đồng bộ) lệch 3 dB so với BPSK;CPPM lý tưởng bao gồm sự dịch chuyển phát sinh từ KSE 40
Hinh 1.9 Sơ đồ khối của bộ thu CPPM tối ưu 41
Hình 1.10 Trạng thái hỗn loạn của hệ thống Lorenz theo thời gian (a) và quỹ đạo pha của chúng (b) 42
Hình 1.11 Trạng thái hỗn loạn của hệ thống Rossler theo thời gian (a) và quỹ đạo pha của chúng (b) 42
Hình 1.12 Sơ đồ mạch Chua 43
Hình 1.13 Đặc tuyến I-V của Chua Diode 43
Hình 1.14 Trạng thái hỗn loạn của mạch Chua 44
Hình 1.15 Sơ đồ mạch dao động Colpitts 44
Hình 1.16 Trạng thái hỗn loạn của mạch dao động Colpitts 45
Hình 2.1 Khái niệm cơ bản của truyền thông đồng bộ hỗn loạn với cùng điều kiện cùng bộ thu và bộ phát Lý tưởng nhất, các bộ phát và thu dao động hỗn loạn giống hệt nhau, được điều khiển bởi cùng một tín hiệu 46
Hình 2.2 So sánh sự đối xứng giữa máy phát và máy thu trong hệ thống thông tin hỗn loạn trước khi mã hóa và giải mã thông tin với các phương pháp CSK, CMS, và hệ thống ACM 50 Hình 2.3 So sánh dạng tín hiệu theo thời gian từ các bộ phát (vạch trên) và bộ thu (vạch dưới) và hàm tương quan của hệ thống đồng bộ quang có và không có thông tin mã hóa:
Trang 14(a) và (b) không có thông tin, (c) và (d) với thông tin trong CSK, (e) và (f) với thông tin
trong CMS, và (g) và (h) với thông tin trong ACM 53
Hình 2.4 Mô hình master và Slave trong đồng bộ dự đoán 57
Hình 2.5 Vùng ổn định của miền dự đoán 58
Hình 2.6 Mối quan hệ giữa K và τ cho mô hình dự đoán với các hệ thống trong các trường hợp 60
Hình 2.7 Các hệ số mũ Lyapunov của các hệ thống liên kết như một hàm của k 63
Hình 2.8 Vòng tròn được giới hạn trong mặt phẳng x1x2 64
Hình 2.9 Kết quả mô phỏng 67
Hình 2.10 Kết quả mô phỏng với những điều kiện ban đầu khác nhau 69
Hình 2.11 Đường cong đồng bộ xạ ảnh với phản hồi tuyến tính 71
Hình 2.12 Kết quả đồng bộ xạ ảnh với phản hồi phi tuyến 72
Hình 2.13 Pha điều khiển và đáp ứng điều khiển với α =3 73
Hình 2.14 Mô phỏng bằng mô hình Ikeda 75
Hình 2.15 Mô phỏng hệ thống đồng bộ hoàn chỉnh ngược giữa x và y 75
Hình 3.1 Kiến trúc Simulink của hệ phương trình Lorenz 171
Hình 3.2a X1_out đầu ra của hệ phương trình Lorenz 79
Hình 3.2b X2_out đầu ra của hệ phương trình Lorenz 80
Hình 3.2c X3_Out đầu ra của hệ phương trình Lorenz 81
Hình 3.2c X1outs, X2outs và X3outs các đầu ra của hệ phương trình Lorenz 82
Hình 3.3a Attractor X1X2 Out của sơ đồ khối Simulink hệ Lorenz 83
Hình 3.3b Attractor X2X3 Out của sơ đồ khối Simulink hệ Lorenz 83
Hình 3.3c Attractor X3X1 Out của sơ đồ khối Simulink hệ Lorenz 84
Hình 3.3d Attractor 3 chiều X1X2X3 Out của sơ đồ khối Simulink hệ Lorenz 84
Hình 3.4 Kiến trúc Simulink mô phỏng hệ thống Rossler Master 172
Hình 3.5a Attractor X2X2 của hệ thống Rossler với γ = 2.5 86
Hình 3.5b Attractor X2X2 của hệ thống Rossler với γ = 3.5 86
Hình 3.5c Attractor X2X2 của hệ thống Rossler với γ = 4 87
Hình 3.5d Attractor X2X2 của hệ thống Rossler với γ = 5.7 87
Trang 15Hình 3.6a X1 Out đầu ra của hệ phương trình Rossler 88
Hình 3.6b X2 Out đầu ra của hệ phương trình Rossler 88
Hình 3.6c X3 Out đầu ra của hệ phương trình Rossler 89
Hình 3.6d X1, X2, X3 Out đầu ra của hệ phương trình Rossler 90
Hình 3.7 Đồ thị không gian 3 chiều Attractor của hệ thống Rossler với γ = 5.7………
91
Hình 3.8 Kiến trúc Simulink của hệ phương trình Linz và Sprott 173
Hình 3.9a Attractor của sơ đồ khối mô phỏng hệ thống Linz và Sprott với α = 0.8……
93
Hình 3.9b Attractor của sơ đồ khối mô phỏng hệ thống Linz và Sprott với α = 0.675…
93
Hình 3.9c Attractor của sơ đồ khối mô phỏng hệ thống Linz và Sprott với α = 0.644… 94
Hình 3.9d Attractor của sơ đồ khối mô phỏng hệ thống Linz và Sprott với α = 0.6……
94
Hình 3.10 Kích thước không gian 3 chiều Attractor X1X2X3 của hệ thống Linz và Sprott với α = 0.6 95
Hình 3.11a X1 Out đầu ra của hệ phương trình Linz và Sprott với α = 0.6 95
Hình 3.11b X2 Out đầu ra của hệ phương trình Linz và Sprott với α = 0.6 96
Hình 3.11c X3 Out đầu ra của hệ phương trình Linz và Sprott với α = 0.6 96
Hình 3.11d X1, X2, X3 Out đầu ra của hệ phương trình Linz và Sprott với α = 0.6……
97
Hình 3.12 Mạch Chua 98
Hình 3.13 Đặc tính phi tuyến của mạch Chua 98
Hình 3.14 Kiến trúc Simulink của hệ phương trình Chua 174
Hình 3.15 Kiến trúc Simulink của hàm phi tuyến g(x1) 175
Hình 3.16a Đầu ra X1 outs của hệ phương trình Chua với thông số thiết lập ở cột A 100
Hình 3.16b Đầu ra X2 outs của hệ phương trình Chua với thông số thiết lập ở cột A 101
Trang 16Hình 3.16c Đầu ra X3 outs của hệ phương trình Chua với thông số thiết lập ở cột A
101
Hình 3.16d Các đầu ra X1outs, X2outs và X3outs của hệ phương trình Chua với thông số thiết lập trong cột A 102
Hình 3.17a Atrractor X1X2 của hệ thống Chua với thông số A 103
Hình 3.17b Kích thước không gian 3 chiều Attractor hệ thống Chua với thông số A 103
Hình 3.17c Atrractor X1X2 của hệ thống Chua với thông số B 104
Hình 3.17d Kích thước không gian 3 chiều Attractor hệ thống Chua với thông số B 104
Hình 3.17e Atrractor X1X2 của hệ thống Chua với thông số C 105
Hình 3.17f Kích thước không gian 3 chiều Attractor hệ thống Chua với thông số C… 105
Hình 4.1 Kiến trúc Simulink của hệ thống Lorenz Slave 176
Hình 4.2 Kiến trúc Simulink của lệnh điều khiển u cho mô hình đồng bộ hệ thống Lorenz 177
Hình 4.3 Kiến trúc Simulink của đồng bộ hoàn chỉnh hệ thống Lorenz 178
Hình 4.4a Hệ thống Lorenz Master và Lorenz Slave với những điều kiện ban đầu khác nhau 122
Hình 4.4b Hệ thống Lorenz Master và Lorenz Slave với những điều kiện ban đầu khác nhau 123
Hình 4.5a Lệnh điều khiển u của mô hình đồng bộ hệ thống Lorenz 124
Hình 4.5b Lỗi tín hiệu e1 của mô hình đồng bộ hệ thống Lorenz 124
Hình 4.5c Lỗi tín hiệu e2 của mô hình đồng bộ hệ thống Lorenz 125
Hình 4.5d Lỗi tín hiệu e3 của mô hình đồng bộ hệ thống Lorenz 125
Hình 4.6a Kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh X1Y1 của hệ thống Lorenz 126
Hình 4.6b Kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh X2Y2 của hệ thống Lorenz 126
Hình 4.6c Kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh X3Y3 của hệ thống Lorenz 127
Hình 4.7 Kiến trúc Simulink đồng bộ hoàn chỉnh hệ thống Lorenz sử dụng hàm toán 179
Trang 17Hình 4.8a Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh X1Y1 giữa hệ thống Lorenz Master và Slave
129
Hình 4.8b Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh X2Y2 giữa hệ thống Lorenz Master và Slave 130
Hình 4.8c Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh X3Y3 giữa hệ thống Lorenz Master và Slave 130
Hình 4.8d Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh giữa hệ thống Lorenz Master và Slave 131
Hình 4.9 Kiến trúc Simulink của hệ thống Rossler Slave 180
Hình 4.10 Kiến trúc Simulink của lệnh điều khiển u cho mô hình đồng bộ hệ thống Rossler 181
Hình 4.11 Kiến trúc Simulink của hệ thống đồng bộ Rossler 182
Hình 4.12a Hệ thống Rossler Master và hệ thống Rossler Slave với những điều kiện ban đầu khác nhau 138
Hình 4.12b Hệ thống Rossler Master và hệ thống Rossler Slave với những điều kiện ban đầu khác nhau 139
Hình 4.13a Lệnh điều khiển u của mô hình đồng bộ hệ thống Rossler 140
Hình 4.13b Lỗi tín hiệu e1 của mô hình đồng bộ hệ thống Rossler 140
Hình 4.13c Lỗi tín hiệu e2 của mô hình đồng bộ hệ thống Rossler 141
Hình 4.13d Lỗi tín hiệu e3 của mô hình đồng bộ hệ thống Rossler 141
Hình 4.14a Kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh X1Y1 của hệ thống Rossler 142
Hình 4.14b Kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh X2Y2 của hệ thống Rossler 142
Hình 4.14c Kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh X3Y3 của hệ thống Rossler 143
Hình 4.15 Kiến trúc Simulink hệ thống Linz và Spott Slave 183
Hình 4.16 Kiến trúc Simulink của lệnh điều khiển u cho mô hình đồng bộ hệ thống Linz và Spott 184
Hình 4.17 Kiến trúc Simulink của mô hình đồng bộ hệ thống Linz và Sprott 185
Hình 4.18 Hệ thống Linz và Spott Master và Slave với các điều kiện ban đầu khác nhau 148
Hình 4.19a Lệnh điều khiển u của mô hình đồng bộ hệ thống Linz và Sprott 149
Hình 4.19b Lỗi tín hiệu e1 của mô hình đồng bộ hệ thống Linz và Sprott 149
Hình 4.19c Lỗi tín hiệu e2 của mô hình đồng bộ hệ thống Linz và Sprott 150
Trang 18Hình 4.19d Lỗi tín hiệu e3 của mô hình đồng bộ hệ thống Linz và Sprott 150
Hình 4.20a Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh X1Y1 giữa hai hệ thống Linz và Sprott khác nhau 151
Hình 4.20b Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh X2Y2 giữa hai hệ thống Linz và Sprott khác nhau 151
Hình 4.20c Kết quả đồng bộ hoàn chỉnh X3Y3 giữa hai hệ thống Linz và Sprott khác nhau 152
Hình 4.21 Kiến trúc Simulink của hệ thống Chua Slave 186
Hình 4.22 Kiến trúc Simulink của lệnh điều khiển u cho mô hình đồng bộ hệ thống Chua 187
Hình 4.23 Kiến trúc Simulink của mô hình đồng bộ hệ thống Chua 188
Hình 4.24 Hệ thống Chua Master và Slave với điều kiện ban đầu khác nhau 159
Hình 4.25a Lệnh điều khiển u của mô hình đồng bộ hệ thống Chua 160
Hình 4.25b Lỗi tín hiệu e1 của mô hình đồng bộ hệ thống Chua 160
Hình 4.25c Lỗi tín hiệu e2 của mô hình đồng bộ hệ thống Chua 161
Hình 4.25d Lỗi tín hiệu e3 của mô hình đồng bộ hệ thống Chua 161
Hình 4.26a Kết quả đồng bộ X1Y1 giữa hai hệ thống Chua khác nhau 162
Hình 4.26b Kết quả đồng bộ X2Y2 giữa hai hệ thống Chua khác nhau 162
Hình 4.26c Kết quả đồng bộ X3Y3 giữa hai hệ thống Chua khác nhau 163
Trang 19MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Động học phi tuyến và hỗn loạn đã được biết đến từ lâu, hỗn loạn hiện diện trong
rất nhiều lĩnh vực khoa học như: toán học, vật lý, hóa học, y - sinh học, cơ khí, dự báo
thời tiết, các hệ thống thông tin viễn thông,… Nhưng những nghiên cứu về hỗn loạn trong các ngành khoa học nói chung và hỗn loạn trong hệ thống thông tin viễn thông nói riêng mới chỉ dừng ở lý thuyết chứ hầu như chưa có nhiều ứng dụng trong thực tế khoa
học kỹ thuật và đời sống
Mặc dù tín hiệu hỗn loạn trong hệ thống thông tin viễn thông có ưu điểm nổi trội
đó là tính bảo mật rất cao và đã được nghiên cứu trong các lĩnh vực mã hóa, điều chế,
trải phổ tín hiệu hỗn loạn,… Nhưng tín hiệu hỗn loạn vẫn chưa được triển khai ứng dụng
thực tế trong hệ thống thông tin viễn thông vì các nghiên cứu về đồng bộ trong hệ thống thông tin viễn thông mới chỉ dừng lại ở lý thuyết chứ chưa có nhiều ứng dụng thực tiễn Tuy nhiên vấn đề ứng dụng hỗn loạn vào thực tế hệ thống thông tin viễn thông vẫn là
vấn đề cần nghiên cứu và triển khai trên cả lý thuyết và thực tiễn vì những lợi ích to lớn
của nó như tính bảo mật truyền thông rất cao là có ý nghĩa vô cùng lớn trong thế giới
phẳng ngày nay, - hầu như không thể tiếp cận, giải mã thông tin mà tín hiệu hỗn loạn truyền đi nếu không có đủ những hiểu biết nhất định về các đặc tính động học phi tuyến
phức tạp của hỗn loạn -
Trong luận văn này, tác giả đi nghiên cứu một mảng nhỏ nhưng là một khâu quan
trọng để có thể sử dụng tín hiệu hỗn loạn vào trong hệ thống thông tin viễn thông Đó
là, sau khi tín hiệu hỗn loạn đã được điều chế và trải phổ, để sử dụng hỗn loạn trong hệ
thống thông tin viễn thông, một cách tiếp cận thông thường nhất sẽ là đưa thông tin vào
một sóng mang hỗn loạn và tách nó ra ở phía máy thu Để thực hiện điều này trong trường hợp dùng máy thu có sử dụng tương quan tác giả cần phải có một tín hiệu giống
hệt tín hiệu hỗn loạn ở đầu phát và hơn nữa tín hiệu này cần phải đồng bộ với phía máy thu Thực tế đồng bộ là một yêu cầu của rất nhiều loại truyền thông không chỉ riêng cho truyền thông hỗn loạn Với lý do này, tác giả thực hiện luận văn với đề tài: “Nghiên cứu các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn”
2 Lịch sử nghiên cứu
Lý thuy ết hỗn loạn là một lĩnh vực được nghiên cứu đầu tiên trong toán học, với
các ứng dụng trong một số môn học bao gồm khí tượng, vật lý, kỹ thuật, kinh tế, sinh
học, và triết học Lý thuyết hỗn loạn nghiên cứu hoạt động của hệ thống động mà rất
nhạy cảm với điều kiện ban đầu - một hiệu ứng mà là phổ biến được gọi là hiệu ứng cánh bướm Sự khác biệt nhỏ trong điều kiện ban đầu (chẳng hạn như do làm tròn số sai
Trang 20sót trong tính toán số) mang lại kết quả phân kỳ rộng rãi cho các hệ thống động, làm cho
dự báo dài hạn không thể tổng quát hóa Điều này xảy ra mặc dù các hệ thống này xác định, có nghĩa là hoạt động trong tương lai của chúng là hoàn toàn xác định bởi điều
kiện ban đầu của chúng, không có các yếu tố ngẫu nhiên liên quan Nói cách khác, bản
chất xác định của các hệ thống này không làm cho chúng dự đoán được Hành vi này
được gọi là hỗn loạn xác định, hoặc chỉ đơn giản là sự hỗn loạn Lý thuyết này được tóm
tắt bởi Edward Lorenz như sau:
Hỗn loạn là khi hiện tại quyết định tương lai, nhưng xấp xỉ gần đúng trong hiện
tại không thể xác định xấp xỉ gần đúng trong tương lai
Hoạt động hỗn loạn có thể được quan sát trong nhiều hệ thống tự nhiên, chẳng
hạn như thời tiết Giải thích về hoạt động như vậy có thể được tìm thấy thông qua phân tích sự hỗn loạn của mô hình toán học, hoặc thông qua các kỹ thuật phân tích như vẽ
biểu đồ truy xuất lại và bản đồ Poincaré
Động học hỗn loạn thường được hiểu nôm na theo cách hiểu thông thường là
trạng thái rối loạn Tuy nhiên, trong lý thuyết hỗn loạn, thuật ngữ này được định nghĩa
một cách chính xác hơn Mặc dù không có mô hình toán học phổ biến định nghĩa cho
tất cả các hiện tượng hỗn loạn nói chung Một định nghĩa thường được phát biểu rằng, đối với một hệ thống động được phân loại như hỗn loạn, nó phải có một trong các thuộc tính sau:
(i) Nó phải nhạy cảm với điều kiện ban đầu
(ii) Nó phải được pha trộn Tô-pô hình học
(iii) Quỹ đạo theo chu kì phải dày đặc
Yêu cầu cho sự phụ thuộc nhạy cảm vào điều kiện ban đầu ngụ ý rằng có một tập
hợp các điều kiện ban đầu của biện pháp tích cực mà không hội tụ về một chu kỳ của
bất kỳ chiều dài nào [en.wikipedia.org/wiki/Chaos_theory – 2014.]
Một nhà tiên phong của học thuyết này là Edward Lorenz, ông bị cuốn hút bởi
sự hỗn loạn đã xuất hiện vô tình thông qua công việc dự báo thời tiết của ông vào năm
1961 Lorenz đã sử dụng một máy tính kỹ thuật số đơn giản, đó là Royal McBee
LPG-30, để chạy mô phỏng dự báo thời tiết Ông muốn nhìn thấy một chuỗi các dữ liệu một
lần nữa và để tiết kiệm thời gian ông bắt đầu mô phỏng ở giữa tiến trình của nó Ông đã làm điều này bằng cách nhập một bản in của các dữ liệu tương ứng với các điều kiện ở
giữa mô phỏng của ông mà ông đã tính toán thời gian qua
Ông ngạc nhiên vì thời tiết mà máy bắt đầu dự đoán là hoàn toàn khác với tính toán thời tiết trước đó Lorenz ghi sự theo dõi này xuống các bản in máy tính Máy tính làm việc với 6 chữ số chính xác sau dấu phẩy thập phân, nhưng các bản in làm tròn biến
Trang 21giảm đến một số 3 chữ số, do đó, một giá trị là 0,506127 được in là 0,506 Sự khác biệt này là rất nhỏ và được đồng thuận vào thời điểm đó nên sự khác biệt này thực tế không
có tác dụng Tuy nhiên Lorenz đã phát hiện ra rằng những thay đổi nhỏ trong điều kiện ban đầu dẫn đến những thay đổi lớn trong kết quả lâu dài Phát hiện của Lorenz, được
gọi là Lorenz attractors, cho thấy rằng ngay cả mô hình khí quyển chi tiết không thể
tổng quát hóa cho dự báo thời tiết dài hạn Thời tiết thường dự đoán chỉ khoảng trước
một tuần [en.wikipedia.org/wiki/Chaos_theory – 2014.]
Truy ền thông hỗn loạn là một ứng dụng của lý thuyết hỗn loạn mà là nhằm mục
đích để cung cấp an ninh trong việc truyền tải thông tin thực hiện thông qua các công nghệ viễn thông Bởi truyền thông an toàn được bảo mật, phải đảm bảo rằng các nội dung của thông điệp truyền không thể tiếp cận, giải mã để có thể nghe trộm
Trong bảo mật thông tin liên lạc hỗn loạn được dựa trên hành vi động phức tạp được cung cấp bởi các hệ thống hỗn loạn Một số tính chất của động học hỗn loạn, chẳng
hạn như hoạt động phức tạp, động học giống nhiễu (nhiễu giả ngẫu nhiên) và trải phổ, được sử dụng để mã hóa dữ liệu Mặt khác, sự hỗn loạn là một hiện tượng xác định, nó
có thể giải mã dữ liệu bằng cách sử dụng tính xác định này Trong thực tế, việc triển khai các thiết bị thông tin liên lạc hỗn loạn giữa hai hệ thống hoạt động dựa trên hiện tượng hỗn loạn sử dụng phương pháp: đồng bộ hỗn loạn, hoặc điều khiển hỗn loạn
Để thực hiện truyền thông hỗn loạn sử dụng đặc tính của sự hỗn loạn, hai dao động hỗn loạn được yêu cầu là một máy phát (hoặc hệ thống Master) và máy thu (hoặc
hệ thống Slave) Tại máy phát, một bản tin được thêm vào một tín hiệu hỗn loạn và sau
đó, bản tin được đeo mặt nạ trong các tín hiệu hỗn loạn Vì nó mang thông tin, tín hiệu
hỗn loạn còn được gọi là sóng mang hỗn loạn Đồng bộ trong những dao động tương tự như đồng bộ ngẫu nhiên các mạng lưới neural trong mật mã neural
Khi đồng bộ hỗn loạn được sử dụng, một chương trình cơ bản của một thiết bị thông tin liên lạc (Cuomo và Oppenheim 1993) được thực hiện bởi hai dao động hỗn
loạn giống hệt nhau Một trong số đó được sử dụng như máy phát, và phía kia là máy Chúng được kết nối trong một cấu hình mà máy phát lái (drive) máy thu theo cách đồng bộ giống hệt nhau của sự hỗn loạn đạt được giữa hai dao động Với mục đích truyền tải thông tin, tại máy phát, một bản tin được thêm vào như một sự nhiễu loạn nhỏ
để các tín hiệu hỗn loạn lái (drive) các máy thu Bằng cách này, các bản tin truyền được che đậy bởi các tín hiệu hỗn loạn Khi máy thu đồng bộ với máy phát, thông điệp được
giải mã bởi một phép trừ giữa các tín hiệu được gửi bởi máy phát và bản sao của nó được tạo ra ở máy thu bằng phương pháp của cơ chế đồng bộ hỗn loạn Cần phải có tín
hiệu hỗn loạn lái (drive) vì, trong khi đầu ra máy phát có các sóng mang hỗn loạn cộng
với bản tin, đầu ra máy thu chỉ được tạo ra bởi một bản sao của các sóng mang hỗn loạn
mà không có bản tin [en.wikipedia.org/wiki/Chaos_communications – 2014.]
Trang 22Đồng bộ hỗn loạn là một hiện tượng có thể xảy ra khi hai, hoặc nhiều hơn hai hệ
thống hỗn loạn phát tán được kết hợp lại với nhau Vì sự phân kỳ theo hàm mũ của các
quỹ đạo gần của hệ thống hỗn loạn, có hai hệ thống hỗn loạn phát triển đồng bộ có thể
xuất hiện một cách ngạc nhiên Tuy nhiên, đồng bộ các cặp hoặc được lái (driven) dao động hỗn loạn là một hiện tượng đã được xác minh qua thực nghiệm và được hiểu rõ về
mặt lý thuyết một cách hợp lý Sự ổn định của đồng bộ cho các hệ thống cặp đôi có thể được phân tích bằng cách sử dụng ổn định hệ thống Master Đồng bộ hỗn loạn là một
hiện tượng phong phú và một quy tắc đa ngành với các ứng dụng trong phạm vi rộng Đồng bộ có thể được giải quyết một cách đa dạng với các phương thức được quyết định
dựa trên bản chất của các hệ thống tương tác và của sự sắp xếp theo hệ thống được phối
hợp lại [en.wikipedia.org/wiki/Synchronization_of_chaos – 2014.]
Yamada và Fujisaka là hai trong số những người đầu tiên thực hiện đồng bộ giữa các hệ hỗn loạn với công bố khoa học của họ vào năm 1983 Trong nghiên cứu của họ, cách mà hệ thống động thay đổi đã được nghiên cứu bằng cách nghiên cứu các số mũ Lyapunov của cặp hệ được đồng bộ Sau đó Afraimovich đã đưa ra một số khái niệm
cần thiết cho việc nghiên cứu đồng bộ hỗn loạn
Tính khả thi để đồng bộ hai hệ thống hỗn loạn lần đầu tiên được thực hiện dựa trên
lý thuyết đề xuất bởi Pecora và Carroll [L M Pecora and T L Carroll Synchronization
in chaotic systems, Phys Rev.Lett., vol 64, pp 821–824, 1990] Công bố khoa học của Pecora và Carroll có tính đột phá và quyết định trong lĩnh vực nghiên cứu đồng bộ hỗn
loạn, chứng minh rằng đồng bộ hỗn loạn có thể thành công trên cả lý thuyết lẫn thực tế
Sau đó đồng bộ hỗn loạn được tổng quát cho khái niệm đồng bộ tích cực - thụ động được đề xuất bởi Kocarev và Parlitz [L Kocarev and U Parlitz, General Approach for
Chaotic Synchronization with Applications to Communication, Phys Rev Lett., vol 74,
pp 5028−5031, 1995.]
Với những nghiên cứu khoa học thành công mở đầu về đồng bộ hỗn loạn thực hiện
bởi các nhà khoa học Pecora và Carroll, Kocarev và Parlitz, đồng bộ hỗn loạn mới được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu nhiều hơn để ứng dụng vào các lĩnh
vực khoa học liên quan đến hỗn loạn nói chung và hệ thống thông tin hỗn loạn nói riêng Đây chính là cầu nối đưa lý thuyết hỗn loạn vào sử dụng trong truyền thông, nó đã mở
ra một lĩnh vực nghiên cứu mới lĩnh vực truyền thông sử dụng hỗn loạn (communications using chaos) với bước đầu tiên là phải đồng bộ các hệ thống thông tin
hỗn loạn (synchronization chaotic communication systems)
Trang 233 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
hệ thống thông tin hỗn loạn và đi sâu vào nghiên cứu, mô phỏng một kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn
thống thông tin hỗn loạn
tuyến, hỗn loạn và các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn Về kết quả, phân tích, thiết kế mô phỏng 4 hệ thống hỗn loạn là Lorenz, Rossler, Linz và Sprott, Chua và nghiên cứu, phân tích, tính toán, thiết kế mô phỏng 4 mô hình đồng bộ hoàn
chỉnh sử dụng các bộ tạo dao động hỗn loạn trên
4 Đóng góp mới của luận văn
Từ việc trình bày các kiến thức tổng quan về động học phi tuyến và hỗn loạn trong viễn thông và các khái niệm cơ bản cũng như các phương pháp về đồng bộ hỗn
loạn, tác giả phân tích, thiết kế mô phỏng các hệ thống hỗn loạn là Lorenz, Rossler, Chua, Linz và Sprott trên Matlab - Simulink, đưa ra các kết quả và phân tích
Tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ thuật đồng bộ hoàn chỉnh trong hệ thống thông tin
hỗn loạn, tìm hiểu khả năng điều khiển, kiểm soát dao động hỗn loạn, tính toán lỗi hệ
thống đồng bộ e, tính toán hàm điều khiển u cho việc đồng bộ từng hệ thống hỗn loạn
tương ứng Thiết kế mô hình mô phỏng cho hệ thống hỗn loạn Master, Slave, lệnh điều khiển u
Tác giả đã nghiên cứu, phân tích, tính toán, thiết kế mô hình mô phỏng kỹ thuật đồng bộ hoàn chỉnh giữa hai hệ thống hỗn loạn trên Matlab - Simulink của các hệ thống
hỗn loạn sử dụng các bộ tạo dao động hỗn loạn trên với việc tính toán lỗi hệ thống đồng
bộ và lệnh điều khiển u hợp lý cho từng hệ thống
Đưa ra phân tích kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh trên Matlab-Simulink
của 4 hệ thống hỗn loạn được đồng bộ là hệ thống Lorenz, hệ thống Rossler, hệ thống Chua và hệ thống Linz và Sprott
Từ kết quả nghiên cứu, mô phỏng đồng bộ hoàn chỉnh 4 hệ thống trên tạo tiền đề cho tác giả đề xuất cho hướng phát triển của luận văn là thiết kế, lập trình 4 hệ thống
hỗn loạn trên lên vi mạch khả trình FPGA và thực hiện việc đồng bộ hỗn loạn từng cặp Master - Slave của các hệ thống ấy trên vi mạch khả trình FPGA Việc thiết kế mô phỏng trên Simulink các hệ thống hỗn loạn Master, Slave và lệnh điều khiển u là khá chi tiết,
điều này đưa ra một hướng phát triển mới của luận văn là thiết kế và đồng bộ 4 hệ thống
Trang 24hỗn loạn trên lên mạch điện tử có cấu tạo bao gồm các linh kiện điện tử đơn giản với thành phần chính là vi mạch khuếch đại thuật toán
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau như: sách, báo, tạp chí,
luận văn, công bố khoa học
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích lý thuyết về lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp thí nghiệm trên Lab
- Phương pháp thực nghiệm, mô phỏng sử dụng phần mềm Matlab - Simulink
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về thông tin số sử dụng động học phi tuyến và hỗn loạn
Chương này trình bày các kiến thức tổng quan về động học phi tuyến và hỗn loạn trong viễn thông bao gồm: giới thiệu về động học phi tuyến và hỗn loạn; truyền thông
vô tuyến dựa trên động học phi tuyến và hỗn loạn; tổng quan về truyền thông hỗn loạn
giới thiệu về hỗn loạn và một số hệ thống hỗn loạn điển hình
Chương 2: Tổng quan về các kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn
Trong chương này, trình bày các khái niệm cơ bản về đồng bộ hỗn loạn; tổng quát hóa các nội dung về các kỹ thuật đồng bộ hỗn loạn đã được nghiên cứu; kỹ thuật đồng
bộ các tín hiệu hỗn loạn có mã hóa thông tin; một số kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn tiêu biểu: đồng bộ tổng quát, đồng bộ trễ, đồng bộ pha, đồng bộ xạ ảnh, đồng bộ dự đoán, đồng bộ hoàn chỉnh, đồng bộ hoàn chỉnh ngược
Chương 1 và 2 cung cấp những nền tảng cơ bản trước khi đi sâu vào kỹ thuật đồng
bộ hoàn chỉnh ở chương 4 Chương 3 và chương 4 trình bày các kết quả của luận văn
Chương 3: Phân tích và thiết kế các bộ tạo tín hiệu dao động hỗn loạn
Chương này trình bày phân tích, tính toán lý thuyết và kết quả mô phỏng trên Simulink các hệ thống hỗn loạn điển hình là Lorenz, Rossler, Chua, Linz và Sprott được đưa ra để phân tích các đặc tính động học hỗn loạn của từng hệ thống Mô hình mô
phỏng trên Simulink của các hệ thống hỗn loạn này sẽ được đưa vào sử dụng làm các
bộ tạo dao động hỗn loạn để áp dụng kỹ thuật đồng bộ hoàn chỉnh giữa hai hệ thống hỗn
loạn trong chương 4
Chương 4: Nghiên cứu kỹ thuật đồng bộ trong hệ thống thông tin hỗn loạn và áp
d ụng kỹ thuật đồng bộ hoàn chỉnh trong hệ thống thông tin hỗn loạn
Trang 25Phần kết quả của luận văn, trong chương 4 tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu kỹ thuật đồng bộ hoàn chỉnh trong hệ thống thông tin hỗn loạn, tìm hiểu khả năng điều khiển,
kiểm soát dao động hỗn loạn, tính toán lỗi hệ thống đồng bộ, tính toán hàm điều khiển
hệ thống hỗn loạn Phân tích, tính toán, thiết kế mô hình mô phỏng cho hệ thống hỗn
loạn Master, Slave, lệnh điều khiển u Đưa ra phân tích kết quả mô phỏng đồng bộ hoàn
chỉnh trên 4 hệ thống hỗn loạn là hệ thống Lorenz, hệ thống Rossler, hệ thống Chua và
hệ thống Linz và Sprott trên Matlab - Simulink
Từ kết quả chương 3 và chương 4, sẽ tạo tiền đề cho tác giả đề xuất hướng phát triển của luận văn là thiết kế, lập trình 4 hệ thống hỗn loạn trên lên vi mạch khả trình FPGA và thực hiện việc đồng bộ hỗn loạn từng cặp Master-Slave của các hệ thống ấy trên vi mạch khả trình FPGA Việc thiết kế mô phỏng trên Simulink các hệ thống hỗn
loạn Master, Slave và lệnh điều khiển u là khá chi tiết, điều này đưa ra một hướng phát
triển mới của luận văn là thiết kế và đồng bộ 4 hệ thống hỗn loạn trên lên mạch điện tử
có cấu tạo bao gồm các linh kiện điện tử đơn giản với thành phần chính là vi mạch khuếch đại thuật toán
Trang 26NỘI DUNG
ĐẶC TÍNH HỖN LOẠN VÀ ĐỘNG HỌC PHI TUYẾN
1.1 Giới thiệu
Theo nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Mạnh Thắng, các kỹ thuật truyền thông số đang được tiếp tục phát triển và cải tiến trong khoảng 50 năm trở lại đây Hiện nay ngành công nghiệp này đang mang lại lợi nhuận hàng trăm tỉ đô la mỗi năm và hàng chục triệu
việc làm trên toàn thế giới Thực tế đặt ra đối với lĩnh vực truyền thông hiện nay là dữ
liệu số được truyền và nhận có tốc độ đòi hỏi ngày càng cao Nhưng có một số giới hạn
về mặt vật lý tạo ra các ngưỡng của tốc độ dữ liệu Các nhà khoa học đang đi tìm câu
trả lời cho cậu hỏi là liệu có hay không một kỹ thuật truyền thông mà có thể giải quyết được những hạn chế trong các kỹ thuật truyền dẫn hiện nay
Ví dụ, hầu hết các hệ thống truyền thông số ngày nay được thực hiện dùng các linh kiện điện tử với đặc trưng tuyến tính, và các nhà khoa học vẫn thường ứng dụng lý thuyết hệ thống tuyến tính để cải tiến hoạt động của các hệ thống này Trong nhiều trường hợp, các linh kiện điện tử phi tuyến được tuyến tính hóa để đạt được mức độ hoạt động nhất định của một hệ thống tuyến tính Tuy nhiên, do các công nghệ về linh kiện điện tử đều đạt đến giới hạn về mặt lý thuyết, câu hỏi mà các nhà nghiên cứu đặt ra là
liệu đặc tính phi tuyến bên trong của các linh kiện có thể được tận dụng để cải thiện hoạt động của hệ thống truyền thông hiện tại hay không?
Các ưu điểm triển vọng về hoạt động của các linh kiện phi tuyến trong việc tạo
ra các tín hiệu cho truyền thông số là nâng cao hiệu suất, tiêu thụ công suất thấp, và tăng
khả năng bảo mật Các ưu điểm này cũng đồng nghĩa với yêu cầu quản lý hiệu quả phổ
và gia tăng chi phí cho loại công nghệ mới này
Trang 27Hình 1.1 Sơ đồ khối của hệ thống thông tin số
Mã hóa nguồn
Mã hóa mật
Mã hóa kênh
Ghép kênh
Điều chế
Trải phổ
Đa truy
nh ập
Máy phát
Kênh truyền
Đồng bộ
Từ
nguồn tin
Từ các nguồn khác
Tạo khuôn
Giải mã nguồn
Giải mã mật
Giải mã kênh
Phân kênh
Giải điều chế
Giải trải phổ Đa truy nhập
Máy thu
Trang 28Để có thể hiểu được ứng dụng của các kỹ thuật phi tuyến tính trong truyền thông
số, hãy xét trường hợp tổng quát với sơ đồ khối của một hệ thống thông tin số cơ bản trong Hình 1.1 Khối mã hóa nguồn nhận dữ liệu từ nguồn thông tin, và thực hiện mã hóa nhằm loại bỏ các thông tin dư thừa hoặc thực hiện quá trình nén dữ liệu theo một vài phương pháp khác nhau Khối bảo mật thực hiện mã hóa nhằm đảm bảo tính bảo
mật trong khi truyền dẫn Khối mã hóa kênh thực hiện chuyển đổi trên dữ liệu vào nhằm
giảm sự mất mát thông tin khi đi qua kênh truyền Khối điều chế thực hiện việc đưa dữ
liệu cần truyền lên sóng mang, sau đó được kết hợp với các tín hiệu khác trong cơ chế
đa truy nhập, và đưa ra tín hiệu truyền đi Ở phía thu, các khối tương ứng thực hiện quá trình ngược với ở phía phát
Ưu điểm của việc truyền thông số so với kỹ thuật truyền thông tương tự là có thể
nhận biết rõ thông qua trường hợp tổng quát sau Thứ nhất, thông tin truyền đi được mã hóa sao cho ít bị chịu ảnh hưởng của kênh truyền nhất, được bảo mật và các thông tin
dư thừa được loại bỏ nhằm thu hẹp phổ tần Sau đó, dữ liệu được điều chế vào sóng mang sao cho tối thiểu băng thông và yêu cầu công suất tương ứng với tốc độ dữ liệu mong muốn với một tỷ lệ lỗi bit nào đó Do có khả năng điều khiển mức độ bảo mật, băng thông và tỷ lệ lỗi đã làm cho kỹ thuật truyền thông số hơn hẳn các kỹ thuật truyền thông tương tự
Các kỹ thuật phi tuyến tính có thể ứng dụng vào khối mã hóa/giải mã bảo mật trong hệ thống Ở đây, dữ liệu được trộn vào với một chuỗi hỗn loạn, và dữ liệu sẽ chỉ được khôi phục bởi bộ nhận hợp lệ Các kỹ thuật phi tuyến tính cũng hứa hẹn ứng dụng vào chức năng mã hóa/giải mã kênh nhằm mang lại lợi ích cho khả năng chịu đựng các
vấn đề fading kênh truyền Các kỹ thuật điều chế hỗn loạn và các kỹ thuật trải phổ cũng
có thể cho phép cải thiện các phương pháp đa truy nhập và cải thiện các chỉ tiêu liên quan đến hiện tượng jamming và fading Một lưu ý rằng điều chế dữ liệu số có thể sẽ kém nhạy với các đặc điểm phi tuyến điện tử trong các phần thu và phát của thiết bị
1.2 Truyền thông vô tuyến dựa trên động học phi tuyến và hỗn loạn
Các thiết bị thông tin số vô tuyến có rất nhiều các yêu cầu khác nhau, ví dụ như
tỷ lệ dữ liệu được truyền đi, tỷ lệ lỗi bít (BER-Bit Error Rate), băng thông, độ phức tạp
và giá thành Tuy nhiên, do môi trường có tác động lớn đến các vấn đề trên (như hiện tượng fading đa đường, nhiễu từ các thiết bị truyền sóng khác, các nguy cơ bị nghe
trộm…) dẫn đến yêu cầu cần phải có thêm các yêu tố như tính bảo mật, xác suất chịu nhiễu đường truyền, trải phổ và hiệu suất sử dụng nguồn cung cấp
Các đặc điểm này có thể sẽ trở thành thứ yếu để đổi lấy đặc điểm khác trong hệ
thống truyền thông sử dụng kỹ thuật trải phổ Trong các hệ thống truyền thông trải phổ, tín hiệu tin tức băng hẹp được điều chế vào một tín hiệu sóng mang băng rộng Các công
Trang 29nghệ trải phổ hiện tại sử dụng kỹ thuật tương quan để chỉ ra tín hiệu cần thu với một
mẫu đã được biết Kết quả là tín hiệu cần nhận được hợp thành một cách đồng bộ, nhiễu kênh truyền và nhiễu liên kênh được trung bình hóa Tính chất này của hệ thống truyền thông trải phổ được sử dụng để nén nhiễu thông qua việc sử dụng băng thông rộng hơn
và được gọi là độ tăng ích của quá trình xử lý của hệ thống
Một tiếp cận khác đối với các thách thức này đó là tạo ra việc sử dụng hệ thống động hỗn loạn Các tín hiệu hỗn loạn có phổ rộng và được nghiên cứu cho các ứng dụng
trải phổ Bởi tính chất bất thường vốn có, nó có thể được sử dụng hiệu quả để mã hóa thông tin theo một số cách khác nhau Bởi vì tín hiệu hỗn loạn được sinh từ các hệ thống động có phương trình, hai hệ thống hỗn loạn có thể được đồng bộ với nhau nhằm tạo ra các bộ dao động hỗn loạn giống nhau.Theo cách này, việc khôi phục thông tin về khóa
mật mã được điều chế lên tín hiệu sóng mang hỗn loạn trước đó
Phổ rộng của tín hiệu hỗn loạn tạo ra khả năng ứng dụng dùng làm sóng mang trong thông tin trải phổ Dao động đồng bộ giữa hai hệ thống hỗn loạn cho phép khôi
phục thông tin được điều chế trên sóng mang Một số cơ chế truyền thông dựa vào hỗn
loạn được đưa ra, nhưng đa số các hệ thống rất nhạy cảm đối với hiện tượng méo dạng, các phương pháp lọc và cũng như nhiễu tác động Tuy nhiên, hệ thống truyền thông hỗn
loạn cũng có khả năng cải thiện tính riêng tư, bảo mật, và khả năng bị tác động trên đường truyền [2; tr 7-9]
1.3 Tổng quan về hỗn loạn
Theo nghiên cứu của ThS Nguyễn Tiến Đạt, tín hiệu hỗn loạn là các tín hiệu không tuần hoàn, giống nhiễu từ các hệ thống động phi tuyến tính Nói chung, một hệ
thống động có số lượng biến trạng thái độc lập là cố định mà quỹ đạo chuyển động của
nó được điều khiển bằng một tập các phương trình vi phân chứa tất cả các biến trạng thái Với một hệ thống bậc N, N biến trạng thái tồn tại và một tập N phương trình vi phân được viết ra Để hiểu các tín hiệu hỗn loạn được sinh ra như thế nào, ta xem xét các biểu diễn rời rạc của các hệ thống động Một cách cơ bản, khi một hệ thống được
mô tả trong miền thời gian rời rạc, các biến trạng thái của nó được lấy mẫu tại các khoảng thời gian cố định và động học của nó được mô tả bằng một hàm lặp (iterative)
mà biểu diễn các trạng thái tại điểm lấy mẫu theo các điểm lấy mẫu trước đó, nghĩa là
𝑥𝑥𝑛𝑛 = 𝑓𝑓(𝑥𝑥𝑛𝑛−1, 𝜇𝜇), với với 𝑥𝑥𝑛𝑛 là vector các biến trạng thái tại điểm lấy mẫu thứ n, 𝑓𝑓( ) là hàm lặp biểu diễn động học của hệ thống, và 𝜇𝜇 là vector các tham số ảnh hưởng lên hệ
thống
Trang 30Các hệ thống hỗn loạn là các hệ thống động mà các biến trạng thái của nó biến đổi theo một mô hình giới hạn, không tuần hoàn và giống ngẫu nhiên Nó cũng được đặc trưng bằng một tính chất đặc biệt là nhạy với các điều kiện đầu, nghĩa là hai điều
kiện đầu rất gần nhau có thể dẫn tới hai đường chuyển động hoàn toàn không tương quan với nhau một cách nhanh chóng Tính chất này, một cách lý thuyết, cho phép ta
tạo ra vô số các tín hiệu hỗn loạn không tương quan từ cùng một hệ thống bằng các sử
dụng các điều kiện đầu khác nhau Một điều đáng chú ý nữa là do tính ngẫu nhiên của
nó, các tín hiệu hỗn loạn có hàm tự tương quan dạng xung và có phổ công suất băng
rộng Hàm tương quan chéo của các tín hiệu hỗn loạn cũng có giá trị rất nhỏ
Tín hiệu hỗn loạn cùng với đặc tính băng rộng của nó có thể dùng trong việc trải
phổ thông tin băng hẹp Bởi vậy, sử dụng tín hiệu hỗn loạn để mã hóa thông tin, các tín
hiệu thu được sẽ là những tín hiệu trải phổ, có băng thông rộng và mật độ phổ công suất
thấp Chúng có được tất cả những ưu điểm của tín hiệu trải phổ như khó bị dò, giảm bớt được hiệu ứng fading đa đường, chống can nhiễu (jamming), Hơn nữa, một số lượng
lớn các dạng sóng trải phổ có thể được tạo ra một cách dễ dàng do đặc tính nhạy với điều kiện đầu và sự thay đổi các tham số Do đó, hỗn loạn có thể cung cấp một hệ thống truyền thông tin trải phổ với giá thành rẻ và đa năng Trong những năm gần đây, một số
kỹ thuật điều chế và giải điều chế đã được đề xuất để truyền thông tin
Có hai kỹ thuật sử dụng trong truyền thông tin tương tự với tín hiệu hỗn loạn:
mặt nạ hỗn loạn (chaotic masking) và điều chế hỗn loạn (chaotic modulation) Trong
dạng cơ bản nhất của chaotic masking, tín hiệu tương tự được cộng với tín hiệu đầu ra
của một hệ thống hỗn loạn Tại phía thu, dựa trên một quá trình gọi là đồng bộ hỗn loạn (synchronization chaotic), tín hiệu hỗn loạn được tái tạo và tín hiệu tương tự được tách
ra bằng cách trừ tín hiệu hỗn loạn tái tạo từ tín hiệu thu được
Ý tưởng cơ bản của điều chế hỗn loạn là phun thông tin tương tự vào một hệ
thống hỗn loạn để thay đổi động học của nó Phương pháp này thường được thực hiện
bằng cách điều chế một tham số thích hợp cho trước Khi đó, tín hiệu hỗn loạn sinh ra
bởi hệ thống chưa cả thông tin tương tự Công việc của máy thu là bám theo sự thay đổi động học của tín hiệu hỗn loạn và khôi phục lại thông tin tương tự ban đầu
Một vài sơ đồ điều chế số đã được đề xuất để mã hóa thông tin số với các tín hiệu
hỗn loạn Trong hầu hết các phương pháp, nguyên lý cơ bản là ánh xạ các ký tự (symbol)
Trang 31số vào các tín hiệu hỗn loạn cơ bản không tuần hoàn Ví dụ như khóa dịch hỗn loạn (CSK) ánh xạ các ký tự khác nhau tới các tín hiệu hỗn loạn cơ sở khác nhau từ một hệ
thống hỗn loạn sử dụng các giá trị khác nhau của tham số phân nhánh (bifurcation) hoặc
từ nhiều hệ thống hỗn loạn khác Nếu một bản sao đồng bộ của các tín hiệu hỗn loạn có
sẵn tại máy thu, ta có thể thực hiện được tách sóng bằng cách đánh giá sai số đồng bộ
hoặc dựa trên bộ tách sóng tương quan thông thường Cách tách sóng này còn gọi là tách sóng liên kết (coherent) Hơn nữa, nếu bản sao đồng bộ của các tín hiệu hỗn loạn
cơ bản không có tại máy thu, việc tách sóng có thể được thực hiện dùng tách sóng không liên kết (non-conherent)
Một kỹ thuật điều chế đã được nghiên cứu rộng rãi khác là khóa dịch hỗn loạn vi sai (DCSK), kỹ thuật này một cách cơ bản tạo ra một cấu trúc đặc biệt của bit thông tin
để có thể thực hiện được việc tách sóng không liên kết, nghĩa là không dùng một bản sao đồng bộ của các tín hiệu hỗn loạn tại máy thu Cụ thể hơn, trong trường hợp nhị phân, mỗi ký tự truyền đi được biểu diễn bởi hai tập mẫu tín hiệu hỗn loạn Tập thứ nhất
là tập các mẫu tham chiếu còn tập thứ hai là tập các mẫu dữ liệu Tùy thuộc vào ký tự được truyền đi, tập các mẫu dữ liệu giống hệt hoặc bị đảo ngược dấu của tập các mẫu tham chiếu Giải điều chế có thể thực hiện được một cách trực tiếp bằng cách tương quan hai tập tín hiệu này Các kỹ tự nhị phân có thể được tách ra bằng các so sánh đầu
ra bộ tương quan với một giá trị ngưỡng
Một vài kỹ thuật khác kế thừa từ CSK và DCSK cũng đã được đề xuất như khóa đóng mở hỗn loạn (COOK), DCSK điều tần, khóa dịch trễ tương quan (CDSK), CSK đối xứng và CSK cầu phương
Nguyên lý cơ bản của hệ thống trải phổ trực tiếp là thay dãy trải phổ nhị phân thông thường như dãy m (m-sequence) hoặc dãy Gold bằng dãy hỗn loạn sinh ra bởi
một ánh xạ phi tuyến rời rạc Người ta đã chỉ ra rằng hiệu năng của hệ thống mới có thể
so sánh được với hiệu năng của hệ thống thông thường sử dụng dãy trải phổ nhị phân
Ưu điểm của việc sử dụng dãy trải phổ hỗn loạn là tồn tại vô số các dãy trải phổ và tín
hiệu được trải phổ khó bị chặn hơn
Thay vì áp dụng các dãy hỗn loạn tương tự để trải phổ ký tự dữ liệu, Mazzini đã
đề xuất việc lượng tử hóa và lặp lại một dải các chuỗi thời gian hỗn loạn một cách tuần hoàn để trải phổ năm 1998 Các phân tích chỉ ra ràng các hệ thống sử dụng các dãy đã được lượng tử hóa tuần hoàn có dung lượng lớn hơn và tỉ lệ lỗi bit (BER) thấp hơn khi dùng dãy m và dãy Gold trong môi trường đa truy nhập [1; tr 44-47]
Trang 321.4 Truyền thông vô tuyến dựa trên động học phi tuyến và hỗn loạn
Theo nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Mạnh Thắng, các thiết bị thông tin số vô tuyến có rất nhiều các yêu cầu khác nhau, ví dụ như tỷ lệ dữ liệu được truyền đi, tỷ lệ
lỗi bít (BER-Bit Error Rate), băng thông, độ phức tạp và giá thành Tuy nhiên, do môi trường có tác động lớn đến các vấn đề trên (như hiện tượng fading đa đường, nhiễu từ các thiết bị truyền sóng khác, các nguy cơ bị nghe trộm…) dẫn đến yêu cầu cần phải có thêm các yêu tố như tính bảo mật, xác suất chịu nhiễu đường truyền, trải phổ và hiệu
suất sử dụng nguồn cung cấp
Các đặc điểm này có thể sẽ trở thành thứ yếu để đổi lấy đặc điểm khác trong hệ thống truyền thông sử dụng kĩ thuật trải phổ.Trong các hệ thống truyền thông trải phổ, tín hiệu tin tức băng hẹp được điều chế vào một tín hiệu sóng mang băng rộng Các công nghệ
trải phổ hiện tại sử dụng kĩ thuật tương quan để chỉ ra tín hiệu cần thu với một mẫu đã được biết Kết quả là tín hiệu cần nhận được hợp thành một cách đồng bộ, nhiễu kênh truyền và nhiễu liên kênh được trung bình hóa.Tính chất này của hệ thống truyền thông
trải phổ được sử dụng để nén nhiễu thông qua việc sử dụng băng thông rộng hơn và được gọi là độ tăng ích của quá trình xử lý của hệ thống
Một tiếp cận khác đối với các thách thức này đó là tạo ra việc sử dụng hệ thống độnghỗn
loạn.Các tín hiệu hỗn loạn có phổ rộng và được nghiên cứu cho các ứng dụng trải phổ
Bởi tính chất bất thường vốn có, nó có thể được sử dụng hiệu quả để mã hóa thông tin theo một số cách khác nhau Bởi vì tín hiệu hỗn loạn được sinh từ các hệ thống động có phương trình, hai hệ thống hỗn loạn có thể được đồng bộ với nhau nhằm tạo ra các bộ dao động hỗn loạn giống nhau.Theo cách này, việc khôi phục thông tin về khóa mật mã được điều chế lên tín hiệu sóng mang hỗn loạn trước đó
Phổ rộng của tín hiệu hỗn loạn tạo ra khả năng ứng dụng dùng làm sóng mang trong thông tin trải phổ Dao động đồng bộ giữa hai hệ thống hỗn loạn cho phép khôi phục thong tin được điều chế trên sóng mang Một số cơ chế truyền thông dựa vào hỗn loạn được đưa ra, nhưng đa số các hệ thống rất nhạy cảm đối với hiện tượng méo dạng, các
phương pháp lọc và cũng như nhiễu tác động.Tuy nhiên, hệ thống truyền thông hỗn loạn cũng có khả năng cải thiện tính riêng tư, bảo mật, và khả năng bị tác động trên đường truyền
Một số mô hình điều chế dựa trên khác biệt hỗn loạn sẽ được mô tả ở đây Hoạt động của một bộ điều chế và giải điều chế chuyển dịch hỗn loạn vi phân (DCSK - Differential Chaos Shift Keying) được mô tả trong Hình 1.2 Mỗi bit được truyền, bộ
Trang 33phát tạo ra một chuỗi hỗn loạn 𝑥𝑥𝑖𝑖 có độ dài 𝑀𝑀, kèm theo sau đó là chuỗi được nhân với tín hiệu thông tin 𝑏𝑏𝑙𝑙 = ±1, với l là bộ đếm bit Kết quả tín hiệu được truyền đi 𝑠𝑠𝑖𝑖 là:
Nếu cho rằng tín hiệu thu được 𝑟𝑟𝑖𝑖 được viết bởi 𝑟𝑟𝑖𝑖 = 𝑠𝑠𝑖𝑖 + 𝜉𝜉𝑖𝑖, trong đó 𝜉𝜉𝑖𝑖 là một
biến sinh ra bởi quá trình ngẫu nhiên ổn định (𝜉𝜉𝑖𝑖 ≥ 0), với 𝜉𝜉𝑖𝑖 độc lập thống kê với 𝜉𝜉𝑗𝑗
với bất kỳ 𝑖𝑖 ≠ 𝑗𝑗, ta có thể thực hiện việc duy trì đồng bộ bit Khi đó, đầu ra của bộ tương quan có thể được mô tả như sau:
mẫu ngẫu nhiên trung bình diễn tả các thành phần nhiễu và giao thoa
Hình 1.2 Ho ạt động của DCSK: (a) Bộ phát và (b) Bộ thu [2; tr 10]
Một nhược điểm của phương pháp này là cần phải truyền đi cùng một chuỗi hỗn
loạn hai lần, và nó làm cho hệ thống dễ bị chặn và gây lãng phí công suất Hơn nữa, bộ phát yêu cầu có thành phần làm trễ và một khóa chuyển mạch hoặc một bộ tạo tín hiệu
có khả năng tái tạo cùng một chuỗi hỗn loạn
Một kỹ thuật khác có thể thay thế là khóa chuyển dịch trễ tương quan (CDSK - Correlation Delay Shift Keying) Trong bộ điều chế CDSK ở hình 1.3, tín hiệu được phát đi là tổng của một chuỗi hỗn loạn và một chuỗi hỗn loạn tương tự bị trễ được nhân
với tín hiệu mang tin 𝑏𝑏𝑙𝑙 = ±1 Kết quả, CDSK khắc phục được các vấn đề của DCSK:
Trang 34chuyển mạch trong bộ phát được thay thế bằng một bộ cộng, và tín hiệu phát đi không bao giờ lặp lại Bộ thu CDSK trong hình 2.3b là giống với DCSK, ngoại trừ bộ tạo trễ không bắt buộc phải bằng với chiều dài chuỗi trải phổ Đầu ra của bộ tương quan có thể được xác định bởi tổng biểu thức sau:
𝑆𝑆 = �(𝑥𝑥𝑖𝑖 + 𝑏𝑏𝑙𝑙𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿+ 𝜉𝜉𝑖𝑖)(𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿+ 𝑏𝑏𝑙𝑙−1𝑥𝑥𝑖𝑖−2𝐿𝐿 + 𝜉𝜉𝑖𝑖−𝐿𝐿)𝑀𝑀
𝑖𝑖=1
= 𝑏𝑏𝑙𝑙∑ 𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿2 + ∑ 𝜂𝜂𝑀𝑀 𝑖𝑖
𝑖𝑖=1
𝑀𝑀 𝑖𝑖=1 (1.4) trong đó:
𝜂𝜂𝑖𝑖 = 𝑥𝑥𝑖𝑖𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿+ 𝑏𝑏𝑙𝑙−1𝑥𝑥𝑖𝑖𝑥𝑥𝑖𝑖−2𝐿𝐿 + 𝑏𝑏𝑙𝑙𝑏𝑏𝑙𝑙−1𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿𝑥𝑥𝑖𝑖−2𝐿𝐿
+ 𝑥𝑥𝑖𝑖𝜉𝜉𝑖𝑖−𝐿𝐿+ 𝑏𝑏𝑙𝑙𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿𝜉𝜉𝑖𝑖−𝐿𝐿+ 𝑥𝑥𝑖𝑖−𝐿𝐿𝜉𝜉𝑖𝑖 + 𝑏𝑏𝑙𝑙−1𝑥𝑥𝑖𝑖−2𝐿𝐿𝜉𝜉𝑖𝑖+ 𝜉𝜉𝑖𝑖𝜉𝜉𝑖𝑖−𝐿𝐿Thành phần đầu tiên trong biểu thức (2.4) là tín hiệu mong muốn và thành phần
thứ hai đến từ thành phần nhiễu của đầu vào bộ tương quan và từ các đoạn hỗn loại tương quan trong một thời gian xác định Nhiễu tác động vào sẽ dẫn đến suy giảm hoạt động của CDSK so với DCSK
Một cách thay thế kèm vào tín hiệu tham chiếu trong tín hiệu phát đi liên quan đến quá trình tái tạo tín hiệu tham chiếu ở bộ thu Phương pháp tiếp cận này được đưa vào trong thiết kế của khóa chuyển dịch hỗn loạn cân bằng (SCSK - Symmetric Chaos Shift Keying), và cơ chế hoạt động của nó được đưa ra trong Hình 1.4 Thành phần trung tâm của một bộ phát SCSK là hàm lặp hỗn loạn (chaotic map)
𝑥𝑥𝑖𝑖+1 = 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖) , (1.5)
Hình 1.3 Ho ạt động của CDSK: (a) bộ phát, (b) bộ thu [2; tr 12]
với 𝑥𝑥𝑖𝑖 là vectơ trạng thái trong Thành phần đầu tiên của vectơ này được nhân với tín
hiệu mang tin, 𝑏𝑏𝑙𝑙 = ±1 để tạo thành tín hiệu được truyền đi, tức là: 𝑠𝑠𝑖𝑖 = 𝑏𝑏𝑙𝑙𝑥𝑥𝑖𝑖 Trong bộ thu, tín hiệu này sẽ điều khiển hệ thống hỗn loạn :
Trang 35𝑦𝑦𝑖𝑖+1 = 𝐺𝐺(|𝑠𝑠𝑖𝑖|, 𝑦𝑦𝑖𝑖) (1.6) Trong các biểu thức (1.5) và (1.6), 𝐹𝐹( ) và 𝐺𝐺( ) được chọn sao cho hệ thống gồm
phần điều khiển và phản hồi sẽ hình thành cơ chế độ đồng bộ ổn định tương ứng với thành phần vectơ 𝑥𝑥𝑖𝑖 và 𝑦𝑦𝑖𝑖: 𝑥𝑥𝑖𝑖1 = 𝑦𝑦𝑖𝑖1 Một ví dụ đơn giản nhất của hệ thống điều khiển và
phản hồi là hai hệ lặp một chiều:
𝑥𝑥𝑖𝑖+1 = 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖),
𝑦𝑦𝑖𝑖+1 = 𝐹𝐹(𝑦𝑦𝑖𝑖), (1.7)
với 𝐹𝐹( ) là hàm chẵn, 𝐹𝐹(𝑥𝑥) = 𝐹𝐹(−𝑥𝑥) Trong trường hợp không có nhiễu, đầu ra của hệ
thống hỗn loạn trong bộ thu giống với đầu ra của hệ thống hỗn loạn trong bộ phát, và
giống với tín hiệu ở kênh truyền, ngoại trừ việc điều chế cực tính sẽ phụ thuộc vào thông tin Dấu của b l có thể từ đó được xác định bằng việc tích tín hiệu thu được và đầu ra của
hệ thống hỗn loạn ở bộ thu Đầu ra sau đó có thể được xác định bằng tính trung bình trên chiều dài của chuỗi trải phổ nhằm giảm các ảnh hưởng của nhiễu kênh truyền
Nhìn chung, đầu ra của bộ tương quan cho SCSK có thể được viết như sau:
𝑆𝑆 = ∑ 𝑦𝑦𝑀𝑀 𝑖𝑖1(𝑏𝑏𝑙𝑙𝑥𝑥𝑖𝑖1+ 𝜉𝜉𝑖𝑖) 𝑖𝑖=1 (1.8)
với 𝑦𝑦𝑖𝑖1là đầu ra của hệ thống hỗn loạn ở phía thu Trong trường hợp khi bộ lặp hỗn loạn
có một chiều động thì:
𝑆𝑆 = ∑ 𝐹𝐹(𝑏𝑏𝑀𝑀𝑖𝑖=1 𝑙𝑙𝑥𝑥𝑖𝑖−1+ 𝜉𝜉𝑖𝑖−1)(𝑏𝑏𝑙𝑙𝑥𝑥𝑖𝑖+ 𝜉𝜉𝑖𝑖) (1.9) Tác giả có thể đặt 𝜉𝜉̃𝑖𝑖 = 𝜉𝜉𝑖𝑖/𝑏𝑏𝑙𝑙 và viết lại dưới dạng:
𝑆𝑆 = 𝑏𝑏𝑙𝑙� 𝐹𝐹�𝑥𝑥𝑖𝑖−1 + 𝜉𝜉̃𝑖𝑖−1��𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1) + 𝜉𝜉̃𝑖𝑖�
𝑀𝑀 𝑖𝑖=1
= 𝑏𝑏𝑙𝑙� 𝑥𝑥𝑖𝑖2+𝑀𝑀 𝑖𝑖=1
𝑏𝑏𝑙𝑙� 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1+ 𝜉𝜉̃𝑖𝑖−1)𝑀𝑀
𝑖𝑖=1
𝜉𝜉̃𝑖𝑖+ 𝑏𝑏𝑙𝑙∑ �𝐹𝐹�𝑥𝑥𝑀𝑀 𝑖𝑖−1+ 𝜉𝜉̃𝑖𝑖−1� − 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1)� 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1)
Tổng đầu tiên của biểu thức này là tín hiệu mong muốn, và tổng thứ hai là nhiễu
Hướng tiếp cận sử dụng SCSK có các ưu điểm vượt trội hơn cả DCSK và CDSK Thiết kế của bộ phát đơn giản hơn và chuỗi SCSK được truyền đi không bị lặp lại, dẫn đến xác suất bị tách sóng thấp hơn Thêm vào đó, việc giải điều chế tín hiệu SCSK yêu
cầu một hệ thống phi tuyến giống hệt trong bộ thu, vì vậy nó có khả năng bảo vệ tốt hơn trong việc chống lại các hoạt động thu trái phép Tuy nhiên các ưu điểm này phải trả giá
Trang 36bằng việc giảm hiệu năng hoạt động và khắt khe hơn trong việc lựa chọn các hệ thống động cho quá trình tạo ra hỗn loạn
Đầu ra của bộ tương quan DCSK được đưa ra trong biểu thức (1.3) và có thể được viết dưới dạng sau:
𝑀𝑀 𝑖𝑖=1
𝑀𝑀
𝑖𝑖=1Đối với DCSK, 𝐴𝐴 = 𝐸𝐸𝑏𝑏/2 Yêu cầu 𝑥𝑥𝑖𝑖 là ổn định và bộ tương quan giữa 𝑥𝑥𝑖𝑖 và
𝑥𝑥𝑖𝑖+𝑘𝑘 suy giảm nhanh chóng khi |𝑘𝑘| tăng (là chuẩn của các hệ thống hỗn loạn) Giả sử M
lớn hơn số lần suy giảm của đặc tính tương quan Với giả thiết này, khi M tăng, phân bố
của 𝜍𝜍 và η càng đi đến với phân phối Gaussian
Hình 1.4 Ho ạt động của SCSK: (a) bộ phát, (b) bộ thu [2; tr 14]
Do đó, tỉ lệ lỗi bit với DCSK nhận được bởi
𝐵𝐵𝐸𝐸𝐵𝐵 =12𝑒𝑒𝑟𝑟𝑓𝑓𝑒𝑒 ��𝐸𝐸𝑏𝑏
4𝑁𝑁 0�1 +5𝑀𝑀2 𝐸𝐸𝑏𝑏
𝑁𝑁 0+ 𝑁𝑁0
2𝐸𝐸𝑏𝑏𝑀𝑀�−1� (1.12) Hình 1.5a đưa ra kết quả mô phỏng số với giá trị khác nhau của M Nhiễu kênh
𝜉𝜉𝑖𝑖 được chọn là nhiễu Gauss Xác suất lỗi bit cho khóa dịch pha nhị phân truyền thống (BPSK-Binary Phase Shift Keying) là 𝐵𝐵𝐸𝐸𝐵𝐵 = 𝑒𝑒𝑟𝑟𝑓𝑓𝑒𝑒��𝐸𝐸𝑏𝑏/𝑁𝑁0�/2 cũng được chỉ ra để so sánh Trên hình 1.6, ta có thể thấy sự phù hợp giữa những dự đoán dựa trên phân tích và
kết quả mô phỏng trong trường hợp M=100
Từ hình 1.5, ta cũng thấy rằng với M lớn, hoạt động giảm đi khi tăng M, nó phù
hợp với biểu thức (1.12) Xu hướng này xảy ra bởi sự tăng của khái niệm liên nhiễu
𝜉𝜉𝑖𝑖𝜉𝜉𝑖𝑖−𝑀𝑀 trong biểu thức (1.3), và là điển hình cho việc mã hóa tương quan của các tín
Trang 37hiệu TR Khi tăng M và giữ Eb/N0 không đổi ở một biên độ tín hiệu cố định, thì N0 tăng
tỉ lệ với M Do đó, mặc dù tín hiệu có ích trong biểu thức (1.3) tăng tuyến tính với M,
và độ lệch chuẩn ∑ 𝑥𝑥𝑀𝑀 𝑖𝑖(𝑏𝑏𝑙𝑙
𝑖𝑖=1 𝜉𝜉𝑖𝑖−𝑀𝑀+ 𝜉𝜉𝑖𝑖), ~�𝑀𝑀𝑁𝑁0~𝑀𝑀, cũng như độ lệnh chuẩn
∑ 𝜉𝜉𝑀𝑀 𝑖𝑖𝜉𝜉𝑖𝑖−𝑀𝑀, ~ �𝑀𝑀𝑁𝑁02~𝑀𝑀3/2
Hình 1 5 Đặc tính hoạt động của các phương pháp tách sóng dựa trên các phương pháp tương quan: (a) DCSK, (b) CDSK, và (c) SCSK [2; tr.15]
Trang 38Hình 1.6.Hi ệu năng của của các phương phápDCSK, CDSK và SCSK với M =100
Kết quả mô phỏng số với L=200 được đưa ra trong hình 1.5b So sánh giữa kết
quả mô phỏng và phân tích được minh họa trong hình 1.6 Xem x i và x j là độc lập thống
kê chỉ xấp xỉ nhau khi M lớn, các đường cong phân tích và mô phỏng tại M = 100 là rất
hợp lý
Trong hình 1.6 ta còn thấy hệ thống CDSK hoạt động kém hơn khoảng từ 2 đến
3 dB so với hệ thống DCSK Điều này do hai lý do Lý do thứ nhất, do tính chất tự nhiên
của tín hiệu được truyền, có 4 thành phần nhiễu chéo trong biểu thức (1.4) trong khi chỉ
có 2 nhiễu trong (1.3) với DCSK Lý do thứ hai là cùng với các thành phần nhiễu giao thoa là nhiễu tín hiệu và liên nhiễu, có ba thành phần giao thoa do trực giao không hoàn
hảo của những đoạn hỗn loạn trên hai khoảng thời gian liên tiếp Nhóm này có mặt ngay
cả khi biên độ nhiễu bằng không, do đó tỷ lệ bít lỗi bão hòa khi 𝐸𝐸𝑏𝑏/𝑁𝑁0 lớn tại giá trị 𝐵𝐵𝐸𝐸𝐵𝐵𝑠𝑠𝑠𝑠𝑠𝑠=erfc(�5𝑀𝑀/38)/2 Sự bão hòa này được thấy trong hình 1.5b, ở đó đường cong
tỷ lệ bit lỗi được tính toán số học cho những giá trị khác nhau của M Ở đây tác giả còn
thấy rằng, trong trường hợp DCSK, tăng M tại 𝐸𝐸𝑏𝑏/𝑁𝑁0 không đổi dẫn đến làm suy giảm
hoạt động
Nhìn chung, đầu ra của bộ tương quan ở biểu thức (1.10) đối với hệ thống này có
thể được viết dưới dạng (1.11) với A = 𝐸𝐸𝑏𝑏 + M𝛥𝛥𝐸𝐸𝑏𝑏, trong đó:
Δ𝐸𝐸𝑏𝑏= 〈(𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1+ 𝜉𝜉̃𝑖𝑖−1− 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1) 𝐹𝐹(𝑥𝑥𝑖𝑖−1〉 (1.14)
𝜂𝜂 và 𝜍𝜍 có thể được định nghĩa như trong hai trường hợp trước Khi M lớn, 𝜍𝜍 là một biến
có phân bố Gauss có trung bình bằng không với các giá trị phương sai được xác định theo hàm Tent 𝜎𝜎𝜍𝜍2 = 4𝐸𝐸𝑏𝑏2/(5M) Biểu thức của 𝜂𝜂 đối với SCSK được định nghĩa:
Trang 39η = � F(xi−1 + ξ�i−1M
i=1
)ξ�i+ ∑ (F(M
i=1 xi−1 + ξ�i−1) − F(xi−1 ))F(xi−1 ) − ΔEb), (1.15)
trong trường hợp M lớn, 𝜂𝜂 là một biến có phân bố Gauss có trị trung bình bằng không
Do tính phi tuyến tính của F, rất khó để đưa ra một biểu thức rõ ràng cho tỷ lệ bit lỗi BER; nhưng tác giả có thể kỳ vọng vào những đặc tính tổng thể trong hoạt động của DCSK và CDSK Hình 1.5c cho thấy hoạt động của SCSK, trong đó xác nhận sự kỳ
vọng hoạt động của SCSK nên theo cùng một xu hướng như của DCSK hay CSK Trong trường hợp riêng, có thể quan sát thấy hiệu suất làm việc bị suy giảm ứng với các giá trị
M lớn
Một hệ thống truyền dẫn sử dụng các xung hẹp thực hiện điều chế thông tin vào khoảng cách giữa các xung có nhiều ưu điểm hơn so với các hệ thống đã đề cập ở trên Trong các hệ thống truyền dẫn ứng dụng kỹ thuật hỗn loạn, méo của bộ lọc và méo kênh làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng đồng bộ giữa các hệ thống hỗn loạn Các ảnh hưởng này có thể giảm đáng kể bằng cách sử dụng một tín hiệu truyền đi có
dạng dạng xung hẹp
Cách tiếp cận với hệ thống truyền thông xung cơ bản là sử dụng các chuỗi xung
thời gian hỗn loạn mà không sử dụng dạng sóng hỗn loạn liên tục Các xung có dạng
giống nhau, nhưng khoảng thời gian trễ giữa các xung thay đổi một cách hỗn loạn Bởi
vì thông tin về trạng thái của hệ thống hỗn loạn thể hiện qua khoảng thời gian giữa các xung, méo dạng của các xung sẽ không gây ảnh hưởng tới bộ tạo xung
Hệ thống này tương tự với hệ thống vô tuyến băng thông siêu rộng, và nó rất có triển vọng là nền tảng truyền thông, đặc biệt trong môi trường nhiễu đa đường hoặc nơi yêu cầu cùng tồn tại hoạt động với các hệ thống radio khác Sự thay đổi một cách hỗn
loạn khoảng cách giữa các xung hẹp làm tăng cường các đặc tính phổ của hệ thống bằng cách xóa bỏ tính tuần hoàn của tín hiệu được phát Do đặc tính phổ tần số không còn tập trung ở một tần số nữa, các xung có vị trí rất hỗn loạn tạo ra những khó khăn để có thể giám sát và tách sóng Do đó thu phát dựa trên chuỗi xung hỗn loạn tạo ra xác suất khả năng can thiệp rất thấp vào tín hiệu được truyền Khả năng bảo mật còn cao hơn nữa
nếu như sử dụng một trong các cơ chế mã hóa dùng kỹ thuật hỗn loạn
Phương pháp mã hóa hỗn loạn cụ thể là điều chế vị trí xung hỗn loạn Chaotic Pulse Position Modulation) dùng phương pháp điều chế hồi tiếp động Cơ chế truyền thông được xây dựng xung quanh một bộ tái tạo xung hỗn loạn (CPRG-Chaotic
Trang 40(CPPM-Pulse Regenerator), được cho trong hình 1.7 Với một chuỗi xung với khoảng giữa các
xung T n, CPRG tạo ra một chuỗi xung với khoảng giữa các xung T n + ΔT n trong đó ΔT
phụ thuộc vào chuỗi đầu vào: ΔT n = F(T n , … T n-k ); trong đó hàm F(●) thỏa mãn nếu không có tín hiệu vào và có vòng phản hồi kín thì bộ phát tạo ra một chuỗi xung với khoảng giữa các xung hỗn loạn
Thông tin dưới dạng nhị phân được đưa vào chuỗi xung đi ra từ CPRG bằng cách thêm vào một khối trong vòng phản hồi Khối này không làm thay đổi vị trí xung nếu bit “0” được phát, hoặc làm trễ xung một thời gian cố định nào đó nếu bit “1” được phát Dãy xung sau khi được điều chế sẽ là tín hiệu được phát Bởi vì bộ thu trái phép không
có thông tin về khoảng cách giữa các xung đi ra từ CPRG, nó không thể xác định được
liệu một xung nào đó nhận được có bị làm trễ hay không, và do vậy không thể nhận ra bit “0” hay “1” được truyền đi Tại phía thu tín hiệu được đưa vào một CPRG giống như bên phát
Các đầu ra từ CPRG bên phía phát và phía thu là giống nhau Do đó tín hiệu tại đầu ra của CPRG ở bộ thu giống với tín hiệu của kênh, ngoại trừ một số xung trong tín
hiệu được phát bị trễ Bằng cách đánh giá thời gian tương đối giữa các xung trong tín
hiệu thu và tín hiệu tại đầu ra của CPRG, bộ thu có thể giải mã và tách thông tin Khi các CPRG có sự khác nhau xác định nào đó sẽ dẫn tới lỗi bit Như vậy có thể coi thông
số của các CPRG như là khóa mật mã
Hình 1.7 Minh h ọa cơ bản phương pháp CPPM [2; tr.18]
Khi được đồng bộ, bộ thu sẽ “biết” quãng thời gian hay cửa sổ tại vị trí đó và có
thể ước đoán xung tương ứng là “0” hay “1” Điều đó cho phép tín hiệu vào bị chặn ở
tất cả các thời điểm khác trừ thời điểm xung được mong đợi Các quãng thời gian khi tín hiệu vào bị chặn bởi một bộ thu cụ thể có thể được sử dụng bởi bộ thu khác Để giải
mã một bit thông tin cần phải xác định có hay không một xung từ bộ phát rơi vào cửa
sổ tương ứng với “0” hay tương ứng với “1”, điều đó có thể được thực hiện bằng cách
lấy tích phân tín hiệu đầu vào bên trong cửa sổ xung quanh ví trí mong đợi của các xung ứng với “0” và “1” Nếu tất cả các xung có cùng phân cực và đồng bộ hoàn hảo, CPPM
hoạt động tương đương OOK - kém hơn 3dB so với BPSK