MỞ ĐẦUTâm lý học được hình thành vào cuối thế kỷ XVI ở Châu Âu và bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với sự ra đời của một loạt ngành tâm lý riêng biệt như: tâm lý
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI PHẠM TỘI 4
1.1 Nhu cầu và lợi ích 5
1.1.1 Nhu cầu 5
1.2 Động cơ, mục đích, ý định phạm tội 6
1.2.1 Động cơ phạm tội 6
1.2.2 Mục đích 8
1.2.3 Mối quan hệ giữa động cơ và mục đích 9
1.2.4 Ý định phạm tội 9
1.3 Điều kiện hoàn cảnh để thực hiện hành vi phạm tội 10
1.4 Quyết định thực hiện hành vi phạm tội 10
1.5 Phương thức thực hiện hành vi phạm tội 11
1.6 Diễn biến tâm lý sau khi thực hiện hành vi phạm tội 11
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VỤ ÁN PHÙNG QUỲNH TRANG GIẾT NGƯỜI ĐỐT XÁC 14
2.1 Tóm tắt vụ án: 14
2.2 Sơ lược về đời tư cá nhân của Phùng Quỳnh Trang 16
2.3 Phân tích cấu trúc tâm lý Phùng Quỳnh Trang trong vụ án 17
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2MỞ ĐẦU
Tâm lý học được hình thành vào cuối thế kỷ XVI ở Châu Âu và bắt đầu phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với sự ra đời của một loạt ngành tâm
lý riêng biệt như: tâm lý học xã hội, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học quân sự, tâm
lý học kinh tế, tâm lý học hành vi… Trong đó tâm lý học hành vi có vai trò chi phối mạnh mẽ và có nhiều ứng dụng trong đời sống xã hội nhất là hoạt động tư pháp
Khái niệm "hành vi" lần đẩu tiên được Watson (1878-1958) đưa ra ở Mĩ vào năm 1913 qua bài báo "Tâm lý học dưới con mắt của hành vi" Mặc dù Watson có
tư tưởng tiến bộ khi cho rằng rằng tâm lý học phải thực sự nghiên cứu hành vi của con người nhưng trên thực tế ông chỉ coi hành vi của con người là các cử động cụ thể có thể quan sát được của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường bên ngoài chứ không liên quan gì tới những yêu cầu và chuẩn mực của xã hội Khái niệm "hành vi" như thế không thể lí giải được đời sống tâm lý con người với tư cách là chủ thể hoạt động có ý thức, có mục đích
Dựa trên học thuyết mácxít về con người, hoạt động của con người và lí luận
về ý thức, các nhà tâm lý học Xô viết tiêu biểu như L.X.Vưgốtxki, X.L.Rubinxtcin, A.N.Leonchiev đã có công lao to lớn xây dựng hệ thống tâm lý học mácxít Theo quan điểm của nền tâm lý học mácxít, cả ý thức và hành vi đểu tồn tại khách quan, tham gia một cách tích cực vào quá trình tác động của con người đối với thế giới xung quanh, với người khác và với chính bán thân mình Khái niệm hành vi trong tâm lý học mácxít không tách rời khái niệm hoạt động mà hành vi là sự biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của hoạt động
Trong khoa học pháp luật hình sự, hành vi phạm tội được nghiên cứu như môt khái niệm cơ bản của tội phạm và là hành động có ý chí Dưới góc độ tâm lý học người ta nghiên cứu cấu trúc tâm lý, những yếu tố quan trọng của hành vi phạm tội như nguổn gốc, động cơ thúc đẩy, diễn biến và hậu quả tâm lý hành vi phạm tội Việc xác định được cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội sẽ hỗ trợ rất lớn cho hoạt
Trang 3động tư pháp, góp phần xác định đúng người đúng tội, biện pháp cải tạo và phòng ngừa tái phạm trong tương lai của người phạm tội
Những nội dung sẽ được trình bày trong tiểu luận này:
Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:
- Cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội: nhu cầu, động cơ, mục
đích, quyết định thực hiện hành vi phạm tội, phương thức phạm tội và điều kiện hoàn cảnh hành vi phạm tội
- Vụ án “Phùng Quỳnh Trang giết người đốt xác”.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội.
- Cấu trúc tâm lý của Phùng Quỳnh Trang trong vụ án giết người
đốt xác
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI
PHẠM TỘI
Việc tìm hiểu vấn đề cấu trúc tâm lý của hành vi phạm tội sẽ làm rõ nhiều yếu tố quan trọng liên quan đến hành vi phạm tội, như nguồn gốc, động lực thúc đẩy, diễn biến và hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội là hành vi có lý trí, có ý chí vi vậy có thể nói rằng thành phần cấu trúc của hành vi phạm tội gồm:
- Nhu cầu vụ lợi, tâm thế chống đối xã hội
- Động cơ, mục đích và ý định phạm tội
- Quyết định chương trình định hướng hành vi
- Phương thức thực hiện hành vi phạm tội
- Hậu quả tâm lý của hành vi phạm tội
Cấu trúc tâm lý bên trong của hành vi phạm tội kết hợp với điều kiện bên ngoài có thể biểu thị qua sơ đồ dưới đây:
Trang 5Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc tâm lý tội phạm
1.1 Nhu cầu và lợi ích
1.1.1 Nhu cầu
Nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu của con người là động lực thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của cá nhân và nhóm xã hội Nhà tâm lý học Nga
A.G.Côvaliốp viết: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân và của vài nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện để sống và phát triển Nhu cầu quy định hướng lựa chọn của ý nghĩa, rung cảm và ý chí của con người Nó quy định hoạt động của
cá nhân, nhóm xã hội và của cả một giai cấp, một dân tộc, một thời đại”
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa đạng và không có giới hạn cũng như không bao giờ được hoàn toàn thỏa mãn Nó muôn màu muôn vẻ đối với mọi người, mọi lứa tuổi, mọi nghề nghiệp, mọi thế hệ, mọi dân tộc Nhà tâm lý học Nema đã đưa ra hai nhận định có tính chất quy luật về nhu cầu:
- Một nhu cầu đã thỏa mãn thì không còn là động lực thúc đẩy hành vi và ứng xử của con người trong xã hội nữa
- Hầu hết mọi người đều có một hệ thống nhu cầu Khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu kia trở nên bức xúc hơn Con người không bao giờ thỏa mãn đầy đủ mọi nhu cầu Sự ước muốn của con người là vô tận dẫn đến hoạt động bất tận
Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, nhu cầu thực hiện chức năng động lực thúc đẩy hành vi cảu người phạm tội Nó quy định xu hướng lựa chọn các ý định, động
cơ, mục đích phạm tội Ngoài những đặc điểm của nhu cầu chung, nhu cầu của người phạm tội được đặc trưng bởi:
- Tính nhỏ nhen, hẹp hòi, nghiêng về vật chất, thực dụng
- Tính hẹp hòi của những nhu cầu xã hội cần thiết (nhu cầu lao động, nhu cầu đạo đức…)
- Tính cao siêu, vượt quá nhu cầu trung bình ngoài khả năng thỏa mãn cho phép
- Tính đồi bại, suy thoái
Trang 6Nhu cầu con người và nhu cầu xã hội nói chung thường có phần cao hơn khả năng hiện có, đó là cơ sở cho sự phát triển đi lên Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa nhu cầu và khả năng thực tế có thể trở thành điều kiện (nhưng không phải nguyên nhân) của hành vi phạm tội (khi mức thỏa mãn nhu cầu quá thấp)
Nhu cầu quá lớn, lòng tham lam, tính đố kỵ, ý muốn “hơn người” thường dẫn đến hành vi tham ô, hối lộ, trộm cắp, cướp giật, cưỡng đoạt v.v
1.1.2 Lợi ích
Lợi ích là bậc thang từ nhu cầu đến hành vi, là sự nhận thức nhu cầu và so sánh nó với những điều kiện và công cụ, phương tiện thực hiện đang có Lợi ích cũng là xu hướng nhận thức đối tượng có ý nghĩa được cá nhân lựa chọn và có nội dung phong phú về mặt tình cảm
Lợi ích con người thể hiện ở mối quan hệ của cá nhân với điều kiện hiện tại, với cái ước muốn ở kế hoạch hoạt động sống của nó trong tương lai Đôi khi những dạng hành vi nhất định trở thành lợi ích độc lập của cá nhân, tách khỏi điều kiện xuất phát Hành vi vu khống, vu oan giáo họa, đổ lỗi cho người khác, cãi cọ và thậm chí vi phạm pháp luật thường biểu hiện như hình thức biến dạng của sự khẳng định
và của “tính tích cực xã hội”
1.2 Động cơ, mục đích, ý định phạm tội
1.2.1 Động cơ phạm tội
Động cơ là yếu tố bên trong, là động lực thúc đẩy hành vi của con người Động cơ phạm tội là tất cả những gì bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Ví dụ: giết người vì động cơ đê hèn, hoặc để che dấu một tội phạm khác…
Nhu cầu của con người khi đã được nhận thức và có khả năng thực hiện thì
nó trở thành động cơ
Động cơ và thái độ xử sự của con người là hiện tượng hết sức phức tạp, nó không chỉ xuất hiện trong mỗi cá nhân trên cơ sở các nhu cầu cấp thiết, mà cả trong các mối quan hệ của cá nhân với người khác, với hoàn cảnh xã hội Hành vi của một con người trong trạng thái bình thường đều được thực hiện do sự thúc đẩy của một
Trang 7hoặc một số động cơ nhất định Trong những trường hợp phạm tội với lỗi cố ý thì bao giờ hành vi của người phạm tội cũng đều do động cơ phạm tội thúc đẩy Chỉ trong trường hợp phạm tội vô ý vì cẩu thả, vô ý vì quá tự tin thì hành vi mới không
có động cơ phạm tội thúc đẩy Thường những tội phạm này được thực hiện do xung đột tình cảm được tích tụ lại, thiếu sự chi phối của kích thích bên trong Đôi khi hình ảnh xuất hiện đột ngột, kích động con người hành động mà không phân tích kỹ lưỡng hậu quả tất yếu của nó hoặc họ không biết hành vi của mình là hành vi phạm tội, hoặc tin hành vi của mình không trở thành hành vi phạm tội Có những trường hợp con người hành động không theo ý muốn của mình và đã dẫn đến phạm tội Trong trường hợp như vậy động cơ hành động mang tính chất bắt buộc
Động cơ cũng như mục đích hành động là khái niệm tâm lý học Nhưng trong hành vi phạm tội, động cơ thuộc phạm trù pháp luật hình sự Phát hiện ra động cơ phạm tội và nghiên cứu chúng sẽ rất thiết thực đối với việc:
- Xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội
- Dự báo khả năng tái phạm của người phạm tội
- Xác định khung hình phạt đối với người phạm tội
- Xác định những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội
Thường những hành vi phạm tội xuất phát từ những động cơ sau:
- Động cơ vụ lợi gắn liền với những ham muốn vật chất hẹp hòi muốn có
đồ vật quý, có tích lũy lớn, làm giàu bất chính
- Động cơ gắn liền với những suy tính nhằm nâng cao thể diện cá nhân (muốn hơn người, có địa vị xã hội cao)
- Động cơ có tính chất hiếu chiến trong khi đó lại có mâu thuẫn cá nhân, kết hợp với ý thức coi thường lợi ích của người khác, của xã hội, không tôn trọng nhân phảm con người
- Động cơ đi ngược lại lợi ích xã hội gắn liền với hình trạng vô trách nhiệm
và không hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước
Trang 81.2.2 Mục đích
Khi xem xét hành vi phạm tội như một hành vi có lý trí, có nghĩa là chủ thể phải thấy trước kết quả tương lai của hành vi mà mình sẽ thực hiện (tức là mục đích hành vi) Mục đích hành vi xác định tính chất và phương thức hành động, lựa chọn công cụ, phương tiện thực hiện để đạt kết quả
Mục đích phạm tội là cái mà người phạm tội đặt ra trong trí óc của mình và mong muốn đạt đến bằng hành vi phạm tội
Người phạm tội khi thực hiện phạm tội đều nhắm tới những mục đích nhất định Nhưng chỉ có thể nói đến mục đích phạm tội của những hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, vì chỉ trong trường hợp này người phạm tội mới có sự mong muốn gây ra tội phạm để đạt những mục đích nhất định Còn ở trường hợp phạm tội khác (như phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp, vô ý vì cẩu thả, vô ý vì quá tự tin) người phạm tội cũng có mục đích, nhưng đó chỉ là mục đích của hành vi, vì người phạm tội hoàn toàn không mong muốn thực hiện một tội phạm, họ hoặc không biết hành vi của mình có thể trở thành một tội phạm hoặc biết nhưng không muốn nó trở thành tội phạm
Mục đích của hành vi phạm tội không do điều kiện khách quan mà do chủ thể định ra và được nhận thức như yếu tố cần thiết và có khả năng thực hiện trong điều kiện nhất định Sự hình thành mục đích là giai đoạn đầu tiên của sự hình thành hành vi phạm tội
Sau khi nhận thức nhu cầu và lợi ích của bản thân, chủ thể phân tích điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, đắn đo suy nghĩ đưa ra phương án thích hợp với mong muốn của chủ thể Trong số các phương án có khả năng thực hiện, chủ thể cân nhắc, lựa chọn một phương án tối ưu nhất theo ý định chủ quan
Việc lựa chọn mục đích là do động cơ quyết định Động cơ là động lực thúc đẩy hành vi con người Nhu cầu con người khi đã được nhận thức và có khả năng thực hiện thì nó trở thành động cơ Từ động cơ người ta xác định mục đích hành vi, vạch ra kế hoạch cụ thể để đạt được kết quả tối ưu
Trang 91.2.3 Mối quan hệ giữa động cơ và mục đích
Động cơ và mục đích liên quan chặt chẽ với nhau Nhờ động cơ thúc đẩy nên người phạm tội mới hành động quyết liệt để thực hiện mục đích đã xác định Động
cơ là nguyên nhân chủ quan, còn mục đích là xu hướng ý chí của hành vi Trong quá trình hình thành hành vi phạm tội thì mục đích là hình ảnh của kết quả mà người phạm tội nhằm đạt được, còn động cơ là nhân tố thúc đẩy họ đi đến kết quả
đó Vì có sự gần gũi như vậy giữa động cơ và mục đích, cho nên hai khái niệm này
có khi được dùng thay thế cho nhau
1.2.4 Ý định phạm tội
Động cơ và mục đích được gọi chung là ý định phạm tội
Ý định phạm tội là một hiện tượng năng động Nó xuất hiện trên cơ sở những động lực nhất định thúc đẩy và gắn liền với sự phân tích, đánh giá hoàn cảnh cụ thể
và việc xác định mục đích cụ thể Trước khi hoàn thành hành vi phạm tội, ý định phạm tội không mang tính khách quan Nó là yếu tố tâm lý có tính chất chủ quan
Trong lĩnh vực pháp luật hình sự, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự không phải là vì ý định phạm tội của mình, mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi người phạm tội đã có những hành vi nguy hiểm cụ thể để thực hiện ra bên ngoài thế giới khách quan Ví dụ như: tìm kiếm dao súng để giết người (giai đoạn chuẩn bị phạm tội) hoặc can phạm đã có những hành vi đâm, bắn, bóp cổ trong tội giết người (giai đoạn thực hiện tội phạm) Tuy nhiên khi đã xác định ý định phạm tội thì đó là cơ sở tâm lý dẫn đến việc thực hiện tội phạm
Ý định phạm tội quan hệ chặt chẽ với điều kiện thực hiện tội phạm Điều
kiện thay đổi có thể làm thay đổi ý định phạm tội hoặc làm xuất hiện ý định phạm tội mới Ví dụ: ban đầu chủ thể có ý định trộm cắp nhưng khi điều kiện thay đổi y
thực hiện hành vi cướp Ý định sẽ biến mất khi không có điều kiện hoàn cảnh
khách quan thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội Đôi khi có điều kiện phạm tội nhưng chủ thể tự nguyện từ bỏ ý định phạm tội vì nhiều nguyên nhân khác nhau
Trang 101.3 Điều kiện hoàn cảnh để thực hiện hành vi phạm tội
Sự xuất hiện động cơ và mục đích phạm tội là giai đoạn đầu tiên để hình thành hành vi phạm tội Song hành hành vi đó có diễn ra hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện hoàn cảnh bên ngoài Đó là lý do dẫn đến việc thực hiện tội phạm
Lý do dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội là thời điểm bắt đầu hành động phạm tội cho thấy rõ trong hoàn cảnh nào trong con người có thể thực hiện hành vi phạm tội của mình Nhưng lý do không có ý nghĩa quyết định một cách độc lập mà nó “chỉ củng cố” nguyên nhân được hình thành từ trước
Qua lý do phạm tội có thể đánh giá đặc tính nhân cách của người phạm tội, thiên hướng quan điểm xã hội, động cơ và mục đích phạm tội của con người đó
Nhiều khi điều kiện hoàn cảnh khách quan chính là nguyên nhân làm xuất hiện ý định phạm tội ở một số người nào đó Ví dụ: khi một người đi qua nơi mà tài sản không được quản lý, bảo vệ một cách chặt chẽ hay không được cất giữ cẩn thận thì dễ làm xuất hiện ý định phạm tội ở họ
1.4 Quyết định thực hiện hành vi phạm tội
Cực điểm dẫn đến hành vi phạm tội là việc hình thành quyết định hành động
cụ thể, sự “khẳng định” hoàn toàn phương án đã chọn là thời điểm xuất phát để thực hiện hành động là “điểm nút” của toàn bộ quá trình chuẩn bị phạm tội
Có thể nói rằng đến thời điểm này nhân cách đã chuyển hóa, mục đích mà chủ thể đã định nổi lên trên hết, mọi ý nghĩ đều tập trung hướng đến kết quả phạm tội
Trong thực tế, sự lựa chọn phương án hành động có thể thích hợp, có cơ sở, hợp lý, có tính đến logic phát triển của các sự kiện Nhưng cũng có thể không thích hợp, không hợp lý khi những phương án có khả năng không được sắp xếp theo trình
tự “hợp lý” không được so sánh một cách kỹ lưỡng Tuy vậy, đối với tất cả mọi hành vi phạm tội hợp lý và không hợp lý xét dưới góc độ dự đoán tình huống đều không hợp lý ở chỗ nó không tính đến hậu quả sẽ đem lại cho xã hội và sự trừng phạt không thể tránh khỏi sau đó