Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn nhiều bất cập, một bộ phận nhân dân, nhất là tuổi vị thành niên chưa hình thành được ý thức và thói quen tự bảo vệ,
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe sinh sản vi ̣ thành niên là một trong những nội dung quan trọng trong Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản , song hiê ̣n nay, sức khỏe sinh sản vi ̣ thành niên vẫn còn rất nhiều vấn đề nổi cô ̣m, bất cập mà chúng
ta cần phải quan tâm Vị thành niên chiếm một tỷ lệ khá lớn trong dân số Việt Nam (chiếm 22-23%) và có sự hiểu biết tương đối phong phú về các khía cạnh khác nhau của sức khỏe sinh sản vị thành niên như tuổi dậy thì, tâm lý lứa tuổi, tình bạn khác giới, tình yêu, tình dục, thụ thai, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS [6] Tuy nhiên, sự hiểu biết này còn
sơ sài, phiến diện và nhiều khi thiếu chính xác do các kiến thức mà các em có được từ lĩnh vực này không phải từ nhà trường mà chủ yếu từ các kênh truyền thông đại chúng và sách báo hoặc tự trao đổi với bạn bè Kiến thức của vi ̣ thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản đă ̣c biê ̣t là vấn đề mang thai, nạo phá thai, các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bê ̣nh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS cũng rất ha ̣n chế ngay cả ta ̣i những thành phố và thi ̣ xã
Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn nhiều bất cập, một bộ phận nhân dân, nhất là tuổi vị thành niên chưa hình thành được ý thức và thói quen tự bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ sinh sản Muốn chăm sóc và tự bảo vệ thì vị thành niên cần phải có hiểu biết và có thái độ đúng về
sự phát triển thể chất, tâm lý và sinh lý trong thời kỳ này đồng thời cũng cần
có một số hiểu biết về sức khoẻ sinh sản để biết cách tự chăm sóc mình
Trong thờ i điểm bù ng nổ thông tin như hiê ̣n nay , tuổi vi ̣ thành niên cũng chịu rất nhiều tác động của các phương tiện thông tin đại chúng , trong đó, không loa ̣i trừ các hình ả nh khiêu dâm, kích dục Nhiều vi ̣ thành niên có hoạt động tình dục nhưng la ̣i không có kiến thức về sức khỏe sinh sản
Trang 2Tại Việt Nam, theo Tổng điều tra dân số năm 1999, có tới 50% số vi ̣ thành niên còn thiếu kiến thức về giới tính , dấu hiê ̣u dâ ̣y thì , các biện pháp tránh thai, tác hại của nạo hút thai và cách phòng chống lây truyền qua đường tình dục [26] Những vấn đề này đe dọa trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản vị thành niên và đang trở thành sự quan tâm của Viê ̣t Nam và của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Với lối sống hiện nay, số vị thành niên quan hệ tình dục trước hôn nhân tăng, tình trạng nạo phá thai tăng, hiện tượng lạm dụng tình dục trẻ em cũng có xu hướng tăng, đã và đang diễn ra tại các trường trung học phổ thông Nâng cao kiến thức , thái độ, kỹ năng thực hành và khả năng tiếp câ ̣n các di ̣ch vu ̣ chăm sóc sức khỏe có chất lượng cho vi ̣ thành niên , nhằm giúp cho vi ̣ thành niên trong chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục , HIV/AIDS, hạn chế, tiến tới gi ảm tình tra ̣ng có thai ngoài ý muốn , nhiễm HIV/AIDS của vị thành niên là mục tiêu của công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên [43].
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với vi ̣ thành niên cũng trong tình trạng chung của cả nước Công tác này chưa được quan tâm đúng mức: khoảng 55% vị thành niên, thanh niên chưa từng được nghe nói về tâm sinh lý tuổi dậy thì, 18% nữ thanh thiếu niên đã từng nạo phá thai [39] Xuất phát từ lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực
trạng kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông thành phố Bắc Giang và hiê ̣u quả can thiê ̣p” Nghiên cứu được
tiến hành với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực tra ̣ng kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung ho ̣c phổ thông thành phố Bắc Giang năm học 2010 - 2011
2 Đánh giá hiệu quả của biện pháp truyền thông giáo dục sức khoẻ
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Mô ̣t số khái niê ̣m
1.1.1 Khái niệm về vị thành niên
Tuổi vị thành niên (VTN) là thời kỳ phát triển đặc biệt, là sự lớn lên và trưởng thành của trẻ em để trở thành người lớn cả về thể lực, trí tuệ và khả năng hoà nhập cộng đồng Đây là thời kỳ xảy ra đồng thời hàng loạt nhiều thay đổi bao gồm: sự lớn lên và trưởng thành về cơ thể, sự biến đổi về tâm lý các mối quan hệ xã hội Theo quy ước của Tổ chức Y tế thế giới, lứa tuổi VTN nằm trong khoảng 10 – 19 tuổi; được chia thành 3 thời kỳ phát triển:
Thời kỳ VTN sớm: từ 10 – 13 tuổi,
Thời kỳ VTN giữa: từ 14 – 16 tuổi,
Thời kỳ VTN muộn: từ 17 – 19 tuổi [5], [8]
Khái niệm VTN được thừa nhận về mặt văn hóa xã hội là một giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi ấu thơ và tuổi trưởng thành, con người trong độ tuổi này thay đổi rất nhiều tùy theo các dân tộc, trong mỗi dân tộc lại tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau [8]
1.1.2 Sư ́ c khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục.
Trong hô ̣i nghi ̣ Quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairo năm 1994, sức
khỏe sinh sản được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đi ̣nh nghĩa như sau: " Sức khỏe
sinh sản (SKSS) là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bê ̣nh tật hoặc tàn phế của hê ̣ thống sinh sản, chức năng và quá trình sinh sản Điều này cũng hàm ý là mọi người, kể cả nam và nữ, đều có quyền được nhận thông tin và tiếp cận dịch vụ SKSS, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được
Trang 4theo sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng có cơ may tốt nhất để sinh con khỏe mạnh” [3], [4], [14]
Sức khỏe sinh sản VTN cần được nhìn nhâ ̣n mô ̣t cách toàn diê ̣n , sứ c khỏe phát triển thể chất , sức khỏe phát triển trí tuệ, tâm thần và khả năng hòa nhâ ̣p với cô ̣ng đồng VTN nói riêng và cô ̣ng đồng nói chung có quyền được nhâ ̣n thông tin về SKSS, quyền được tiếp câ ̣n và nhận dịch vụ chăm sóc SKSS (các dịch vụ về bảo vệ sức khỏe bà mẹ, KHHGĐ, sứ c khỏe tình du ̣c ) và tự do lựa chọn các dịch vụ đó phù hợp với điều kiện kinh tế , văn hóa, xã
hô ̣i và sức khỏe của từng người
Sự lớn lên và trưởng thành ở VTN có thể xảy ra với tốc độ khác nhau giữa các cá nhân, phụ thuộc vào các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội và văn hoá Do đó sự phân chia về độ tuổi này chỉ mang tính chất tương đối Tuổi này ít mắc bệnh, tỷ lệ tử vong thấp nhất nên vấn đề sức khoẻ của họ hầu như bị lãng quên Song trong quá trình phát triển, sự thiếu kiến thức đã dẫn tới quyết đi ̣nh không đúng của VTN liên quan đến sức khỏe và SKSS như quan
hê ̣ tình dục bữa bãi gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe và tương lai trong suốt cuộc đời của họ là:
- Nhiều VTN có thai nghén sinh đẻ quá sớm, nhất là VTN có thai nghén sinh đẻ ngoài ý muốn;
- Các bệnh lây lan theo đường tình dục mà họ mắc phải có thể làm cho họ phải chịu đựng lâu dài, có khi trở thành vô sinh;
- Giai đoạn này sự sinh đẻ, thai nghén sẽ làm VTN gián đoạn việc học tập, tổn ha ̣i cho chính bản thân ho ̣, gia đình và xã hô ̣i
Qua nghiên cứu cho thấy VTN nước ta và nhiều nước khác đang bước vào tuổi dậy thì và tuổi sinh sản sớm hơn trước Nhiều hiểm hoạ đe dọa sức khoẻ do hoạt động tình dục không được bảo vệ ngày càng nhiều hơn; thiếu nữ
Trang 5chưa có chồng mà đã có thai là đối tượng nguy cơ của nạo phá thai không an toàn, bất hợp pháp
Theo tổ chức Y tế thế giới: " Sức khỏe tình dục (SKTD) là sự tổng hợp
các khía cạnh thể chất, trí thức và xã hội của con người, sao cho cuộc sống con người phong phú hơn, tốt đẹp hơn về nhân cách, về giao tiếp và tình yêu"
[2], [34]
Theo định nghĩa của WHO, vị thành niên “là giai đoạn khác biệt và
năng độngcủa con người, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng thành được đánh dấu bằng sự phát triển vượt bậc về thể chất, tinh thần, tình cảm và xã hội”[2]
1.1.3 Khái niệm về kiến thức, thái độ và hành vi
- Kiến thứ c hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiê ̣m thu được trong cuô ̣c sống Mỗi người có thể thu được kiến thức từ thày cô giáo , cha me ̣, bạn bè , đồng nghiê ̣p, những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp [33]
Kiến thức là một trong các yếu tố quan tro ̣ng giúp con người có các suy nghĩ và tình cảm đúng đắn , từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự viê ̣c Kiến thức của mỗi người được tích lũy trong suốt cuô ̣c đời Có các kiến thức hay hiểu biết về bê ̣nh tâ ̣t, sức khỏe và bảo vê ̣, nâng cao sức khỏe là điều kiê ̣n cần thiết để mo ̣i người có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lành ma ̣nh Vai trò của Ngành Y tế và cán bộ Y tế trong viê ̣c cung cấp kiến thức cho ngườ i dân trong cô ̣ng đồng là rất quan tro ̣ng , thông qua viê ̣c thực hiê ̣n nhiê ̣m
vụ thông tin - giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) [33]
- Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng với những tình huống hay hoàn cảnh cu ̣ thể Thái độ cũng là cách nhìn nhận của con người về các vấn đề trong đó có sức khỏe Thái độ phản ánh những điều người ta thích hoă ̣c không thích , mong muốn hay không mong muốn , tin hay
Trang 6không tin, đồng ý hay không đ ồng ý, ủng hộ hay ngăn cản Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức , niềm tin và kinh nghiê ̣m thu được trong cuô ̣c sống , đồng thời thái đô ̣ cũng chi ̣u ảnh hưởng của những người xung quanh [33]
- Mỗi cá nhân đều sống trong mô ̣t tâ ̣p thể xã hô ̣i và có quan hệ với những người xung quanh trong những mối tác đô ̣ng qua la ̣i nhất đi ̣nh Sự tác đô ̣ng qua la ̣i giữa người này với người khác, hay giữa con người với các sự viê ̣c, hiê ̣n tượng hoàn cảnh xung quanh được thể hiê ̣n qua các hành đô ̣ng hay go ̣i là hành vi
Hành vi của con người là một tập hợp phức tạp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan (từ điển Wikipedia) [32]
Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt hoă ̣c xấu đến sức khỏe của chính bản thân ho ̣ , của những người xung quanh và của cộng đồng Theo ảnh hưởng của hành vi chúng ta thấy có hai loa ̣i hành
vi sức khỏe, đó là các hành vi có lợi cho sức khỏe và các hành vi có ha ̣i cho sức khỏe [33]
1.1.5 Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên
Theo Tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN là
“các dịch vụ có thể tiếp cận được và phù hợp với VTN” Dịch vụ sức khỏe
Trang 7thân thiện với VTN cần đảm bảo các tiêu chuẩn như địa điểm, giá cả phù hợp (có thể chi trả được hoặc miễn phí nếu cần thiết), độ an toàn, phục vụ theo phương cách mà VTN chấp nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của VTN và khuyến khích các em trở lại cơ sở y tế khi cần cũng như giới thiệu về dịch vụ với bạn bè Các dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN triển khai từ tuyến cơ sở đến trung ương [7]
1.2 Tình hình sức khỏe sinh sa ̉ n vi ̣ thành niên trên thế giới và Viê ̣t Nam
1.2.1 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên trên thế giơ ́ i
Theo thống kê của Quỹ dân số Liên hiê ̣p quốc (UNFPA), hiê ̣n nay trên thế giới có khoảng 1/5 dân số thuô ̣c lứa tuổi VTN, như thế nghĩa là hiê ̣n đang
có khoảng hơn 1 tỷ người đang ở tuổi VTN, 80% hiê ̣n đang sống ta ̣i các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La T inh Những nước có nền kinh tế kém phát triển thì dân số la ̣i càng trẻ, lứa tuổi VTN la ̣i càng lớn, chiếm tới trên 40% dân số Đây là tỷ lê ̣ rất cao , nếu so với mức trung bình ở các nước phát triển tỷ lê ̣ này lớn gấp tới 2 lần và so với các nước đang phá t triển
nó gấp tới 1,3 lần [38]
Dự báo xu hướng ở mô ̣t số khu vực thuô ̣c các nước đang phát triển, dân số trong nhóm tuổi VTN từ những năm 1975 đến 2025 như sau:
So vớ i các nước khu vực trên thế giới , châu Phi là lụ c đi ̣a có số lượng VTN tăng trưởng ở mức cao nhất hiê ̣n nay , năm 1975 là khoảng 94,5 triê ̣u VTN (chiếm khoảng 22,8%), đến năm 1995 là khoảng 165,5 triệu VTN (chiếm 23%), năm 2005 là khoảng 310,5 triệu; đă ̣c biê ̣t khu vực câ ̣n sa ma ̣c Sahara châu Phi từ năm 1960 – 1995, mỗi thập kỷ số lượng VTN tăng từ 80 -
200 triệu người Với các nước phát triển , dân số có xu hướng giảm , số lượng VTN cũng giảm đi do tỷ lê ̣ sinh thấp , đe do ̣a đến nguồn lực của nước nà y; năm 1975 tỷ lê ̣ VTN chiếm 23%, năm 2005 dự kiến 16% so với tổng dân số trong nước Đối với một số nước đang phát triển , năm 1975 tỷ lệ VTN là
Trang 822,3% và có xu hướng giảm dần , năm 1995 là 20,2% và đến năm 2005 chỉ còn khoảng 16,6% so với tổng số dân trong cả nước [38]
Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực quan hê ̣ tình du ̣c , nạo hút thai và sinh đẻ ở VTN trên thế giới gây ra cho chúng ta hết sức bất ngờ Theo WHO hàng năm có khoảng 20 triê ̣u ca na ̣o phá thai không an toàn Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), hiê ̣n nay mỗi năm có khoảng 15 triê ̣u VTN nữ sinh con, chiếm 10% số phụ nữ sinh con trên thế giới Mỹ là quốc gia có tỷ lê ̣ nữ VTN ma ng thai sớm cao nhất ở các nước phát triển : có khoảng 20% số phụ nữ đẻ trước tuổi 20 Các nghiên cứu cho thấy ở châu Phi , thai nghé n ngoài dự định dao động từ 50-90% trong số VTN chưa chồng và 25-40% trong số VTN có chồng Ở Kenia, số VTN có thai ngoài dự đi ̣nh trong nhóm chưa chồng là 74% và nhóm có chồng là 47% Còn ở Peru , số VTN có thai ngoài dự định trong nhóm chưa chồng là 69% và nhóm có chồng là 51% Các số liê ̣u tổng hợp về tình tra ̣ng VTN sinh con ngoài ý muốn ở mô ̣t số khu vự c
có tỷ lệ ca o là: Mỹ La Tinh 40-50%; Bắc Phi và Tây Á là 15-23%; Ấn Độ và Pakistan là 16%, Philipin, Bangladesh, Srilanka và Thái Lan là 23-41%, Với tình tra ̣ng thai ngoài ý muốn này, mỗi năm có tới 4,4 triê ̣u ca na ̣o phá thai của VTN Chẳng ha ̣n, ở Cộng hòa Tanzania có khoảng 71% các cuộc nạo phá thai rơi vào trẻ VTN , trong khi số VTN chỉ chiếm 24% mẫu điều tra Mang thai và na ̣o phá thai sớm là mô ̣t trong những nguyên nhân cơ bản tàn phá SKSS VTN trên thế giới hiê ̣n nay [38]
Tình trạng quan hệ tình dục (QHTD) sớm và mắc các bê ̣nh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) ở VTN là một nguy cơ mang tính toàn cầu Quan hệ tình dục sớm thường để la ̣i những hâ ̣u quả xã hội nghiêm trọng về mang thai, nạo hút thai ngoài ý muốn và m ắc các bệnh LTQĐTD , đặc biê ̣t là mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS
Trang 9Mô ̣t nghiên cứu cho thấy , VTN Mỹ, ở tuổi 15 có khoảng 27% nữ và 33% nam đã có sinh hoa ̣t tình du ̣c, đến tuổi 17 tỷ lệ này tăng lên 50% và 66% Nếu tính riêng trong nhóm VTN ho ̣c sinh thì có đến 72% số ho ̣c sinh ở Mỹ có QHTD khi bướ c vào năm ho ̣c cuối trung học phổ thông (THPT), trong số đó
có tới 40% các học sinh ở tuổi 15 Theo ước tính của Văn phòng thông tin dân số Mỹ về SKSS VTN thì có ít nhất 80% số người bước vào tuổi 20 ở vùng
câ ̣n sa ma ̣c Sahara (châu Phi) đã trải qua quan hê ̣ tình du ̣c Vì thế đây cũng là nơi mắc các bê ̣nh LTQĐTD lớn nhất , chẳng ha ̣n như HIV /AIDS Theo Quỹ Liên Hợp quốc về phòng chống AIDS , số người mắc AI DS ở đ ây chiếm 2/3
bê ̣nh nhân này trên thế giới [38]
Ở Thái L an ngay từ những năm 70 của Thế kỷ XX, các nghiên cứu đã cho thấy có tới 60% VTN nam có QHTD trong đó mô ̣t số khô ng nhỏ mới ở
đô ̣ tuổi 13; ở Trung Quốc các thống kê mới đây khẳng định có 20% nữ ho ̣c sinh có QHTD; ở Bangladesh 25% và ở Nepan 34% VTN nữ 14 tuổi đã kết hôn; châu Phi là lục địa có tỷ lệ VTN có QHTD và mắc các bệnh LTQĐTD lớn nhất thế giới Các nghiên cứu cụ thể cho thấy , ở Botswana (1995) có 41% nữ và 15% nam ở tuổi 15-16 đã có QHTD ; ở Cameroon (1996) 55% nữ và 70% nam có QHTD ở tuổi 15, nghiên cứu này còn khẳng đi ̣nh, VTN càng lớn tuổi mức đô ̣ QHTD càng tăng và có tới 5% nữ và 16% nam ở tuổi 12-17 đã có trên 2 bạn tình thường xuyên Một báo cáo cho biết , tình trạng QHTD ở tuổi VTN là ma ng tính chất phổ biến ở nhiều quốc gia Theo báo cáo n ày, tỷ lệ QHTD ở tuổi 15 tại mô ̣t số nước là: tại Greenland có khoảng 53%, Đan Mạch 38%, Thụy Điển 69%, và ở tuổi 18 là 54,1% tại Mỹ, 31% tại New Zealand và 51,6% tại Australia [38]
Theo thống kê và các kết quả nghiên cứu của Australia: các bà mẹ tuổi VTN từ 15 –19 tuổi có 10.744 chiếm 4% tại thời điểm năm 2005; tỷ lệ sinh của tuổi VTN chiếm 16%o trẻ VTN [53] Theo ước tính của WHO, mỗi năm
Trang 10có khoảng 250 triê ̣u người mắc các bê ̣nh LTQĐTD, trong đó nhóm tuổi 15-19 chiếm tỷ lê ̣ cao thứ 2 sau nhóm tuổi 20-24 Sở dĩ nhóm thanh niên mắc các
bê ̣nh LTQĐTD cao là do khi QHTD nhóm này thường không sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) an toàn là bao cao su (BCS) Cũng theo tổ chức này , 1/20 số nữ VTN mắc các bê ̣nh LTQĐTD hà ng năm Nghiên cứu cu ̣ thể ở Kenya, Nigieria, Sierra Leone tỷ lê ̣ nữ VTN mắc các bê ̣nh nêu trên dao đô ̣ng từ 16-36%; ở Mỹ 1/8 VTN đăng ký chữa bê ̣nh LTQĐTD hàng năm Hiê ̣n nay trên thế giới có trên 40 triê ̣u người nhiễm HIV , tỷ lệ cao nhất đối với nam nhóm tuổi 15-25 tuổi và nữ là nhóm tuổi 25-35 [38]
Ngoài ra, mang thai sớm còn để la ̣i những hâ ̣u quả rất đáng lo nga ̣i về
mă ̣t xã hô ̣i Các kết quả nghiên cứu cho biết , biến chứng do thai nghén ở tuổi VTN là rất lớn Nguy cơ tử vong của VTN là nhóm cao nhất so với các tử vong do thai nghén gây ra Chẳng ha ̣n, ở Matlab Bangladesh tỷ lê ̣ tử vong ở các bà mẹ VTN tuổi từ 10-14 cao gấp 5 lần so với nhóm 15-19 tuổi và tỷ lê ̣ tử vong ở nhóm tuổi 15-19 lại cao gấp 2 lần so vớ i nhóm tuổi 20-24[38]
Theo tác giả Dr.Y.N.Sridhar và nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu tại trường học ở Miền Bắc của Thái Lan và Ấn Độ cho thấy thiếu niên thiếu kỹ năng sống cần thiết đối với thực tế và những thách thức trong cuộc sống của họ; thanh thiếu niên chiếm phần lớn nhất của dân số Thế giới và có xu hướng ngày càng tăng; có khoảng 230.000.000 người Ấn Độ trong nhóm tuổi từ 4 đến 19 tuổi (Dân số và sức khỏe IndoShare, 2006) VTN ở Ấn Độ là vấn đề nghiên trọng, thiếu tiếp cận với kiến thức đáng tin cậy về quá trình trưởng thành sức khỏe sinh sản và hệ thống giá trị Hiện cần phải cung cấp, giáo dục
về những thay đổi phát triển và nhu cầu trong thanh thiếu niên Điều này có thể làm giảm nguy cơ trong tương lai Cụ thể họ trở thành những đứa trẻ lang thang, trẻ có hành vi phạm pháp, cờ bạc, nghiện ma túy, tội phạm, trốn học, mại dâm, ăn xin; hậu quả của những hành vi bất lợi này, các trường hợp mang
Trang 11thai bất hợp pháp, nạo phá thai và nhiễm HIV/AIDS đang ngày càng trở nên nghiêm trọng [60]
Ở nhiều nước đang phát triển, các cô gái kết hôn ngay sau tuổi dậy thì, nhiều phụ nữ trẻ có thai ngay sau khi kết hôn Năm 1995, nhân khẩu học và Y tế Ai Cập điều tra thấy rằng 10% dân số nữ dưới 20 đã bắt đầu sinh sản; tuy nhiên chỉ có vài thanh thiếu niên biết hoặc hiểu khái niệm về SKSS [48]
Theo Elissa Kennedy et all, mỗi năm có khoảng hơn 14 triệu VTN tuổi 15-19 sinh đẻ, 91% số này ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình; sáu triệu VTN mang thai là ngoài ý muốn do không sử dụng các BPTT Hoạt động tình dục ngoài hôn nhân đang gia tăng, nhưng có dưới một nửa sử dụng các BPTT hiện đại; tỷ lệ trẻ VTN tử vong do thai nghén và sinh con cao hơn người trưởng thành; 14% VTN phá thai không an toàn; sự bất bình đảng và ngheo đói của các bà mẹ VTN có hậu quả lâu dài về kinh tế, xã hội cho đất nước họ [54]
Theo nhóm nghiên cứu Dân số châu á về SKSS VTN ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, độ tuổi kết hôn của VTN các nước ở Nam và Đông Nam Á chiếm 6,6% đến 19,7% trong đó có Việt Nam (chiếm 11,1%) [49]
Theo mô ̣t báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS , tính chung trên thế giới những năm gần đây , bình quân mỗi ngày có khoảng 7.000 thanh thiếu niên, hay mỗi phút có 5 thanh thiếu niên tuổi 10-24 bị nhiễm HIV Mỗi năm thế giới có 1/2 triê ̣u trẻ em dưới 15 tuổi chết do AIDS; có khoảng 1,7 triê ̣u thanh thiếu niên châu Phi bi ̣ nhiễm HIV, trong đó có khoảng 530.000 trẻ sinh
ra bi ̣ nhiễm do me ̣ truyền Riêng khu vực châu Á -Thái Bình Dương mỗi năm ước tính khoảng 700.000 thanh thiếu niên bi ̣ nhiễm HIV [38].Theo một nghiên cứu tại Uganda có 17% VTN trong diện nghiên cứu mắc bệnh LTQĐTD và 6,5% có nguy cơ nhiễm HIV [58]
Với những thực tra ̣ng như nêu trên , rõ ràng, số khía cạnh của vấn đề SKSS VTN đang trở thành mô ̣t nguy cơ dẫn tới suy thoái ở nhiều quốc gia
Trang 12trong giai đoa ̣n phát triển hiê ̣n nay Chính thực tế này đang đặt nhân loại trước những thách thức vô cùng nan giải Để thay đổi tình tra ̣ng nêu trên thực tế đòi hỏi chúng ta phải sớm có mô ̣t chiến lược mới mang tính toàn cầu về SKSS vị thành niên [38]
1.2.2 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên Viê ̣t Nam và tỉnh Bắc Giang
Viê ̣t Nam là mô ̣t nước đang p hát triển, VTN có tỷ lê ̣ tương tự như các nước đang phát triển khác Tổng dân số của Việt Nam tháng 4 năm 2009 là 85.789.573 người Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau Indonesia và Philipin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới Với mật độ dân số 259 người/km2, dân số nam chiếm 49,5% và nữ chiếm 50,5%; trong đó trẻ vị thành niên là 16.064.066 người chiếm tỷ lệ 18,7% tổng dân số toàn quốc; số trẻ đang đi học trung học phổ thông là 3.424.368 chiếm tỷ lệ 21.3% trẻ ở độ tuổi vị thành niên và chiếm tỷ lệ 4% tổng dân số [1]
Sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới Mặc dù vị thành niên và thanh niên trên toàn thế giới đều trải qua quá trình phát triển với những đặc điểm chung, nhưng ở mỗi quốc gia, giai đoạn này mang một số đặc trưng nhất định Tại Việt Nam, vị thành niên là một hiện tượng tương đối mới mẻ đang nhận được nhiều sự quan tâm do đây là độ tuổi thường gắn liền với sự pháttriển trí tuệ, khả năng và tính tự chủ, người ta thường quan niệm thanh niên và vị thành niên vẫn cần được người lớn định hướng, uốn nắn để theo dõi hành
vi của họ (SAVY) Bởi vì nam, nữ VTN đang đứng trước sự đe dọa và thách thức nhiều mặt: đó là bệnh tật, sự tổn thương về thể trạng và tinh thần, sự thiếu hiểu biết về thông tin giới tính, an toàn tình dục và KHHGĐ Rất nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra như tự tử, mại dâm, ma túy, tảo hôn, yêu kiểu "trào
Trang 13lưu"….Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội [6]
Giống như hầu hết các quốc gia trong khu vực, Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng lại chịu các tác động tiêu cực về mặt xã hội Những thay đổi về xã hội đã dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về phong cách sống, đem lại nhiều thách thức cho VTN như HIV/AIDS, lạm dụng chất kích thích, những vấn đề về sức khỏe tinh thần, thiếu tiếp cận những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đă ̣c biê ̣t là SKSS đảm bảo chất lượng… Vị thành niên thường được xem là lứa tuổi đang tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi “Tôi là ai” Trên chặng đường xác định bản sắc riêng cho mình và quá độ thành người trưởng thành, VTN phải nỗ lực xây dựng và củng cố một hệ thống giá trị trở nên độc lập hơn và trải qua hàng loạt những thay đổi về thể chất, tinh thần và xã hội Đây cũng là giai đoạn mà thanh thiếu niên thường tò
mò và thử nghiệm những hành vi tương đối nguy hại [6]
Vấn đề tình bạn, tình dục và sức khỏe sinh sản của vị thành niên là những nội dung không những các gia đình quan tâm mà là cả xã hội đã, đang và sẽ quan tâm Câu hỏi dành cho thanh thiếu niên chưa lập gia đình là “bạn
đã bao giờ có người yêu chưa” thì có 28% thanh thiếu niên độc thân cho biết là đã từng có người yêu, trong đó có 9,9% ở nhóm tuổi 14-17, nhóm tuổi 18-
21 là 42,2% và tỷ lệ có bạn trai/bạn gái phổ biến hơn ở khu vực thành thị với tỷ lệ 36,8%, ở nông thôn là 25% Vị thanh niên và thanh niên đã có bạn trai/bạn gái, họ đã từng hẹn hò với tỷ lệ 77,3% ở nhóm tuổi 14-17, 89,6% ở nhóm tuổi 18-21; tỷ lệ ôm hôn ở nhóm tuổi 14-17 thấp với tỷ lệ 36,2%, cao hơn ở nhóm tuổi 18-21 chiểm tỷ lệ 59,3% Một tỷ lệ nhỏ hơn trả lời có những hành vi thân mật hơn Quan hệ tình dục không phổ biến lắm trong các bạn trẻ 14-17 tuổi, trong 3213 người trả lời chỉ có 8 người (7 nam và 1 nữ) ở thành thị và 12 người (9 nam và 3 nữ) ở nông thôn trả lời rằng họ đã có quan hệ tình
Trang 14dục chiếm 6.2%o; tuy nhiên con số này có thể thấp hơn thực tế do tính chất nhạy cảm của câu hỏi Mặc dù số lượng không nhiều, nhưng hiện tượng quan hệ tình dục trong độ tuổi này lưu ý các bậc cha mẹ và nhà trường nên chú trọng, quan tâm đến việc giáo dục giới tính cho các em trong độ tuổi này và giúp các em tránh được các hành vi không an toàn [6]
Thanh thiếu niên thuộc nhóm tuổi 18-25 chưa lập gia đình (trong đó nam chiến 81,2% và nữ chiếm 62,8% trên tổng số mẫu điều tra) trả lời 9,6% đã từng
có QHTD; tỷ lệ nam đã từng có QHTD cao hơn nữ, thành thị cao hơn nông thôn Trong số thanh thiếu niên chưa lập gia đình có QHTD, phần lớn (71,9%) trả lời có QHTD lần đầu tiên với người yêu, 10% với bạn và 9,1% với gái mại dâm; đa số người (85%) cho biết rằng chỉ có một bạn tình trong vòng 12 tháng qua; nữ thanh thiếu niên cho biết họ có QHTD với lần đầu tiên với nam giới lớn hơn họ vài tuổi; chỉ có 6 trong số 317 nam giới trả lời đã từng trả tiền cho việc QHTD [6]
Về quan niệm QHTD trước hôn nhân thì nhìn chung thanh thiếu niên không chấp nhận việc quan hệ này; tùy vào hoàn cảnh cụ thể mà quan điểm này có thể thay đổi đôi chút, nữ thanh thiếu niên có vẻ chấp nhận quan hệ tình dục nếu đôi nam nữ sẽ cưới nhau hoặc biết cách tránh thai Khi được hỏi liệu quan hệ tình dục có chấp nhận được không nếu cả hai người cùng mong muốn, 41% đối tượng nam đồng tình, trong khi chỉ có 22% đối tượng nữ đồng tình; kết quả tương tự như vậy đối với câu hỏi: “liệu quan hệ tình dục trước hôn nhân có chấp nhận được không nếu cả hai bên yêu nhau”, 32,5% nam thanh thiếu niên đồng ý và 14,5% nữ thanh thiếu niên đồng ý Nếu cả hai người dự định sẽ lấy nhau thì mức độ đồng ý đối với việc sinh hoạt tình dục trước hôn nhân có thể cao hơn một chút với 37% nam giới đồng ý và 17,4% nữ giới đồng
ý Tỷ lệ đồng ý sẽ tương đối cao với câu hỏi: “Liệu vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân có chấp nhận được không nếu người phụ nữ biết cách tránh
Trang 15thai”; có 37% nam thanh thiếu niên và 20,2% nữ thanh thiếu niên đã đồng ý với
ý kiến này, 42,7% nam và 63,2% nữ không đồng ý Điều này cho thấy sự chấp nhận hoạt động tình dục trước hôn nhân không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn liên quan tới các hậu quả sau này là có thai ngoài ý muốn Nhận định này cũng
có thể cho thấy ý thức trách nhiệm của thanh thiếu niên để tránh hậu quả hoặc họ có lưu ý hơn về tình dục an toàn Nhóm thanh thiếu niên trong độ tuổi 14-17 dường như không chấp nhận sinh hoạt tình dục trước hôn nhân như ở nhóm tuổi lớn hơn Điều này không có gì đáng ngạc nhiên trong hoàn cảnh các thông điệp tuyên truyền luôn luôn lặp đi lặp lại về giá trị đạo đức và tầm quan trọng của việc gìn giữ trinh tiết, “vị thanh niên hãy nói không với tình dục” và quan niệm có quan hệ tình dục trước hôn nhân là không đúng với thuần phong mỹ tục Tuy nhiên, đối với một số thanh thiếu niên vượt quá các giới hạn chặt chẽ này thì dư luận xã hội và việc buộc phải giữ bí mật có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, không chỉ là có thai ngoài ý muốn, nguy cơ bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV mà còn dẫn tới những xung đột trong gia đình, làm mất uy tín, đổ vỡ quan hệ cha mẹ - con cái và biến thanh thiếu niên sớm trở thành cha mẹ ở lứa tuổi còn trẻ [6]
Giáo dục giới tính, giáo dục tình dục và SKSS vẫn còn là một vấn đề nhạy cảm ở Việt Nam Một số cha mẹ và nhà giáo dục còn cho rằng giáo dục tính dục
sẽ khuyến khích giới trẻ quan hệ tình dục hoặc “vẽ đường cho hươu chạy” [6]
“Tệ nạn xã hội” vẫn là cụm từ thường được sử dụng để chỉ hành vi sử dụng ma túy, mãi dâm, các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (STIs), HIV/AIDS và quan hệ tình dục trước hôn nhân Tuy nhiên, thực trạng các trường hợp mắc STIs, bao gồm cả HIV/AIDS, có thai ngoài ý muốn và nạo phá thai trong VTN có xu hướng tăng lên đã làm cho các nhà hoạch định chính sách và cán bộ y tế và toàn
xã hội dần nhận thức được những thánh thức đang hiện hữu trong công tác bảo vệ và tăng cường chăm sóc SKSS và SKTD của VTN
Trang 16Điều tra SAVY I [6] có 19,4% nữ thanh thiếu niên được phỏng vấn đã từng có thai Tỷ lệ này tính trong nhóm phụ nữ đã từng có quan hệ tình dục là 88,3%; những phụ nữ đã từng có quan hệ tình dục chiếm 22% trong tổng số nữ thuộc nhóm tuổi 14-25; có 11 người trong số 41 nữ chưa lập gia đình (chiếm 26,8%) đã có QHTD trả lời đã từng mang thai Tuy con số tuyệt đối không lớn, nhưng cứ 4 nữ thanh thiếu niên có QHTD trước hôn nhân thì có 1 mang thai, điều này cho thấy các tồn tại về vấn đề tránh thai, kiến thức về thai nghén, kỹ năng thuyết phục về tình dục an toàn Trong số phụ nữ đã từng có thai 7,2% đã kết thúc bằng phá thai Tỷ lệ phá thai ở thành thị cao gấp đôi nông thôn (12,6%
so với 6,2%) Với nữ VTN-TN chưa có gia đình, tỷ lệ thai nghén kết thúc bằng phá thai là 27,3% Tỷ lệ phá thai từ 2 lần trở lên cũng khá phổ biến đối với các phụ nữ trẻ chưa có gia đình đến các dịch vụ phá thai Tỷ lệ phá thai cao là một chỉ số quan trọng cho thấy các dịch vụ tránh thai có thể tiếp cận được, với giá cả hợp lý và hiệu quả chưa đáp ứng được như cầu Tuy nhiên, các con số thống
kê đáng tin cậy về tỷ lệ nạo phá thai là rất khó thu thập do sự nhạy cảm của vấn
đề này và một thực tế là các ca nạo thai tại cơ sở Y tế tư nhân không thu thập được để đưa vào con số thống kê chính thức [6]
Tổng số thanh thiếu niên nói có nạo hút thai ở điều tra SAVYI tương đối nhỏ: chỉ 54 trường hợp, trong đó, có 3 trường hợp chưa lập gia đình Một nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên tại 7 tỉnh năm
2003 cũng cho thấy một tỷ lệ thấp tương tự; ở đây những thanh thiếu niên chưa có chồng, nạo hút thai vẫn là vấn đề nhạy cảm nên số liệu có thể không được báo cáo đầy đủ; bên cạnh đó việc tiếp cận với các biện pháp tránh thai cũng được cải thiện làmcho tỷ lệ nạo hút thai cũng giảm nhiều trong khoảng những năm 2002
Nhận thức, kiến thức và nguồn thông tin về SKSS thì thanh thiếu niên được hỏi về 4 vấn đề SKSS và tình dục gồm: KHHGĐ, sự thụ thai và kinh
Trang 17nguyệt, giới tính - tình dục, tình yêu và hôn nhân gia đình Trung bình, thanh thiếu niên đã từng nghe về 3,4 chủ đề, 95,5% đã nghe ít nhất một chủ đề, số chủ đề mà thanh thiếu niên được nghe tăng dần theo tuổi, từ 3,2 chủ đề ở nhóm tuổi 14-17 tuổi lên đến 3,5 chủ đề ở nhóm tuổi 18-21 Tuy nhiên nhận thức về một vấn đề nào đó (ở đây được hiểu là có nghe nói về vấn đề đó) chưa chắc đã nói lên kiến thức và hiểu biết đúng trong lĩnh vực đó Kết quả của SAVYI cho thấy tỷ lệ đã nghe nói về KHHGĐ và thai nghén/chu kỳ kinh nguyệt khá cao, nhưng khi hỏi về kiến thức thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt chỉ có dưới 30% trả lời đúng Thông tin đại chúng là nguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất cho thanh thiếu niên về SKSS; tỷ lệ thanh thiếu niên có được thông tin từ những cán bộ chuyên môn xếp thứ 2 (80,2%) bao gồm giáo viên, nhân viên y tế, cộng tác viên dân số
Nhận thức và kiến thức về sức khỏe sinh sản – các bệnh lây truyền qua đường tình dục thì trung bình mỗi thanh thiếu niên biết là 3/9 loại bệnh; mức độ nhận thức về các bệnh khác nhau và nhận thức về các bệnh LTQĐTD có
vẻ thấp hơn nhận thức về các chủ đề SKSS bao gồm cả HIV/AIDS
Vì vậy, cần đặc biệt chú trọng đầu tư giáo dục sức khỏe ở các trường học, sao cho 15 triệu học sinh trở thành những thành viên tích cực tham gia vào mặt trận bảo vệ sức khỏe nhân dân Ngành Giáo dục đưa nội dung giáo dục sức khỏe vào chương trình chính khóa của các nhà trường phổ thông, giáo dục học sinh về nếp sống văn minh, nếp sống vệ sinh, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động giữ gìn sức khỏe cho bản thân và gia đình [20], trong đó có nội dung về chăm sóc SKSS
Bắc Giang là một tỉnh miền núi với diện tích là 3.828 km2
[10], dân số theo Tổng điều tra dân số tháng 4 năm 2009 là 1.555.720 người [1], là tỉnh đông dân đứng vào hàng thứ 9 của cả nước; tổng số trẻ em toàn tỉnh trên 400.000 em, trong đó số trẻ đang đi học trung học phổ thông (THPT) là 56.306, chiếm tỷ lệ
Trang 183,62% tổng dân số của tỉnh [45] Công tác giáo dục đào tạo đã đạt được những
thành tựu đáng kể: trình độ đạt chuẩn của các trường tăng hàng năm, tỷ lệ đỗ tốt
nghiệp THPT năm học 2009-2010 đạt 97,8%, xếp thứ 16 toàn quốc, ngành Giáo
dục và đào tạo của tỉnh luôn dẫn đầu trong phong trào thi đua 14 tỉnh miền núi
phía Bắc [44] Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được
tăng cường và có nhiều tiến bộ Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức
khỏe nhân dân, chất lượng dân số, gia đình và trẻ em [25] trong đó có chăm sóc
sức khỏe cho VTN là nhiêm vụ mà Nghị quyết Đại hội đảng bộ tỉnh đề ra
Vấn đề nhu cầu sức khoẻ VTN, trong đó, có nhu cầu sức khoẻ tình dục trong cả nước nói chung và của tỉnh Bắc Giang nói riêng đã có nhiều yếu tố
nguy cơ, do thiếu hiểu biết những kiến thức cơ bản về sức khoẻ sinh sản và
những hạn chế về sự tiếp cận các dịch vụ SKSS, đã dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng ở tuổi VTN Theo báo cáo của Tỉnh đoàn thanh niên tỉnh Bắc
Giang (năm 2006) có khoảng 50% nam, nữ thanh niên, VTN chưa từng được
nghe nói về tâm sinh lý tuổi dâ ̣y thì cũng như những kiến thức cơ bản trong
chăm sóc sức khoẻ sinh sản, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, và tỷ lệ
nhiễm HIV/AIDS trong thanh thiếu niên tăng nhanh, trên 50% số người nhiễm
HIV ở độ tuổi dưới 30 [42] Cũng trong năm 2006 Bắc Giang đã có trường hợp
tuổi VTN có thai ngoài ý muốn, đi phá thai tại cơ sở y tế tư nhân dẫn đến sót
rau băng huyết và hậu quả là cắt tử cung Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của học sinh trung học phổ
thông đối với sức khoẻ sinh sản của Thành phố Bắc Giang, dựa trên những tâm
sinh lý của VTN, qua đó lựa chọn ra phương pháp giáo dục và tiếp cận các biện
pháp phòng tránh một cách có hiệu quả để giảm những hậu quả đáng tiếc xảy
ra đối với VTN; từng bước đưa hoạt động giáo dục, tư vấn, quản lý sức khoẻ
sinh sản cho VTN vào các nhà trường trong chương trình giáo dục thể chất và
các hoạt động ngoại khoá [41]
Trang 191.3 Thƣ ̣c tra ̣ng về kiến thƣ́c , thái độ và thực hành của vị thành niên về sƣ́c khỏe sinh sản
Mă ̣c dù chưa có nghiên cứu đầy đủ về các vấn đề SKSS ở nước ta thời gian qua, nhưng qua kết quả của một số nghiên cứu cụ thể ta có t hể phần nào nhâ ̣n diê ̣n những khía ca ̣nh của SKSS VTN ở Việt Nam Chẳng ha ̣n , mô ̣t nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi SKSS của nhóm VTN Hà Nội cho thấy: tỷ lệ VTN, thanh niên chưa kết hôn có QHTD nam chiếm khoảng 17,0% và nữ chiếm 2,6%; trong những người khảo sát có 37% nam và 12,5% nữ chấp nhâ ̣n có thể có QHTD trước hôn nhân ; đa số VTN được hỏi cho rằng trinh tiết vẫn rất quan tro ̣ng nhưng không phải quan tro ̣ng như trước đây [6]
Nhận thức về các chủ đề SKSS thì tỷ lệ thanh thiếu niên đã nghe nói về các chủ đè này rất cao, chủ đề ít được nghe nói nhất cũng đạt 77,7% đó là chủ
đề về thai nghén và kinh nguyệt, chủ đề về Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) được nghe nói đến nhiều nhất với tỷ lệ 92,4%, không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ Tuy nhiên nhận thức về một vấn đề nào đó chưa chắc đã nói lên kiến thức và hiểu biết đúng trong lĩnh vực đó; kết quả của SAVYI cho thấy tỷ lệ đã nghe nói về KHHGĐ và thai nghén/chu kỳ kinh nguyệt khá cao, nhưng khi hỏi về kiến thức thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt chỉ
có dưới 30% trả lời đúng; thông tin đại chúng là nguồn cung cấp thông tin phổ biến nhất cho thanh thiếu niên về SKSS, sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn chỉ là 5% trong việc tiếp cận thông tin từ nguồn thông tin đại chúng (97% thành thị, 92% nông thôn); tỷ lệ thanh thiếu niên có được thông tin từ những cán bộ chuyên môn xếp thữ 2, bao gồm giáo viên (67,8%), nhân viên y tế (47,6%) và cộng tác viên dân số (42,3%) Điều này cho thấy giáo viên ở các nhà trường phổ thông có trao đổi một số thông tin về SKSS với học sinh; tuy nhiên các chương trình SKSS ở nhà trường có đầy đủ và toàn diện hay không; các phương tiện thông tin đại chúng có thể truyền đạt các thông điệp
Trang 20tới thanh thiếu niên, giáo viên nhà trường có thể làm tốt hơn trong việc hỗ trợ các em phát triển kỹ năng sống, vì kỹ năng không thể chuyển tải được qua các kênh truyền thông đại chúng
Hiểu biết của giới trẻ về mang thai và phòng tránh thai đã có nhiều cải thiện so với trước đây nhưng chưa được cải thiện một cách động bộ Tỷ lệ biết
về thời điểm có thể mang thai khi QHTD thấp hơn (chỉ có 13% trả lời đúng so với 17% của 5 năm trước đây) và kiến thức của nam thấp hơn của nữ [2]
Nhận thức và kiến thức của thanh thiếu niên về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (9 bệnh được hỏi) ngoài HIV thì trung bình mỗi thanh thiếu niên là 3; nhận thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục có vẻ thấp hơn nhận thức về chủ đề sức khỏe sinh sản Chỉ có 0,3% thanh thiếu niên cho biết
đã từng mắc STIs[6] Tỷ lệ này là nhỏ, và trong số những người đã mắc, phần lớn đi chữa trị tại các cơ sở y tế công, một số nhỏ tới phòng khám tư, một số tự mua thuốc về chữa và một vài người nói là không điều trị gì Một kết quả đáng khích lệ là 97% thanh thiếu niên được phỏng vấn cho biết có nghe nói về HIV/AIDS Mức độ nhận thức rất cao này chứng tỏ các chiến dịch truyền thông
về HIV/AIDS ở Việt Nam đã rất thành công trong việc tiếp cận đa số thanh thiếu niên và nâng cao nhận thức về HIV/AIDS đến các vùng của đất nước
Nhận thức và sử dụng các BPTT, hầu hết thanh thiếu niên (97%) đều biết ít nhất một BPTT và trung bình thanh thiếu niên biết đến 5,6/10 biện pháp Chỉ có 14% thanh thiếu niên được hỏi đã từng sử dụng BPTT, trong đó nhóm lập gia đình có tới 71,6% sử dụng so với nhóm chưa lập gia đình là 3,8% Lần đầu tiên QHTD có sử dụng BPTT chiếm tỷ lệ 2,1% ở nhóm chưa lập gia đình, chủ yếu là sử dụng BCS chiếm tỷ lệ 79,9%, sử dụng thuốc viên tránh thai là 6,1% Có lẽ do nữ chưa lập gia đình khó tiếp cận thuốc viên tránh thai do các thông điệp tuyên truyền về tình dục an toàn và HIV khiến cho thanh thiếu niên lựa chọn BCS để bảo vệ kép khỏi lây bệnh và tránh thai Có
Trang 21đến 98,5% biết rằng dùng BCS có thể phòng tránh thai, phòng HIV và các bệnh lây qua đường tình dục Trong QHTD của nữ VTN không sử dụng BPTT có thể do hoàn cảnh tình cờ, không nghĩ đến mang thai, không sẵn có BPTT, lười không sử dụng, sợ tác dụng phụ, dẫn đến có thai ngoài ý muốn của các em [15]
Về quan hệ tình dục số VTN có hoạt động tình dục ở độ tuổi 14-17 không nhiều (có 20/3.213 người nghiên cứu), nhưng ở nhóm tuổi trên 18 chưa lập gia đình chiếm tỷ lệ 9,6% trên tổng số người được điều tra Trong số thanh niên chưa lập gia đình có QHTD, phần lớn 71,9% trả lời có quan hệ tình dục lần đầu với người yêu, 10% với bạn và 9,1% với gái mại dâm Đa số người trả lời (85%) cho biết rằng mình chỉ có một bạn tình trong vòng 12 tháng qua [6]
Trong điều kiện hiện nay, có một thực tế đáng báo động là sự gia tăng
báo cáo tại Hội thảo "Vị thành niên - sức khỏe và phát triển" do tổ chức WHO và Viện Xã hội học tổ chức tại Hà Nội năm 2001 thì có tới 15% thanh niên Hà
Nô ̣i và 25% thanh niên thành phố Hồ Chí Minh có QHTD trước hôn nhân Cũng theo báo cáo này, hàng năm Việt Nam có khoảng từ 1 - 1,4 triê ̣u ca na ̣o phá thai và trong ước tính có khoảng 20-30% thuô ̣c nhóm VTN Theo báo cáo
"Nạo phá thai ở tuổi thanh niên ta ̣i Viê ̣n Bảo vê ̣ bà mẹ và trẻ sơ sinh” thì trong
6 tháng năm 2001 có 19,5% số nữ thanh niên đến na ̣o phá thai , trong đó VTN là 6% và số học sinh, sinh viên chiếm 17,29% tổng số người đến na ̣o phá thai
Nguyên nhân từ đâu số lượng các ca nạo phá thai tăng? và tác hại của nạo phá thai có thể gây thủng tử cung, nhiễm trùng…dẫn đến vô sinh, để lại nhiều di chứng, hậu quả xấu… Có rất nhiều nguyên nhân để dẫn tới việc làm ngoài ý muốn: ăn chơi sa đọa, bị lôi cuốn vào lối sống buông thả, bố mẹ ngại hoặc hạn chế khuyên ngăn con cái, ở nhà trường thì có cũng chỉ là hình
Trang 22thức…Nguyên nhân chủ đạo và là nguyên nhân chính đó là sự kém hiểu biết và mù thông tin về kiến thức và cách thức tránh thai ngoài ý muốn
Tuy được thực hiện cả trên diện rộng lẫn bề sâu, song hiện trạng chất lượng SKSS VTN về cơ bản vẫn còn thấp; các yếu tố có tính nguy cơ đối với sức khỏe nói chung và SKSS nói riêng của đối tượng này vẫn còn nhiều Theo điều tra của Trung tâm Nghiên cứu Dân số thuộc Đại học Y Thái Bình, hiện
có tới 20-30% số ca nạo phá thai tại các cơ sở y tế công lập là VTN; gần 1/10
số người nhiễm HIV/AIDS ở lứa tuổi 13-19; gần 39% phụ nữ làm mẹ trước
19 tuổi Kiến thức về SKSS của VTN cũng còn nhiều lỗ hổng: 42% nam và 51% nữ VTN chưa từng nghe nói về KHHGĐ; 85% không có hiểu biết đầy
đủ về BPTT phổ thông nhất là BCS Kết quả khảo sát trên diện hẹp tại một trường học ở Hội An cho thấy có hơn 12% số em được hỏi cho rằng "không thể mang thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên"; hơn 12% không biết tác hại của QHTD nếu không được bảo vệ Đáng lưu ý là, có tới gần 10% số em
"ngây thơ" cho rằng "quan hệ tình dục là một cách để thể hiện tình yêu"
Trên thực tế thì trong nhà trường việc giáo dục sức khoẻ giới tính mới chỉ mang tính hình thức chưa thật sự thấy tầm quan trọng của việc tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bạn học sinh khi còn đang ngồi trong ghế nhà trường Sự thiếu quan tâm một cách đúng đắn của gia đình và nhà trường
đã làm cho các em thiếu hiểu biết một cách đúng đắn và mắc phải những sai lầm đáng tiếc, đôi khi còn có những quan niệm như là làm thế như “ vẽ đường cho hươu chạy”, song việc vẽ đường cho hươu chạy đúng còn hơn là không đúng đường, vì vậy cần có cái nhìn đúng đắn và nghiêm túc về vấn đề này, học sinh hay có tính hiếu kỳ và tò mò những vấn đề người lớn càng lẩn tránh càng kích thích tính tò mò của các em…Vì vậy cần có việc làm cụ thể để giúp các em tránh được những sai lầm không đáng có
Trang 23Rõ ràng, chương trình chăm sóc SKSS VTN đã có những tiến bộ đáng
kể Tuy nhiên, các hoạt động hỗ trợ, can thiệp vẫn chưa thật đồng đều, nên chương trình chỉ mới tiếp cận được một bộ phận nhỏ VTN Còn trong mạng lưới y tế cơ sở, mặc dù VTN đã được xem là một đối tượng của Chiến lược chăm sóc SKSS, song hầu hết chưa xây dựng được mô hình cung cấp dịch vụ và tư vấn phù hợp Trong khi đó, rất nhiều những người làm cha làm mẹ vẫn còn xem chuyện bàn luận về SKSS là điều cấm kỵ đối với con mình và họ sẵn sàng ngăn cản sự tiếp cận của chúng đối với các tài liệu liên quan Vì những điều này, để Kế hoạch hành động về chăm sóc SKSS VTN được thực hiện thông suốt và đạt hiệu quả cao hơn, cần phải có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn của nhiều ban ngành và của toàn xã hội đặc biệt là trong các Nhà trường, góp phần đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội [24]
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, đi ̣a điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh THPT
2.1.2 Đi ̣a điểm nghiên cứu
Thành phố Bắc Giang có 32,21 km2
diện tích tự nhiên, với 126.810 nhân khẩu, và có 11 đơn vị hành chính trực thuộc là các phường, xã; là nơi Trung tâm văn hoá, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang, chịu nhiều tác động của nhiều lĩnh vực nhất là nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế Quốc tế Trong những tác động này ảnh hưởng nhiều đến học sinh của các trường nhất là các trường trung hoc phổ thông Vì vậy, chúng tôi chọn học sinh trường trung học phổ thông tại thành phố Bắc Giang để thực hiện nghiên cứu này
Thành phố Bắc Giang có 4 Trường trung học phổ thông Trong đó, có
01 trường trung học phổ thông Chuyên Bắc Giang; 01 trường trung học phổ thông Dân lập (Trường Nguyên Hồng); trường trung học phổ thông Ngô Sỹ Liên và Trường trung học phổ thông Thái Thuận Chúng tôi chọn chủ đích trường trung học phổ thông Ngô Sỹ Liên và Trường trung học phổ thông Thái Thuận với các lý do sau: hai trường có số lượng học sinh đông nhất; lực học của học sinh cũng tương đồng; trình độ chuyên môn của Giáo viên cũng ngang bằng nhau
Trang 252.1.2.1 Trươ ̀ ng trung học phổ thông Ngô Sỹ Liên
Trường trung h ọc phổ thông Ngô Sỹ Liên nằm ở Trung tâm thành phố Bắc Giang; Trong năm ho ̣c 2010-2011, nhà trường với tổng số 82 cán bộ, giáo viên, trong đó có 78 cán bộ có trình độ Đại học (chiếm 95,1%); Thạc sỹ là 13, cán bộ khác 4 (chiếm 4,9%) Trường có tổng số lớp là 37 với tổng số 1.723
học sinh
Trong đó: - Lớ p 10 có 12 lớp, tổng số 530 học sinh;
- Lớp 11 có 12 lớ p, tổng số 666 học sinh;
- Lớp 12 có 13 lớ p, tổng số 627 học sinh
Trường trung học phổ thông Ngô Sĩ Liên, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Trang 262.1.2.2 Trươ ̀ ng trung học phổ thông Thái Thuận
Trường trung học phổ thông Thái Thuận nằm ở phía Bắc thành phố Bắc Giang Trong năm học 2010-2011, nhà trường với tổng số 79 cán b ộ, giáo viên, trong đó có 77 cán bộ có trình độ Đại học (chiếm 97,5%) trong đó Thạc sỹ là 6, cán bộ khác 2 (chiếm 2,5%) Trường có tổng số lớp là 33 với tổng số
1563 học sinh
Trong đó: - Lớ p 10 có 12 lớp, tổng số 583 học sinh;
- Lớp 11 có 10 lớ p, tổng số 446 học sinh
- Lớp 12 có 11 lớ p, tổng số 534 học sinh
Trường trung học phổ thông Thái Thuận, TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Trang 272.1.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 08/2010 đến tháng 03/2011
2.2 Phương pha ́ p nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cư ́ u: mô tả và can thiệp có đối chứng
* Nghiên cứu mô tả: thiết kế nghiên cứu cắt ngang
* Nghiên cứu can thiệp: can thiệp trước sau có đối chứng theo sơ đồ sau:
Can thiê ̣p
Trươ ̀ ng THPT Thái Thuâ ̣n Số liê ̣u sau can thiê ̣p
(Số liệu trước can thiê ̣p)
(Số liệu trước)
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
* Cỡ mẫu của nghiên cứ u mô tả: đánh gi¸ thùc tr¹ng kiến thức, thái độ,
thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh 2 trường THPT thành phố Bắc
Giang Cì mÉu cho nghiªn cøu m« t¶ ®-îc tÝnh theo c«ng thøc [31] sau:
Trong đó:
n: cỡ mẫu điều tra
Z (1-α/2) : độ tin cậy đa ̣t ở ngưỡng xác suất 5%, với (Z (1-α/2) =1,96)
p: tỷ lệ ước tính học sinh PTTH có kiến thức tốt về SKSS là 58,5%(theo
nghiên cứu của Phạm Công Thu Hiền, Luận văn thạc sỹ, Hà Nội, năm 2009)
2 2 / 1
d
q p Z
n
Trang 28d: khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ của mẫu nghiên cứu và tỷ lệ thực (vớ i d=0,058)
Thay vào công thức tính đ ược n = 268 người; để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu chúng tôi tăng cỡ mẫu lên 10% là 295, làm tròn số là 300 người Như vậy tổng số học sinh của 2 trường cần điều tra là 600 người
* Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp , đơn vi ̣ mẫu là học sinh , n được tính theo công thức:
p1 q1 + p2q2
n = (Z 1-α/2 + Z 1- ß)2 [31]
(p1 – p2)2 Trong đó:
- Z 1-α/2 = 1,96
- Z 1- ß = 0,84 (lực mẫu thường được lựa chọn là 80%)
- p1: tỷ lệ ước tính học sinh PTTH có kiến thức tốt về chăm sóc SKSS là 58,5% (theo nghiên cứu của Phạm Công Thu Hiền, luận văn thạc sỹ, Hà Nội, năm 2009) [13]
- p2: Tỷ lệ mong muốn sau can thiệp học sinh PTTH có kiến thức tốt về chăm sóc SKSS là 75%
Thay số vào công thức tính được n = 224, để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu chúng tôi tăng cỡ mẫu lên 10% là 246, làm tròn số là 250 học sinh Để việc so sánh được chính xác, chúng tôi lấy n1 = n2 = 250 Vậy số học sinh cần lấy vào mẫu điều tra ở mỗi trường là 250 và 2 trường là 500
2.2.3 Kỹ thuật chọn mẫu: mẫu phân tầng
Căn cứ vào số lượng học sinh của cỡ mẫu nghiên cứu, chọn đối tượng
để thu thập số liệu theo từng khối và từng cỡ mẫu nghiên cứu:
- Đối với mẫu nghiên cứu mô tả: mỗi trường 300 học sinh và mỗi khối của từng trường là 100 học sinh
Trang 29Trường THPT Ngô Sỹ Liên: lập danh sách của học sinh các khối; khối 10
có 530 em, bắt đầu lấy từ số 5, khoảng cách mẫu là 5 và lấy đủ 100 em Khối 11
có 666 em, bắt đầu lấy từ số 6, khoảng cách mẫu là 6 và lấy đủ 100 em Khối 12
có 627 em, bắt đầu lấy từ số 6, khoảng cách mẫu là 6 và lấy đủ 100 em
Trường THPT Thái Thuận: lập danh sách của học sinh các khối; khối 10
có 583 em, bắt đầu lấy từ số 1, khoảng cách mẫu là 6, lấy thêm 2 em số 2 và
số 583, lấy đủ 100 em Khối 11 có 446 em, bắt đầu lấy từ số 4, khoảng cách mẫu là 4 và lấy đủ 100 em Khối 12 có 534 em, bắt đầu lấy từ số 5, khoảng cách mẫu là 5 và lấy đủ 100 em
- Đối với mẫu nghiên cứu can thiệp: để thuận lợi cho việc can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khoẻ chúng tôi chọn mẫu chùm, mỗi trường
250 học sinh và số lượng học sinh của mỗi khối như sau:
+ Khối 10 là 90 em, chọn ngẫu nhiên 3 lớp, mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 30 em + Khối 11 là 80 em, chọn ngẫu nhiên 2 lớp, mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 40 em + Khối 12 là 80 em, chọn ngẫu nhiên 2 lớp, mỗi lớp chọn ngẫu nhiên 40 em
2.2.4 Xây dựng biện pháp can thiê ̣p
* Mục tiêu truyền thông giáo dục sức khoẻ: nhằm chia sẻ những thông
tin, kiến thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng tạo cho học sinh có sự hiểu biết
về chăm sóc sức khoẻ đặc biệt là SKSS dẫn đến các thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành động đúng
* Nội dung truyền thông, giáo dục sức khoẻ:
+ Những thay đổi tâm sinh lý trong thời kỳ VTN;
+ Tình dục an toàn, tình dục lành mạnh;
+ Các biện pháp tránh thai cho VTN;
+ Mang thai ở tuổi VTN và tác hại của nó;
+ Phòng chống các BNKĐSS và BLTQĐTD bao gồm cả HIV/AIDS; + Dịch vụ chăm sóc SKSS VTN
Trang 30* Các bước tiến hành
+ Tập huấn cho các thành viên tham gia truyền thông giáo dục;
+ Các thành viên phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường tham gia tổ chức hoạt động truyền thông giáo dục theo tháng bằng truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp:
Truyền thông trực tiếp: Mỗi tháng 01 lần, mỗi lần 01 buổi/01lớp can thiệp (7 lớp)
Truyền thông gián tiếp: Phát tài liệu, tờ rơi về chăm sóc sức khoẻ sinh sản VTN
Các hoạt động của mô hình diễn ra trong 6 tháng
* Phương tiện truyền thông giáo dục dức khoẻ
- Bộ máy chiếu và máy vi tính để phục vụ cho truyền thông trược tiếp
- Tờ rơi về chăm sóc SKSS
- Tài tiệu nội dung truyền thông
* Kiểm tra gia ́ m sát : Hoạt động của nhóm nghiên cứu : Mỗi tháng
giám sát 01 lần để xem xét tiến đô ̣ thực hiê ̣n truyên thông và bổ sung những
vấn đề cần hỗ trợ cho công tác truyền thông giáo dục
2.3 Chỉ số nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Tỷ lệ phần trăm học sinh chia theo giới tính
- Tỷ lệ phần trăm học sinh chia theo độ tuổi
2.3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về sức khoẻ sinh sản của học sinh 2 trường THPT thành phố Bắc Giang
2.3.2.1 Dấu hiệu tuổi dậy thì và sức khỏe sinh sản
- Tỷ lệ phần trăm học sinh biết về dấu hiệu dâ ̣y thì
- Tỷ lệ phần trăm học sinh biết về thờ i điểm dễ thu ̣ thai
- Quan điểm của học sinh THPT về sức khoẻ sinh sản
- Tỷ lệ phần trăm các chủ đề về SKSS mà học sinh được nghe nói đến
Trang 31- Tỷ lệ phần trăm học sinh có bạn tình
- Tỷ lệ phần trăm học sinh có hành vi tình dục với bạn tình
2.3.2.2 Về tình dục an toàn và lành mạnh của học sinh 2 trường THPT
- Tỷ lệ học sinh được nghe nói về tình dục an toàn, lành mạnh
- Tỷ lệ phần trăm lý do học sinh chưa được nghe về tình dục an toàn và lành mạnh
- Tỷ lệ học sinh biết về nội dung tình du ̣c an toàn và lành mạnh
- Quan điểm của học sinh về tình dục an toàn và lành mạnh
- Tỷ lệ học sinh có quan hệ tình dục
- Tỷ lệ học sinh sử dụng BPTT trong quan hệ tình du ̣c
2.3.2.3 Về phòng tránh thai
- Tỷ lệ học sinh biết về các BPTT
- Tỷ lệ học sinh biết nơi cung cấp hoặc bán PTTT
- Quan điểm của học sinh về tư vấn và sử dụng BPTT
- Tỷ lệ học sinh đã đến nơi cung cấp dịch vụ tránh thai
- Địa điểm học sinh đã đến những nơi cung cấp dịch vụ tránh thai
2.3.2.4 Về nạo phá thai của học sinh 2 trường THPT
- Tỷ lệ học sinh cho rằng nạo phá thai là BPTT
- Tỷ lệ học sinh hiểu biết về tác hại của nạo phá thai
- Quan điểm của học sinh về có thai trước hôn nhân
- Tỷ lệ học sinh có thai sau quan hệ tình dục
2.3.2.5 Về bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Tỷ lệ học sinh được nghe nói về bệnh LTQĐTD
- Hiểu biết củ a học sinh về các bê ̣nh LTQĐTD
- Tỷ lệ học sinh hiểu biết về nguyên nhân mắc bệnh LTQĐTD
- Tỷ lệ học sinh hiểu biết về các đường lây nhiễm HIV
- Tỷ lệ học sinh có thái độ xử trí với người mắc bệnh LTQĐTD
- Quan điểm củ a học sinh về điều tri ̣ cho người bi ̣ bệnh LTQĐTD
Trang 32- Quan điểm của học sinh về người có thể bị nhiễm HIV
- Tỷ lệ học sinh biết địa điểm xét nghiệm HIV
- Tỷ lệ học sinh nhận thức về cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS
- Tỷ lệ học sinh có biểu hiện bệnh ở bộ phận sinh dục
- Tỷ lệ đi khám bệnh đường SD và nơi khám của học sinh
- Quan điểm của học sinh với người nhiễm HIV
2.3.3 Các yếu tố liên quan đến KAP
- Nguồn cung cấp thông tin về CSSKSS cho học sinh
- Tỷ lệ học sinh trả lời về số người trong lớp có quan hệ tình dục
- Quan điểm của học sinh nữ sau quan hệ tình dục có thai
2.3.4 Nhu cầu của học sinh về chăm sóc SKSS/KHHGĐ
- Nhu cầu của học sinh hiểu biết về chăm sóc SKSS
- Tỷ lệ học sinh hiểu biết về mục đích CSSKSS
- Tỷ lệ học sinh quan tâm đến các nội dung về CSSKSS
- Học sinh mong muốn đưa các nội dung về SKSS bằng các hình thức
- Tỷ lệ học sinh đến dịch vụ chăm sóc SKSS
- Quan điểm của học sinh về địa điểm thuận tiện nhận PTTT
2.3.5 So sánh kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học phổ thông trước và sau can thiê ̣p
- So sánh kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh 2 trường trung học phổ thông trước can thiệp
- So sánh kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh 2 trường trung học phổ thông sau can thiệp
- So sánh kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trường trung học phổ thông Thái Thuận trước và sau can thiệp
- So sánh kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trường trung học phổ thông Ngô Sỹ Liên trước và sau can thiệp
Trang 332.4 Khống chế sai số
Đây là một nghiên cứu rất nhạy cảm và tế nhị, do vậy để khống chế sai
số khi thu thập thông tin và số liệu, nhóm nghiên cứu đã khắc phục bằng cách: Lập mẫu phiếu điều tra tự điền cho đối tượng nghiên cứu; trong mẫu phiếu không ghi họ tên, không ghi tên lớp; thống nhất với Ban Giám hiệu, các giáo viên và học sinh về mọi thông tin trong mẫu phiếu điều tra được giữ
bí mật tuyệt đối, chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu và đề nghị các học sinh trong đối tượng nghiên cứu trả lời trung thực vào mẫu phiếu
2.5 Kỹ thuật thu thâ ̣p và công cụ nghiên cứu
2.5.1 Kỹ thuâ ̣t thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn tự điền; trước khi tiến hành điwnf phiếu, học sinh đã được các cán bộ hướng dẫn cách ghi phiếu, giải thích rõ mục đích của phỏng vấn chỉ dùng để nghiên cứu, không thông báo, không ghi tên học sinh trong phiếu điều tra và được giữ bí mật hoàn toàn Đề nghị học sinh điền phiếu với tinh thần tự nguyên, hợp tác, khách quan trả lời theo
sự hiểu biết của mình
Các thành viên tham gia nghiên cứu phát phiếu phỏng vấn theo mẫu của bộ câu hỏi được chuẩn bị sẵn (có phụ lục 1 kèm theo) đến các đối tượng nghiên cứ u là học sinh của 2 trường THPT đã được lựa chọn Học sinh tự trả lời và thu phiếu để thu thâ ̣p thông tin
2.5.2 Công cu ̣ nghiên cứu
Bộ phiếu phỏng vấn học sinh trong trường THPT theo thiết kế phiếu câu hỏi in sẵn cho đối tượng Phiếu được nhóm nghiên cứu xây dựng theo đúng quy trình và nội dung của Luận án
2.6 Kỹ thuật đa ́ nh giá kết quả
2.6.1 So sánh sự thay đổi về kiến thức , thái độ và thực hành về chăm sóc SKSS vị thành niên của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiê ̣p
Trang 342.6.2 Đánh giá kết quả can thiê ̣p dựa vào chỉ số hiê ̣u quả (CSHQ) được tính như sau:
1
2 1
P
P P
[11], [31]
Trong đó: p1 là tỷ lệ trước can thiệp
P2 là tỷ lệ sau can thiệp
2.7 Kỹ thuâ ̣t xƣ̉ lý số liê ̣u
- Toàn bộ các phiếu điều tra định lượng được làm sạch và nhập vào máy tính bởi phần mềm EpiData 3.04 Số liệu được xử lý trên phần mềm EPIINFO 6.04
- Thống kê mô tả, tần suất và tỷ lê ̣ phần trăm (%) được sử dụng để mô tả các các biến số nghiên cứu
- Test χ2 được sử dụng để so sánh kiến thức, thái độ và thực hành giữa các nhóm nghiên cứu và biểu đồ minh ho ̣a
2.8 Đa ̣o đƣ́c nghiên cƣ́u
Đây là mô ̣t nghiên cứu thử nghiê ̣m ta ̣i trường TH PT nhằm mục đích tìm ra một mô hình thích hợp trong chăm sóc SKSS VTN ; quá trình nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới nhà trường và ho ̣c sinh và được cô ̣ng đồng chấp nhâ ̣n vì nó mang ta ̣i lợi ích thiết thực cho cô ̣ng đồng
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được điều tra viên giải thích cụ thể về mu ̣c đích, nô ̣i dung nghiên cứu để tự nguyê ̣n tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích cụ thể
Các thông tin thu thập từ các đối tượng được đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối và chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu ; không ghi ho ̣ tên đối tượng vào phiếu nghiên cứu
Trang 352.9 Tổ chư ́ c nghiên cứu và lực lươ ̣ng tham gia
- Đội ngũ điều tra viên là những cá n bô ̣ của Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ sinh sản tỉnh Bắc Giang và Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Bắc Giang đã được tâ ̣p huấn kỹ và thống nhất v ề các nội dung và phương pháp trước khi điều tra
- Tổ chứ c điều tra trong 02 đợt:
+ Đợt 1: tổ chứ c điều tra trước khi có can thiê ̣p
+ Đợt 2: tổ chứ c điều tra sau khi can thiê ̣p
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Tỷ lệ phần trăm học sinh chia theo giới
Địa điểm
Giới tính
Trường THPT Ngô Sỹ Liên
Trường THPT Thái Thuận Chung 2 trường
Bảng 3.2 Tỷ lệ phần trăm học sinh chia theo độ tuổi
Địa điểm
Độ tuổi
Trường THPT Ngô Sỹ Liên
Trường THPT Thái Thuận Chung 2 trường
Trang 373.2 Thực trạng kiến thư ́ c, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh 2 trường THPT thành phố Bắc Giang
3.2.1 Dấu hiệu tuổi dậy thì và sức khỏe sinh sản
Bảng 3.3 Tỷ lệ phần trăm học sinh biết về dấu hiê ̣u dâ ̣y thì (n = 600)
Nhận xét: Tỷ lệ học sinh của 2 trường THPT hiểu biết về dấu hiệu dậy thì cao nhất là dấu hiệu tăng nhanh về chiều cao và cân nă ̣ng chiếm 81,8%, thấp nhất là dấu hiệu xuất tinh khi mê ngủ ở nam giới chiếm 29,8%; vẫn còn tỷ lệ 10,2% học sinh không biết về các dấu hiệu tuổi dậy thì
Kết quả
Dấu hiê ̣u dậy thì
Hiểu biết về các dấu hiệu dậy thì Số lượng Tỷ lệ % Tăng nhanh về chiều cao và cân nă ̣ng 491 81,8
Bắt đầu có kinh nguyê ̣t ở nữ giới 330 55,0
Trang 38Bảng 3.4 Tỷ lệ phần trăm học sinh biết về thời điểm dễ thu ̣ thai
Nhận xét: Tỷ lệ học sinh hiểu biết đúng về thời điểm dễ thụ thai chiếm tỷ lệ không cao (37,8%) Đặc biệt, có đến 38,2% học sinh không biết về thời điểm dễ thụ thai
89,5% 54,3%
Thời điểm dễ thụ thai
Biết về thời điểm dễ thu ̣ thai Số lượng Tỷ lệ %
Trang 39Nhận xét: Tại biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ học sinh đồng tình với quan điểm không nên kết hôn ở tuổi dưới 18 chiếm tỷ lệ cao nhất 89,5%, sau đó đến quan điểm khi có thai cần đến cơ sở y tế để được tư vấn là 76,0% và có số ít học sinh 9,2% đồng tình VTN không nên tìm hiểu về SKSS
Bảng 3.5 Tỷ lệ phần trăm các chủ đề về sức khỏe sinh sản mà học sinh được nghe nói đến (n=600)
Nhận xét: Học sinh của 2 trường THPT được nghe nói đến nhiều nhất là chủ đề về tâm sinh lý tuổi VTN, chiếm tỷ lệ 63,5% Tỷ lệ học sinh được nghe nói đến dịch vụ chăm sóc SKSS VTN là thấp nhất chiếm 20,0%
Bảng 3.6 Tỷ lệ phần trăm học sinh có bạn tình (n=600)
Nhận xét: Phần lớn học sinh chưa có bạn tình (84,8%) Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh có bạn tình chiếm tỷ lệ đáng kể (15,1%)
Kết quả
Chủ đề về SKSS
Chủ đề SKSS HS được nghe Số lượng Tỷ lệ %
Các bệnh LTQĐTD bao gồm cả HIV/AIDS 336 56,0
Trang 40Bảng 3.7 Tỷ lệ phần trăm học sinh có hành vi tình dục với bạn tình (n=91)
Nhận xét: Trong 91 học sinh có bạn tình thì có tới 30 học sinh có QHTD (33%)
3.2.2 Về tình dục an toàn và lành mạnh của học sinh 2 trường THPT
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ học sinh đươ ̣c nghe nói về tình du ̣c an toàn, lành mạnh
Nhận xét: Khoảng một nửa học sinh được nghe nói đến tình dục an toàn và lành mạnh (49,8%) Tuy nhiên, vẫn còn khoảng một nửa học sinh không đựoc nghe hoặc không nhớ mình có được nghe hay không
Hành vi gần bạn tình của học sinh Số lượng Tỷ lệ %