Đây là bài thảo luận nhóm môn Thương mại quốc tế của nhóm cao học viên Trường Đại học Thương mại.Bài thảo luận bao gồm những nội dung chính sau: Cơ sở lý luận về xuất khẩu; Thực trạng xuất khẩu ở Việt Nam giai đoạn 20002019.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
BÀI THẢO LUẬN
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài: Cơ sở lý luận về xuất khẩu và thực trạng xuất khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2000-2019
Giáo viên hướng dẫn: …
Nhóm thực hiện: …
Hà Nội, tháng 12 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU 1
1.1 Khái niệm xuất khẩu 1
1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế 1
1.2.1 Đối với nền kinh tế thế giới 1
1.2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia 1
1.3 Nhóm hàng xuất khẩu 3
1.4 Cơ cấu xuất khẩu 3
1.4.1 Khái niệm cơ cấu xuất khẩu 3
1.4.2 Phân loại cơ cấu xuất khẩu 4
1.4.3 Xu hướng về cơ cấu xuất khẩu trên thế giới 5
PHẦN 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2019 5
2.1 Kim ngạch xuất khẩu 5
2.2 Thị trường xuất khẩu 7
2.3 Cơ cấu hàng xuất khẩu 9
2.4 Kết luận 11
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU
1.1 Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế
Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương, đã xuất hiện
từ rất sớm và ngày càng phát triển Tuy hình thức sơ khai chỉ đơn thuần là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia nhưng ngày nay xuất khẩu đã được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Trong xu thế toàn cầu hóa, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rộng khắp trong hầu hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao Nó cũng diễn ra trên mọi phạm vi cả về không gian lẫn thời gian: có thể chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng cũng có thể kéo dài qua nhiều năm; có thể được tiến hành ở một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau Tất cả các hoạt động trao đổi đó đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng
1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế
1.2.1 Đối với nền kinh tế thế giới
Xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thương và là hoạt động đầu tiên trong hoạt động thương mại quốc tế, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia cũng như toàn thế giới
Vì những lý do khác nhau nên mỗi quốc gia đều có thế mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu ở lĩnh vực khác Để có thể khai thác được lợi thế, giảm bất lợi, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia phát triển phải tiến hành trao đổi với nhau, mua những sản phẩm mà mình sản xuất khó khăn, bán những sản phẩm mà việc sản xuất nó là có lợi thế Tuy nhiên, hoạt đông xuất khẩu nhất thiết phải được diễn ra giữa những nước có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác Một quốc gia thua thiệt về tất cả các lĩnh vực như tài nguyên thiên nhiên, nhân công, tiềm năng kinh tế, nhưng thông qua hoạt động xuất khẩu cũng có điều kiện phát triển kinh tế nội địa
Nói một cách khác, một quốc gia dù trong tình huống bất lợi vẫn tìm ra điểm có lợi
để khai thác Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối và nhập khẩu các mặt hàng không có lợi thế tương đối Sự chuyên môn hóa trong sản xuất này đã làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế tương đối cuả mình một cách tốt nhất để tiết kiệm nguồn lực như vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, trong quá trình sản xuất hàng hóa, và vì vậy trên quy mô toàn thế giới thì tổng sản phẩm cũng sẽ được gia tăng
1.2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới Xuất khẩu là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia:
a) Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Trang 4Trong thương mại quốc tế, xuất khẩu không chỉ để thu ngoại tệ về mà còn với mục đích bảo đảm cho nhu cầu nhập khẩu hàng hóa dịch vụ khác nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trưởng nền kinh tế và tiến tới xuất siêu, tích lũy ngoại tệ
Xuất khẩu với nhập khẩu trong thương mại quốc tế vừa là tiền đề của nhau, xuất khẩu để nhập khẩu và nhập khẩu để phát triển xuất khẩu Đặc biệt ở các nước kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự phát triển kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn
Vì vậy, nguồn huy động cho nước ngoài được coi là nguồn chủ yếu cho quá trình phát triển Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ nước ngoài chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư hoặc người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của quốc gia đó, vì đây là nguồn bảo đảm chính cho nước đó có thể trả nợ được
Thực tiễn cho thấy, mỗi một nước đặc biệt là các quốc gia đang phát triển có thể sử dụng các nguồn vốn huy động chính như: đầu tư nước ngoài, vay nợ viện trợ, thu từ nguồn xuất khẩu
Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài thì không ai có thể phủ nhận đuợc, song việc huy động nguồn vốn này không phải là một điều dễ dàng Sử dụng nguồn vốn này thì các nước đi vay phải chịu mất một số thiệt thòi nhất định và dù bằng cách này hay cách khác thì cũng phải hoàn lại vốn cho nước ngoài Điều này vô cùng khó khăn bởi đang thiếu vốn lại càng thiếu vốn hơn
b) Hoạt động xuất khẩu phát huy được các lợi thế của đất nước
Để xuất khẩu được các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải lựa chọn các mặt hàng có tổng chi phí nhỏ hơn giá trị trung bình trên thị trường thế giới Họ sẽ phải dựa vào những ngành hàng, những mặt hàng có lợi thế của đất nước cả về tương đối và tuyệt đối Hoạt động xuất khẩu thúc đẩy khai thác có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ có ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị tiên tiến đưa năng xuất lao động lên cao
c) Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã đang và
sẽ thay đổi mạnh mẽ Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu với sản xuất và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế:
- Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu, quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Cụ thể là: tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển; tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo ra lợi thế nhờ quy mô; tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho sản xuất mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia; tạo vốn và thu hút công nghệ từ các nước phát triển nhằm hiện đại hóa nền kinh tế nội địa, tạo năng lực cho sản xuất mới; thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng cường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia…
- Cách nhìn nhận khác cho rằng: chỉ xuất khẩu những hàng hóa thừa trong tiêu dùng nội địa, khi nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng Nên chỉ chủ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong
Trang 5một phạm vi hẹp và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển
d) Xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân
Về ngắn hạn, để tập trung phát triển các ngành hàng xuất khẩu thì cần phải thêm lao động, cần để xuất khẩu có hiệu quả thì cần tận dụng lợi thế lao động nhiều, giá rẻ ở nước ta Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.Tác động của xuất ảnh hưởng rất nhiều đến các lĩnh vực của cuộc sống như tạo ra công việc ổn định, tăng thu nhập
1.3 Nhóm hàng xuất khẩu
Hàng xuất khẩu có thể được chia thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia Ở Việt Nam hiện đang có bốn hệ thống phân chia nhóm hàng xuất khẩu, cụ thể:
a) Theo cơ cấu kế hoạch Nhà nước
- Hàng công nghiệp nặng và khoáng sản
- Hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp
- Hàng nông sản và nông sản chế biến
- Hàng lâm sản
- Hàng thủy sản
b) Theo danh mục tiêu chuẩn ngoại thương mã cấp 1 chữ số
Bảng 1 Nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam phân theo danh mục tiêu chuẩn ngoại
thương mã cấp 1 chữ số
TT A - Hàng thô hay mới sơ chế TT B - Hàng chế biến hay đã tinh chế
0 Lương thực, thực phẩm và động vật
sống 5 Hóa chất và sản phẩm liên quan
1 Đồ uống và thuốc lá 6 Hàng chế biến chủ yếu phân theo loạinguyên vật liệu
2 Nguyên vật liệu dạng thô, không dùngđể ăn, trừ nhiên liệu 7 Máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng
3 Nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và nguyên vật
liệu liên quan 8 Hàng chế biến khác
4 Dầu, mỡ, chất béo, sáp động thực vật 9 Hàng hóa không thuộc các nhóm trên
c) Theo danh mục Hệ thống ngành kinh tế quốc dân (VSIC 1993 và VSIC 2007)
VSIC 1993 có 20 ngành cấp 1 nhưng đến VSIC 2007 đã có 21 ngành cấp 1, 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngày cấp 5
d) Theo chương danh mục Hệ thống điều hòa (HS 96, HS 2012, HS 2017)
Hệ thống điều hòa (hay hài hòa) thường được gọi tắt là hệ thống hệ thống HS, là hệ thống được tiêu chuẩn hóa quốc tế về tên gọi và mã số để phân loại hàng hóa được buôn bán trên phạm vi toàn thế giới của Tổ chức hải quan thế giới Hàng xuất khẩu của Việt Nam khi phân theo chương danh mục Hệ thống điều hòa HS 96 bao gồm 98 nhóm
Trang 61.4 Cơ cấu xuất khẩu
1.4.1 Khái niệm cơ cấu xuất khẩu
Cơ cấu xuất khẩu là tổng thể các bộ phận giá trị hàng hóa xuất khẩu hợp thành tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia cùng với những mối quan hệ ổn định và phát triển giữa các bộ phận hợp thành đó trong một điều kiện kinh tế - xã hội cho trước tương ứng với một thời kỳ xác định
Cơ cấu xuất khẩu là kết quả quá trình sáng tạo ra của cải vật chất và dịch vụ của một nền kinh tế thương mại tương ứng với một mức độ và trình độ nhất định khi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế Nền kinh tế như thế nào thì cơ cấu xuất khẩu như thế và ngược lại, một cơ cấu xuất khẩu phản ánh trình độ phát triển kinh tế tương ứng của một quốc gia Chính vì vậy, cơ cấu xuất khẩu mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một cơ cấu kinh tế tương ứng với nó, nghĩa là nó mang những đặc trưng chủ yếu sau đây: (i) bao giờ cũng thể hiện qua hai thông số gồm số lượng và chất lượng; (ii) mang tính khách quan; (iii) mang tính lịch sử, kế thừa, sự xuất hiện trạng thái cơ cấu xuất khẩu sau bao giờ cũng bắt đầu và trên cơ sở của một cơ cấu trước đó, vừa kế thừa vừa phát triển; (iv) cần phải bảo đảm tính hiệu quả; (v) có tính hướng dịch, có mục tiêu định trước; (vi) luôn ở trạng thái vận động phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
1.4.2 Phân loại cơ cấu xuất khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu có thể được phân chia theo những tiêu thức khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu và cách thức tiếp cận Thông thường, người ta tiếp cận theo hai hướng: giá trị xuất khẩu đã thực hiện ở đâu (theo thị trường) và giá trị những gì đã được xuất khẩu (theo mặt hàng hay nhóm hàng) Vì vậy, có hai loại cơ cấu xuất khẩu phổ biến
a) Cơ cấu thị trường xuất khẩu
Xét về bản chất, cơ cấu thị trường xuất khẩu là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ, chính sách đối ngoại của một quốc gia Thị trường xuất khẩu xét theo lãnh thổ thế giới thường được chia ra nhiều khu vực khác nhau: thị trường châu á, Bắc Mỹ, Đông Nam á, EU Do đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống khác nhau nên các thị trường có những đặc điểm không giống nhau về cung, cầu, giá cả và đặc biệt là những quy định về chất lượng, do đó, khi thâm nhập vào những thị trường khác nhau cần tìm hiểu những điều kiện riêng nhất định của họ
b) Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Cơ cấu hàng xuất khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các ngành, mặt hàng xuất khẩu hoặc
tỷ lệ tương quan giữa các thị trường xuất khẩu Hiện nay, theo phân loại của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), các hàng hóa tham gia thương mại quốc tế được chia thành
10 nhóm theo mã số như sau: (1) lương thực, thực phẩm; (2) đồ uống và thuốc lá; (3) nguyên liệu thô; (4) dầu mỏ; (5) dầu, chất béo động thực vật; (6) hóa chất; (7) công nghiệp cơ bản; (8) máy móc, thiết bị, giao thông vận tải; (9) sản phẩm chế biến hỗn hợp; (10) hàng hóa khác
Riêng các sản phẩm hàng hoá, hệ thống phân loại quốc tế SITC (System of International Trade Classification) chia thành 3 nhóm sản phẩm lớn:
Trang 7- Nhóm 1, sản phẩm lương thực, thực phẩm, đồ hút, đồ uống, nguyên nhiên liệu thô và khoáng sản
- Nhóm 2: sản phẩm chế biến
- Nhóm 3: sản phẩm hoá chất, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải
1.4.3 Xu hướng về cơ cấu xuất khẩu trên thế giới
Thời gian gần đây, những thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu trên thị trường quốc tế có những chiều hướng mới, các xu hướng rõ nét nhất là:
- Xuất khẩu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân của các quốc gia, thể hiện mức độ mở cửa của các nền kinh tế quốc gia trên thị trường thế giới
- Tốc độ tăng trưởng của hàng hóa “vô hình” nhanh hơn các hàng hóa “hữu hình”
- Giảm đáng kể tỷ trọng các nhóm hàng lương thực, thực phẩm
- Giảm mạnh tỷ trọng của nguyên liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt
- Tăng nhanh tỷ trọng của sản phẩm công nghiệp chế biến, nhất là máy móc thiết bị
Một xu hướng của thị trường thế giới hiện nay là các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, sức cạnh tranh mạnh mẽ, trong khi các sản phẩm nguyên liệu thô ngày càng mất giá và kém sức cạnh tranh Chu kỳ sống của các loại sản phẩm xuất khẩu được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, công nghệ, mẫu mã hàng hoá diễn ra liên tục Đây là một kết quả tất yếu khi khoa học kỹ thuật phát triển, bởi chính sự phát triển đó làm giảm giá thành sản phẩm, sự tiêu hao ít nguyên liệu, dẫn tới nhu cầu về nguyên liệu ngày càng có xu hướng giảm
PHẦN 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2019 2.1 Kim ngạch xuất khẩu
Kể từ khi tiến hành đổi mới đến nay, cùng với đà hội nhập sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã đạt được những thành tích ngoạn mục về quy mô và tốc độ tăng trưởng Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2000-2019 đạt 1.959,73 tỷ USD Trong đó, chỉ tính riêng 5 năm từ 2015-2019, xuất khẩu của Việt Nam
đã đạt gần 1.060,34 tỷ USD, đồng thời cao hơn tổng kim ngạch xuất khẩu của cả giai đoạn 2000-2014
Đặc biệt, giai đoạn 2000-2019 có thể coi là khoảng thời gian ghi dấu những “kỷ lục” về xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam mới dừng ở con số khiêm tốn gần 14,45 tỷ USD thì ngay sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) con số này đã tăng gần 3,4 lần, đạt trên 48,56 tỷ USD vào năm 2007 Chỉ 5 năm sau (năm 2012), Việt Nam ghi dấu mốc mới khi lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 100 tỷ USD Những năm tiếp theo, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam không ngừng tăng, chính thức vượt mốc
200 tỷ USD vào năm 2017 và tiếp tục đạt mức cao mới vào năm 2019 với 264,19 tỷ USD (cao gấp hơn 18 lần so với năm 2000)
Trang 82002
2004
2006
2008
2010
2012
2014
2016
2018
0 50,000 100,000 150,000 200,000 250,000 300,000
Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
Hình 1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2019
Nguồn: Thống kê hằng năm của Tổng cục Hải quan
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam cũng thuộc loại cao trong khu vực và thế giới Giai đoạn 2000 - 2019, kim ngạch xuất khẩu hầu như luôn tăng trưởng dương ở mức bình quân 16,53%/năm (ngoại trừ năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu), gấp gần 3 lần mức tăng bình quân 7%/năm của GDP Mặc dù trong bối cảnh vẫn còn những hệ lụy của sự suy giảm kinh tế nhưng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2019 liên tục xác lập các kỷ lục về tốc
độ tăng trưởng kim ngạch và quy mô xuất khẩu Theo báo cáo của WTO, năm 2016, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia thuộc nhóm dẫn đầu về kim ngạch xuất nhập khẩu có được kết quả tăng trưởng ấn tượng; theo đó, Việt Nam dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khi đạt 9%, trong khi nhiều nước dẫn đầu về quy mô xuất khẩu có tăng trưởng âm như Trung Quốc (-8%), Hoa Kỳ (-3%), Đức chỉ tăng 1% và Nhật Bản khả quan hơn cũng chỉ đạt 3% Những kết quả vượt trội này đã giúp Việt Nam thu hẹp dần mức thâm hụt thương mại vốn được coi là trầm trọng và dai dẳng trong thời gian dài Năm 2012 đánh dấu sự kiện sau 20 năm liên tục thâm hụt, Việt Nam đã đạt được thặng dư trong cán cân thương mại Tính đến hết năm 2019, thặng dư thương mại hàng hóa của Việt Nam đã đạt mức kỷ lục mới với 11,12 tỷ USD, kết quả này đưa Việt Nam tiếp tục duy trì thành tích xuất siêu năm thứ tư liên tiếp
Trang 92000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014 2016 2018 2020
-20,000
-15,000
-10,000
-5,000
0 5,000
10,000
15,000
Năm
Hình 2 Thặng dư thương mại hàng hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2019
Nguồn: Tính toán từ số liệu thống kê hằng năm của Tổng cục Hải quan
Với những thành tích ngoạn mục về quy mô và tốc độ tăng trưởng, thứ hạng về xuất khẩu của Việt Nam trên thế giới theo công bố của WTO đã tăng lên rõ rệt, từ vị trí 50 năm 2006 lên vị trí 22 năm 2019 Như vậy, sau 25 năm kể từ khi gia nhập ASEAN và trên
10 năm gia nhập WTO, Việt Nam hiện nay đã trở thành nền kinh tế có quy mô xuất khẩu hàng đầu thế giới khi liên tục nằm trong nhóm 30 quốc gia, vùng lãnh thổ có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa lớn nhất trên phạm vi toàn cầu
Những nỗ lực tự do hóa thương mại và thực thi các cam kết hội nhập là một trong những nguyên nhân dẫn đến xuất khẩu gia tăng mạnh những năm gần đây, trong đó phải
kể đến một số dấu mốc quan trọng như: (i) Hiệp định Thương mại song phương giữa Việt Nam - Hoa Kỳ được ký kết tháng 7/2000 và có hiệu lực thi hành từ ngày 11/12/2001 đã
mỏ ra cánh cửa cho hàng xuất khẩu Việt Nam tiếp cận với thị trường lớn nhất thế giối này; (ii) Việt Nam chính thức trỏ thành thành viên của WTO từ tháng 1/2007, khiến xuất khẩu của Việt Nam liên tiếp đạt các mức kim ngạch cao vào các năm 2007 và 2008 Xuất khẩu hàng hóa cũng cho thấy khả năng “chống đỡ” khá tốt trước các cú sốc từ thị trường quốc tế Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ giữa năm 2008 đã có tác động tiêu cực, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng âm năm
2009, nhưng từ năm 2010 xuất khẩu của Việt Nam đã phục hồi nhanh hơn dự báo, tiếp tục duy trì được quy mô và tốc độ tăng trưởng cao Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở ra cơ hội gia tăng xuất khẩu vào các thị trường đối tác
2.2 Thị trường xuất khẩu
Xúc tiến thương mại và hội nhập đã đem lại nhiều lợi ích phát triển ngoại thương cho Việt Nam Các thị trường quan trọng đều có sản phẩm của Việt Nam và bước đầu nước ta đã tận dụng các cam kết quốc tế để thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường Một trong những thành công trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
2000-2019 là việc duy trì các thị trường truyền thống và không ngừng mở rộng tìm kiếm, phát
Trang 10triển thêm nhiều thị trường mới Số lượng thị trường xuất khẩu của Việt Nam đã tăng nhanh, từ 160 thị trường năm 2000 lên hơn 240 thị trường năm 2019 Thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam đang cho thấy mức độ đa dạng hóa cao, là một điểm mạnh giúp hoạt động xuất khẩu phân tán được rủi ro không mang tính hệ thống, bảo vệ hàng xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu đang ngày càng trở nên mạnh mẽ Trong nghiên cứu của Albaladejo, mức độ đa dạng hóa thị trường của Việt Nam được tính điểm rất cao, xếp thứ hai trong khu vực, đứng trước Hàn Quốc, Inđônêxia, Thái Lan và chỉ sau Trung Quốc
Giai đoạn 2011-2019, khu vực thị trường châu Á luôn duy trì tỷ trọng khoảng từ 51% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam; tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Mỹ và khu vực thị trường châu Âu duy trì trong khoảng 20-23%; tỷ trọng khu vực châu Phi và châu Đại Dương thấp hơn so với ba khu vực còn lại, tổng hai khu vực này đạt khoảng 4% Việt Nam vẫn duy trì được cơ cấu thị trường xuất khẩu tương đối ổn định đến các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới như Hoa Kỳ, Liên minh châu
Âu (EU), các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc Cho đến nay, EU và Hoa Kỳ tiếp tục là những thị trường xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn nhất của Việt Nam, sau đó là ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản Năm 2019, nhóm 5 thị trường này chiếm tới 71,77% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Riêng với Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng gần 84 lần trong vòng 20 năm qua, từ 733 triệu USD năm 2000 lên 61,35 tỷ USD năm 2019, đưa thị phần của thị trường này tăng từ 5,06% lên 23,22% Sở dĩ có sự chuyển dịch này là do Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký Hiệp định thương mại Việt-Mỹ (BTA) vào năm 2000; sau khi BTA có hiệu lực, Hoa Kỳ đã áp dụng Quy chế quan hệ thương mại bình thường và Quy chế tối huệ quốc (MFN), giảm mức thuế quan trung bình đánh vào hàng nhập khẩu từ Việt Nam từ 40% xuống 4%, mở cửa thị trường cho các nhà xuất khẩu Việt Nam
Bên cạnh Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hàn Quốc cũng là hai thị trường có tốc độ tăng trưởng bình quân về kim ngạch xuất khẩu cao nhất của Việt Nam trong giai đoạn
2000-2019, lần lượt là 23,34%/năm và 18,89%/năm Trước sự lớn mạnh của ba thị trường này, hầu hết các thị trường khác đều co lại về tỷ trọng nhưng khá đồng đều
Bảng 2 Thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2019
TT Thị trường
Kim ngạch (Triệu USD) Tỷ lệ (%) (Triệu USD) Kim ngạch Tỷ lệ (%)
Kim ngạch (%/
năm)
Tỷ lệ (%/năm)
ASEAN 2.619 18,09 24.960 9,45 10,96 -4,17
Trung Quốc 1.536 10,61 41.410 15,67 23,34 6,52
Nhật Bản 2.575 17,78 20.410 7,73 11,91 -3,35
Hàn Quốc 353 2,43 19.720 7,46 18,89 2,67