BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HOÀNG HOA MÀN THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CƠ CẤU BỆNH TẬT CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỒN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
HOÀNG HOA MÀN
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CƠ CẤU BỆNH TẬT CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: CK 62 72 76 01
Thái Nguyên – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN
HOÀNG HOA MÀN
THỰC TRẠNG MÔ HÌNH CƠ CẤU BỆNH TẬT CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: CK 62 72 76 01 LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS Ngô Thị Tính
2 GS.TS Hoàng Khải Lập
THÁI NGUYÊN, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Hoàng Hoa Màn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, hoàn thành luận văn này, Em đã nhận được sự hướng dẫn, đóng góp, giúp đỡ rất nhiều của tất cả các quý Thầy, Cô giáo, Ban Giám hiệu nhà trường, cơ quan, gia đình, bạn bè đồng nghiệp
Trước tiên Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Ngô Thị Tính; GS.TS Hoàng Khải Lập Thầy, Cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo Em trên con
đường nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn tới GS.TS Đỗ Văn Hàm, PGS.TS Đàm Khải Hoàn, TS Trịnh Văn Hùng, TS Nguyễn Thị Phương Lan, Các quý Thầy, Cô trong Hội đồng đã giúp đỡ, góp nhiều ý kiến quý báu và động viên
Em trong suốt quá trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Y
tế Công cộng trường Đại học Y dược Thái Nguyên
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế tỉnh Hà Giang đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi yên tâm hoàn thành khóa học
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, tập thể Viên chức, người lao động BVĐK huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài, học tập và nghiên cứu
Xin trân thành cảm ơn tới bè bạn, gia đình và người thân giúp đỡ, động viên tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Hoàng Hoa Màn
Trang 5FAO The Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Nông nghiệp và Thực phẩm Liên hợp quốc) ICD-10 International Statistical Classification of Diseases and
Related Health Problems 10th (Phân loại Quốc tế về bệnh tật
và các vấn đề sức khỏe) ỈMR Infant Mortality Rate (Tỷ suất chết sơ sinh)
MHBT Mô hình bệnh tật
MTTQ Mặt trận Tổ Quốc
NCSKND Nghiên cứu sức khỏe nhân dân
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural
Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
DANH MỤC CÁC HỘP ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 4
1.1 Một số khái niệm về sức khỏe, bệnh tật 4
1.2 Mô hình cơ cấu bệnh tật trên thế giới và trong nước 8
1.2.1 Mô hình cơ cấu bệnh tật trên thế giới 8
1.2.2 Mô hình cơ cấu bệnh tật ở Việt Nam 10
1.3 Các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến mô hình, cơ cấu bệnh tật 16
1.4 Các giải pháp đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân 18
1.5 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Đồng Văn trong mối liên quan đến vấn đề sức khỏe bệnh tật của cộng đồng 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.2 Địa điểm nghiên cứu: BVĐK huyện Đồng Văn 24
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2017 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu 25
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 25
2.5 Phương pháp thu thập thông tin 27
2.6 Các chỉ số nghiên cứu 27
Trang 72.6.1.Thực trạng cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội tru tại bệnh viện
đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 27
2.6.2 Một số yếu tố liên quan và đê xuất giải pháp nhằm đáp ứng nhu cấu dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại bệnh viện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 28
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 28
2.7.1 Số liệu định lượng: 28
2.7.2 Số liệu định tính 28
2.8 Khống chế sai số 29
2.9 Đạo đức nghiên cứu 30
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thực trạng mô hình, cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú 31
3.2 Một số yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu dịch vụ khám, chữa bệnh nội trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 47
3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh 56
Chương 4 BÀN LUẬN 59
4.1 Thực trạng mô hình, cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú 59
4.2 Một số yếu tố liên quan và giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nội trú tại Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang 71
4.2.1 Một số yếu tố liên quan 71
KẾT LUẬN 78
KHUYẾN NGHỊ 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin về tuổi của bệnh nhân 32
Bảng 3.2 Phân bố giới tính của nhóm bệnh nhân trong độ tuổi từ 18 đến 55 33
Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 34
Bảng 3.4 Mô hình cơ cấu bệnh tật theo các chương bệnh (Theo ICD-10) 37
Bảng 3.5 Mô hình cơ cấu các bệnh thuộc chương bệnh X 38
Bảng 3.6 Mô hình cơ cấu các bệnh thuộc chương bệnh XI 38
Bảng 3.7 Mô hình cơ cấu các bệnh nhân thuộc chương bệnh XV 39
Bảng 3.8 Mô hình cơ cấu các bệnh thuộc chương bệnh XIX 39
Bảng 3.9 Mô hình cơ cấu các bệnh thuộc chương I 10
Bảng 3.10 Mô hình cơ cấu của 10 bệnh phổ biến nhất trong năm 2016 40
Bảng 3.11 Cơ cấu tỷ lệ mắc 05 bệnh phổ biến nhất trong năm 2016 của người trong độ tuổi lao động 41
Bảng 3.12 Mô hình phân bố cơ cấu 3 nhóm bệnh chính 42
Bảng 3.13 Cơ cấu bệnh tật theo các tháng trong năm 43
Bảng 3.14 Mô hình bệnh tật theo nhóm tại các khu vực, địa dư 45
Bảng 3.15 Mô hình bệnh tật theo trẻ dưới 6 tuổi và nhóm nghề nghiệp 47
Bảng 3.16 Thực trạng nguồn lực cán bộ y tế đang làm việc tại bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang năm 2016 49
Bảng 3.17 Tỷ lệ cán bộ phân theo trình độ chuyên môn 50
Bảng 3.18 Tỷ lệ cán bộ y tế được đào tạo lại trong năm 2016 50
Bảng 3.19 Thực trạng về trang thiết bị Y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh của bệnh viện: 51
Trang 9Bảng 3.20 So sánh tỷ lệ bệnh nhân nhập viện theo mùa trong năm 52 Bảng 3.21 So sánh tỷ lệ bệnh nhân thuộc lứa tuổi lao động nhập viện theo
mùa trong năm 52
Bảng 3.22 So sánh tỷ lệ bệnh nhân nhập viện (Chung) theo khu vực sinh
sống trong năm 53
Bảng 3.23 So sánh tỷ lệ bệnh nhân chấn thương, ngộ độc nhập viện theo khu
vực sinh sống trong năm 53
Bảng 3.24 Liên quan giữa bệnh nhân ngộ độc nhập viện với các tháng trong năm
(Từ tháng 4 đến tháng 7) Các tháng nhập nhiều quả từ biên giới vào 54
Bảng 3.25 Liên quan bệnh ở mắt theo đặc điểm nguồn cung cấp nước sinh
hoạt 54
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của bệnh nhân (Có 551 nam và 667 nữ) 32
Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo địa dư (Trong tổng số 1218 bệnh nhân) 33
Biểu đồ 3.3 Mô hình bệnh tật chung trong 3 năm 2014; 2015; 2016 35
Biểu đồ 3.4 Mô hình bệnh tật người lớn bệnh nhân nội trú 03 năm (2014–2016) 36
Biểu đồ 3.5 Mô hình bệnh tật bệnh nhi nội trú 3 năm (2014 – 2016) 36
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Xu hướng thay đổi tỷ suất tử vong trẻ em 15
Hình 2.1 Bản đồ địa lý huyện Đồng Văn – Hà Giang 24
Trang 11DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 3.1 Kết quả phỏng vấn lãnh đạo phòng Kế hoạch tổng hợp của bệnh
viện về lưu lượng bệnh nhân điều trị nội trú và những khó khăn trong công tác khám chữa bệnh 34
Hộp 3.2 Kết quả thảo luận nhóm các thầy thuốc ở Khoa khám bệnh của bệnh
viện về mô hình bệnh tật và khả năng đáp ứng sự gia tăng lưu lượng bệnh nhân tại khoa 41
Hộp 3.3 Kết quả thảo luận nhóm các thầy thuốc ở hai khoa có nhiều bệnh
nhân điều trị nhất về mô hình bệnh tật và khó khăn gặp phải 44
Hộp 3.4 Kết quả thảo luận nhóm bệnh nhân về bệnh tật và tiếp cận dịch vụ y
tế của các nhóm bệnh nhập viện điều trị nội trú theo các khu vực và dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện 46
Hộp 3.5 Kết quả phỏng vấn lãnh đạo phòng khám của bệnh viện về những
vấn đề liên quan đến lưu lượng và mô hình bệnh tật của bệnh nhân
Hộp 3.6 Kết quả phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện về các giải pháp 48
nâng cao chất lượng điều trị nội trú tại bệnh viện 55
Hộp 3.7 Kết quả thảo luận nhóm các thầy thuốc ở hai khoa có nhiều bệnh
nhân điều trị nhất của bệnh viện về các giải pháp nâng cao chất lượng điều trị nội trú tại bệnh viện 56
Trang 12mô hình bệnh tật (MHBT) được phân chia thành 4 giai đoạn:
1 Giai đoạn của dịch bệnh và đói kém
2 Giai đoạn rút lui của các đại dịch
3 Giai đoạn các bệnh không lây
4 Giai đoạn của các bệnh thoái hoá chậm
Ở Việt Nam, nhờ những đổi mới về kinh tế xã hội, các chính sách về y tế của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội, tình hình sức khỏe và cơ cấu bệnh tật của người dân đang thay đổi rõ rệt trên toàn quốc Từ sau khi đất nước thống nhất đến nay, cơ cấu bệnh tật của nước ta đã thay đổi khá nhiều,
Trang 13các bệnh truyền nhiễm đã giảm từ 55,5% năm 1976 xuống còn 27,16% năm
2002 Tuy nhiên, các bệnh không lây, tai nạn, ngộ độc, chấn thương lại tăng lên từ 1,84% năm 1976 đến 9,18% năm 2002 [14] Do đặc thù về thổ nhưỡng, khí hậu của các địa phương khác nhau nên cũng tạo ra những khác biệt về mô hình bệnh tật Vì vậy mô hình bệnh tật của từng vùng, từng miền, từng bệnh viện cũng có những đặc điểm khác biệt so với mô hình chung của cả nước Đồng Văn là một huyện vùng cao biên giới phía bắc của tỉnh Hà Giang, thuộc 62 huyện nghèo của cả nước, điều kiện kinh tế khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, khí hậu vùng cao nguyên đá lạnh và ẩm, mặt bằng chung về dân trí hạn chế, trong cộng đồng người dân nơi đây còn tồn tại một số hủ tục lạc hậu gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [50]
Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn là bệnh viện đa khoa tuyến huyện hạng III Bệnh viện là nơi tiếp nhận khám và điều trị nội trú, ngoại trú cho cán
bộ và nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện cũng như một số xã lân cận của các huyện giáp danh Bệnh viện cũng là nơi tiếp nhận và điều trị cấp cứu, tai nạn lao động, tai nạn giao thông … Do đó bệnh nhân của bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn là tương đối đa dạng
Việc nghiên cứu mô hình, cơ cấu bệnh tật bệnh nhân điều trị nội trú có thể giúp cho ngành Y tế có kế hoạch phù hợp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu dịch
vụ chăm sóc sức khỏe người dân địa phương
Vấn đề được đặt ra là mô hình, cơ cấu bệnh tật của người bệnh điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn trong vài năm gần đây như thế nào? Có những yếu tố liên quan nào ảnh hưởng đến mô hình, cơ cấu bệnh tật? Có thể có giải pháp nào góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn? Những thông tin thu được trong nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế trong tương lai Chúng tôi tiến hành nghiên cứu
Trang 14đề tài “Thực trạng mô hình cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội trú tại
Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang và đề xuất một số giải
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm về sức khỏe, bệnh tật
Mô hình: là vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu; là hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng,
để nghiên cứu đối tượng ấy [46]
Bệnh ở con người: là trạng thái cơ thể hoặc bộ phận cơ thể hoạt động không bình thường [67]
Tật ở con người: là trạng thái bất thường, nói chung là không chữa được của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có hoặc do tai nạn gây nên [67] Cộng đồng: là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội, có những đặc trưng về tên gọi, ngôn ngữ, văn hóa giống nhau
Mô hình bệnh tật (nghiên cứu ở đây là ở con người): là dạng thu nhỏ các đặc trưng chủ yếu về tỷ lệ các lọai hình bệnh và tật của con người
Tỷ suất chết thô (CDR - Crude Death Rate) là chỉ tiêu đơn giản nhưng phổ biến nhất trong việc đánh giá mức tử vong của dân số Nó được xác định bằng số người chết trong năm tính bình quân cho 1.000 dân số năm đó Tỷ suất chết thô có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và tốc độ gia tăng dân số So với các chỉ tiêu khác về mức độ chết, tỷ suất chết thô là chỉ tiêu có nguồn thông tin dễ thu thập, thường sẵn có và được tính toán đơn giản
Tỷ suất chết thô và tỷ suất chết sơ sinh (IMR - Infant Mortality Rate) là hai số đo thường được các nhà khoa học sử dụng để mô tả tình hình tử vong (mức độ chết) của một quốc gia
Tỷ suất chết sơ sinh được định nghĩa bằng tỷ lệ phần nghìn giữa số trẻ
em chết khi chưa đạt 12 tháng tuổi trong năm chia cho tổng số trẻ em mới sinh trong năm đó Theo Tổng cục Thống kê, đây là một chỉ số không phụ
Trang 16thuộc vào cơ cấu dân số theo độ tuổi Nó cho biết khi IMR cao thì mức độ chết của dân số cũng cao, và ngược lại
Song hành với tỷ suất chết thô còn có tỷ suất sinh thô (Crude Birth Rate - CBR), đó là số trẻ em sinh ra trong một năm so với 1.000 dân số trung bình của năm đó, nghĩa là trong 1.000 dân thì có bao nhiêu trẻ em sinh ra sống trong năm đó CBR lớn hay nhỏ có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và tốc độ gia tăng dân số
Để mô tả mức độ tăng dân số bình quân trong một năm, người ta dùng số
đo tỷ suất tăng tự nhiên dân số (ký hiệu bằng NIR và tính bằng đơn vị phần nghìn), đó là hiệu số giữa tỷ suất chết thô và tỷ suất sinh thô Tỷ suất này cho biết, bình quân cứ 1.000 dân số trung bình của một năm, thì có bao nhiêu người tăng lên trong năm do hậu quả của 2 yếu tố sinh ra và chết đi
Tỷ suất tăng tự nhiên dân số có ưu điểm là dễ tính toán, không đòi hỏi nhiều số liệu Song nó có nhược điểm là phụ thuộc rất chặt vào cơ cấu dân số theo độ tuổi, vì thế nó không được sử dụng trực tiếp để đánh giá mức độ tái sản suất dân số
Do tỷ suất tăng tự nhiên dân số trực tiếp phụ thuộc vào tỷ suất sinh thô (CBR)
và tỷ suất chết thô (CDR), nên không bao giờ được dùng để đánh giá mức độ sinh hoặc kết quả công tác kế hoạch hóa gia đình
Quy mô dân số thường xuyên vận động theo thời gian, có thể tăng hoặc giảm tùy theo các chiều hướng biến động của các nhân tố sinh ra, chết đi và di dân Tức là, nếu như ở một vùng nào đó trong một thời điểm xác định nào đó
mà mức sinh và nhập cư cao hơn mức chết và xuất cư thì quy mô dân số ở vùng đó tăng trong thời gian đó và ngược lại, nó sẽ giảm nếu như mức sinh và nhập cư thấp hơn mức chết và xuất cư
Phân loại bệnh tật theo xu hướng bệnh tật được chia thành 3 nhóm chính [67]:
Trang 17- Các bệnh lây, suy dinh dưỡng và bệnh liên quan tới thai sản: gồm các bệnh
phổ biến của các vùng nghèo, kinh tế xã hội kém phát triển [16], [62]
- Bệnh không lây: gồm các bệnh phổ biến ở các vùng có điều kiện kinh tế,
xã hội phát triển [53]
- Tai nạn, ngộ độc, chấn thương: gặp ở tất cả các nước phát triển và không phát triển [11], [46]
Cách phân loại này cho ta cách nhìn bao quát, tổng thể mô hình bệnh tật
ở mỗi vùng địa lý, nhất là khi xác định xu hướng phát triển của bệnh tật Nhìn vào mô hình bệnh tật này chúng ta sơ bộ đánh giá được sự phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi vùng
Nước ta trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế, mô hình bệnh tật đang từng bước tiến tới gần giống mô hình bệnh tật của các nước phát triển Bệnh lây năm 1976 chiếm 55,50% số đến bệnh viện, thì đến năm 2007 chỉ còn 11,3% [29]
Phân loại bệnh tật theo ICD - 10
Cách phân loại được WHO khuyến khích sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới hiện nay Việt Nam đã áp dụng hệ thống phân loại này trên toàn quốc
Đặc điểm nổi bật của ICD là phân loại theo từng chương bệnh, trong mỗi chương lại chia ra từng nhóm bệnh Từ mỗi nhóm bệnh chia nhỏ thành tên bệnh và cuối cùng là các bệnh chi tiết theo nguyên nhân hay tính chất đặc thù của bệnh Như vậy một bệnh theo ICD được mã hóa bởi 3 ký tự chính và
ký tự thứ 4 mã hóa tên bệnh chi tiết [67] Toàn bộ danh mục được xếp thành
21 chương bệnh, ký hiệu từ I đến XXI theo các nhóm bệnh :
Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II : Khối U ( Bướu Tân Sinh )
CHương III : Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn miễn dịch
Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa
Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi
Trang 18Chương VI : Bệnh của hệ thần kinh
Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII : Bệnh tai và xương chũm
Chương IX : Bệnh của hệ tuần hoàn
Chương X : Bệnh hệ hô hấp
Chương XI : Bệnh hệ tiêu hóa
Chương XII : Bệnh da và mô dưới da
Chương XIII : Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết
Chương XIV : Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục
Chương XV : Chửa, đẻ và sau đẻ
Chương XVI : Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh
Chương XVII : Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể Chương XVIII : Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác
Chương XIX : Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài
Chương XX : Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong
Chương XXI : Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế
Với điều kiện cụ thể của Việt Nam và một số nước đang phát triển, WHO chỉ yêu cầu mã hóa 3 ký tự (đến tên nhóm bệnh), các chuyên khoa sâu có thể vận dụng hệ thống mã hóa 4 ký tự để phân loại chi tiết đến từng bệnh, phù hợp từng chuyên khoa Trong đó, có một số bệnh quan trọng được mã chi tiết đến tên bệnh
Hệ thống phân loại này giúp chúng ta thống nhất tên nhóm bệnh đến tên bệnh một cách nhất quán trên toàn thế giới Nó giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý có cái nhìn bao quát, toàn diện và cụ thể về
mô hình bệnh tật để từ đó đưa ra các chiến lược, chính sách, giải pháp thích
Trang 19hợp, đánh giá hiệu quả của các chương trình chăm sóc sức khỏe đó và đang được triển khai Nó giúp các bác sĩ lâm sàng có được các định nghĩa đầy đủ
1.2 Mô hình cơ cấu bệnh tật trên thế giới và trong nước
1.2.1 Mô hình cơ cấu bệnh tật trên thế giới
MHBT của mỗi nước bên cạnh việc phụ thuộc vào đặc thù dân tộc, tập quán, thổ nhưỡng còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước Có 3 loại mô hình bệnh tật thường gặp trên thế giới :
- Mô hình bệnh tật ở các nước nghèo, chậm phát triển : Bệnh nhiễm trùng cao, bệnh mãn tính và bệnh không nhiễm trùng thấp
- Mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển: Bệnh nhiễm trùng thấp, bệnh mãn tính không nhiễm trùng là chủ yếu
- Mô hình bệnh tật ở các nước phát triển : Bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường và bệnh lý người già là chủ yếu [23]
Trong nhiều năm, các nghiên cứu đã chứng minh sức khoẻ và MHBT của người dân thường phản ánh trung thành điều kiện sinh sống về kinh tế, xã
hội, văn hóa, tập quán và yếu tố môi trường gần với nơi mà họ sinh sống
Ở Mỹ, các bệnh thường gặp với tỷ lệ cao là bệnh không lây như béo phì, tăng huyết áp, tiểu đường… Các bệnh này gặp nhiều ngay cả các bệnh viện tuyến huyện [58], [59] Brunei và một số nước tương tự có thu nhập
Trang 20bình quân đầu người cao nhất thế giới và đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới, trong mười bệnh hàng đầu hay gặp, chỉ có một bệnh nhiễm khuẩn là nhiễm khuẩn đường hô hấp, còn lại chủ yếu là các bệnh thuộc nhóm những bệnh không lây như tim mạch, đái đường, hen [56] Ngược lại ở Campuchia, một đất nước nghèo, các bệnh thường gặp lại là sốt rét, lao, tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết, nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh còn phổ biến ở các nước đang phát triển, các nước nghèo
Cùng là vùng lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng MHBT ở Hồng Kông và
Ma Cao có sự khác biệt rõ rệt Hồng Kông trước năm 1997 là thuộc địa của Anh, có mức sống cao, do đó MHBT của Hồng Kông gần giống MHBT của các nước phát triển Ở Hồng Kông trong 5 bệnh hàng đầu chỉ có hai bệnh nhiễm trùng là viêm đường hô hấp và bệnh da Ngược lại, ở Ma Cao cả 5 bệnh hàng đầu đều là các bệnh lây: lao, viêm gan B, C, nhiễm HIV
Từ năm 1974, Văn phòng Tổ chức y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương đã đưa ra thống kê định kỳ về MHBT và tử vong (TV) cùng với tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người, ngân sách đầu tư cho y tế, chiến lược phát triển y tế của từng quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực,
35 quốc gia và vùng lãnh thổ được đề cập đến Điều này giúp cho việc nghiên cứu MHBT có hệ thống, dễ dàng so sánh giữa các quốc gia có thu nhập cũng như đầu tư cho y tế khác nhau Nhiều nghiên cứu của Tổ chức y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương cũng chỉ ra rằng vấn đề thiếu dinh dưỡng, cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường vẫn là vấn đề liên quan trọng đến
mô hình bệnh tật ở các nước nghèo
Các nghiên cứu chỉ ra rằng MHBT ở các nước phát triển có sự khác biệt rõ rệt với các nước đang phát triển Ở các nước đang phát triển, bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng vẫn phổ biến, tuy nhiên các bệnh này có xu hướng ngày càng giảm Các bệnh không lây như tim mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh, di truyền, chuyển hóa, béo phì đang ngày càng gia tăng và đặc biệt cùng với sự phát triển
Trang 21của xã hội hiện đại các tai nạn, ngộ độc, chấn thương có xu hướng tăng rõ rệt Vấn
đề trên đã được chứng minh rất nhiều trên động vật thực nghiệm [61]
Nhiều nước đã tiến hành nghiên cứu mô hình bệnh tật dựa trên gánh nặng bệnh tật (Mỹ, Australia, Canada .) Tại Canada thống kê gánh nặng bệnh tật tại bang Ontario từ 1990 - 1995 cho thấy tai nạn - thương tích đứng hàng đầu, tiếp theo là ung thư Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu ở Australia của Harrison J và báo cáo của Viện nghiên cứu sức khoẻ, tai nạn - thương tích vẫn đứng hàng đầu, tiếp theo là ung thư, tim mạch Kết quả điều tra của WHO công bố năm 1991 cho thấy sau 10 năm gánh nặng bệnh tật do tai nạn - thương tích gây ra tăng nhanh ở các nước phát triển
Nghiên cứu và thống kê ở hầu hết các nước phát triển cũng như đang phát triển, tai nạn - thương tích luôn chiếm tỷ lệ cao, thậm trí là rất cao trong gánh nặng bệnh tật do chết non [68]
1.2.2 Mô hình cơ cấu bệnh tật ở Việt Nam
Nước ta trải qua hai cuộc chiến tranh, cho đến nay hậu quả của nó về mặt sức khỏe còn rất nặng nề và hậu quả kinh tế, xã hội rất lớn MHBT ở nước ta đan xen giữa bệnh nhiễm trùng và không nhiễm trùng, giữa bệnh cấp tính và mãn tính, xu hướng bệnh không nhiễm trùng và mãn tính ngày càng cao
Theo Tổ chức y tế thế giới thì tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên đáng kể Tuổi thọ ngày càng cao, số người cao tuổi ngày càng nhiều Mức sống dân cư ngày càng cao, đặc biệt là các thành phố lớn và đô thị làm cho bệnh béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp và các biến chứng của nó như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim ngày càng tăng Nguyên nhân gia tăng các bệnh lý này là do các yếu tố nguy cơ tim mạch như hút thuốc lá, ít hoạt động thể lực, chế độ ăn nhiều chất béo ngày càng cao
Trong tương lai xu thế bệnh tật nước ta vẫn theo hướng các nước đang phát triển nghĩa là bệnh nhiễm trùng giảm dần, bệnh không nhiễm trùng tăng dần
Trang 22Số liệu về MHBT và số mắc, số chết … được tổng kết từ báo cáo thống kê y tế địa phương gửi về Bộ Y tế Tỷ suất chết thô CDR của Việt Nam giảm dần theo thời gian, đặc biệt trong thập niên 1989 - 1999 đã giảm nhanh từ 8,4‰ xuống còn 5,6‰ CDR của nước ta có sự khác biệt đáng kể giữa thành thị và nông thôn, năm 2002 CDR của khu vực nông thôn là 6‰, cao hơn khoảng 1,3 lần
so với khu vực thành thị (4,7‰)
Các số liệu báo cáo thống kê BV được tổng hợp trong các báo cáo y tế địa phương Số liệu các trường hợp điều trị nội trú tại BV khá chi tiết theo ICD-10 Trong khi đó số liệu về người bệnh ngoại trú chỉ thể hiện bằng tổng số trường hợp đến khám và phân theo khoa, không có phân loại theo ICD-10 Như vậy nếu lấy số liệu trong báo cáo BV để phân tích mô hình bệnh tật của một quốc gia hay của một vùng như hiện nay thực chất là cơ cấu bệnh tật của các trường hợp nhập viện điều trị nội trú Tuy nhiên cho tới nay người ta vẫn sử dụng số liệu này để ước tính tỷ suất LDT bệnh và tỷ suất tử vong tại BV
Trong 30 năm qua, MHBT của nước ta có sự thay đổi, các bệnh truyền nhiễm đang giảm, tỷ lệ mắc cũng như tỷ lệ tử vong của các bệnh tim mạch nói chung, cao huyết áp nói riêng và các bệnh ung thư tăng lên đáng kể Trước năm
1976 các bệnh truyền nhiễm chiếm 50 - 56% trong tổng số các trường hợp mắc bệnh và tử vong tại BV Tới năm 2007 tỷ lệ mắc các bệnh này đó hạ thấp xuống 11,3% Tuy nhiên nhiều bệnh tật mới như tai nạn, chấn thương, ngộ độc, bệnh ung thư, bệnh tim mạch lại gia tăng Tỷ lệ tử vong do những nguyên nhân trên cũng tăng từ 2% năm 1976 lên 14,8% năm 2007 [31]
Bộ Y tế nước ta đã thống kê năm nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại các bệnh viện:
- Năm 1976 là các bệnh nhiễm trùng và KST chiếm 23%, bệnh đường hô hấp chiếm 17%, bệnh về bộ máy tiêu hóa 12%, bệnh về đường sinh dục, tiết niệu 5,3% và các bệnh về hệ tuần hoàn 5,1%
Trang 23- Năm 2007: Bệnh hệ tuần hoàn chiếm 19,7%, vết thương và di chứng của nguyên nhân bên ngoài 18,9%, các bệnh nhiễm trùng và KST chiếm 14,8%, một
số bệnh xuất phát trong thời kỳ chu sinh 10,6% và bệnh hệ hô hấp chiếm 10%
- Về xu hướng, MHBT của nước ta cũng có những thay đổi, các bệnh nhiễm khuẩn tuy tỷ lệ mắc vẫn còn cao nhưng có xu hướng ngày càng giảm Đến năm 2007, tỷ lệ bệnh nhiễm trùng và KST giảm còn là 11,3% và bệnh hệ tuần hoàn là 7,45% Mặc dù tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn giảm một cách tương đối nhưng diến biến phức tạp và vẫn còn ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ cộng đồng, nhất là các vùng nghèo, vùng khó khăn Một số bệnh mới có xu hướng tái phát như lao, nhiễm HIV, bệnh sốt xuất huyết và viêm não Nhật Bản B, một số bệnh rối loạn tinh thần hành vi Các bệnh không lây như tim mạch, ung thư, các chấn thương, tai nạn, ngộ độc có xu hướng gia tăng rõ rệt
- Ở Việt nam, tùy theo từng vùng, từng địa phương thì MHBT cũng có
sự khác nhau Theo Lương Thị Bình & và CS nghiên cứu MHBT tại BVĐK huyện Xuân lộc - Đồng nai 5 năm 2001 - 2005 cho thấy: Các nhóm bệnh đứng hàng đầu là: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài (chương XIX); tiếp theo là chương bệnh hô hấp (chương X); thai nghén, sinh đẻ và hậu sản (chương XV); nhiễm trùng và ký sinh trùng (chương I)
- Theo Đỗ Văn Dũng, Trương Đình Kiệt và CS, gánh nặng bệnh tật hàng đầu ở vùng Nam Trung bộ là tai nạn, bệnh nhiễm trùng, bệnh chu sinh Trong các loại hình tai nạn, tai nạn giao thông đứng hàng đầu
- Nghiên cứu của Trần Văn Bảo cho thấy MHBT của Nghệ An có biểu hiện của thời kỳ giao thời: Bệnh nhiễm khuẩn ký sinh trùng và các bệnh trong Chương trình tiêm chủng mở rộng có xu hướng giảm,, bệnh chấn thương, ngộ độc, dị tật bẩm sinh có chiều hướng gia tăng Bệnh lý thường gặp ở cộng đồng là bệnh răng miệng và viêm đường hô hấp Nhóm bệnh có liên quan đến yếu tố môi trường, điều kiện sinh hoạt, môi trường sinh thái gặp tương đối
Trang 24nhiều Bệnh tăng huyết áp là bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất trong nhóm bệnh hệ tuần hoàn Nhóm bệnh này là một trong 10 bệnh phổ biến nhất hiện nay
- Tác giả Phạm Thị Phương Thuỳ và CS ghi nhận trên tổng số 19184 bệnh nhân, trong đó 8851 nam và 10333 nữ, điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa Bắc Kạn từ 01/01/2012 đến 31/12/2012 cho thấy Chương bệnh có tỷ lệ cao nhất là bệnh lý về thai nghén, sinh đẻ và hậu sản (15,8%), tiếp đến là bệnh của hệ hô hấp (14,5%), và đứng thứ 3 là chương bệnh của hệ tiêu hóa (12,2%) Trong 10 bệnh mắc cao hàng đầu thì viêm thanh quản tắc nghẽn chiếm tỷ lệ cao nhất (4,6%), tiếp theo là chuyển dạ ngừng tiến triển do ngôi thai bất thường (4,3%) và viêm họng cấp (4,2%) Về nghề nghiệp có tới gần một nửa là nông dân (49,1%) Tuổi trung bình của bệnh nhân là 35 ± 24,1 Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Diệu về mô hình bệnh tật tại các BV tuyến huyện tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2000 – 2004, về cơ bản là mô hình bệnh tật đang hiện diện ở một nước đang phát triển Bệnh nhiễm trùng là phổ biến và chiếm tỷ lệ lớn:
- Chấn thương, ngộ độc là một trong mười chương bệnh hàng đầu với tỷ
lệ 6,1%
Về nghiên cứu yếu tố liên quan đến MHBT: Cũng theo nghiên cứu của Trần Văn Bảo ở Nghệ an, nguồn nước hợp vệ sinh sử dụng trong sinh hoạt cần thấp (núi thấp 69,61%, đồng bằng 39,53%), hố xí không hợp vệ sinh, vấn đề sử dụng xử lý phân rác chưa đảm bảo, kết hợp với nguồn nước không hợp vệ sinh
là nguyên nhân chính của bệnh đường ruột, bệnh giun, viêm phần phụ
Trang 25Theo thống kê của Bộ Y tế, xu hướng mắc của các bệnh dịch lây nhiễm giảm từ 27,44% năm 2003 xuống còn 25,73 năm 2007, tỷ lệ TV của các bệnh dịch lây giảm từ 17,42% năm 2003 xuống còn 15,4 năm 2007 Đối với các bệnh không lây nhiễm, tỷ lệ mắc tăng từ 54,2% năm 2000 [25] lên 62,4% năm
2007 và tỷ lệ TV của các bệnh không lây nhiễm cũng tăng từ 52,25% năm
2000 lên 61,6% năm 2007 Nhóm bệnh tai nạn, ngộ độc, chấn thương, tỷ lệ mắc từ 9,18% năm 2002 tăng lên 13,62% năm 2007; tỷ lệ tử vong tăng từ 18,53% năm 2002 đến 25,2% năm 2007
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế nước ta năm 2015 là báo cáo thuờng niên lần thứ 9 đuợc xây dựng với sự hợp tác giữa Bộ Y tế Việt Nam
và nhóm Đối tác y tế Báo cáo đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ đuợc đề
ra trong Kế hoạch 5 năm ngành y tế giai đoạn 2011-2015 và kết quả thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ… Báo cáo cũng phân tích sâu các chuyên đề về
Mô hình bệnh tật, Tăng cường y tế cơ sở hướng tới bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân… Kết quả cho thấy tình hình sức khỏe của người dân Việt Nam
đã có những cải thiện đáng kể, thể hiện qua các chỉ số sức khoẻ cơ bản như tuổi thọ trung bình, tử vong bà mẹ và trẻ em, tình trạng suy dinh dưỡng trẻ
em Tuy nhiên Báo cáo cũng chỉ ra rằng chất lượng một số chỉ số sức khoẻ
còn thấp Năm 2014, mặc dù tuổi thọ trung bình là 73,2 tuổi song tuổi thọ
khoẻ mạnh chỉ đạt 66,0 tuổi Tuổi thọ trung bình năm 2015 vẫn chưa đạt được mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2011 -2015 là 74 tuổi Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đã giảm nhanh song tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn ở mức cao (24,2% năm 2015) gây ảnh hưởng đến sức khoẻ giống nòi Các số liệu thống kê, nghiên cứu cho thấy cơ cấu giữa 3 nhóm bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm, và tai nạn, thương tích đã có sự thay đổi nhanh chóng trong vòng hơn
30 năm trở lại đây với sự gia tăng nhanh tỷ trọng của các bệnh không lây nhiễm Tình trạng này cùng với tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền nhiễm vẫn đang ở mức cao tạo nên gánh nặng kép về bệnh tật Từ năm 1990, bệnh không lây nhiễm đã vượt qua bệnh lây nhiễm để chiếm tỷ trọng lớn nhất
Trang 26trong tổng gánh nặng bệnh tật tính theo số năm sống mất đi sau khi hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật Gánh nặng do các bệnh không lây nhiễm đã tăng từ 45,5% năm 1990 lên 58,7% năm 2000, 60,1% năm 2010 và 66,2% năm 2012
Số liệu ước tính của WHO về gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2012 cho thấy bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ trọng chính trong gánh nặng bệnh tật chung ở Việt Nam Trong năm 2012, bệnh không lây nhiễm chiếm 72,9% trong tổng
số 520.000 trường hợp tử vong Tỷ suất tử vong chuẩn hoá theo tuổi của bệnh không lây nhiễm là 435/100 000 dân, lần lượt gấp 4,5 và 7,4 lần so với bệnh lây nhiễm và tai nạn thưong tích Bệnh không lây nhiễm cũng chiếm 59,7% tổng số năm sống mất đi do tử vong sớm Gánh nặng của các BKLN gây ra bởi bốn nhóm bệnh chính là bệnh tim mạch, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đái tháo đường Bốn nhóm bệnh này chiếm 60,4% các trường hợp tử vong và 33% tổng gánh nặng bệnh tật năm 2012 Ước tính 17% những người trong độ tuổi 30 - 70 có nguy cơ tử vong do 4 nhóm bệnh này
Dưới đây là thống kê về xu hướng thay đổi tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi từ 1990 đến nay (Được trình bày tóm tắt trong Hình 1.1)
Nguồn: Tổng cục Thống kê – Niên giám thống kê các năm 1990 - 2015
Hình 1.1 Xu hướng thay đổi tỷ suất tử vong trẻ em
Trang 27Qua các nghiên cứu đã cho thấy mô hình bệnh tật của nước ta đang trải qua quá trình chuyển tiếp dịch tễ học, nghĩa là vừa phải đương đầu với các bệnh lây nhiễm xu hướng giảm nhưng diễn biến phức tạp, vừa phải đương đầu với các bệnh không lây nhiễm có xu hướng gia tăng
Trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Hà Giang, đã có một số nghiên cứu MHBT của từng bệnh viện trong những giai đoạn khác nhau, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về MHBT của bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn để góp phần cho định hướng kế hoạch đầu tư phát triển bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn nói riêng cũng như công tác CSSK nhân dân của huyện Đồng Văn nói chung
Việc nghiên cứu mô hình bệnh tật của người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn là rất quan trọng vì mô hình bệnh tật thay đổi tương ứng với sự biến đổi của điều kiện sống, nền kinh tế, sự phát triển khoa học kỹ thuật Đây là một vấn đề lớn, có rất nhiều nội dung và phức tạp, trong đó việc đề xuất ý kiến nâng cao chất lượng điều trị, góp phần cho xây dựng kế hoạch, định hướng phát triển bệnh viện trong thời gian tới là một nội dung thiết thực, cụ thể hoá các nội dung hoạt động khám chữa bệnh ở bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn
1.3 Các yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến mô hình, cơ cấu bệnh tật
Con người sống và chịu tác động của tự nhiên và xã hội Mô hình bệnh
tật của một quốc gia, một khu vực thay đổi, tương ứng với sự biến đổi của điều kiện địa lý tự nhiên, điều kiện sống, nền kinh tế, sự phát triển khoa học
kỹ thuật và các chính sách xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội, con người và y học thế giới đã ghi nhận, theo vùng với những đặc điểm của địa lý tự nhiên như khí hậu, sông ngòi xuất hiện những bệnh đặc thù theo vùng địa lý, như dịch bệnh sốt vàng, dịch bệnh Ebola châu Phi, dịch tả vùng châu thổ Sông Hằng (Ấn độ và Băng La Đét), dịch HIV/AIDS ở những người có hành vi tiêm chích, sinh hoạt tình dục không an toàn với người bệnh hay như các bệnh không truyền nhiễm như
Trang 28các bệnh tim mạch, huyết áp cao ở những nước có trình độ phát triển các bệnh nhiễm trùng, nhiễm KST ở các nước và các cộng đồng kém phát triển Tuy nhiên, điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng đến
sự phát sinh, tăng hay giảm một số bệnh mới như bệnh nhiễm trùng như lao,
sở, tụ cầu, HIV/AIDS, H5N1, SARS [25] Nhiều bệnh có xu hướng phát triển, chiếm tỷ lệ ngày càng cao trên phạm vi toàn cầu như bệnh tim mạch, huyết áp Sự suy giảm và bị tiêu diệt của một số bệnh như đậu mùa, bệnh bại liệt, bệnh phong, bệnh than có được là bởi những tiến bộ rất lớn về Y học thế giới trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng [60]
Các nhà nghiên cứu sức khoẻ toàn cầu phân chia các yếu tố liên quan đến thành bảy nhóm là: 1 Kinh tế xã hội; 2 Thực phẩm; 3 Nước; 4 Hệ thống vệ sinh; 5 Các yếu tố môi trường khác; 6 Hành vi; 7 Dịch vụ y tế Nhiều nghiên cứu cho thấy ngay các yếu tố môi trường khám, chữa bệnh cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, mô hình bệnh tật của cộng đồng [6], [51] Dịch vụ y
tế bao gồm dịch vụ chăm sóc sức khỏe nói chung, dịch vụ chuyên khoa luôn góp phần ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật của cộng đồng [10], [45], [52] Các yếu tố môi trường tự nhiên, nước, thực phẩm cũng góp phần gia tăng hoặc giảm thiểu các thành phần, cơ cấu bệnh tật [22], [42]
Ở Việt Nam, theo Nghiên cứu của Trần Văn Bảo về yếu tố ảnh hưởng
đến mô hình bệnh tật ở Nghệ An, nguồn nước hợp vệ sinh sử dụng trong sinh hoạt còn thấp (Núi thấp 69,61%, Đồng bằng 39,53%), hố xí không hợp vệ sinh, cũng như vấn đề sử dụng xử lý phân rác cũng chưa đảm bảo, kết hợp với nguồn nước không hợp vệ sinh là nguyên nhân chính của bệnh đường ruột, bệnh giun, viêm phần phụ
Với việc triển khai các hoạt động can thiệp y tế trong Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS theo Quyết định số 190/2001/QĐ- TTg ngày 13/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã mang lại những hiệu quả tốt Theo báo cáo kết quả hoạt
Trang 29động chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1995 - 2005, một số bệnh dịch trên địa bàn tỉnh đã từng bước khống chế, đẩy lùi và tiến tới thanh toán loại trừ một số bệnh dịch nguy hiểm trong tỉnh như: thanh toán bại liệt, tiến tới loại trừ uốn ván sơ sinh, thanh toán bệnh phong theo tiêu chuẩn qui định của Tổ chức Y tế Thế giới Giảm đáng kể một số bệnh trong chương trình (Sởi giảm 19 lần, Ho gà giảm 10 lần, Bạch hầu không còn xảy ra, các bệnh Lao ở trẻ em đã giảm thấp, giảm nguy cơ thiếu hụt Iốt và bướu cổ ở trẻ
em, suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi giảm từ 39,4% năm 1996 xuống còn 18,9% năm 2013)
Những kết quả đó đã minh chứng cho những chính sách y tế của Đảng
và nhà nước ta đã tác động tới kết cấu MHBT trong giai đoạn đó
1.4 Các giải pháp đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân
Nhằm từng bước nâng cao nhu cầu cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, Đảng và nhà nước ta đã chỉ đạo thông qua rất nhiều quyết định
cũng như pháp luật về công tác khám chữa bệnh
Ngày 10 tháng 01 năm 2013 Chính phủ đã phê duyệt Quyết định Số: 122/QĐ-TTg: Phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 [9] Mục tiêu chung của hiến lược được Chính phủ xác định là phải bảo đảm mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Người dân được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ, nâng cao chất lượng dân số
Mục tiêu cụ thể đã được đặt ra là:
- Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và tàn tật; khống chế các bệnh truyền nhiễm, các bệnh gây dịch thường gặp và mới nổi, không để dịch lớn xảy ra Hạn chế, tiến tới kiểm soát các yếu tố nguy cơ của các bệnh không lây nhiễm,
Trang 30các bệnh liên quan đến môi trường, lối sống, hành vi, an toàn vệ sinh thực phẩm, dinh dưỡng, bệnh học đường
- Nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ở tất cả các tuyến; giảm tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên Phát triển y tế phổ cập, bác sỹ gia đình, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao phủ y tế toàn dân kết hợp với phát triển y tế chuyên sâu Tăng cường chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi Phát triển y tế ngoài công lập, tăng cường phối hợp công - tư Hiện đại hoá và phát triển y học cổ truyền, kết hợp
y học cổ truyền với y học hiện đại
- Chủ động duy trì mức sinh thấp hợp lý, khống chế tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số, đáp ứng đủ nhu cầu dịch vụ kế hoạch hóa gia đình của người dân, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lượng, tăng cường lồng ghép các yếu tố về dân số vào hoạch định chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành
- Phát triển nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng; tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và một số chuyên khoa; chú trọng phát triển nhân lực y tế
có trình độ cao; mở rộng đào tạo điều dưỡng trình độ đại học, cao đẳng, tiến tới đạt cơ cấu hợp lý giữa bác sỹ và điều dưỡng, kỹ thuật viên , bảo đảm cân đối giữa đào tạo và sử dụng nhân lực y tế
- Đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính ngành y tế, tăng nhanh đầu
tư công cho y tế, phát triển bảo hiểm y tế toàn dân, giảm tỷ lệ chi trực tiếp từ
hộ gia đình cho chăm sóc sức khỏe; sử dụng nguồn tài chính y tế hiệu quả
- Bảo đảm cung ứng đủ thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế, máu, chế phẩm máu và trang thiết bị y tế có chất lượng với giá cả hợp lý đáp ứng nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân; quản lý, sử dụng thuốc và trang thiết bị hợp lý, an toàn và hiệu quả
Trang 31- Nâng cao năng lực quản lý và năng lực thực hiện chính sách y tế, đẩy mạnh cải cách hành chính, phát triển hệ thống thông tin y tế đáp ứng nhu cầu đổi mới và phát triển ngành y tế
Bộ Y tế đã cụ thể hóa nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và chính phủ Trong 2 ngày 6-7/5/2011 Bộ Y tế đã tổ chức Hội thảo Chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến
2030 tại Đồ Sơn, Hải Phòng Một số quan điểm, định hướng về công tác y tế
đã được các chuyên gia tham gia Hội thảo thông qua, bao gồm:
1 Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội; Dịch
vụ y tế là dịch vụ xã hội đặc biệt, hoạt động khám chữa bệnh là hoạt động phi lợi nhuận Đầu tư cho sức khoẻ là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của xã hội
2 Đổi mới và hoàn thiện Hệ thống y tế Việt Nam theo hướng Công bằng
- Hiệu quả - Phát triển, bảo đảm an sinh xã hội Mọi người dân, đặc biệt người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm người dễ bị tổn thương được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, có chất lượng
3 Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình và cộng đồng; là trách nhiệm của các
Bộ, Ngành TW, các cấp ủy Đảng, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội dân sự, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt về chuyên môn và kỹ thuật
4 Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quản lý vĩ mô, định hướng phát
triển sự nghiệp BV,CS và NCSKND thông qua hệ thống pháp lý và chính sách; điều tiết, phân bổ nguồn lực, quản lý giá và chất lượng dịch vụ y tế Đẩy mạnh xã hội hóa, phát triển y tế ngoài công lập, kết hợp công - tư để huy động nguồn lực cho chăm sóc sức khỏe gắn với việc tăng nhanh đầu tư từ NSNN
Trang 32cho y tế, Ưu tiên phát triển y tế dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ ban đầu Kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền, kết hợp quân dân y, phối hợp
y tế ngành Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hoá ngành y tế, phát triển y tế chuyên sâu và y tế phổ cập
5 Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong hoạt
động của ngành y tế, đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính trong các đơn
vị y tế công lập gắn với việc thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân
6 Kiểm soát quy mô dân số, và nâng cao chất lượng dân số để đảm bảo
phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, nhu cầu KCB của người dân ngày càng tăng đặt ra nhiều thách thức với hệ thống y tế Nhìn nhận thẳng thắn về thực trạng công tác KCB hiện nay, có rất nhiều thách thức đặt ra cần phân tích đầy đủ các nguyên nhân khách quan, chủ quan, qua đó tìm ra các giải pháp ngắn hạn, dài hạn nhằm nâng cao chất lượng KCB Tình trạng quá tải bệnh viện, chất lượng nguồn nhân lực tuyến dưới đang là vấn đề, trong đó, nổi cộm nhất là vấn đề quá tải bệnh viện Ðây là hệ quả của nhiều nguyên nhân được tích lũy trong một thời gian dài, đó là biểu hiện của sự mất cân bằng trong hệ thống do những nguyên nhân khách quan và chủ quan Trong đó, nguyên nhân cơ bản vẫn là do năng lực chuyên môn kỹ thuật của tuyến dưới còn yếu và không đồng đều, chất lượng khám, chữa bệnh tuyến dưới còn hạn chế Ðầu tư cho y tế tuyến dưới còn khiêm tốn do có những khó khăn khách quan của điều kiện kinh tế đất nước Trong khi đó, nhìn từ góc độ bên trong thì hệ thống KCB còn có những khiếm khuyết do trải qua một số cải cách nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Chất lượng nguồn nhân lực cũng là một vấn đề đặt ra hiện nay, khi năng lực quản lý của đội ngũ quản lý bệnh viện còn hạn chế, phần nhiều có chuyên môn tốt nhưng chưa được đào tạo quản lý một cách bài bản, chuyên nghiệp; chất lượng nhân lực y
tế không đồng đều, một số đối tượng đào tạo chủ yếu là đáp ứng về số lượng,
Trang 33chất lượng còn hạn chế Vấn đề tài chính cho khám, chữa bệnh còn có nhiều bất cập, nhất là viện phí, các bệnh viện thu không đủ bù chi Do thiếu nguồn đầu tư cho nên nhiều bệnh viện đã phải huy động từ nguồn xã hội hóa, từ đó
dễ dẫn đến nguy cơ lạm dụng trong việc cấp thuốc, xét nghiệm và làm các kỹ thuật khác
Ðánh giá của nhiều chuyên gia y tế về khó khăn trong cung ứng dịch vụ
y tế cũng chỉ ra rằng: hiện nay người thầy thuốc chưa được quan tâm đúng mức, chưa có chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương không bảo đảm tái đầu tư sức lao động [47], [48] Bên cạnh đó, công tác truyền thông chưa tốt làm cho một số ít cơ quan báo chí chưa có được cái nhìn khách quan và đồng cảm với ngành y tế Sự quan tâm, nhìn nhận của xã hội về nhân cách, đạo đức của người thầy thuốc chưa đầy đủ cả hệ thống mà thường tập trung vào những cá nhân, sự việc tiêu cực trong khi ít có sự đánh giá các nỗ lực, cống hiến của hơn 400 nghìn lao động trong ngành y tế Cơ chế động viên, khuyến khích cho thầy thuốc còn hạn chế cũng là một thách thức không nhỏ, làm giảm sút tinh thần cống hiến
1.5 Đặc điểm kinh tế, xã hội huyện Đồng Văn trong mối liên quan đến vấn đề sức khỏe bệnh tật của cộng đồng
Đồng Văn là một huyện vùng cao, biên giới nằm ở cực bắc của tỉnh Hà Giang Là một trong những huyện nghèo nhất nước hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo của huyện năm 2015 là 71%, toàn huyện có 17 xã và 2 thị trấn với 224 thôn bản, tổ dân phố, tổng diện tích tự nhiên là 46.114,05ha, trong đó có 14.225,29ha đất sản xuất nông nghiệp còn lại diện tích tự nhiên chủ yếu là núi
đá chiếm 73,49% địa hình phức tạp, hiểm trở bởi các dãy núi cao, vực sâu, độ cao trung bình là 1.200m so với mặt nước biển Dân số toàn huyện 74.684 (niên giám 31/12/2015) gồm 17 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc
Mông chiếm 84% còn lai là dân tộc Tày, Giáy, Lô Lô, Pu Péo, Clao, Hoa …
Trang 34Điều kiện khí hậu và thời tiết của Đồng Văn là rất khắc nghiệt, mùa đông rét đậm, rét hại và cũng là mùa khô kéo dài từ khoảng tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau Thiếu nước dùng trong sinh hoạt và canh tác là đặc thù chung của các huyện vùng cao ở Hà Giang, trong đó Đồng Văn là khó khăn hơn cả,
do vậy các vấn đề sức khỏe liên quan cũng luôn là vấn đề của Đồng Văn Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn là bệnh viện đa khoa hạng III trực thuộc Sở Y tế Hà Giang, là bệnh viện đa khoa tuyến huyện thực hiện chức năng nhiệm vụ theo qui định tại Qui chế Bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định 1895/1997/QĐ - BYT ngày 10 tháng 9 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Y
tế Về qui trình khám chữa bệnh tại BVĐK huyện Đồng Văn được thực hiện thống nhất theo qui định chung của Bộ Y tế, Cơ quan BHYT, Sở Y tế và các qui định có liên quan khác Người bệnh được giới thiệu từ trạm y tế xã thị trấn, phòng khám đa khoa khu vực đến hoặc tự đến BVĐK huyện Đồng Văn, thực hiện các thủ tục hành chính và tài chính, được khám bệnh Tuỳ mức độ bệnh, người bệnh sẽ được giải quyết bằng một trong các hình thức: Điều trị ngoại trú, điều trị nội trú hoặc chuyển viện
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sổ sách, báo cáo, hồ sơ lưu trữ, và các sổ sách, báo cáo có liên quan tại BVĐK huyện Đồng Văn từ năm 2014 - 2016
- Lãnh đạo bệnh viện; Lãnh đạo các khoa, phòng có liên quan đến công tác khám, chữa bệnh của bệnh viện
- Đại diện các thầy thuốc, bệnh nhân của các khoa có nhiều bệnh nhân điều trị hoặc nhiều giường bệnh ( Khoa Nội, Khoa Nhi )
2.2 Địa điểm nghiên cứu: BVĐK huyện Đồng Văn
Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn có địa chỉ tại Tổ 7 Thị trấn Đồng Văn - Huyện Đồng Văn - Hà Giang
Bản đồ địa lý huyện Đồng Văn – Hà Giang
Trang 36Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn có cơ cấu, tổ chức 13 khoa, 04 phòng chức năng cụ thể sau:
- 04 phòng chức năng gồm: Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Điều dưỡng
- 13 khoa: Khoa Khám bệnh, Khoa Hồi sức cấp cứu, Khoa Nội tổng hợp, Khoa Nhi, Khoa Truyền nhiễm, Khoa Y học cổ truyền, Khoa Ngoại Tổng hợp, Khoa Phụ - Sản, Liên chuyên khoa lẻ, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dược, Khoa dinh dưỡng, Khoa Xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh
Từ khi cơ sở vật chất của bệnh viện được xây dựng thêm trong năm
2013, BVĐK huyện Đồng Văn đã đáp ứng tốt hơn giai đoạn trước về nhu cầu khám và điều trị cho các bệnh nhân nội và ngoại trú Theo kế hoạch, số giường bệnh đã thực kê đưa vào sử dụng năm 2016 là 140 giường Như vậy, trên thực tế, bệnh viện vẫn luôn trong tình trạng quá tải so với kế hoạch giao
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2016 đến tháng 6/2017
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu có sự kết hợp giữa định lượng và định tính [19]
- Nghiên cứu định lượng: mô tả với thiết kế nghiên cứu cắt ngang
- Nghiên cứu định tính: phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu
2.4.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu cho nghiên cứu mô tả
* Cỡ mẫu nghiên cứu
Bởi nhiều lý do về thời gian và các nguồn lực khác, nên chúng tôi không nghiên cứu được toàn bộ các bệnh án của các bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện, vì vậy chúng tôi đã tiến hành xác định cỡ mẫu tối thiểu Cỡ mẫu bệnh án nghiên cứu được tính theo công thức [19]:
2
2 ) 2 / 1 (
d
q p
n
Trang 37Trong đó:
- : Xác xuất sai lầm loại 1, chọn = 0,05 Z1 - /2 = 1,96
- Chọn gía trị p: Do tăng huyết áp là bệnh thường gặp trong mô hình bệnh tật không lây nhiễm hiện nay, đã được nhiều tác giả khuyến cáo [43], [46], vì vậy chúng tôi chọn tỷ lệ gặp của bệnh này để tính cỡ mẫu bệnh nhân trị nội trú tại bệnh viện
- Ấn định p = 0,26 (Tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp phải vào bệnh viện điều trị
ở Thừa Thiên Huế, theo nghiên cứu của Trần Hữu Dàng là 25,7%)
- q = 1 - p = 0,74
- Sai số d mong muốn sẽ là 0,026
Thay vào công thức, tính được 1.120 bệnh án Trong dự kiến, chúng tôi chọn
1230 bệnh nhân để vừa không thất thoát mẫu, vừa để dễ chia ra mỗi năm Kết quả nghiên cứu cuối cùng, chúng tôi đã thu thập được 1218 bệnh án đủ tiêu chuẩn đưa vào xử lý
Trong nghiên cứu này chúng tôi cũng chọn ra số người được coi là trong độ tuổi lao động là nông dân và ở các khu vực miền núi, khó khăn để nghiên cứu về cơ cấu bệnh tật của lực lượng lao động Theo các chuyên gia thì độ tuổi này được tính
từ 18 đến 55 [20], [28] Số người trong độ tuổi này được thống kê là 450 người
Từ tổng số bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú mỗi năm, chúng tôi tiến hành chọn các trường hợp Cuối cùng, số bệnh nhân nội trú (bệnh án) đáp ứng đầy đủ yêu cầu để đưa vào xử lý số liệu và đánh giá kết quả như đã có ở phần trên
là 1218
Trang 382.4.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu cho nghiên cứu định tính
- Mẫu nghiên phỏng vấn sâu: 03 cuộc phỏng vấn sâu Đối tượng chọn cho phỏng vấn sâu là: 01 lãnh đạo bệnh viện; 01 Lãnh đạo khoa khám bệnh;
01 lãnh đạo phòng kế hoạch tổng hợp
- Mẫu nghiên cứu cho thảo luận nhóm: 04 cuộc thảo luận nhóm Mỗi nhóm 10 người Các nhóm thảo luận theo đối tượng như sau: 02 nhóm các thầy thuốc ở hai khoa nhiều bệnh nhân điều trị nội trú nhất 01 nhóm các thầy thuốc ở khoa khám bệnh 01 nhóm bệnh nhân ở khoa và thời điểm đông bệnh nhân điều trị nội trú
2.5 Phương pháp thu thập thông tin
- Thu thập số liệu hồi cứu qua Sổ sách, báo cáo, hồ sơ lưu trữ, phần mềm quản lý bệnh viện và các sổ sách, báo cáo có liên quan tại BVĐK huyện Đồng Văn từ năm 2014 đến hết năm 2016
- Phỏng vấn sâu theo yêu cầu, nội dung nghiên cứu với bảng câu hỏi
chuẩn bị sẵn
- Thảo luận nhóm: để thu thập thông tin theo chủ đề
- Tổng quan các tài liệu, công trình nghiên cứu
2.6 Các chỉ số nghiên cứu
2.6.1.Thực trạng cơ cấu bệnh tật của bệnh nhân điều trị nội tru tại bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
- Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
+ Thông tin về, giới, phân bố giới tính
+ Phân bố bệnh nhân theo địa dư
+ Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
- Cơ cấu bệnh tật theo các chương bệnh ( ICD – 10 )
- Cơ cấu của 10 bệnh phổ biến nhất trong năm 2016
- Cơ cấu tỷ lệ mắc 05 bệnh phổ biến nhất trong năm 2016 của người lao động trong độ tuổi lao động
Trang 39- Cơ cấu bệnh tật theo các tháng trong năm
- Cơ cấu bệnh tật theo nhóm tại các khu vực địa dư
- Cơ cấu các nhom bệnh theo nghề nghiệp
2.6.2 Một số yếu tố liên quan và đê xuất giải pháp nhằm đáp ứng nhu cấu dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại bệnh viện Đồng Văn tỉnh Hà Giang
- Mối liên quan giữa bệnh với yêu tố thời tiết mùa trong năm,
- Mối liên quan giũa bệnh với điều kiện khu vực sống/địa dư
- Mối liên quan giữa bệnh với tình trạng nhập khẩu hoa quả trong năm
- Mối liên quan giữa đặc điểm nguồn nước và CCBT
Các chỉ số về kết quả nghiên cứu định tính:
- Điều kiện về cơ sở vật chất của bệnh viện liên quan đến cơ cấu bệnh tật
- Thực trạng đội ngũ cán bộ bệnh viện liên quan tới chất lượng khám chữa bệnh và cơ cấu bệnh tật
- Cơ chế làm việc liên quan tới chất lượng khám chữa bệnh
- Một số gợi ý về giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện
Trang 40- Khi phân tích dựa trên các mục đích, nội dung của cuộc phỏng vấn, với các nội dung sau:
- Tình trạng bệnh nhân nhập viện
- Nguyên nhân thay đổi mức độ bệnh nhân nhập viện
- Thực trạng về cơ sở vật chất của bệnh viện
- Thực trạng về nguồn lực của bệnh viện
- Một số giải pháp khắc phục……
Phân tích một số chỉ số liên quan tới mô hình bệnh tật:
- Mô hình, cơ cấu bệnh tật: được tính theo cơ cấu phân bố các trường
hợp nhập viện nhằm mục đích so sánh tỷ trọng các nhóm bệnh với nhau
Số trường hợp nhập viện của 1 nhóm
Dân số trung bình của địa phương trong năm
Phân tích cơ cấu bệnh tật theo tỷ lệ các nhóm bệnh:
Tổng số bệnh nhân mắc bệnh trong năm