Để tìm hiểu thực trạng SDD thấp còi ở trẻ em người dân tộc Mông tại hai xã huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang và các yếu tố liên quan nhằm đề xuất những giải pháp cải thiện tình hình, chúng tô
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
PHẠM THỊ BÍCH HỒNG
THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG THỂ THẤP CÒI
Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC MÔNG TẠI 2 XÃ HUYỆN QUẢN BẠ TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.01.63
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: TS Hà Xuân Sơn
Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Minh Tuấn
Phản biện 2: TS ?
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên
- Thư viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em đang là vấn đề sức khỏe công cộng quan trọng SDD không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, khả năng phát triển của trẻ mà còn là gánh nặng lớn cho xã hội
Ở Việt Nam, tỉ lệ SDD trẻ em ở nước ta vẫn còn ở mức cao, đặc biệt SDD thể thấp còi Năm 2015, tỉ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi của nước ta là 24,6% Tỉ lệ SDD thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi ở khu vực miền núi phía Bắc là 30,3% và Tây Nguyên là 34,2% Quản
Bạ là một huyện miền núi nghèo, thuộc tỉnh Hà Giang, có nhiều người Mông sinh sống Do còn khó khăn về kinh tế cũng như điều kiện chăm sóc trẻ nên tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi tại huyện Quản Bạ còn cao (34,4% năm 2018) Bên cạnh đó, người Mông có phong tục kết hôn sớm, có tập quán đẻ nhiều con, thói quen chăm sóc trước sinh và sau sinh còn nhiều bất cập Để tìm hiểu thực trạng SDD thấp còi ở trẻ em người dân tộc Mông tại hai xã huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang và các yếu tố liên quan nhằm đề xuất những giải pháp cải thiện tình hình, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu:
1 Đánh giá thực trạng SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm
2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan với SDD thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Mông tại khu vực nghiên cứu
Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Thông tin chung về suy dinh dưỡng
Trang 41.1.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng
1.1.2 Suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi
1.1.3 Hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
1.1.4 Các phương pháp đánh giá SDD trẻ em trong cộng đồng
Để đánh giá SDD trong cộng đồng, theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) nên sử dụng các chỉ số nhân trắc học, đó là cân nặng theo tuổi (W/A), chiều cao theo tuổi (H/A), và cân nặng theo chiều cao (W/H)
1.1.5 Cách đánh giá và phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em
Năm 1983, WHO đề nghị lấy số liệu của NCHS Hoa Kỳ làm quần thể tham chiếu và đề nghị này hiện nay đã được ứng dụng rộng rãi Theo phân bố thống kê, thường lấy âm 2 độ lệch chuẩn (-2SD: Standard deviation) của số trung bình làm giới hạn ngưỡng, cụ thể:
Bảng 1.2 Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em theo WHO
Thể suy dinh dưỡng
Đánh giá
Nhẹ cân (W/A) Thấp còi
(H/A)
Gầy còm (W/H)
-2SD đến + 2SD -2SD đến
+2SD
-2SD đến +2SD Bình thường
Từ < 2SD đến
-3SD
Từ < -2SD đến -3SD
Từ < -2SD đến -3SD
SDD mức
độ vừa
Từ < -3SD Từ < -3SD Từ < -3SD SDD mức
độ nặng
1.2 Thực trạng SDD thấp còi trẻ em trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng SDD thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi trên Thế giới
Trang 5Năm 2016, theo ước tính của WHO, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Ngân hàng Thế giới, từ năm 2000 đến năm
2016, SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể: SDD thấp còi giảm từ 32,7% xuống còn 22,9% (tương ứng 154,8 triệu trẻ) Báo cáo gần đây của UNICEF (2017) thấy tỉ lệ SDD thấp còi trên toàn thế giới ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 32,7% năm 2000 (tương ứng 198,4 triệu trẻ mắc) xuống còn 22,9% năm 2016 (tương ứng 154,8 triệu trẻ mắc) Tỉ lệ SDD thấp còi chiếm cao ở khu vực Đông Phi (26,7%), Trung Phi (32,5%) và Tây Phi là 31,5% Tỉ lệ SDD thấp còi ở khu vực Nam Á là 34,% và khu vực Đông Nam Á là 25,8% Tỉ lệ SDD thấp còi ở khu vực Bắc Mỹ là 2,3% và Nam Mỹ
là 9,5% Nhìn chung tỉ lệ SDD thấp còi dao động khác nhau tùy từng vùng nhưng tập trung cao tại khu vực châu Phi và châu Á
1.2.2 Thực trạng SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam
SDD thấp còi ở trẻ em Việt Nam còn là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội Trong thời gian qua, SDD thấp còi ở Việt Nam có xu hướng giảm dần ở cả
8 vùng sinh thái theo thời gian, tuy nhiên không đều và vẫn còn sự mất cân bằng giữa các vùng Tỉ lệ SDD thấp còi cao nhất ở vùng Tây Nguyên (gần 50% năm 2002 xuống còn khoảng 35% năm 2011), tiếp đến là Vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ (khoảng 40% năm 2002 và giảm chậm còn khoảng 30 - 35% năm 2011) Các vùng còn lại là Duyên hải Nam Trung Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ, tuy có sự khác biệt về tỉ lệ SDD thấp còi năm 2002 (dao động trong khoảng từ 26% đến 34%)
Bên cạnh đó, ở Việt Nam có sự khác biệt khá lớn về tỉ lệ
Trang 6SDD thấp còi ở khu vực thành thị và nông thôn Nghiên cứu của Trần Thị Lan tại Quảng Trị, thấy tỉ lệ SDD thấp còi ở trẻ 12 – 36 tháng tuổi là 66,5%, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà tại Bắc Ninh cho tỉ lệ SDD thấp còi là 34,4% Thống kê năm 2017 tại Hà Giang cho tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi là 34,3% Nghiên cứu của Đinh Đạo (2014) tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam thấy tỉ lệ SDD thấp còi 62,8% Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cs (2014) tại thành phố Phủ Lý cho tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi 7,5% Nghiên cứu của Bùi Xuân Minh và cs (2015) ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Raglai tại tỉnh Khánh Hòa cho kết quả tỉ lệ SDD thấp còi là 68,7% Nghiên cứu của Trần Thị Thanh (2016) thấy tỉ lệ SDD thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi huyện Cư Kuin, tỉnh Đăk Lăk là 37,6%
1.3 Yếu tố liên quan đến SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi
- Liên quan giữa giới tính của trẻ với SDD thấp còi
Hiện nay, còn một số tranh cãi về giới tính của trẻ liên quan đến SDD Một số tác giả cho rằng, trẻ trai có xu hướng hoạt động và tiêu thụ nhiều năng lượng nên ăn nhiều hơn trẻ gái Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu còn có sự khác biệt
- Liên quan giữa kinh tế đói nghèo với SDD
Nghiên cứu khác tại Bangladesh cho thấy trẻ thuộc hộ gia đình có chỉ số nghèo cao có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao hơn 2,892 lần so với nhóm không nghèo (p < 0,001) Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cs (2014) cho kết quả: mẹ làm cán bộ viên chức thì con bị SDD chiếm 3,8%, thấp hơn so với mẹ làm nghề khác (13,6%), mối liên quan có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
- Liên quan giữa gia đình đông con, mồ côi cha mẹ với SDD
Nghiên cứu của John Jomon và cs (2018) đã chứng minh
Trang 7được mối liên quan giữa số lượng con với thứ tự sinh và tăng nguy
cơ mắc SDD trẻ em (p < 0,05)
- Liên quan giữa bà mẹ có trình độ học vấn thấp và kiến thức chăm sóc trẻ kém với SDD
Nghiên cứu của Mazengia Amare Lisanu và cs (2018) trên
802 trẻ cho thấy trình độ học vấn của mẹ là mù chữ có nguy cơ gây mắc SDD thấp còi cao gấp 1,81 lần (95%CI: 1,01 - 3,24)
- Liên quan giữa tập quán, thói quen chăm sóc trẻ với SDD:
Nghiên cứu của Đoàn Thị Ánh Tuyết và cs (2012) thấy có mối liên quan giữa thực hành cho trẻ bú mẹ hoàn toàn dưới 6 tháng với thể gầy còm (OR=6,86, 95%CI: 1,28-36,68) và giữa uống viên sắt khi mang thai với thể thấp còi (OR=1,58, 95%CI: 1,0-2,37) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Anh và cs thấy trẻ ăn bổ sung không hợp lý có nguy cơ SDD tăng 2,7 - 4,0 lần
- Liên quan giữa trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn với SDD:
Nghiên cứu của Sulaiman A.A và cs (2018) trên 1635 trẻ tại miền Bắc Sudan cho kết quả: trẻ bị nhiễm khuẩn (triệu chứng bệnh đường ruột và đường hô hấp) và không tiêm vắc xin đầy đủ có liên quan với SDD thể gầy còm (p = 0,007, p = 0,013 và p = 0,008)
- Liên quan giữa dịch vụ chăm sóc y tế và môi trường với SDD:
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Bằng (2018) thấy: Nhân lực y
tế phụ trách chương trình phòng chống SDD thiếu và yếu; cán bộ phụ trách không được tập huấn, hoạt động của chương trình tại TYT
xã không có kinh phí; thiếu trang thiết bị; kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ… ảnh hưởng hoạt động phòng chống SDD
1.4 Một số đặc điểm kinh tế, xã hội của người Mông
Người Mông hiện nay có số dân gần 1,1 triệu người Người
Trang 8Mông ở Hà Giang chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số người Mông tại Việt Nam Người Mông có một số phong tục tập
quán chủ yếu sau: Nhà ở: Người Mông thường sống trong những căn
nhà lá vách nứa hoặc gỗ đẽo, đồ đạc tiện nghi nghèo nàn phù hợp với tập quán di cư di canh của họ Thu nhập thấp, trình độ văn hoá xã hội của người Mông nhìn chung còn nhiều hạn chế đã ảnh hưởng không
nhỏ đến nhận thức của họ về chăm sóc sức khỏe Sinh đẻ: Trước kia
người Mông đẻ ở rừng còn ngày nay chủ yếu đẻ ở nhà Quan điểm người Mông về sinh đẻ là bình thường, chết đứa này thì đẻ đứa khác
Khi trong nhà có người ở cữ, gia đình kiêng một tháng Vệ sinh môi
trường: Chăn thả các loại gia súc gia cầm tự do, không sử dụng hố xí
là tập quán lâu đời của dân tộc Mông điều này làm cho nguồn nước
ăn hay bị ô nhiễm Người Mông chưa có thói quen rửa tay trước khi
ăn và sau khi đi đại tiểu tiện, thậm chí còn uống nước lã đều ảnh
hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ em người dân tộc Mông từ 0 đến <60 tháng tuổi và mẹ của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu: 2 xã Cán Tỷ và Lùng Tám thuộc huyện
Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: Tháng 7/2018 đến tháng 5/2019
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang 2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trang 9- Cỡ mẫu: áp dụng công thức:
2 2
2 / 1
)1(
d
p p Z
Lấy p = 0,28 (Nghiên cứu của Trần Thị Thanh (2016) thấy tỉ
lệ SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi huyện Cư Kuin tỉnh Đăk Lăk là 28,0%) chọn d = 0,03 Thay số, n = 861; thực tế điều tra 930 trẻ
- Chọn mẫu: (1) Chọn xã: chọn chủ đích 2 xã Cán Tỷ và Lùng Tám thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (2) Chọn đối tượng nghiên cứu: theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
2.4 Chỉ số nghiên cứu
2.4.1 Chỉ số nghiên cứu về thực trạng SDD thấp còi
* Chỉ số về đặc điểm trẻ dưới 5 tuổi người dân tộc Mông
* Chỉ số về đặc điểm người chăm sóc trẻ và mẹ trẻ tham gia
* Thực trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi
Tỉ lệ SDD theo thể thấp còi, nhẹ cân, gầy còm Tỉ lệ SDD thấp còi theo mức độ, theo giới, theo xã, theo tháng tuổi của trẻ, theo tuổi thai khi đẻ, theo tuổi mẹ, theo kinh tế hộ gia đình
2.4.2 Chỉ số nghiên cứu về yếu tố liên quan với SDD thấp còi
Mối liên quan giữa kinh tế gia đình, nghề nghiệp mẹ, nghề nghiệp bố, trình độ học vấn của mẹ, tuổi kết hôn lần đầu của mẹ, mẹ kết hôn cận huyết, tăng cân của mẹ trong thai kì, số con hiện có của
mẹ, thời điểm bú sữa mẹ sau đẻ, thời điểm ăn bổ sung, thời gian cai sữa, giới tính của trẻ, cân nặng sơ sinh của trẻ, tiền sử thường xuyên mắc bệnh, tình trạng tiêm chủng với SDD thấp còi
2.5 Tiêu chuẩn đánh giá một số biến số nghiên cứu
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Đo chỉ số nhân trắc
Trang 10- Cân nặng: Sử dụng cân Tanita của Nhật Bản, có độ chính xác 0,1 kg Cân đã được kiểm tra, chuẩn hoá, chỉnh về 0 trước khi tiến hành nghiên cứu và luôn điều chỉnh sau mỗi lần cân Khi cân trẻ chỉ mặc bộ quần áo mỏng, bỏ giầy dép Kết quả được ghi theo đơn vị kilogram với 1 số lẻ
- Chiều cao: Đo chiều cao đứng (đối với trẻ trên 2 tuổi) bằng thước gỗ có độ chính xác 0,1 cm Đo chiều cao nằm của trẻ (đối với trẻ từ 2 tuổi trở xuống) Đọc kết quả và ghi số centimet, kết quả được tính theo đơn vị centimet với một chữ số thập phân
2.6.2 Phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bà mẹ hoặc người
chăm sóc trẻ theo mẫu phiếu điều tra
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu về SDD được tính toán bằng phần mềm WHO Anthro Plus 2010 Sau đó nhập vào phần mềm SPSS 22.0, được xử lý và phân tích theo các thuật toán thống kê y sinh học
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên năm 2018
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm
Trang 11Gầy còm (W/H) 930 76 8,2
Nhận xét: Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD thấp còi chiếm cao
nhất 45,1%; SDD nhẹ cân chiếm 24,1% và SDD gầy còm 8,2%
Bảng 3.4 Tỉ lệ suy dinh dưỡng thấp còi theo mức độ
Trang 12Nhận xét: Hộ gia đình có kinh tế đủ ăn có con bị SDD thấp
còi chiếm 42,0%; hộ cận nghèo là 46,1% và hộ nghèo là 50,4%
3.2 Một số yếu tố liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Mông
Bảng 3.11 Liên quan giữa kinh tế gia đình với SDD thấp còi SDD thấp còi
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kinh tế
hộ gia đình với SDD thấp còi (p < 0,05)
Bảng 3.13 Liên quan giữa nghề nghiệp bố với SDD thấp còi
Trang 13χ 2 , p χ2 = 8,536, p = 0,003
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề
nghiệp của bố với SDD thấp còi của trẻ (p < 0,05)
Bảng 3.14 Liên quan giữa học vấn của mẹ với SDD thấp còi SDD thấp còi
Nhận xét: Có mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ
với SDD thấp còi của trẻ (p < 0,05)
Bảng 3.15 Liên quan giữa tuổi kết hôn lần đầu của mẹ với SDD
thấp còi SDD thấp còi
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi
kết hôn của mẹ với SDD thấp còi của trẻ (p < 0,05)
Trang 14Bảng 3.16 Liên quan giữa mẹ kết hôn cận huyết với SDD thấp còi SDD thấp còi
χ 2 , p χ2 = 7,365, p = 0,008
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mẹ kết
hôn cận huyết với SDD thấp còi của trẻ (p < 0,05)
Bảng 3.17 Liên quan giữa tăng cân của mẹ trong thai kì với SDD
thấp còi SDD thấp còi
χ 2 , p χ2 = 4,421, p = 0,035
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng
cân khi mang thai của mẹ với SDD thấp còi (p < 0,05)
Bảng 3.18 Liên quan giữa số con hiện có của bà mẹ với SDD
thấp còi SDD thấp còi
χ 2 , p χ2 = 8,775, p = 0,003
Trang 15Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số con
hiện có của bà mẹ với SDD thấp còi của trẻ (p < 0,05)
Bảng 3.19 Liên quan giữa thời điểm bú sữa mẹ sau đẻ với SDD
thấp còi SDD thấp còi
Trang 16χ 2 , p χ2 = 4,036, p = 0,045
- Có 77 trẻ chưa cai sữa
- Chia ngưỡng “cut point” 18 vì chỉ có 02 trẻ được cai sữa 24 tháng
Nhận xét: Có mối liên quan giữa thời gian cai sữa sớm với
χ 2 , p χ2 = 2,421, p = 0,12
Nhận xét: Trẻ nam bị SDD thấp còi là 47,5%; cao hơn trẻ
nữ (42,4%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Bảng 3.23 Liên quan giữa cân nặng sơ sinh của trẻ với SDD thấp còi
Nhận xét: Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình
trạng nhẹ cân khi đẻ với SDD thấp còi (p < 0,05)
Bảng 3.24 Liên quan giữa trẻ thường xuyên mắc bệnh với SDD
thấp còi SDD thấp còi
Tiền sử bệnh tật
Trang 17Có mắc bệnh 338 48,8 354 51,2 692 100,0
Không mắc bệnh 81 34,0 157 66,0 238 100,0 Tổng 419 45,1 511 54,9 930 100,0
χ 2 , p χ2 = 4,539, p = 0,033
Nhận xét: Có mối liên quan giữa tiêm chủng không đầy đủ,
đúng lịch với SDD thấp còi (p < 0,05)
Chương 4 BÀN LUẬN 4.1 Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc Mông tại 2 xã huyện Quản Bạ tỉnh Hà Giang năm
2018
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỉ lệ trẻ em dưới
5 tuổi SDD thấp còi chiếm 45,1% Kết quả này của chúng tôi cao hơn hẳn so với báo cáo của UNICEF (2017) thấy tỉ lệ SDD thấp còi trên toàn thế giới năm 2016 là 22,9%: tỉ lệ này ở khu vực Đông Phi 26,7%, Nam Á 34,0% và khu vực Đông Nam Á 25,8% Kết quả SDD thấp còi của chúng tôi cũng cao hơn một số nghiên cứu trước: Báo cáo tổng quan của Mohseni M và cs (2018) cho tỉ lệ SDD thấp