Các nước phát triển, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhất là y học, đồng thời người phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tốt, được tư vấn đầy đủ
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
BÙI VĂN LÂN
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
LÀM MẸ AN TOÀN CỦA NGƯỜI MƯỜNG HUYỆN KIM BÔI,
TỈNH HÒA BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
BÙI VĂN LÂN
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
LÀM MẸ AN TOÀN CỦA NGƯỜI MƯỜNG HUYỆN KIM BÔI,
TỈNH HÒA BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 62 72 76 01
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Khải Hoàn
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 10 năm 2015
Bùi Văn Lân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, Khoa Y tế công cộng, Bộ phận Quản lý đào tạo sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy cho tôi trong hai năm học qua
Phó giáo sư Tiến sỹ Đàm Khải Hoàn - Giảng viên Bộ môn Y học cộng đồng - khoa Y tế cộng cộng - Trường đại học học y dược Thái Nguyên - Người thày đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này
Ban Giám đốc Bệnh viên đa khoa tỉnh Hòa Bình, Sở Y tế Hòa Bình cùng toàn thể anh chị em trong khoa Sản phụ bệnh viện đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Ban Giám đốc bệnh viện huyện, trung tâm y tế dự phòng huyện Kim Bôi cùng các xã Kim Bôi, Cuối Hạ, Nam Thượng và Kim Truy đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt tôi cảm ơn vợ, con tôi và gia đình đã tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật chất, động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt luận văn này
Học viên
Bùi Văn Lân
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT
BVSKBMTE/KHHGĐ Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em /kế hoạch hóa gia đình
CSSKBMTE Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em
CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
CSSKSS Chăm sóc sức khoẻ sinh sản
CSSS Chăm sóc sau sinh
TT-GDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe
UNICEF Quĩ nhi đồng liên hiệp quốc
UV Uốn ván
Trang 6
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục bảng
Danh mục hình, biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thực trạng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn 3
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến làm mẹ an toàn 3
1.1.2 Chương trình làm mẹ an toàn 3
1.1.3 Tình hình thực hiện chương trình làm mẹ an toàn 5
1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chương trình làm mẹ an toàn 19
1.2.1 Yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội 19
1.2.2 Các chăm sóc sức khỏe đảm bảo làm mẹ an toàn 21
1.2.3 Ảnh hưởng của phong tục tập quán của người Mường đến sức khỏe nói chung và chương trình LMAT nói riêng 25
1.3 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn 27
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng 29
2.1.1 Đối tượng cho nghiên cứu định lượng 29
2.1.2 Đối tượng cho nghiên cứu định tính 29
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.2.1 Địa điểm 29
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
Trang 72.3.1 Thiết kế nghiên cứu 29
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 30
2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu 31
2.3.4 Kỹ thuật thu thập thông tin 35
2.3.5 Phương pháp phân tích, xử lý thông tin, số liệu 35
2.3.6 Phương pháp khống chế sai số 35
2.3.7 Đạo đức nghiên cứu 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Thực trạng thực hiện chương trình LMAT tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình từ 2013 - 2014 36
3.1.1 Kết quả thực hiện chương trình chung toàn huyện Kim Bôi năm 2013 - 2014 (số liệu thứ cấp) 36
3.1.2 Kết quả từ điều tra cộng đồng ở 04 xã nghiên cứu 44
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình hiện nay 50
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình hiện nay 51
3.3.1 Một số yếu tố thuộc về nguồn lực của TTYT huyện cũng như thực hiện các tiêu chí y tế xã của các xã điều tra ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 51
3.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình LMAT qua điều tra cộng đồng ở 4 xã của huyện Kim Bôi 54
3.3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020 60
Chương 4 BÀN LUẬN 63
4.1 Thực trạng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình từ 2013-2014 63
Trang 84.1.1 Kết quả thực hiện chung toàn huyện Kim Bôi năm 2013 - 2014 (số
liệu thứ cấp) 63
4.1.2 Kết quả từ điều tra cộng đồng ở 04 xã nghiên cứu 67
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình hiện nay 67
4.2.1 Một số yếu tố thuộc về nguồn lực của TTYT huyện cũng như thực hiện các tiêu chí y tế xã của các xã điều tra huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 67
4.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình LMAT qua điều tra cộng đồng ở 4 xã của huyện Kim Bôi 70
4.2.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020 71
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 85
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả TT-GDSK chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ở huyện
Kim Bôi năm 2013-2014 36
Bảng 3.2 Kết quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ở huyện Kim Bôi năm 2013-2014 37
Bảng 3.3 Kết quả quản lý thai nghén ở huyện Kim Bôi năm 2013-2014 38
Bảng 3.4 Kết quả chăm sóc trong sinh cho các bà mẹ ở huyện Kim Bôi năm 2013-2014 39
Bảng 3.5 Kết quả chăm sóc sau sinh cho các bà mẹ ở huyện Kim Bôi năm 2013-2014 40
Bảng 3.6 Kết quả chăm sóc sức khỏe trẻ em ở huyện Kim Bôi năm 2013-2014 41
Bảng 3.7 Kết quả thực hiện chăm sóc trước sinh cho các bà mẹ có thai ở 04 xã điều tra ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 42
Bảng 3.8 Kết quả thực hiện chăm sóc trong sinh cho các bà mẹ có thai ở 04 xã điều tra ở huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 43
Bảng 3.9 Kết quả thực hiện chăm sóc sau sinh cho các bà mẹ có thai ở 04 xã điều tra ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình 44
Bảng 3.10 Tình hình chăm sóc trước sinh cho bà mẹ ở các điểm điều tra 45
Bảng 3.11 Tình hình chăm sóc trong sinh cho bà mẹ người Mường 46
Bảng 3.12 Tình hình chăm sóc sau sinh cho bà mẹ người Mường 47
Bảng 3.13 Tình hình chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em người Mường 48
Bảng 3.14 Thực trạng nguồn lực cho việc thực hiện chương trình Làm mẹ an toàn ở huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình 51
Bảng 3.15 Nguồn truyền thông thực hiện chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ở các điểm điều tra cộng đồng 54
Trang 10Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuổi và trình độ học vấn của bà mẹ người
Mường với kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn 55
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế và qui mô gia đình người
Mường với kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn 55
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa khoảng cách với kết quả thực hiện chương
trình làm mẹ an toàn 56
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa phương tiện truyền thông với kết quả thực
hiện chương trình làm mẹ an toàn 56
Trang 11DANH MỤC HỘP
Hộp 3.1 Tình hình thực hiện chương trình LMAT ở huyện Kim Bôi 50
Hộp 3.2 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chương trình LMAT 58
Hộp 3.3 Một số tập quán của người Mường có liên quan đến chăm sóc sức
khỏe bà mẹ và trẻ em 59
Hộp 3.4 Các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình LMAT 62
Trang 121
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hàng năm, trên thế giới vẫn còn khoảng 500.000 phụ nữ tử vong vì biến chứng của thai nghén và sinh đẻ, trong đó 98% những trường hợp tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển [77], [78] Các nước phát triển, với sự tiến
bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhất là y học, đồng thời người phụ nữ được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tốt, được tư vấn đầy
đủ khi mang thai, vì vậy, nhiều tai biến gây tử vong trong sinh đẻ có thể phòng tránh được, tỷ lệ chết mẹ rất thấp Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tai biến sản khoa vẫn là nguy cơ lớn cho các sản phụ Ở nước ta, tuy là một trong những nước có tỷ lệ tử vong bà mẹ thấp so với thế giới, vào khoảng 70/100.000 trẻ đẻ sống, nhưng ở vùng sâu, vùng xa, vùng người dân tộc thiểu số, tỷ lệ này còn rất cao [1], [4], [13], [16] Điều đáng lo ngại là cho đến nay các tai biến sản khoa vẫn còn xảy ra, trong khi phần lớn những tai biến đó đều có thể phòng tránh được, nếu như chúng ta làm tốt công tác chăm sóc trước, trong và sau sinh, đó chính là việc thực hiện tốt chương trình làm mẹ an toàn Chính vì thế tổ chức thực hiện tốt chương trình làm mẹ an toàn tại tuyến cơ sở đóng một vai trò cực kỳ quan trọng nhất
là ở vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh, vùng người dân tộc thiểu số miền núi nước ta [20], [21], [25]
Ngay từ cuối năm 1980, Bộ Y tế đã chỉ đạo triển khai chương trình làm
mẹ an toàn tích cực và hiệu quả Vì vậy tỉ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh đã giảm xuống đáng kể Việt Nam đã giảm được xấp xỉ 2/3 tỷ suất tử vong mẹ liên quan đến thai sản từ 233/100.000 trẻ đẻ sống năm 1990 xuống còn 69/100.000 trẻ đẻ sống năm 2009 [14], [19] Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu tiên nhằm nâng cao đời sống cho người dân miền núi, đặc biệt là ở vùng cao, vùng sâu, vùng các dân tộc thiểu số Ngành Y
Trang 132
tế đã tích cực triển khai, thực hiện các dự án nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tăng cường đưa dịch vụ này tới vùng khó khăn, miền núi làm cho tỷ suất tử vong mẹ ở nước ta ngày càng xuống thấp [55], [68] Hòa Bình là một trong những tỉnh được hưởng dự án nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản do Quĩ dân số Lien hợp quốc tài trợ Người Mường ở Hòa Bình là một dân tộc chiếm tỷ lệ chủ yếu của dân số tỉnh Kim Bôi là một huyện có tỷ lệ người Mường cao trong số các huyện của tỉnh Hòa Bình Ngày nay nhờ sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước, đời sống người Mường đã được cải thiện rất nhiều, song ở các xã vùng sâu, vùng xa của huyện, người Mường còn chưa được chăm sóc sức khỏe tốt, nhất là việc thực hiện chương trình làm mẹ an toàn [52], [69] Câu hỏi đặt ra
là thực trạng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình hiện nay ra sao? yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình hiện nay và giải pháp nào để nâng cao chất lượng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn cho người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa
Bình giai đoạn tới? Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình và đề xuất giải pháp” với hai mục tiêu sau:
1) Mô tả thực trạng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người
Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình từ 2013-2014
2) Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình làm mẹ an toàn và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn của người Mường ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa
Bình giai đoạn 2016-2020
Trang 143
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thực trạng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến làm mẹ an toàn
- Sức khoẻ sinh sản (SKSS): Là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của cơ quan sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay tật tại cơ quan đó
- Làm mẹ an toàn (LMAT): Là những biện pháp áp dụng để đảm bảo sự
an toàn cho mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh Mục đích là giảm tỷ lệ tử vong cho bà
mẹ ngay khi mang thai, trong khi đẻ và suốt thời kỳ hậu sản (42 ngày sau đẻ)
- Tử vong mẹ: Tử vong mẹ là các trường hợp phụ nữ bị chết trong khi mang thai, cho đến 42 ngày sau đẻ hoặc phá thai, gây ra bởi các nguyên nhân liên quan đến chửa và đẻ
- Tử vong trẻ sơ sinh: Tử vong sơ sinh là tất cả trẻ bị chết từ sau khi sinh ra cho đến 4 tuần đầu sau đẻ, do bất kỳ nguyên nhân gì [34], [64]
1.1.2 Chương trình làm mẹ an toàn
*Chăm sóc trước sinh Chăm sóc giáo dục sức khoẻ (GDSK) cho phụ
nữ trong thời kỳ mang thai là đăng ký quản lý thai nghén tốt từ khi mang thai đến khi chuyển dạ, chăm sóc sức khoẻ (CSSK) và dinh dưỡng cho bà mẹ và thai, nhằm đảm bảo thai nghén an toàn và con sinh ra khoẻ mạnh Nội dung
chính của chăm sóc trước sinh (CSTS) bao gồm:
- Khám thai: Hiện nay theo qui định hướng dẫn của Bộ y tế trong một
lần thai nghén bình thường, sản phụ phải đi khám thai ít nhất 3 lần Trong các lần khám thai, các bà mẹ sẽ được đăng ký quản lý thai nghén, tiêm phòng uốn ván, cấp và hướng dẫn uống bổ sung viên sắt để chống thiếu máu Các bà mẹ được giáo dục về chế độ dinh dưỡng, lao động, nghỉ ngơi, vệ sinh thai nghén,
Trang 154
bao gồm cả vấn đề sinh hoạt tình dục Phụ nữ có thai (PCCT) cần được biết rằng dinh dưỡng tốt sẽ giúp cho bà mẹ có sức đề kháng chống lại bệnh tật, không bị thiếu máu khi có thai, con sinh ra sẽ khoẻ mạnh, không bị suy dinh dưỡng, trí tuệ phát triển tốt Thai phụ cần phải ăn tăng khẩu phần ăn, thêm 25% so với lúc chưa có thai, ăn tăng trong mỗi bữa ăn hoặc ăn nhiều bữa hơn
so với bình thường Tăng cường ăn các loại thức ăn giàu đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin, muối khoáng, trong chế độ ăn người mẹ phải hạn chế muối và các chất kích thích… Điều quan trọng khi phụ nữ đến khám thai tại
cơ sở y tế phải phát hiện sớm những nguy cơ, ảnh hưởng tới sức khoẻ của mẹ
và thai nhi, để chuyển tuyến kịp thời, vì phần lớn các biến chứng sản khoa là không thể xử trí ở tuyến cơ sở… Các bà mẹ được khám thai và hướng dẫn tự phát hiện những bất thường của thai nhi, để có thể loại bỏ các thai bất thường, nâng cao chất lượng trong sinh sản, giảm thiểu những trẻ sơ sinh dị tật
- Tư vấn trước sinh: Thai phụ được tư vấn để có thể chuẩn bị cho cuộc sinh sắp tới: Sắp sẵn những đồ dùng cần thiết, không đi xa, lao động nhẹ nhàng, dự kiến ngày sinh, lựa chọn địa điểm sinh, nuôi con bằng sữa mẹ Trong chăm sóc trước sinh, việc tư vấn bao gồm những vấn đề chung cho mọi sản phụ, nhưng cũng phải chú ý đến trường hợp cá biệt, có những hoàn cảnh đặc biệt Đối với những người có thai lần đầu, phải cung cấp những thông tin
về thai nghén, Cũng như có thai ngoài ý muốn, thai ngoài hôn thú, họ có nhiều tâm sự cần được chia sẻ, cán bộ y tế cần tư vấn để giúp họ cách giải quyết hợp lý và an toàn nhất
*Chăm sóc trong khi sinh Sinh đẻ là một quá trình tự nhiên của sự
sống, phần lớn phụ nữ có thể sinh con mà không cần sự can thiệp nào của y
tế Tuy nhiên, khi bước vào giai đoạn chuyển dạ người mẹ phải đối diện với nguy cơ dễ bị những tai biến nguy hiểm, có thể ảnh hưởng đến tính mạng của
cả mẹ và con Vì vậy CSKS tốt, không những làm giảm nguy cơ tử vong mẹ
Trang 165
và tử vong trẻ sơ sinh, mà còn giúp cho người mẹ khoẻ mạnh và trẻ sơ sinh
phát triển tốt, trong giai đoạn sau sinh Trong khi theo dõi và chăm sóc người
phụ nữ chuyển dạ, phải theo dõi kỹ các yếu tố về người mẹ, tình trạng của thai nhi và phần phụ, diễn biến cuộc chuyển dạ, để tiên lượng cuộc đẻ, từ đó
có thái độ sử trí thích hợp Đặc biệt phải quan tâm nhiều hơn đến những cuộc
chuyển dạ, mà người mẹ bị các bệnh mạn tính, hay cấp tính, hoặc sản phụ có sẹo mổ ở tử cung Theo dõi cuộc chuyển dạ tích cực và ghi chép quá trình diễn biến của cuộc chuyển dạ trên biểu đồ chuyển dạ, để phát hiện và theo dõi, xử trí cuộc chuyển dạ khi bị đình trệ, thai suy, sử dụng các thuốc tăng co
hoặc giảm co thích hợp trong chuyển dạ
*Chăm sóc sau sinh (CSSS) Thời kỳ hậu sản được tính từ sau khi cuộc
đẻ kết thúc cho đến 42 ngày sau đẻ Nếu như cuộc chuyển dạ diễn biến suôn
sẻ, thì nguy cơ tử vong cho mẹ và con vẫn có thể xảy ra vào giai đoạn sau đẻ
Theo dõi và CSSS: Đối với bà mẹ, nguy cơ lớn nhất mà các bà mẹ có thể gặp phải đó là chảy máu sau đẻ, nguyên nhân có thể do chấn thương đường sinh dục, hoặc tổn thương hay gặp nhất là đờ tử cung, mà chỉ trong vòng 1- 2 giờ, nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời, sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng người mẹ Đối với trẻ ngay sau đẻ, nguy cơ hay gặp nhất
là ngạt tái phát và hạ thân nhiệt, các tai biến này làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của trẻ Chăm sóc trong thời kỳ hậu sản là phải theo dõi chặt chẽ, bà
mẹ và trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh, để phát hiện chảy máu ở các bà mẹ, tình trạng hạ thân nhiệt, hay dấu hiệu ngạt tái phát ở trẻ sơ sinh, trong những giờ đầu và ngày đầu sau đẻ [3], [34]
1.1.3 Tình hình thực hiện chương trình làm mẹ an toàn
1.1.3.1 Thế giới
Hội nghị Cairo đã đưa ra khái niệm mới về sức khoẻ sinh sản “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội chứ
Trang 17thảo Chương trình hành động của phụ nữ thế giới lần thứ tư đã vạch rõ: “Tất
cả các nước cần hết sức cố gắng thông qua hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, làm cho mọi người, mọi lứa tuổi thích hợp, được tiếp cận với khái niệm sức khỏe sinh sản càng sớm càng tốt và không chậm hơn năm 2015” Từ sau
hội nghị Cairo, nhiều tổ chức quốc tế như WHO, UNFPA, UNICEF đã có nhiều đầu tư vào chăm sóc SKSS để bảo vệ an toàn cho phụ nữ khi mang thai
và sinh đẻ Trong Kế hoạch hành động sau Hội nghị Cairo của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), sức khỏe sinh sản bao gồm sáu nội dung chính có liên quan mật thiết với nhau, đó là kế hoạch hóa gia đình, làm mẹ an toàn, sức khỏe sinh sản vị thành niên, vô sinh, bệnh nhiễm khuẩn và bệnh lây truyền qua đường tình dục, tình dục Trong đó xác định làm mẹ an toàn bao gồm việc chăm sóc khi mang thai, đẻ, sau khi đẻ mẹ và con an toàn [64], [67]
Theo WHO nguy cơ tử vong mẹ có thể phòng tránh được nếu như chúng
ta có sự quản lý và chăm sóc thai sản đúng đắn, tạo điều kiện thuận lợi cho bà
mẹ tiếp cận các dịch vụ y tế để đảm bảo an toàn trong quá trình mang thai và sinh đẻ [78] Hiện nay, hàng năm trên toàn thế giới có khoảng 500.000 phụ nữ
tử vong có liên quan đến thai sản Dường như cứ một phút qua đi lại có một
bà mẹ chết do hậu quả hoặc những biến chứng do thai nghén hoặc do sinh đẻ Trong số họ, phần lớn là những người còn trẻ hoặc mới bắt đầu làm mẹ Không những thế, cứ một bà mẹ tử vong do thai sản thì có khoảng 100 bà mẹ khác bị đau yếu, mất sức lao động hoặc bị tật nguyền hoặc bị những tổn
Trang 187
thương sinh lý do hậu quả của các biến chứng thai sản [77] Theo UNICEF, tỷ
lệ tử vong mẹ khác nhau giữa các châu lục, có tới 98% là những người đang sống ở các nước thuộc thế giới thứ 3, đặc biệt là những phụ nữ ở Đông và Tây châu Phi và một số nước ở châu Á cũng như ở châu Mỹ La Tinh [66]
Theo báo cáo của WHO tỷ suất tử vong mẹ ở châu Âu và Bắc Mỹ là 140/100.000 ca đẻ sống, trong khi châu Á 340/100.000 ca đẻ sống còn ở châu Phi tỷ lệ đó là 1000/100.000 ca đẻ sống tức là cứ 100 bà mẹ sinh con thì có 1
36-bà mẹ tử vong do các yếu tố thai sản Tử vong mẹ phần lớn xảy ra trong tuần đầu sau khi sinh (60%), đặc biệt là 24 giờ đầu sau khi sinh mà nguyên nhân chảy máu là chiếm hàng đầu Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ tử vong mẹ xảy
ra ở các thời điểm khác nhau: Trước sinh: 23,9%, trong sinh: 15,5%, sau sinh: 60,6% [77]
Theo thống kê của WHO có 80-85% các trường hợp chết mẹ liên quan trực tiếp đến thai sản trong khi các nguyên nhân tử vong gián tiếp chỉ chiếm từ 15-20% các trường hợp tử vong với các bệnh lý như tim mạch, hô hấp, thiếu máu, sốt rét Trong các trường hợp tử vong mẹ trực tiếp thì 25-31% là do băng huyết, khoảng 15% do nhiễm trùng, 17% do tăng huyết áp và sản giật Đặc biệt có tới gần 20% là do nạo phá thai không an toàn [78]
Cũng theo WHO ở các nước đang phát triển tình trạng sức khoẻ bà mẹ trẻ em (BMTE) và tử vong (TV) mẹ có liên quan mật thiết đến công tác kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) Khi mang thai nhiều, đẻ dày ảnh hưởng đến sức khoẻ cho mẹ và con, tăng nguy cơ tử vong nhiều lần so với các bà mẹ sinh ít Các trường hợp tử vong mẹ do phá thai không an toàn chủ yếu là do phá thai bất hợp pháp, phần lớn gặp ở các nước đang phát triển Theo UNFPA hàng năm trên thế giới có gần 80.000 phụ nữ chết do phá thai Đặc biệt ở Chi
Lê và Argentina có tới 1/3 số tử vong mẹ là do phá thai và Uganda 60% tử vong mẹ tuổi vị thành niên là do phá thai Số liệu của 67 công trình nghiên
Trang 198
cứu tại 17 quốc gia cho thấy 15% số chết mẹ là do nạo phá thai không an toàn với tỷ lệ 83%0 ở châu Phi, 48%0 ở Mỹ la tinh, 47%0 ở châu Á, 29%0 ở châu Đại dương và 4%0 ở châu Âu Tỷ lệ tử vong mẹ do phá thai ở Mỹ là 1,4/100.000 trường hợp thì ở Bangladesh là 1800/100.000 và Indonesia là 7/100.000 ca [76]
Theo đánh giá của WHO, ngay cả trong một nước thì các bà mẹ ở vùng sâu, vùng xa ít được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế tỷ lệ tử vong cũng cao hơn so với các đô thị có điều kiện thuận lợi hơn [78] Ở Châu Phi gần một nửa số tai biến sản khoa và tử vong mẹ là do thiếu cán bộ y tế (CBYT) có chuyên môn, thiếu thuốc men trang thiết bị phục vụ chăm sóc, quy trình chăm sóc chưa đúng quy định, đặc biệt ở Đông và Tây Phi nơi tỷ lệ tử vong mẹ 1000/100.000 ca đẻ sống Tử vong mẹ còn có thể do chất lượng chăm sóc không tốt trong quá trình mang thai, trong và sau đẻ Nhiều bà mẹ đẻ ngoài cơ
sở y tế không được theo dõi và chăm sóc nên khi xảy ra tai biến không được
xử trí kịp thời dẫn đến tử vong Trong khu vực Đông Nam Châu Á do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau giữa các nước, tỷ lệ tử vong mẹ cũng khác nhau Tỷ lệ tử vong mẹ cao nhất ở Lào 650/100.000 ca đẻ sống, Campuchia 570/100.000 ca đẻ sống trong khi ở Malaysia, Thái Lan từ 37-44/100.000 ca
đẻ sống và Singapo chỉ có 9/100.000 ca đẻ sống [63]
Cũng theo WHO do có tới 80% các trường hợp tử vong mẹ do các nguyên nhân trực tiếp nên chúng ta có thể phòng phần lớn các trường hợp tử vong nếu làm tốt công tác chăm sóc thai sản và WHO đã đưa ra khuyến cáo: Mọi trường hợp thai nghén đều ẩn chứa những nguy cơ biến chứng và tai biến Mọi phụ nữ trong quá trình thai nghén và sinh đẻ đều phải được chăm sóc đặc biệt [77]
Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã đạt được những thành tích lớn trong việc giảm tử vong mẹ Thuỵ Điển, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch là những nước
Trang 209
đã giảm được tử vong mẹ một cách đáng kể sau khi đưa ra những chính sách quốc gia thích hợp đầu tư cho chương trình LMAT, ví dụ như thiết lập hệ thống chăm sóc sản khoa do cán bộ y tế thực hiện, với các tiêu chuẩn về chất lượng y tế Sri Lanka là một nước châu Á đã giảm được tỉ lệ tử vong mẹ một cách nhanh chóng từ 1.500/100.000 ca đẻ sống (1940-1945) xuống còn 555 (1950-1955) và còn có 95/100.000 (1980), và hiện tại chỉ có 30/100.000 ca đẻ sống Nguyên nhân chính là do thiết lập được hệ thống y tế với các nữ hộ sinh
có trình độ, lồng ghép với các dịch vụ KHHGĐ Vào năm 1950 hầu hết các ca
đẻ đều được thực hiện tại nhà mà không có cán bộ y tế đỡ Cho đến nay đã có 85% số ca đẻ được thực hiện tại các cơ sở y tế Các nước như Malaysia, Cuba
và Trung Quốc cũng có những kinh nghiệm tương tự đối với công tác làm giảm tử vong mẹ Tại các nước này hệ thống chăm sóc bà mẹ được hình thành với các dịch vụ chăm sóc trước đẻ, trong và sau đẻ, cùng với hệ thống chuyển tuyến cho các tai biến sản khoa Để có thể giảm được tử vong mẹ phải có được sự nỗ lực rất lớn, trách nhiệm không chỉ gắn với chính phủ, luật pháp,
hệ thống y tế mà còn nằm trong bản thân mỗi cộng đồng, mỗi gia đình [77] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2006 về thực trạng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 được thực hiện tại 11 nước trong khu vực Đông - Nam Á, tỷ lệ TV bà mẹ (Maternal Mortality Ratio- MMR) còn ở mức cao, việc tiếp cận với cán bộ y tế khi sinh còn ở mức thấp và khác nhau ở từng nước Các dự đoán của WHO, Quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) còn cho rằng năm 2000 tỷ lệ
TV bà mẹ của vùng bằng 1/3 tổng số ca TV mẹ trên toàn thế giới Trong đó,
tỷ lệ TV mẹ của Đông Timor cao nhất (800/100.000 trẻ đẻ sống), sau đó Nepan, Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan lần lượt là 539, 407, 390; Việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ trong quá trình mang thai, nhất là khi sinh vẫn còn là một thách thức của các nước trong khu vực này, ở Đông Timor chỉ 8- 9% số bà
Trang 2110
mẹ khi sinh có sự chăm sóc của cán bộ y tế, tỷ lệ này có cao hơn các nước như Nepan, Bangladesh, Bhutan, Ấn độ (13%, 21,6%, 23,7%, 42,3%) nhưng vẫn còn dưới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ rất nhiều và TV trẻ sơ sinh
là 41,3/100.000 trẻ đẻ sống [63] Nguyên nhân TV bà mẹ liên quan đến các tai biến sản khoa như chảy máu, nhiễm trùng, vỡ tử cung, chấn thương, nạo phá thai không an toàn… cũng được nhiều tác giả ở nhiều nước đề cập đến [70], [71], [75]
Năm 2010, trên thế giới vẫn còn 287.000 phụ nữ tử vong trong và sau khi mang thai và sinh đ ẻ Phụ nữ t ử vong là do các biến chứng trong và sau khi mang thai và sinh đ ẻ Hầu hết những biến chứng này phát triển trong quá trình mang thai Các biến chứng khác có thể tồn tại trước khi mang thai nhưng trở nên tồi tệ hơn trong quá trình mang thai Những biến chứng chủ yếu chiếm tới 80% tử vong mẹ là: chảy máu nhiều, nhiễm trùng (thường sau sinh), huyết
áp cao trong khi mang thai (tiền sản giật và s ản giật ) và phá thai không an toàn Những biến chứng còn lại do hoặc liên quan với những bệnh như sốt rét
và HIV/AIDS trong khi mang thai Có 99% tử vong mẹ x ảy ra ở những nước đang phát triển Tử vong mẹ cao hơn ở những phụ nữ s ống tại nông thôn và trong cộng đồng nghèo hơn Vị thành niên phải đối mặt với nguy cơ biến chứng và tử vong cao hơn khi mang thai so vớ i những phụ nữ lớn tuổi hơn Việc chăm sóc có kỹ năng lành ngh ề trước, trong và sau sinh có thể cứu hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ sơ sinh Trong khi tiêu chuẩn chăm sóc phụ nữ có thai đang ngày càng tăng ở nhiều nơi trên thế gi ới trong thập kỷ qua , thì chỉ
có 46% phụ nữ ở những nước thu nhập thấp được lợi từ viêc chăm sóc có kỹ năng lành nghề trong khi sinh đẻ [72], [73], [74]
1.1.3.2 Việt Nam
Thống kê tỷ suất TV mẹ năm 2010 của WHO cho thấy Việt Nam ở mức trung bình, nhưng vẫn cao hơn Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan Báo cáo
Trang 2211
chung tổng quan ngành y tế hàng năm các năm gần đây, cũng như thống kê y
tế quốc gia cho thấy vẫn tồn tại những yếu tố nguy cơ liên quan tới chăm sóc sản khoa ở nước ta [18], [19], [21], [22] Đó là tình trạng dân số tăng nhanh trong khi hạ tầng y tế phát triển chưa đủ lực để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nói chung và chăm sóc sản khoa nói riêng, nhân lực y tế thiếu cả số lượng và chất lượng, cơ cấu cán bộ y tế không cân đối, hệ thống quản lý y tế còn nhiều bất cập cộng với ngân sách quốc gia y tế có hạn, mặt bằng dân trí chưa cao [7]
Theo tổng quan ngành Y tế năm 2013 tỷ suất TV mẹ đã giảm từ 233/100.000 trẻ đẻ sống trong năm 1990 xuống còn 67/100.00 trẻ đẻ sống vào năm 2011 [18] Tỷ lệ chết chu sinh trên toàn quốc là 22,2‰, khu vực miền núi và Tây Nguyên có tỷ lệ chết chu sinh cao nhất với 37,4‰ và miền núi phía bắc với 27,4‰ Tỷ lệ bà mẹ được quản lý thai nghén đạt 95%, tỷ lệ khám thai 3lần trở lên trong mỗi lần có thai đạt 82%, tỷ lệ PNCT được tiêm vaccine phòng uốn ván 94,2%, tỷ lệ bà mẹ đẻ do cán bộ được đào tạo đỡ đạt 95,7%, tỷ
lệ đẻ tại nhà ở một số vùng miền núi còn cao từ 12 – 35%, tỷ lệ bà mẹ được CSSS đạt 92,5%, tỷ suất mắc tai biến sản khoa tuy không cao nhưng đã giảm hơn 0,6‰so với năm trước Có được kết quả này cũng là nhờ Việt Nam đã làm tốt công tác LMAT cho các bà mẹ từ ngay các tuyến y tế cơ sở [18] Mặc dù đã được cải thiện đáng kể về TV mẹ nhưng sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn là rất lớn (79‰ và 145‰) Cụ thể
là những nghiên cứu ở một số vùng đồng bằng cho thấy tỷ lệ bà mẹ được khám thai khá cao trong khi đó ở những vùng miền núi thì tỷ lệ này thấp hơn
rõ rệt và ở thành thị thì cao hơn nông thôn Tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi tập trung nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống, dân trí thấp, tỷ lệ sinh cao, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, tỷ lệ TV mẹ vẫn
Trang 2312
duy trì ở mức cao, ước tính tỷ lệ TV mẹ là 178/100.000 ca sinh sống ở các tỉnh Tây Nguyên và 425/100.000 ca sinh sống ở miền núi phía Bắc [4], [13] Tình trạng sức khỏe của bà mẹ vẫn còn sự khác biệt giữa các vùng TV
mẹ còn rất cao ở một số vùng và địa phương, đặc biệt là miền núi, vùng sâu vùng xa, những nơi chịu tác động nhiều của các cản trở địa lý, nghèo khổ và văn hóa đối với khả năng tiếp cận các cơ sở y tế và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, đặc biệt CSSS còn yếu Tỷ suất mắc tai biến sản khoa đã tăng từ 2,2‰ năm 2009 lên 2,8‰ năm 2010, có xu hướng tăng đối với nhiễm trùng và sản giật Điều này cho thấy chất lượng chăm sóc thai nghén trong thời kỳ mang thai cũng vẫn còn hạn chế [20]
Để đạt được mục tiêu thiên niên kỷ là giảm 3/4 tỷ số TV mẹ (tương đương mức 58,3/100.000 trẻ đẻ sống) cần phải có rất nhiều nỗ lực Mặt khác cần có nhiều giải pháp tích cực hơn nữa để hạn chế sự khác biệt lớn về tỷ số
TV mẹ giữa các vùng miền, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, vùng sâu, vùng xa và người dân tộc thiểu số để giảm bớt sự chênh lệch về tình trạng sức khỏe Các chính sách có thể chia thành 3 nhóm như sau:
- Quan tâm giải quyết các vấn đề sức khỏe của người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số Tăng cường chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ vùng sâu vùng
xa nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe cộng đồng làm giảm bớt tỷ số TV mẹ
Dự án CSSKSS và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em trong chương trình mục tiêu quốc gia y tế 2012-2015 được phê duyệt, trong đó có nhiều hoạt động để tăng hiệu quả chăm sóc SKSS cho bà mẹ Dự án này phân bổ ngân sách và triển khai các hoạt động can thiệp đã được ưu tiên cho các tỉnh miền núi, tỉnh khó khăn, áp dụng một số mô hình can thiệp góp phần cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ em ở vùng còn tồn tại những tập quán lạc hậu có hại đối với sức khỏe, tăng cường chăm sóc thai sản, chuyển tuyến kịp thời các trường
Trang 24mẹ và trẻ em (CSSK BM&TE) ở Yên Bái, Đàm Khải Hoàn và Trần Quí Tường cho biết: Tỷ lệ trẻ đẻ tại nhà: 53,5%, trong đó cao nhất là người Mông – Mù Kang Chải (98,9%) Tỷ lệ trẻ đẻ tại nhà được CBYT đỡ: 23%, các bà
đỡ đỡ: 32,8%, người khác đỡ: 44,3% Tỷ lệ bà mẹ được khám thai đầy đủ: 31,1%, tiêm phòng uốn ván: 79%; Tỷ lệ trẻ sơ sinh được bú sớm: 80,4%, ăn sam đúng: 67,9%, cai sữa đúng: 67,9% Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ: 96,9% Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ<5 tuổi là 30,2%), cao nhất là người Mông (35,3%); Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng BPTT: 68,5%, cao nhất là người Dao, trong đó đặt vòng: 58,1%, thuốc tránh thai: 20,9%, bao cao su: 4,6%; Tuổi lấy chồng trung bình là 19,5; Tuổi có con đầu là 20,7 Tỷ lệ đẻ sớm: 60,4%), cao nhất là người Dao (82,1%); Tỷ lệ đẻ nhiều: 42,2%, cao nhất là người Mông (64,5%) [37]
Các số liệu điều tra ở miền núi phía Bắc về nơi đẻ của một số dân tộc thiểu số cho biết hầu hết các dân tộc được điều tra đều đẻ ở nhà rất nhiều Tỷ
lệ đó của người Mông là 99:9%; người Tày là 97,3%; người Giấy là 92,2%; người Sán Dìu là 81,6% và người Kinh 77,2%; tỷ lệ đẻ tại trạm y tế và bệnh viện rất thấp; người Mông không có trường hợp đẻ ở trạm mà chỉ có 0,13%
đẻ tại bệnh viện Tuy nhiên ngày nay các sản phụ đẻ tại nhà vẫn có sự trợ giúp của cán bộ y tế Tỷ lệ đó chung cho các dân tộc khoảng 75%: có dân tộc như Tày (Bắc Sơn: Lạng Sơn đạt tỷ lệ cao tới 93% Những người Mông (Cán Tỷ -
Hà Giang) chỉ đạt 11% Trong khoảng 25% trường hợp đẻ tại nhà thì 2/3 là do
Trang 2514
người nhà đỡ còn lại là do bà mụ vườn đỡ Hầu hết các trường hợp này đứa trẻ sơ sinh được kẹp chống rốn và cắt bằng dao tre, nứa không được tiệt trùng [28], [31], [33], [41]
Hiện nay có rất nhiều nguồn số liệu đánh giá tình trạng LMAT và tử vong mẹ ở nước ta Theo số liệu điều tra tại 3 tỉnh của Bộ Y tế năm 1995, tỉ lệ
tử vong mẹ ở Việt Nam là 137/100.000 trẻ đẻ ra sống, nghĩa là cứ một ngày
có 7 bà mẹ chết có liên quan đến thai sản, như vậy mỗi năm có gần 3000 phụ
nữ chết do thai sản [4]
Một nghiên cứu về tử vong mẹ ở 55 xã thuộc hai huyện Yên Lập và Lập Thạch (Vĩnh Phú) năm 1990 – 1995, xác định tỷ lệ tử vong mẹ là 114/100.000 ca sinh sống Nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố liên quan, trong đó có: khám thai không đầy đủ, tập quán sinh đẻ còn lạc hậu và ý thức chăm sóc sức khỏe còn hạn chế [5], [6]
Một nghiên cứu tại Tây Nguyên, Nguyễn Thanh Hà và CS cho thấy tỷ
lệ tử vong mẹ trong nhóm dân tộc ít người chưa được chăm sóc tốt về SKSS cao hơn trong nhóm được chăm sóc tốt [30]
UNFPA nêu ra một số vấn đề về sức khỏe của phụ nữ Việt Nam: Một nửa số phụ nữ thiếu dinh dưỡng nhưng phải lao động nặng, bệnh thiếu máu thiếu sắt ở phụ nữ mang thai lên đến 52,3%, 20% trẻ em có cân nặng lúc sinh
< 2.500g, một trong những dấu hiệu kém dinh dưỡng của người mẹ Nhưng trong thực tế, tình hình mắc và tử vong do các tai biến sản khoa ở nước ta trong những năm 1990 hầu như không giảm hoặc giảm không đáng kể Nhưng theo ước tính của UNICEF, tử vong mẹ ở Việt Nam là 160/100.000 trẻ
đẻ sống [67]
Theo số liệu điều tra quốc gia tỷ lệ tử vong mẹ do nguyên nhân mắc 5 tai biến sản khoa thì băng huyết chiếm 69%, sản giật 14% và nhiễm khuẩn chiếm 13% [13] Những số liệu trên còn thấp hơn rất nhiều so với thực tế, phần lớn
Trang 2615
những tai biến liên quan đến thai sản đều có thể phòng tránh được nếu thực sự được quan tâm, có các biện pháp cụ thể và được thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ Tuy nhiên đề đạt được thành công còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nguồn lực, kinh phí, phong tục tập quán của từng địa phương
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, số mắc và chết do các tai biến sản khoa giảm dần từ năm 1995 đến 1999 Số mắc các tai biến sản khoa năm
1999 bằng 66% và số chết do tai biến sản khoa bằng 53% so với năm 1995; chứng tỏ rằng công tác chăm sóc phụ nữ có thai và phụ nữ khi sinh đã đạt được kết quả rõ rệt Tuy nhiên số ca mắc và chết do tai biến sản khoa có thể phòng ngừa được vẫn còn khá cao như các trường hợp băng huyết, uốn ván, nhiễm trùng hậu sản [12] Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế (năm 2003) thực hiện trong 7 tỉnh đại diện cho 7 vùng sinh thái, ước tính tỉ suất tử vong mẹ của Việt Nam là 165/100.000 trẻ đẻ sống (dao động từ 102-248/100.000 trẻ đẻ sống) Cao nhất là vùng núi phía Bắc 411 trường hợp, vùng Duyên hải miền Trung 199 trường hợp, Tây nguyên và Bắc Trung bộ từ 143-162 trường hợp
và thấp nhất là Đồng bằng Sông Hồng, Đông Nam bộ 46 trường hợp (So với 100.000 ca đẻ sống) Cũng theo đánh giá của Bộ Y tế nguy cơ tử vong mẹ ở nước ta còn khá cao và có sự chênh lệch giữa các vùng miền Cao nhất là vùng núi phía Bắc với tỷ lệ 1 ca chết mẹ trong 67-203 trường hợp sinh, trong khi đồng bằng sông Hồng 1 ca trong 1075-1098 trường hợp sinh [13] Những
số liệu trên chỉ là kết quả điều tra trên diện hẹp mà không đại diện cho cả nước bởi vì có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng về tử vong mẹ: Tây Nguyên: 418/100.000 trẻ đẻ sống, vùng núi phía Bắc 298/100.000 trẻ đẻ sống, vùng ven biển phía bắc và đồng bằng sông Cửu Long là 200/100.000 trẻ đẻ sống [13] Tuy nhiên, dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng tai biến sản khoa vẫn đang
là một vấn đề nổi cộm và cấp bách mà chúng ta cần phải suy nghĩ và làm thế nào để giảm tỉ lệ tử vong mẹ còn 70/100.000 trẻ sống vào năm 2010 như mục
Trang 2716
tiêu của Bộ Y tế đề ra [9] Trong nghiên cứu được Bộ Y tế công bố tỷ lệ tử vong mẹ ở nông thôn cao gấp 2 lần thành thị và tỷ lệ tử vong ở những bà mẹ
có 4 con trở lên cao gấp 4 lần so với những bà mẹ chỉ có 1-2 con [20]
Theo quy định của chuẩn quốc gia về chăm sóc SKSS, một thai phụ phải được khám thai ít nhất 3 lần trong 1 thai kỳ, theo báo cáo của Vụ SKBMTE năm 2008 Việt Nam đạt 3,2 lần cho một thai phụ từ khi có thai cho đến khi sinh [10], tuy nhiên số lần khám thai trung bình ở các tỉnh miền núi khó khăn mới chỉ đạt 2,4 lần Một nghiên cứu khác cũng cho thấy trên toàn quốc chỉ có 55% số phụ nữ có thai được quản lý thai nghén và khám thai trước sinh (năm 2001) do đó còn một tỷ lệ lớn các bà mẹ chưa được tiếp cận các thông tin và dịch vụ chăm sóc SKSS có chất lượng làm cho họ không phát hiện được các dấu hiệu nguy hiểm trước sinh [55] Theo một nghiên cứu tiến hành ở các tỉnh miền núi, còn 12,6% phụ nữ ở Cao Bằng và 15% phụ nữ ở Sơn La không đi khám thai trong suốt thời kỳ mang thai [45], [28] Thống kê trên cả nước hiện nay cả nước có gần 90% số ca đẻ do CBYT đỡ, tuy nhiên tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa gần 50% số ca đẻ tại nhà do bà đỡ, người nhà đỡ vì thế
tử vong mẹ còn cao [41] Nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn và CS cho thấy tỷ
lệ đẻ tại nhà của người Dao ở xã vùng sâu của huyện Đồng Hỷ còn cao (38,7%) [35], đặc biệt có những vùng dân tộc thiểu số tỷ lệ đẻ tại nhà lên tới 87,6%, chỉ có 18% các ca đẻ được đỡ đẻ bởi người có chuyên môn, thậm chí
có 5,1% tự đỡ đẻ [36]
Ước tính đến năm 2000, số y sỹ sản nhi tại các trạm y tế xã trong toàn quốc mới đạt được 88,7% Khu vực miền núi khó khăn, tỉ lệ này đặc biệt thấp chỉ có 35% Cũng còn nhiều xã “trắng” chưa có y sỹ sản nhi, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa Cũng phải nhận thấy rằng có những địa phương dù có y sỹ sản nhi thì trạm xá cũng xa dân bản nên không phát huy được vai trò của họ và rất nhiều phụ nữ đẻ tại nhà mà do gia đình hoặc bà đỡ dân gian chăm sóc, vì vậy
Trang 2817
TBSK vẫn là những vấn đề nổi cộm và bức xúc trong LMAT [9] Vì vậy mặc
dù đã hoạt động rất tích cực và đã đạt được những thành tựu đáng kể, song những số liệu trên đã đặt ra một thách thức cho ngành y tế nói riêng và cho mọi ngành nói chung về vấn đề LMAT
Chính vì vậy, việc xây dựng Kế hoạch quốc gia về Làm mẹ an toàn sẽ góp phần hỗ trợ cho việc đạt được 4 trong 6 mục tiêu quốc gia về chăm sóc SKSS tới cuối năm 2010 Bốn mục tiêu cụ thể đó là:
-Giảm tỷ suất chết mẹ từ 165/100.000 xuống còn 70/100.000
-Giảm tỷ lệ chết chu sinh từ 22,29%o xuống còn 18%o
-Giảm tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi từ 36,7%o xuống còn 25%o
-Giảm tỷ lệ trẻ đẻ nhẹ cân từ 8% xuống còn 6%
Theo số liệu thống kê chính thức năm 2008 của Vụ Sức khỏe sinh sản (Bộ
Y tế), vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ đã được thực hiện tương đối tốt
- Tỷ lệ chăm sóc trước và sau sinh cao, 88% và 73%
- Số lần trung bình sản phụ đi khám thai là 3,2 lần
- 94% số phụ nữ sinh được cán bộ y tế đã qua đào tạo đỡ
- 88% phụ nữ khi có thai được tiêm 2 mũi phòng uốn ván
- Tỷ lệ mổ đẻ là 8,3% [22]
Trong khi đó, các dịch vụ chăm sóc SKSS ở các tuyến đều đã cung cấp các dịch vụ làm mẹ an toàn thiết yếu cơ bản, chẳng hạn như: quản lý thai, khám thai, tư vấn và điều trị các bệnh về sản khoa, đỡ đẻ thường, kế hoạch hóa gia đình Tuy nhiên, mới chỉ có 68% các bệnh viện huyện cung cấp dịch
vụ chăm sóc sản khoa toàn diện, 52% các bệnh viện huyện có thể thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tử cung và có khoảng 47% các bệnh viện huyện có khả năng truyền máu Hơn nữa, tất cả các tuyến vẫn còn thiếu trầm trọng các trang thiết
bị, thuốc men thiết yếu dùng trong sản khoa và cán bộ để thực hiện dịch vụ cấp cứu và điều trị tai biến sản khoa Theo Bộ Y tế năm 2008, chỉ có 68%
Trang 2918
trạm y tế xã có nữ hộ sinh, còn lại là y sĩ sản nhi trong khi đó tuyến xã là tuyến chủ yếu cung cấp dịch vụ chăm sóc sản khoa thiết yếu cơ bản, trong việc thực hiện đầy đủ và có chất lượng các chức năng dịch vụ chăm sóc SKSS
và làm mẹ an toàn [22]
Trong khuôn khổ của các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, sức khoẻ bà
mẹ là một quan tâm quan tr ọng của Bộ Y tế và Chính phủ Việt Nam Việt Nam cũng cam kết với Chiến lược toàn cầu của Liên Hợp Quốc về Sức khoẻ của Trẻ em và Phụ nữ nh ằm cứu s ống hơn 16 triệu phụ nữ và trẻ em trong vòng 4 năm tới Từ 1990, tử vong mẹ đã giảm tại Việt Nam và Việt Nam đang trên con đường thực hiện m ục tiêu thiên niên kỷ (giảm 3/4 tử vong mẹ
từ 1990 đến 2015) Sức khoẻ bà mẹ và việc tiếp cận các dịch vụ sức khoẻ sinh sản đã cải thiện liên t ục tại Việt Nam trong 2 thập kỷ qua Theo Bộ Y tế (BYT), tỷ l ệ tử vong mẹ đã giảm từ 200/100.000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống 80/100.000 trẻ sinh sống năm 2005, và hiện tại ước tính khoảng 65/100.000 trẻ sinh sống Cuộc đẻ có trợ giúp của nhân viên y tế được đào tạo đã tăng từ 85% năm 2000 lên 94.7% năm 2008 [61]
Nghiên cứu của Lương Thu Hà ở Tân Long (Thái Nguyên) năm 2006 cho thấy chương trình làm mẹ an toàn tại xã Tân Long huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên nhìn chung đã được thực hiện tương đối tốt: Tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc trước sinh và sau sinh chiếm tỷ lệ tương đối cao (81,2%; 88,6%) Tuy nhiên tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc sau sinh tốt còn chiếm tỷ lệ thấp (24%)
Tỷ lệ trẻ em được chăm sóc tốt chiếm tỷ lệ tương đối cao (81,57%) [31]
Đàm Khải Hoàn và CS nghiên cứu huy động cộng đồng trong truyền thông CSSKSS ở hai xã huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) năm 2004 cho thấy thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản ở 2 xã tương đối tốt như tỷ lệ các bà
mẹ được tiêm phòng uốn ván đầy đủ tương đối cao (Văn Lăng 89,3% Tân Long 91,6%) Tỷ lệ các bà mẹ đẻ tại nhà có cán bộ y tế giúp đỡ cũng đạt tỷ lệ
Trang 3019
khá (Văn Lăng 70,0%, Tân Long 80,0%) Nhưng tỷ lệ bà mẹ được khám thai đầy đủ còn thấp (Văn Lăng 25,5%, Tân Long 46,1%) [33]
Nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn năm 2012 về thực hiện LMAT của các
bà mẹ ở huyện Đồng Hỷ cho thấy: Tỷ lệ bà mẹ khám thai đủ 3 lần, tiêm phòng uốn ván đủ, bà mẹ uống viên sắt đều đạt tỷ lệ cao (80,4%, 80,0%, 86,2%) , bà mẹ được hướng dẫn vệ sinh dinh dưỡng trong thai nghén đạt cao 89,2% Tỷ lệ bà mẹ đẻ tại các cơ sở y tế cao chiếm 82,4%, bà mẹ đẻ tại nhà vẫn còn đáng kể (17,6%), nhưng đã có 51,1% có cán bộ y tế đỡ và chăm sóc
Bà mẹ được CSSS thấp (38,6%), được nghỉ ngơi hoàn toàn trong thời kỳ hận sản thấp (37,8%), bà mẹ được chế độ bồi dưỡng riêng cao (86,2%), vẫn còn 13,8% bà mẹ phải ăn kiêng [36] Ngoài ra nghiên cứu của Đào Ngọc Lợi và
CS ở Phú Lương Thái Nguyên cũng cho kết quả tương tự [48]
1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chương trình làm mẹ an toàn
1.2.1 Yếu tố kinh tế, văn hóa xã hội
Nghèo đói là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện chương trình LMAT Chính vì vậy, vấn đề lương thực, thực phẩm và tinh trạng dinh dưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là của phụ nữ và trẻ em đang là mối quan tâm lớn của toàn huyện Đồng thời kinh tế đã là rào cản các bà mẹ đến với LMAT
Các bà mẹ trẻ chủ yếu chỉ học xong tiểu học (>70%), hoặc đang học tiểu học rồi bỏ, chưa đọc thông viết thạo Mù chữ vẫn tồn tại dai dẳng ở phụ nữ các dân tộc thiểu số vùng cao, nhất là với những người không nói được tiếng phổ thông Tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ của phụ nữ Hà Giang còn cao Bởi vậy, nhận thức chung của các bà mẹ đó yếu kém, ngay từ khi còn ở tuổi trẻ, với trình độ học vấn đó phụ nữ luôn gặp khó khăn trong tiếp thu những thông tin truyền thông giáo dục sức khỏe và LMAT [27], Số không tiêm phòng uốn
Trang 3120
ván ở phụ nữ không đi học rất cao 56,8% sau đó giảm rõ rệt còn 8,7% ở nhóm
đã tốt nghiệp phổ thông trung học [41]
Một số nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của người mẹ cũng đã ảnh hưởng nhiều đến quyết định địa điểm sinh con, học vấn của mẹ càng cao thì
tỷ lệ sinh con ở nhà càng giảm Bà mẹ không đi học sinh con tại nhà chiếm 68,2% trong khi đó tỷ lệ này giảm dần ở bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn, nhóm phụ nữ học hết PTTH sinh con tại nhà chỉ còn 10,7% [39], [40]
Giao thông đi lại không thuận tiện đồng bào ở cách xa trạm y tế, đi lại vẫn còn gặp khó khăn, họ không có thói quen đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, chỉ đi khám bệnh khi bệnh đã nặng [35]
Trình độ chuyên môn nói chung của cán bộ y tế cơ sở còn hạn chế, chưa
có điều kiện chăm lo quản lý sức khỏe của người dân đến tận hộ gia đình Mặc dù người nghèo có chế độ bảo hiểm y tế, tuy nhiên chi phí cho đi lại, ăn
ở, chăm nom vẫn là điều cản trở lớn Ngân sách nhà nước cung cấp cho các
hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở thiếu thốn Đội ngũ các cộng tác viên dân
số (CTVDS), nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) và Cô đỡ người dân tộc mà chưa có chính sách thù lao phù hợp,chưa phát huy được hiệu quả công tác [41]
Vì thiếu sự quan tâm của gia đình, nên PNCT ít có điều kiện được ăn thêm bữa, không được đáp ứng sở thích thèm ăn vặt và ăn dở của người có nghén khi mang thai Thông thường khi mang thai, PNCT và trẻ em người dân tộc vẫn ăn uống theo chế độ thường ngày chung với cả gia đình Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến chăm sóc SKSS và KHHGĐ, còn cho việc đó là của ngành y tế Sự phối kết hợp giữa các ban ngành, đoàn thể ở một
số nơi về công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên, liên tục
Về cơ bản, các tổ chức xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng đã phối kết hợp thực hiện tốt chương trình truyền thông, phổ biến kiến thức
Trang 3221
CSKSS/KHHGĐ Song vẫn còn nhiều hạn chế, chưa sát thực với tính chất đặc thù của từng vùng miền và từng dân tộc vì bất đồng ngôn ngữ
1.2.2 Các chăm sóc sức khỏe đảm bảo làm mẹ an toàn
Ngay từ những năm 1960 Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em thông qua việc ban hành các chính sách về sức khoẻ sinh sản Tuy nhiên đến thập niên 80 công tác chăm sóc SKSS mới được quan tâm thực sự với các nghiên cứu về LMAT, KHHGĐ để từ đó có các cơ sở ban hành các chỉ thị, nghị quyết cho công tác chăm sóc SKBMTE như Quyết định 220/QĐ-BYT tháng 2/1993 quy định phân tuyến kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em Năm 1993 Bộ Y
tế và UNFPA đánh giá hoạt động chăm sóc SKBMTE ở Việt Nam cho thấy chủ yếu nguồn cán bộ cung cấp các dịch vụ chăm sóc thai sản ở cơ sở là NHS
sơ học và trung học, mạng lưới này lại phân bố không đều và thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, trang thiết bị chuyên môn thiếu do đó chất lượng chăm sóc thai sản không cao Từ năm 1995, Bộ Y tế đã phối hợp với WHO và UNICEF khởi xướng Chương trình làm mẹ an toàn ở Việt Nam Làm mẹ an toàn là bảo đảm sức khỏe tốt cho phụ nữ và thai nhi trong quá trình mang thai, sinh đẻ và giai đoạn hậu sản Mục đích là giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật ngay
từ khi người phụ nữ mang thai, trong khi sinh và suốt thời kỳ hậu sản
Năm 2001 Chính phủ ban hành Chiến lược chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010 là kim chỉ nam cho các hoạt động chăm sóc SKSS, làm mẹ an toàn ở Việt Nam [9]
Trong hoạt động củng cố y tế cơ sở ngày 07/2/2002 Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định số 30- QĐ/BYT về thực hiện chuẩn quốc gia về y tế cơ sở trong đó có chuẩn Chăm sóc SKSS đã xác định với các tỉnh miền núi: Tất cả phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 1 lần trước khi sinh; Tỷ lệ phụ nữ được khám thai từ 3 lần trở lên trong 3 kỳ thai nghén trước khi sinh đạt ít nhất
Trang 3322
đạt 50 %; Tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván đủ liều trước khi sinh ít nhất đạt 85 %; Tỷ lệ phụ nữ khi sinh có nhân viên y tế được đào tạo
chuyên môn đỡ đẻ đỡ ít nhất đạt 90%; Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế ít
nhất đạt 75%; Tỷ lệ bà mẹ được nhân viên y tế chăm sóc ít nhất 1 lần trong tuần đầu sau sinh ít nhất đạt 35% [11]
Trên cơ sở đó Bộ Y tế đã đưa ra hướng dẫn chuẩn quốc gia về LMAT nhằm đạt được những mục tiêu về giảm tử vong bà mẹ và tử vong trẻ sơ sinh [12]
Cho đến 2010, theo thống kê của Bộ y tế: 62,75% số bà mẹ xã đạt chuẩn
và 23% số bà mẹ xã không đạt chuẩn khám thai 3- 4 lần trở lên Đặc biệt 55%
số bà mẹ xã không đạt chuẩn không khám thai khi mang thai 4,5% số bà mẹ
xã đạt chuẩn và 10% số bà mẹ xã không đạt chuẩn không tiêm phòng uốn ván khi mang thai Có 12% xã đạt chuẩn và 76% số bà mẹ xã không đạt chuẩn không uống viên sắt Có 46% bà mẹ xã không đạt chuẩn sinh con tại nhà do người nhà đỡ hoặc tự đỡ [19]
Về kiến thức thái độ của các bà mẹ về làm mẹ an toàn: Đến nay, mặc dù các chỉ số sức khỏe sinh sản nói chung và các chỉ số về tử vong mẹ và tử vong
sơ sinh nói riêng của Việt Nam là tương đối khả quan so với các quốc gia khác có cùng mức phát triển về kinh tế - xã hội, nhưng hiện trạng về sức khỏe
bà mẹ và trẻ sơ sinh của Việt Nam vẫn còn là bức tranh chưa thực sự đầy đủ
và rõ ràng Bên cạnh đó, hiểu biết của cộng đồng, của phụ nữ cũng như gia đình họ về các vấn đề bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của phụ nữ và trẻ em Việt Nam nói chung còn thấp Tỷ lệ phụ nữ được tham dự các buổi truyền thông về chăm sóc sức khoẻ sinh sản và làm mẹ an toàn chưa cao với 59,2% ở Thái Nguyên, 56% ở Lai Châu Trên 67% phụ nữ không biết các quyền của khách hàng khi thực hiện dịch vụ Chăm sóc SKSS [33] Theo điều tra của Bộ Y tế năm 2001-2003 phụ nữ Việt Nam đi khám thai đủ 3 lần chỉ
Trang 3423
đạt 34,5%, tập trung ở nhóm bà mẹ có trình độ học vấn cao, còn nhóm những
bà mẹ không đi học không những tỷ lệ không đi khám thai cao mà trong số đi khám thai thì khám đủ 3 lần cũng rất thấp Việc đi khám thai cũng có liên quan đến trình độ học vấn của các bà mẹ, học vấn càng thấp (mù chữ, biết đọc biết viết) thì tỷ lệ đi khám thai càng thấp [13] Tại các xã vùng xa trung tâm có kinh tế thuộc diện cực kỳ khó khăn, người dân tự chăm sóc sức khoẻ chủ yếu, ngoài ra còn dựa vào kinh nghiệm sống của bản thân và của gia đình, sử dụng các nguồn cây thuốc sẵn có tại địa phương Sự tác động của các phương tiện thông tin đại chúng vào công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chăm sóc SKSS rất ít hoặc không có Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu kiến thức của bà mẹ trong đó tình trạng thiếu nhân lực y tế tại cơ sở là nguyên nhân khá quan trọng Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tình trạng thiếu cán
bộ y tế cơ sở đặc biệt vùng sâu, vùng xa Để được cộng đồng chấp nhận các dịch vụ chăm sóc y tế nói chung, chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói riêng bao gồm nhiều yếu tố liên quan: Đội ngũ cán bộ y tế (số lượng, trình độ chuyên môn, thái độ phục vụ); cơ sở vật chất trang thiết bị (số lượng, quản lý và sử dụng các trang thiết bị ); địa bàn; trình độ dân trí; phong tục tập quán Một trong những yếu tố hàng đầu đó là mạng lưới cán bộ làm công tác truyền thông, tư vấn về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, chăm sóc sức khoẻ gia đình tại thôn bản (nhân viên y tế thôn bản, cộng tác viên dân số còn thiếu về số lượng, trình độ chưa đáp ứng được với nhu cầu)
Ngày 2/11/2000, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 136/2000/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về CSSKSS giai đoạn 2001-2010, với mục tiêu đảm bảo đến năm 2010 tình trạng SKSS được cải thiện rõ rệt và chênh lệch giữa các vùng và các đối tượng, bằng cách đáp ứng tốt hơn những nhu cầu đa dạng về CSSKSS phù hợp với với điều kiện cộng động ở từng địa phương, đặc biệt chú đến vùng khó khăn Trong đó đảm bảo cung cấp đầy đủ các kiến
Trang 3524
thức cơ bản cho người cán bộ y tế, nhất là cán bộ y tế cơ sở Đồng thời cung cấp các tài liệu và trang thiết bị cần thiết, giúp thực hiện tốt các công tác KHHGĐ, CSTS, CSKS và CSSS, nhằm làm giảm tử vong mẹ và trẻ sơ sinh [9]
Nghiên cứu của Lương Thu Hà ở Tân Long (Thái Nguyên) năm 2006 cho thấy chương trình làm mẹ an toàn tại xã Tân Long huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên nhìn chung đã được thực hiện tương đối tốt Yếu tố liên quan đến chương trình làm mẹ an toàn và sức khoẻ trẻ em ở xã Tân Long đó là yếu
tố kinh tế (đói nghèo) phương tiện truyền thông và trình độ học vấn, dân tộc điều có liên quan chặt chẽ tới chương trình làm mẹ an toàn và sức khoẻ trẻ
em [31]
Nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn năm 2012 về thực hiện LMAT của các
bà mẹ ở huyện Đồng Hỷ cho thấy những yếu tố liên quan đó là: Trình độ học vấn của phụ nữ, phụ nữ có thai thấp chủ yếu là trung học cơ sở (THCS) trở xuống (66,6%), tỷ lệ hộ nghèo còn cao (39,6%), 80,6% các gia đình có phương tiện truyền thông Nguồn truyền thông chủ yếu là NVYTTB (88,0%), CTV dân số và nguồn truyền thông đại chúng như đài, tivi (88,0%, 86,4%, 81,0%), tiếp theo là cán bộ TYT xã (63,6%) Nguồn truyền thông trong gia đình và các nguồn khác còn thấp (< 30%) Tài liệu truyền thông (TT) về LMAT mới chỉ cung cấp đạt 70,0% nhu cầu Tần suất TT- GDSK về LMAT chưa được thường xuyên (56,7%) Số cán bộ, NVYTTB được tập huấn, đào tạo lại 1 lần đạt 70,0%, còn lại đã được đào tạo 2 - 3 lần mỗi năm, chỉ có 96,7% NVYTTB có nhận thức đúng về tầm quan trọng của LMAT Về kiến thức thái độ kỹ năng (KAS) của CBYT, NVYTTB, CTVDS về LMAT chưa đạt [36]
Trang 36có địa hình thấp, độ cao trung bình là 300m, nơi mà trước kia các trung tâm trù phú nhất của người Mường ở Hòa Bình đó là huyện Kim Bôi và Lạc Sơn Hai huyện có số người Mường chiếm trên 46% dân số người Mường toàn tỉnh
và cũng là nơi người Mường tập trung đông nhất Về xã, toàn tỉnh có 214 xã, trong đó có 103 xã có 1.000 -3.000 người người Mường, 37 xã có số dân người Mường từ trên 3.000 - 4.000 người và 25 xã có số dân người Mường trên 5.000 người Đặc biệt, một số xã có mật độ phân bố người Mường cao là Tân Lập, Ân Nghĩa, Yên Phú (Lạc Sơn), Cuối Hạ - Kim Bôi (nơi chúng tôi chọn nghiên cứu) Hiện nay, người mường ở Hòa Bình cư trú xen kẽ với người Kinh Nhiều nơi, xóm làng của người Mường cũng chẳng khác gì người Kinh, quanh làng cũng có lũy tre bao bọc, nhà đất xuất hiện ngày càng nhiều Người Mường sống tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm trên 90%)
Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế của đồng bào dân tộc Mường ở Hòa Bình đã có nhiều biến đổi Từ nền kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín, đồng bào đã bắt đầu làm quen với nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa nên đã có sự tăng trưởng bước đầu của dân cư đô thị và nhiều vùng nông thôn Người Mường thường ở nhà sàn, làm nhà gần khe suối, xa đường quốc lộ, xa cơ sở Y tế Người Mường canh tác lúa nước là chủ chủ yếu, thường sống nhiều thế hệ trong một ngôi nhà; mọi quyền hành đều tập trung cho người đàn ông, phụ nữ hầu như không có quyền gì Đẻ bao nhiêu con là
do đàn ông, câu cửa miệng khi gặp nhau là hỏi đẻ được bao nhiêu người con?
Trang 3726
Cặp vợ chồng nào đẻ toàn con gái thì coi là mất giống, không đẻ được thì cho
là vô phúc Tư tưởng trọng nam khinh nữ còn rất nặng nề Người Mường sống thành làng, làng này ít khi làm dâu rể làng khác, vì vậy hiện tượng cân huyết còn khá phổ biến Ít học, con gái lớn 16, 17 tuổi phải có người đến dạm ngõ nếu không thì cho là bị ế chồng Người Mường thường đẻ dày 3 năm 2 đứa con, hoặc dày hơn Phụ nữ khi mang thai không được nghỉ ngơi nhiều mà vẫn phải làm việc cho đến tận ngày đẻ Trong gia đình người đàn ông thường đảm nhiệm việc làm thức ăn, thịt một con gà ra phần nào chia cho ai là đã được qui định Con dâu không được ngồi ăn cơm cùng với bố mẹ chồng và phải ngồi gần nồi cơm làm nhiệm vụ xới cơm cho cả nhà Trong quá trình mang không được ăn uống đầy đủ các chất mà phải kiêng khem nhiều Khi đẻ được làm riêng cho một bếp để sưởi lửa bất kể mùa nào Ăn uống thì kiêng khem có khi chỉ ăn muối hạt dổi 3 tháng liền Trẻ đẻ ra 3 ngày mới cho bú hoặc mớm cơm cho ăn Thường không có tiền mua sữa nên chủ yếu cho bú sữa và mớm cơm, hoặc khoai sắn cho trẻ ăn Sau đẻ nằm sưởi lửa và kiêng nước, dùng ống tre nhỏ vừa
để thổi lửa vừa hơ nóng để cán lên vùng bụng dưới ngoài ra còn sắc nước uống một số lá cây mà họ cho là nhanh hết sản dịch Trong thơì gian nằm sưởi lửa người lạ không được thăm người đẻ vì vậy việc chăm sóc sau đẻ rất khó khăn cho cán bộ y tế sau đẻ khoảng 10 ngày là sản phụ phải nấu cơm, làm việc trong nhà, trong vườn tuỳ thuộc sức khoẻ của từng người mà sản phụ đi làm ngoài đồng sớm hay muộn Mỗi một làng có khoảng gần trăm nóc nhà thường có một
bà đỡ đến tận nhà đỡ đẻ Ngày nay, do xã hội phát triển người phụ nữ Mường kim bôi đã có nhiều tiến bộ, tuy vậy vẫn còn rất nghèo và lạc hậu [69]
Nghiên cứu CSSK BM&TE ở Yên Bái, Đàm Khải Hoàn và Trần Quí Tường cho biết có một số phong tục ảnh hưởng đến CSSKBM&TE như: Đẻ tại nhà do bà đỡ và người nhà đỡ Khi đẻ thì ngồi để đẻ, đẻ ở cạnh cửa bếp (Người Mông) Sau đẻ kiêng ăn cá, ít ăn rau và dinh dưỡng (người Tày, người Thái) Khi mang thai, vẫn phải lao động nặng (người Mông, Dao) Về hôn
Trang 3827
nhân, có phong tục là khác họ là được lấy nhau nên vấn đề kết hôn cận huyết thống rất phổ biến như con anh trai lấy con em cô cũng khá phổ biến (người Mông) Sau khi đẻ xong cả mẹ và trẻ sơ sinh được tắm ngay bằng nước cây thuốc nam, tắm lá cây thuốc trong vòng một tháng (Người Dao) [37] Kết quả này cũng đã được Phạm Quang Hoan trong nghiên cứu tập quán sinh đẻ
và nuôi con của các bà mẹ người Dao ở Hà Giang [32]
1.3 Giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chương trình làm mẹ an toàn
Đảng và nhà nước rất chú trọng tới chiến lược con người và giống nòi, việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân để có đầy đủ trí tuệ và sức khoẻ xây dựng, bảo vệ đất nước cũng như phát triển giống nòi của dân tộc Việt Nam được thể hiện trong nghị quyết 04-NQ/HNTW, ngày 14/01/1993 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã nêu: “Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khoẻ Bảo vệ, CSSKBMTE, hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng và các bệnh tật về dinh dưỡng ở trẻ em” Để thực hiện quan điểm và mục tiêu trên
nghị quyết Trung ương cũng đã nêu các chính sách và giải pháp lớn như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền, phối hợp các ban ngành, đoàn thể và tham gia của cộng đồng Làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe Mở rộng các hoạt động chăm sóc sức khoẻ tại nhà Chấn chỉnh hệ thống chăm sóc sức khoẻ: Chú trọng củng cố y tế cơ sở, có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với CBYT cơ sở Tổ chức các đội y tế lưu động để chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ở những nơi khó khăn thuộc vùng cao, vùng núi, vùng sâu, hải đảo Triển khai mạnh mẽ việc nghiên cứu, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại Nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước Chính sách đầu tư hợp lý và tạo nguồn ngân sách bảo vệ sức khoẻ nhân dân Thực hiện cấp ngân sách theo đầu người dân và thay đổi cơ chế quản lý ngân sách cho phù hợp Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho CBYT Hệ thống bảo
vệ SKBMTE và KHHGĐ đã được kiện toàn từ tuyến trung ương tới tận các cấp thôn xã [8]
Trang 3928
- Quyết định 385/2001/QĐ-BYT của Bộ trưởng bộ Y tế về quy định nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật trong công tác LMAT toàn diện: Đối chiếu với tiêu chuẩn quy định của tổ chức y tế về phân tuyến Công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trước, trong và sau khi sinh, đồng thời với nội dung LMAT các tuyến [10]
- Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng số 162/ HĐBT ngày 18/10/1988 quy định một số chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình: Như mỗi gia đình chỉ nên có 1 - 2 con khoảng cách giữa hai con từ 3 - 5 năm [38]
- Quyết định số 858/BYT ngày 04/10/1994 của Bộ trưởng Bộ Y tế về ban hành danh mục thuốc thiết yếu cho dịch vụ kỹ thuật sản phụ khoa ở các tuyến
và dịch vụ KHHGĐ Tiêu chuẩn trang bị dụng cụ y tế cho hệ thống bảo vệ bà
mẹ trẻ em và KHHGĐ [2]
- Chỉ định 08 của Bộ trưởng y tế ngày 06/11/1998 về việc tăng cường dự phòng và cấp cứu năm tai biến sản khoa đã ghi rõ: Tăng cường quản lý thai nghén trước khi đẻ, tuyên truyền giáo dục vận động để các bà mẹ mang thai phải được khám thai đầy đủ ba lần trong thai kỳ Tăng cường CSKS: Bắt buộc phải theo dõi chặt chẽ sản phụ từ khi chuyển dạ tới khi đẻ, thực hiện nghiêm túc chế độ vô khuẩn và đỡ đẻ đúng kỹ thuật, chuyển tuyến đúng lúc kịp thời Tăng cường CSSS: Theo dõi chặt chẽ và chăm sóc sản phụ chu đáo trong 6 giờ đầu nhằm phát hiện sớm những bất thường của mẹ và con, có CBYT theo dõi chăm sóc sản phụ sau đẻ 2 - 3 ngày Hướng dẫn các bà mẹ cho con bú ngay sau khi sinh nửa giờ, thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và KHHGĐ Tăng cường công tác tư vấn LMAT Nghiêm cấm nạo phá thai không an toàn ở phòng khám y tế tư nhân Tăng cường bổ sung trang thiết bị, đội ngũ cán bộ chuyên khoa sản, nhất là NHS và y sỹ sản-nhi cho y tế cơ sở, đặc biệt miền núi, vùng sâu, vùng xa Chú trọng đào tạo lại và đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ chuyên khoa phụ sản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị mình [7]
Trang 4029
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng cho nghiên cứu định lượng
- Bà mẹ có con < 5 tuổi người Mường (các bà mẹ này phải có bố mẹ đẻ
là người Mường) và các bà mẹ được hưởng lợi từ chương trình LMAT
- Số liệu thứ cấp về CSSKSS lưu trữ tại TTYT dự phòng huyện và TYT xã
2.1.2 Đối tượng cho nghiên cứu định tính
- Cán bộ làm công tác CSSKSS của TTYT dự phòng huyện
- Cán bộ làm công tác CSSKSS của TYT xã
- NVYTTB
- Lãnh đạo cộng đồng
- Trưởng họ người Mường
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm
- Trung tâm Y tế dự phòng huyện Kim Bôi
- Xã Kim Bôi huyện Kim Bôi
- Xã Cuối Hạ huyện Kim Bôi
- Xã Nam Thượng huyện Kim Bôi
- Xã Kim Truy huyện Kim Bôi
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01đến tháng 12 năm 2015
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính với định lượng