Đây là bài thảo luận nhóm môn Thương mại quốc tế của nhóm cao học viên Trường Đại học Thương mại.Bài thảo luận bao gồm những nội dung chính sau: Cơ sở lý luận về nhập khẩu; Thực trạng nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 20002020.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
BÀI THẢO LUẬN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Đề tài: Cơ sở lý luận về nhập khẩu và thực trạng nhập khẩu ở Việt Nam giai đoạn 2000-2020
Giáo viên hướng dẫn: …
Nhóm thực hiện: …
Hà Nội, tháng 12 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU 1
1.1 Lý thuyết nhập khẩu 1
1.1.1 Khái niệm nhập khẩu 1
1.1.2 Phân loại nhập khẩu 1
1.2 Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế 4
1.2.1 Đối với nền kinh tế thế giới 4
1.2.2 Đối với nền kinh tế trong nước 4
1.3 Nhóm hàng nhập khẩu 5
1.4 Cơ cấu nhập khẩu 5
1.4.1 Khái niệm cơ cấu nhập khẩu 5
1.4.2 Phân loại cơ cấu nhập khẩu 6
1.4.3 Xu hướng về cơ cấu nhập khẩu trên thế giới 7
PHẦN 2 THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2020 7
2.1 Kim ngạch nhập khẩu 7
2.2 Thị trường nhập khẩu 8
2.3 Cơ cấu hàng nhập khẩu 10
2.4 Kết luận 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬP KHẨU
1.1 Lý thuyết nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm nhập khẩu
Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập và cạnh tranh quốc tế, vấn đề mở rộng và phát triển thương mại quốc tế ngày càng trở nên tất yếu và cấp bách đối với các quốc gia Hoạt động thương mại quốc tế giúp các quốc gia có thể đáp ứng một cách đầy đủ hơn những nhu cầu đa dạng của con người Mặt khác, thương mại quốc tế cũng giúp các quốc gia phát huy được tối đa khả năng, tận dụng một cách có hiệu quả nhất những nguồn lực sẵn có
Với ý nghĩa như vậy, nhập khẩu trong lý luận thương mại quốc tế là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hoàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn “cán cân thương mại quốc tế” của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại, còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại
Về mặt lý thuyết, có thể định nghĩa nhập khẩu như sau: Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới Đây không phải là hành
vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài
Xét trên phạm vi hẹp, tại Khoản 2, Điều 28, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
1.1.2 Phân loại nhập khẩu
Không phải ngẫu nhiên ngày càng nhiều doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế mà do kinh doanh quốc tế có sự phong phú và đa dạng về phương thức hoạt động Chính sự đa dạng này cho phép các doanh nghiệp tìm thấy lợi ích thông qua việc lựa chọn phương thức phù hợp nhất với khả năng của mình Trước sự thay đổi của môi trường kinh doanh, các doanh nghiệp hiện nay thường lựa chọn một số phương thức nhập khẩu sau:
a) Nhập khẩu trực tiếp
Trang 4Nhập khẩu trực tiếp (hay còn gọi là nhập khẩu tự doanh) là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí, thiết lập phương án kinh doanh hợp lý, bảo đảm kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp của quốc gia cũng như quốc tế, doanh nghiệp tiến hành hoạt động nhập khẩu trực tiếp với đối tác nước ngoài
Đặc điểm của phương thức nhập khẩu này là doanh nghiệp nhập khẩu phải tự chịu trách nhiệm tất cả mọi rủi ro, cho nên cần phải có sự xem xét kỹ lưỡng từ bước thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng… Vì nhập khẩu tự doanh nghĩa là doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để kinh doanh, chịu mọi chi phí như: giao dịch, nghiên cứu thị trường, giao nhận hàng hóa, lưu kho, tiêu thụ, thuế… Do đó, doanh nghiệp phải tính toán rất thận trọng ngay từ việc chọn mặt hàng, nghiên cứu thị trường, marketing…
Thông thường doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với bên nước ngoài, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ lập sau hoặc không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức như bán lẻ, trao tay
b) Nhập khẩu ủy thác
Nhập khẩu ủy thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp hoạt động trong nước kinh doanh một số mặt hàng nhập khẩu nhưng không được phép nhập khẩu trực tiếp, đã ủy thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình Bên nhận ủy thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên ủy thác và được hưởng hoa hồng gọi là phí ủy thác Quan hệ giữa doanh nghiệp ủy thác và doanh nghiệp nhận ủy thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng ủy thác
Đặc điểm của phương thức nhập khẩu này là doanh nghiệp nhập khẩu (doanh nghiệp nhận ủy thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ mà chỉ đứng ra đại diện cho bên ủy thác để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu cũng như thay mặt cho bên ủy thác khiếu nại đòi bồi thường với nước ngoài khi có tổn thất Khi nhận ủy thác, các doanh nghiệp nhập khẩu phải lập hai hợp đồng: một hợp đồng mua bán hàng hóa với nước ngoài, một hợp đồng nhận ủy thác với bên ủy thác
c) Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó ít nhất có một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ
Trang 5trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro
Đặc điểm của phương thức nhập khẩu này là các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ chịu rủi ro ở mức thấp hơn so với nhập khẩu trực tiếp vì chỉ phải góp một số vốn nhất định Quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia tăng theo vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế, doanh thu dựa theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ hai bên phân chia tùy theo thỏa thuận dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng: một hợp đồng mua hàng với nước ngoài, một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác
d) Nhập khẩu đổi hàng
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu Đây là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán trong hợp đồng này không phải dùng tiền mà chính bằng hàng hóa Ở đây mục đích chính của hoạt động nhập khẩu hàng hoá không phải chỉ thu lãi từ hoạt động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất được hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất
Đặc điểm của phương thức nhập khẩu này là cùng một hợp đồng có thể tiến hành cả hoạt động xuất và hoạt động nhập, do đó có thể thu lãi từ hai hoạt động Hoạt động xuất phải tương đương về giá trị; bạn hàng bán cũng chính là bạn hàng mua; doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch nhập và xuất, doanh số tiêu thụ tính trên số hàng nhập và xuất
e) Nhập khẩu tái xuất
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hóa nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận, những hàng nhập khẩu này không được chế biến tại nước tái xuất Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất
Đặc điểm của phương thức nhập khẩu này là doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toàn bộ chi phí tổ chức, gặp gỡ, bàn bạc mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, bảo đảm sao cho số tiền thu được lớn hơn chi phí bỏ ra Doanh nghiệp nước tái xuất phải tiến hành hai hợp đồng: hợp đồng xuất khẩu và hợp đồng nhập khẩu nhưng không phải chịu thuế xuất nhập khẩu với mặt hàng kinh doanh Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch cả xuất và nhập, doanh số tính trên giá trị hàng xuất khẩu do đó vẫn phải chịu thuế doanh thu Để đảm bảo thanh toán hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng giáp lừng; hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất, mà chuyển thẳng
Trang 6sang nước thứ ba nhưng tiền thanh toán phải do người tái xuất thu từ người nhập khẩu giao cho người xuất khẩu Nhiều khi người tái xuất còn thu được lợi tức về tiền hàng do chênh lệch giữa thời điểm thu tiền từ người nhập khẩu và thời điểm trả tiền cho người xuất khẩu
1.2 Vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế
1.2.1 Đối với nền kinh tế thế giới
Nhập khẩu là một trong những hoạt động cốt lõi của thương mại quốc tế, có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống ở một quốc gia Đối với nền kinh tế thế giới, hoạt động nhập khẩu có những vai trò sau:
- Nhập khẩu giúp các quốc gia trên thế giới có điều kiện hiểu rõ về phong tục tập quán, văn hóa, chính trị,… của nhau hơn Qua đó góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập hóa nền kinh tế giữa các nước, khai thác triệt để về lợi thế so sánh của nước mình và sử dụng nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý
- Nhập khẩu giúp kích thích việc sản xuất và tiêu dùng trong mỗi quốc gia phát triển hơn Làm cho khối lượng hàng hóa và nhu cầu trong nền kinh tế thế giới tăng lên, mức sống người dân cũng được nâng cao
- Nhập khẩu giúp quá trình liên kết kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực được đẩy mạnh hơn
- Nhập khẩu giúp các nước kém phát triển hoặc đang phát triển có cơ hội học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong quản lý và tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật, phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Hoạt động nhập khẩu nếu được tổ chức tốt, hợp lý với nhu cầu và khả năng sản xuất trong nước sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối của nền kinh tế Trong đó, cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản xuất: công cụ lao động, đối tượng lao động và lao động
1.2.2 Đối với nền kinh tế trong nước
Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, hoạt động nhập khẩu đang ngày càng phát triển và thể hiện vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc gia Điều này được thể hiện ở các khía cạnh:
- Nhập khẩu giúp cho quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật được rút ngắn thời gian và công sức, tạo điều kiện phát triển nền kinh tế với các thiết bị hiện đại, đội ngũ lao động cũng được nâng tay nghề và kiến thức, các nhà quản lý có điều kiện trao dồi kiến thức về trình độ và công tác quản lý
Trang 7- Nhập khẩu giúp các ngành sản xuất trong nước đào thải được những đơn vị có năng lực sản xuất yếu kém, không có sức cạnh tranh Thông qua nhập khẩu, các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới cả công nghệ và cách thức quản lý để nâng cao sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh thị trường trong nước và dần tiến tới xuất khẩu
- Nhập khẩu làm đa dạng các chủng loại mặt hàng, qua đó người tiêu dùng sẽ lựa chọn được những hàng hóa phù hợp với mức thu nhập của mình, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống người dân
- Nhập khẩu tạo cơ hội cho đất nước mở rộng quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác trên thế giới, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của họ để phát triển kinh tế
1.3 Nhóm hàng nhập khẩu
Hàng nhập khẩu có thể được chia thành các nhóm khác nhau tùy thuộc vào mỗi quốc gia Việt Nam hiện đang chia hàng nhập khẩu thành hai nhóm lớn, bao gồm tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, trong hai nhóm lớn này lại có những nhóm nhỏ hơn Cụ thể:
- Tư liệu sản xuất là tài sản hữu hình mà một doanh nghiệp sản xuất và sau đó được một doanh nghiệp thứ hai sử dụng để sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ tiêu dùng Trong nhóm này có hai nhóm nhỏ gồm: (1) Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, phụ tùng; và (2) Nguyên, nhiên vật liệu
- Hàng tiêu dùng là những sản phẩm được mua bởi người tiêu dùng bình thường, đây chính là kết quả cuối cùng đạt được của hoạt động sản xuất và chế tạo nên còn gọi là hàng hóa cuối cùng Trong nhóm này có bốn nhóm nhỏ gồm: (1) Lương thực; (2) Thực phẩm; (3) Hàng y tế; và (4) Hàng tiêu dùng khác
1.4 Cơ cấu nhập khẩu
1.4.1 Khái niệm cơ cấu nhập khẩu
Cơ cấu nhập khẩu là tổng thể các bộ phận giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu hợp thành tổng kim ngạch nhập khẩu của một vùng, một quốc gia cùng với những mối quan hệ ổn định và phát triển giữa các bộ phận hợp thành đó trong một điều kiện kinh tế - xã hội cho trước tương ứng với một thời kỳ xác định
Cơ cấu nhập khẩu phản ánh trình độ phát triển kinh tế tương ứng của một quốc gia, một lãnh thổ Chính vì vậy, cơ cấu nhập khẩu mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của một cơ cấu kinh tế tương ứng với nó, nghĩa là nó mang những đặc trưng chủ yếu sau đây: (i) bao giờ cũng thể hiện qua hai thông số gồm số lượng và chất lượng; (ii) luôn mang tính khách quan; (iii) mang tính lịch sử, kế thừa, sự xuất hiện trạng thái cơ cấu nhập khẩu sau bao giờ cũng bắt đầu và trên cơ sở của một cơ cấu trước đó, vừa kế thừa vừa phát
Trang 8triển; (iv) luôn phải bảo đảm được tính hiệu quả cho nền kinh tế của mỗi quốc gia; (v) luôn có mục tiêu định trước, có tính hướng dịch; (vi) luôn ở trạng thái vận động phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
1.4.2 Phân loại cơ cấu nhập khẩu
Cơ cấu nhập khẩu thường được tiếp cận theo hai hướng là giá trị nhập khẩu đã được thực hiện ở thị trường nào và giá trị nhập khẩu bao gồm mặt hàng hay nhóm hàng gì Như vậy, cơ cấu nhập khẩu bao gồm hai loại phổ biến nhất:
a) Cơ cấu thị trường nhập khẩu
Cơ cấu về thị trường nhập khẩu được hiểu là sự phân bổ rõ ràng, cụ thể các giá trị kim ngạch nhập khẩu theo nền kinh thế của từng quốc gia, lãnh thổ trên thế giới Cơ cấu này phản ánh rõ nét sự mở rộng các mối quan hệ kinh doanh, buôn bán giữa các vùng, các quốc gia với nhau cũng như mức độ tham gia vào quá trình phân công lao động thế giới
Cơ cấu thị trường nhập khẩu về bản chất được hiểu chính là tổng hợp của rất nhiều các yếu tố khác nhau như chính trị, kinh tế, khoa học, công nghệ, các chính sách, chủ trương
Thị trường nhập khẩu xét theo lãnh thổ thế giới thường được chia ra nhiều khu vực khác nhau: thị trường châu á, Bắc Mỹ, Đông Nam á, EU Do đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội và truyền thống khác nhau nên các thị trường có những đặc điểm không giống nhau về cung, cầu, giá cả và đặc biệt là những quy định về chất lượng
b) Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu là sự tương quan giữa các mặt hàng, các ngành hay tỷ lệ tương quan giữa các thị trường nhập khẩu Và thương mại là một lĩnh vực về trao đổi, buôn bán hàng hóa trong nền kinh tế của thị trường Đây được xem là một ngành kinh tế kỹ thuật với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là trao đổi hàng hóa qua mua bán tự động trên
cơ sở giá cả của thị trường hoặc là qua tiền tệ Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu chính là một phần của cơ cấu thương mại và là tổng thể của tất cả các mối quan hệ trong kinh tế và các bộ phận lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
Hiện nay, theo phân loại của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), các hàng hóa tham gia thương mại quốc tế được chia thành 10 nhóm theo mã số như sau: (1) lương thực, thực phẩm; (2) đồ uống và thuốc lá; (3) nguyên liệu thô; (4) dầu mỏ; (5) dầu, chất béo động thực vật; (6) hóa chất; (7) công nghiệp cơ bản; (8) máy móc, thiết bị, giao thông vận tải; (9) sản phẩm chế biến hỗn hợp; (10) hàng hóa khác
Trang 9Riêng các sản phẩm hàng hoá, hệ thống phân loại quốc tế SITC (System of International Trade Classification) chia thành 3 nhóm sản phẩm lớn:
- Nhóm 1, sản phẩm lương thực, thực phẩm, đồ hút, đồ uống, nguyên nhiên liệu thô và khoáng sản
- Nhóm 2: sản phẩm chế biến
- Nhóm 3: sản phẩm hoá chất, máy móc thiết bị và phương tiện vận tải
1.4.3 Xu hướng về cơ cấu nhập khẩu trên thế giới
Xu hướng chung của thị trường thế giới nhiều năm qua là các nước phát triển có xu hướng nhập nguyên liệu, năng lượng, trong khi các nước đang phát triển có xu hướng nhập nguyên liệu, máy móc thiết bị Thời gian gần đây, những thay đổi trong cơ cấu nhập khẩu trên thị trường quốc tế có những chiều hướng mới, các xu hướng rõ nét nhất là:
- Tốc độ tăng trưởng về kim ngạch nhập khẩu hàng hóa “vô hình” nhanh hơn rất nhiều so với các hàng hóa “hữu hình”
- Tăng nhanh tỷ trọng hàng hóa có hàm lượng kỹ thuật cao và các sản phẩm công nghiệp chế biến, nhất là máy móc thiết bị
- Giảm mạnh tỷ trọng hàng hóa nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và khí đốt
- Giảm đáng kể tỷ trọng các nhóm hàng lương thực, thực phẩm
PHẦN 2 THỰC TRẠNG NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2020 2.1 Kim ngạch nhập khẩu
Ngay từ những năm đầu thực hiện đổi mới, Việt Nam đã từng bước thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, tranh thủ khả năng hợp tác thương mại, đầu tư, hội nhập, chuyển giao công nghệ, phát triển kinh tế đất nước Sau hơn ba thập kỷ hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới vẫn diễn biến phức tạp, các nền kinh tế lớn tăng trưởng không đồng đều Hoạt động nhập khẩu theo đó cũng không ngừng tăng về số lượng và mở rộng về phạm vi, đóng góp ngày càng tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và tham gia ngày càng sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) dẫn đến việc hàng hóa nhập khẩu từ các nước đối tác vào Việt Nam sẽ trở nên dễ dàng hơn
Nhìn lại chặng đường nhập khẩu của Việt Nam trong 20 năm qua cho thấy bước tiến mạnh mẽ của hoạt động này, tốc độ tăng trưởng bình quân về kim ngạch nhập khẩu
Trang 10giai đoạn 2000 – 2019 đạt 15,78%/năm So với thời điểm năm 2000, tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tính đến hết năm 2019 đã tăng gấp 16 lần, từ hơn 15,6 tỷ USD lên gần 253,5 tỷ USD Đặc biệt, chỉ tính riêng trong 5 năm từ 2015 – 2019, nhập khẩu của Việt Nam đã đạt gần 1.041 tỷ USD, cao hơn tổng kim ngạch nhập khẩu của 15 năm trước đó cộng lại
2000
2002
2004
2006
2008
2010
2012
2014
2016
2018
Kim ngạch nhập khẩu (Tỷ USD)
Hình 1 Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2019
Nguồn: Thống kê hằng năm của Tổng cục Hải quan
Để đạt được sự tăng trưởng ấn tượng về kim ngạch nhập khẩu trong thời gian qua là do Việt Nam đã đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhất là thực hiện các hiệp định thương mại tự do, trong đó có các hiệp định thế hệ mới như CPTPP và mới đây là EVFTA; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp; nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương,… đặc biệt là sự cố gắng, nỗ lực vươn lên mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp
2.2 Thị trường nhập khẩu
Về thị trường nhập khẩu, tỷ trọng hàng nhập từ châu Á luôn chiếm tỷ trọng cao do những lợi thế về giá cả và khoảng cách vận chuyển Năm 2000, thị trường châu Á chiếm tới 81,91% trong cơ cấu thị trường nhập khẩu của Việt Nam với tổng kim ngạch gần 12,81 tỷ USD; trong đó, các nước bạn hàng lớn bao gồm Singapore, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan đóng góp tới 69,33% Sau châu Á, châu Âu là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (1,84 tỷ USD – chiếm 11,77%), tiếp đến lần lượt là châu Mỹ (0,47 tỷ USD – chiếm 3,01%), châu Đại Dương (0,36 tỷ USD – chiếm 2,28%), châu Phi (0,05 tỷ USD – chiếm 0,30%) và các thị trường khác (chiếm 0,73%)