Thực tế ở các cộng đồng người dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc tồn tại nhiều phong tục tập quán có lợi cho sức khỏe, bên cạnh đó cũng có nhiều phong tục tập quán có hại cho sức khỏe,
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh cúm là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm cho toàn xã hội, có thể bùng phát thành đại dịch Bệnh do virus cúm gây nên, dựa trên cơ sở căn nguyên gây bệnh mà người ta phân chia ra các type cúm:
A, B và C Virus type B và C thường là lành tính và chỉ gây các bệnh cảm cúm thông thường, nhưng virus cúm type A thường gây bệnh nặng và có thể phát triển thành dịch Trong lịch sử thế giới, các đại dịch cúm đã xẩy ra, thủ phạm là virus type A (H3N2, H5N1, H1N1…) Do sự thích nghi loài, một số phân type virus cúm A có thể gây bệnh cho gia cầm như H5N1, H7N7 Đặc biệt, virus cúm A H5N1 rất độc đối với loài gà Trong một số điều kiện nhất định, các virus cúm A thường gây bệnh cho gia cầm và cũng có thể gây bệnh cho người [1], [10] Lần đầu tiên vào năm 1918, người ta nhận thấy ở lợn mắc chứng bệnh mà triệu chứng giống như bệnh cúm ở người trong đại dịch cúm năm 1918 Do thương tổn biểu hiện giống nhau như vậy, nên bác sĩ Koen đã
gọi tên bệnh mới này cho lợn là “cúm lợn” Đến năm 1930, các nhà khoa học
mới phân lập được loại virus này trên lợn, sau đó được xác nhận thuộc dòng
H1N1 [15] Có thể sử dụng vác xin để phòng bệnh cúm A Tuy nhiên do nhiều
lý do, hiện nay ở Việt Nam chưa tiến hành tiêm vác xin phòng cúm rộng rãi
Trước đây bệnh cúm đã gây những đại dịch lớn, gây ra tử vong cho hàng triệu người Hiện nay, bệnh cúm đã và đang gây ra đại dịch trên toàn cầu, song mức độ bùng phát dịch không rõ rệt như trước Theo thông báo số
67 của Tổ chức Y tế thế giới, đến ngày 20/9/2009, toàn thế giới đã ghi nhận 318.925 trường hợp dương tính với cúm A H1N1, trong đó có 3.917 trường hợp tử vong, tại 191 quốc gia Tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tình hình dịch tiếp tục diễn biến phức tạp: Ấn Độ đã ghi nhận 277 trường hợp tử vong do cúm A H1N1; Nhật Bản 18; Hàn Quốc 11; Philippine 28; Singapore 18; Malaysia 77; Indonesia 10 Thái Lan 160 [19]
Trang 3Thời gian gần đây, ở Việt Nam số lượng bệnh nhân mắc bệnh cúm vẫn đang tăng nhanh, nhiều cơ quan, công sở và trường học đã phải đóng cửa Thống
kê của Bộ Y tế cho thấy, trong năm 2009 đã diễn ra 2 vụ dịch cúm do virus cúm type A H5N1 và virus cúm type A H1N1 gây ra Trong đợt dịch này, tính đến ngày 29/9/2009, Việt Nam đã ghi nhận 8.853 trường hợp dương tính với cúm A H1N1,
15 trường hợp tử vong Số bệnh nhân đã khỏi ra viện là 7.188, các trường hợp còn lại được cách ly, điều trị tại các bệnh viện, cơ sở điều trị, giám sát tại cộng đồng trong tình trạng sức khỏe ổn định [17], [18] Tại Thái Nguyên, tính đến ngày 20.08.2009 đã có 11 bệnh nhân dương tính với cúm A H1N1 [42] Trước tình hình bệnh nhân nhiễm cúm có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt do thời tiết chuyển mùa,
sự biến đổi các yếu tố vi khí hậu thất thường không theo quy luật nhất định Bộ Y
tế cảnh báo sắp tới sẽ là giai đoạn dịch cực kỳ phức tạp Các trường hợp mắc bệnh là do tiếp xúc với gia cầm bị bệnh hay tiếp xúc với lợn chết hay tiếp xúc với giọt nước bọt hay dịch mũi họng người bị bệnh, tiếp xúc đồ vật có dính dịch chứa virus đưa lên mũi, miệng Cúm A H5N1 có thể lây từ người sang người nên đã làm bệnh dịch lan rộng ra cộng đồng với nhiều nguy cơ trở thành đại dịch Vì vậy việc chủ động phát hiện dịch, nghiêm túc thực hiện yêu cầu phòng chống cúm tại địa phương là hết sức quan trọng Tuy nhiên tình hình dịch tễ bệnh cúm ở miền núi phía Bắc còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nhiều yếu tố kinh tế, văn hoá và xã hội, do vậy công tác phòng chống dịch tại mỗi cộng đồng, địa phương như Thái Nguyên còn gặp nhiều khó khăn [2], [3] Phong tục, tập quán sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún… làm ảnh hưởng đến việc phát hiện và khống chế, phòng chống dịch [5], [6], [7] Truyền thông để người dân có hành vi phòng cúm là chiến lược hàng đầu dự phòng cúm trên thế giới cũng như Việt Nam
Đồng Hỷ là một huyện phía bắc tỉnh Thái Nguyên, nơi có nhiều người dân tộc thiểu số với điều kiện kinh tế còn khó khăn, chăn nuôi gia súc, gia
Trang 4cầm nhỏ lẻ, nuôi thả rông năm 2008 đã xảy ra dịch cúm A H5N1 ở gia cầm [51], [52] Câu hỏi đặt ra là hành vi phòng cúm A (H5N1, H1N1) của người dân Thái Nguyên, đặc biệt là huyện Đồng Hỷ ra sao? Hành vi này đang chịu tác động bởi những yếu tố nào? Làm thế nào để cải thiện hành vi cho người dân?
Và liệu có các giải pháp cải thiện được hành vi phòng cúm cho người dân hay không? Huy động cộng đồng truyền thông phòng chống một số bệnh đã được nhiều nhà khoa học áp dụng có hiệu quả, đây sẽ là hướng đi của chúng tôi trong nghiên cứu này Chính vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm các mục tiêu sau:
1 Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người dân ở 2
xã Hòa Bình và Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên về phòng bệnh cúm A
2 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người dân trong phòng bệnh cúm A
3 Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng huy động cộng đồng truyền thông cải thiện hành vi phòng bệnh cúm A cho người dân ở xã Hòa Bình huyện Đồng
Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình dịch cúm hiện nay
1.1.1 Sơ lược về bệnh cúm
*Khái niệm: Bệnh cúm là bệnh của loài chim và động vật có vú do siêu
vi trùng dạng RNA thuộc họ Orthomyxoviridae Bệnh nhân mắc bệnh cúm thường bị sốt, đau đầu, rát họng, đau nhức khắp cơ thể, ho, mệt mỏi Cúm cũng có thể gây viêm phổi và có thể dẫn đến tử vong nhất là ở trẻ em và
người lớn tuổi sức đề kháng kém [11]
Bệnh cúm lây theo đường hô hấp, do tiếp xúc với gia cầm, lợn chết hoặc bị bệnh hoặc do tiếp xúc với giọt nước bọt hay dịch mũi họng người bị bệnh hay tiếp xúc đồ vật có dính dịch chứa virus đưa lên mũi, miệng [14]
*Căn nguyên gây bệnh: Căn nguyên gây bệnh cúm là do virus cúm gây
nên, có nhiều loại virus cúm Về mặt cấu trúc, virus cúm được chia làm ba nhóm A, B và C Virus nhóm B và C thường là lành tính và chỉ gây các bệnh cảm cúm thông thường Trong lịch sử các đại dịch cúm của thế giới, thủ phạm chỉ là virus cúm nhóm A Mỗi một đại dịch cúm xảy ra, các nhà khoa học cho rằng có vai trò biển đổi vật chủ, các virus cúm ở động vật như lợn và chim, vượt rào cản chủng loại lây sang người Virus cúm type A có khả năng lây nhiễm cao trên cả người, chim, lợn, ngựa, hải cẩu, cá voi và nhiều động vật khác, trong đó các loài chim hoang dại là vật chủ chính của các virus này Cúm type A được phân lọai thành nhiều type phụ dựa trên cơ sở của 2 protein
có mặt ở lớp vỏ của virus Những protein này được gọi là hemagglutinin (H)
và neuraminidase (N) Tên của các phân type virus cúm A như H3N2, H5N1,
H1N1 bao hàm ý nghĩa đặc thù cấu trúc kháng nguyên vỏ ngoài virus Chữ H (chất ngưng kết hồng cầu) và N (enzim tan nhầy) là ký hiệu của 2 kháng nguyên gây nhiễm trên vỏ của hạt virus cúm A, giúp virus gắn vào thành tế
Trang 6bào và sau đó đột nhập vào tế bào hô hấp Chữ số 1, 2, 3, 5 là chỉ số thứ tự của kháng nguyên H và N đã biến đổi Hiện có 15 dạng H và 9 dạng N khác nhau Sự kết hợp đa dạng giữa các protein nói trên là điều hoàn toàn có thể
xảy ra [1], [16]
Lần đầu tiên vào năm 1918, người ta nhận thấy ở lợn mắc chứng bệnh
mà triệu chứng giống như bệnh cúm ở người trong đại dịch cúm năm 1918
Do thương tổn thể hiện giống nhau như thế, nên bác sĩ Koen đã gọi tên bệnh
mới này cho lợn là “cúm” Tuy nhiên mãi cho đến năm 1930, các nhà khoa
học mới phân lập được loại virus này trên lợn, được xác nhận là dòng H1N1 Đến năm 1974, các nhà khoa học mới phân lập được virus cúm của lợn ở người, ca bệnh đầu tiên ở Fort Dix, tiểu bang New Jersey, Mỹ Sau đó các xét nghiệm huyết thanh học ở người cũng cho thấy sự hiện diện của virus cúm lợn, từ đó một đầu mối nghi ngờ có thể đường lây là từ lợn, các virus gây bệnh ở lợn vượt hàng rào chủng loại, truyền bệnh sang cho người Các điều tra dịch tễ học trên diện rộng về sau cho thấy rằng mức độ vụ dịch lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào lượng kháng thể chống virus cúm lợn ở người cao hay thấp Ngoài ra, người ta cũng thấy có một mối liên quan giữa quy mô nuôi lợn với
tỷ lệ bệnh cúm trong vùng đó, và vì thế mà các nhà khoa học suy luận rằng chính virus cúm ở lợn là nguồn lây bệnh dịch cho con người [15]
*Cơ chế lây truyền của bệnh cúm
Lây truyền qua tiếp xúc: Lây truyền qua tiếp xúc xảy ra do sự tiếp xúc
trực tiếp hoặc gián tiếp giữa mô/tổ chức của cơ thể (gồm cả da và niêm mạc) với da/niêm mạc hoặc các phương tiện vật liệu bị ô nhiễm Đây là đường lây truyền chủ yếu nhất làm lan truyền vi rút cúm từ người bệnh này qua người bệnh khác hay từ nhân viên y tế sang người bệnh và ngược lại Tác nhân thường lây truyền qua đường này gồm những vi sinh vật đa kháng, các nhiễm trùng da và đường ruột như MRSA, Herpes Simplex, chốc, ghẻ, chấy rận, đậu mùa, zona, nhiễm cúm kể cả H5N1, SARS [1]
Trang 7Lây truyền qua giọt bắn: Lây truyền qua giọt bắn xảy ra do hít phải
những giọt phân tử hô hấp chứa các vi sinh vật gây bệnh có kích thước ≥5m tạo ra khi ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc khi thực hiện một số thủ thuật như hút rửa, nội soi khí/phế quản Lây truyền qua giọt bắn cần sự tiếp xúc gần giữa người bệnh đường hô hấp và người nhận bởi vì những giọt bắn chứa vi sinh vật thường chỉ di chuyển một khoảng ngắn trong không khí (< 1 mét) và đi vào kết mạc mắt, niêm mạc mũi, miệng của người kế cận Các tác nhân gây bệnh thường gặp lây theo đường này gồm các vi sinh vật gây viêm phổi, ho
gà, bạch hầu, cúm kể cả H5N1, SARS, quai bị, [16]
Lây truyền qua đường không khí: Lây truyền qua đường không khí xảy
ra do hít phải những giọt hô hấp trong không khí chứa tác nhân nhiễm khuẩn
có kích thước nhỏ hơn <5m phát sinh khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc khi thực hiện một số thủ thuật như hút rửa, nội soi khí/phế quản Vi sinh vật lan truyền theo đường này có thể phân tán rộng, lơ lửng trong không khí trong một thời gian dài Vì thế, bệnh lây truyền theo con đường này có thể làm lây nhiễm sang người khác trong cùng một phòng hoặc xa hơn, trong cùng một khoa hoặc toàn bệnh viện Những vi sinh vật truyền bằng đường khí thường gặp gồm lao phổi, rubella, thủy đậu H5N1 và SARS cũng có thể lây qua đường này khi thực hiện các thủ thuật có tạo khí dung Việc khử khuẩn không khí và kiểm soát thông khí buồng bệnh là cần thiết để ngăn ngừa sự truyền bệnh [16]
* Triệu chứng: Sau khi bị nhiễm virus, người bệnh bị sốt, thường sốt
cao (sốt trên 380C), sốt kéo dài từ 3 – 4 ngày Bệnh nhân bị nhức đầu, nhức đầu mức độ nhẹ và vừa Bệnh nhân thấy người mệt mỏi, kiệt sức hoặc cảm giác yếu không làm được gì, triệu chứng này thường gặp và đôi khi nặng, có thể kéo dài 2 – 3 tuần Bệnh nhân bị nghẹt mũi, đau họng, ho (viêm long đường hô hấp trên) và đau ngực (thường gặp và đôi khi nặng) Ngoài ra bệnh
Trang 8nhân còn có thể bị đau cơ, tiêu chảy, suy đa tạng Và bệnh có thể gây biến chứng viêm phế quản, viêm phổi và những trường hợp nặng có thể tử vong nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời [14], [45]
1.1.2 Tình hình dịch cúm trên thế giới
Trong ba thế kỷ qua, cứ khoảng 30 đến 40 năm, thế giới lại chứng kiến một đại dịch cúm Trước khi có vác xin, mỗi đợt dịch giết chết hàng triệu người [11]
Hippocrates (460-370 B.C.), thầy thuốc Hy Lạp cổ đại, ông tổ nghề y, trong ghi chép của mình đôi khi nhắc đến các triệu chứng như cúm Tuy vậy cho đến năm 1580, chưa từng có dịch cúm nào được ghi nhận trên thế giới Thời vua Phillip II ở Tây Ban Nha mới xuất hiện dịch cúm Các nhà khoa học cho rằng chính đội quân của vua Phillip đó làm lây lan loại virus chết người này sang những phần khác của châu Âu Thế kỷ 18, thế giới chứng kiến ba đại dịch cúm và hai đại dịch khác Mặc dù các bác sĩ thời đó làm việc hết sức bên các bệnh nhân nhưng họ không hiểu được bản chất của virus cúm Một số người cũng cho rằng bệnh lây qua quan hệ tình dục Các dịch cúm vẫn tiếp diễn trong thế kỷ 19, khi các thành phố lớn dần lên và giao thông đường biển giúp cho việc đi lại được thuận tiện - đồng nghĩa với khả năng lây lan tăng hơn [1]
Dịch cúm năm 1837 nghiêm trọng đến mức ở Berlin, số người chết nhiều hơn số người được sinh ra, và ở Barcelona thì toàn bộ các hoạt động kinh doanh bị đình đốn [1]
Năm 1918 - 1919 chứng kiến đại dịch cúm nghiêm trọng nhất lịch sử thế giới, thậm chí cũng được cho là đại dịch kinh hoàng nhất trong các loại bệnh dịch Khoảng 50 triệu người chết (khi mà dân số mới có 1.9 tỷ người), trong đó riêng ở Tây Ban Nha có 8 triệu người chết, vì thế dịch cúm này mang tên cúm Tây Ban Nha (dịch này do virus cúm A H1N1 gây ra) [1]
Trang 9Năm 1957 - 1958 đánh dấu dịch cúm châu Á Nhờ các tiến bộ khoa học, dịch bệnh nhanh chóng được xác định, các biện pháp y tế cần thiết được triển khai, trong đó có việc sử dụng vac xin Tuy vậy số lượng người chết vì cúm vẫn ở mức 2 triệu Virus này gây tử vong chủ yếu ở trẻ sơ sinh và người già (Do virus phân type H3N2 gây ra)
Năm 1968 - 1969, dịch cúm Hông Kông giết chết 34.000 người, tập trung chủ yếu ở người già trên 65 tuổi (do virus phân type H3N2 gây ra) [65]
Năm 2003, cúm gia cầm được phát hiện ở Hàn Quốc Chính phủ ra lệnh tiêu hủy gần 1 triệu con gà và vịt Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), từ tháng 12/2003 đến 31/08/2009 có 440 người nhiễm cúm A
H5N1và trong đó có 262 trường hợp tử vong [55], [58]
Trong đợt đại dịch cúm A H1N1 năm 2009, theo WHO cho biết đến ngày 20/9/2009, toàn thế giới đã ghi nhận 318.925 trường hợp dương tính với cúm A H1N1, trong đó có 3.917 trường hợp tử vong, tại 191 quốc gia [19]
Tại khu vực nam bán cầu, một số nước ghi nhận số ca tử vong do cúm
A như Australia (178), Chi Lê (132), Argentina (538), Brazil (899), Peru (133) Tại khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tình hình dịch tiếp tục diễn biến phức tạp: Ấn Độ đã ghi nhận 277 trường hợp tử vong do cúm A (H1N1); Nhật Bản (tử vong: 18); Hàn Quốc (tử vong: 11); Philippine (tử vong: 28); Singapore (tử vong: 18); Malaysia (tử vong: 77); Indonesia (tử vong: 10) Thái Lan (tử vong: 160) [19]
1.1.3 Tình hình dịch cúm ở Việt Nam
Theo Bộ Y tế, tính từ 12/2003 đến ngày 31/08/2009 tại Việt Nam đã
có 111 trường hợp mắc cúm A H5N1 trong đó có 56 trường hợp tử vong [19]
Đối với dịch cúm A H1N1 chỉ riêng ngày 29/9/2009, Việt Nam đã ghi nhận thêm 248 trường hợp dương tính với cúm A H1N1 (khu vực phía Nam:
213 ca, khu vực miền Bắc: 20 ca, khu vực miền Trung: 09 ca, khu vực Tây
Trang 10Nguyên: 06 ca và 01 ca tử vong Như vậy, tính đến 17h00 ngày 29/9/2009, Việt Nam đã ghi nhận 8.853 trường hợp dương tính, 15 trường hợp tử vong
do virus cúm A H1N1 Số bệnh nhân đã khỏi ra viện là 7.188, các trường hợp còn lại hiện đang được cách ly, điều trị tại các bệnh viện, cơ sở điều trị, giám sát cộng đồng trong tình trạng sức khỏe ổn định [19]
Tuyên Quang bắt đầu xuất hiện cúm A từ 2008, ngành y tế nhanh chóng xây dựng kế hoạch phòng chống cúm A H5N1 từ gia cầm sang người [41]
Tại Việt Nam, theo thông báo của Bộ Y tế đại dịch cúm A (H5N1,
H1N1) đang phát triển mạnh, lan rộng ra các tỉnh thành và các vùng xa trung tâm, vùng sâu, vùng xa
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phòng chống bệnh cúm
1.2.1 Hành vi sức khỏe
1.2.1.1 Khái niệm hành vi sức khỏe
Hành vi sức khỏe là những hành động của con người mà những hành động này có liên quan đến sức khỏe Hành vi sức khỏe liên quan chặt chẽ đến truyền thông – giáo dục sức khỏe Sự tập trung của truyền thông - giáo dục sức khỏe là vào con người và vào các hành động nhằm loại bỏ hành vi có hại, thực hành hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe Truyền thông - giáo dục sức khỏe cũng là phương tiện nhằm phát triển ý thức con người, phát
Trang 11huy tính tự lực cánh sinh và giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng Truyền thông - giáo dục sức khỏe cơ bản không phải chỉ là cung cấp thông tin hay nói với mọi người những gì họ cần làm cho sức khỏe của họ mà
là quá trình cung cấp kiến thức, hướng dẫn thực hành, tạo điều kiện thuận lợi
về môi trường để tăng cường nhận thức, chuyển đổi thái độ về sức khỏe và thực hành hành vi sức khỏe lành mạnh Điều quan trọng là không nên coi truyền thông - giáo dục sức khỏe chỉ là việc cung cấp thông tin đơn thuần về
sức khỏe mà là một quá trình tác động dẫn đến thay đổi hành vi sức khỏe
Nâng cao sức khỏe và phòng bệnh luôn cần có một số thay đổi lối sống
và hành vi con người Mỗi hành vi là biểu hiện cụ thể của các yếu tố cấu thành nên nó, đó là kiến thức, thái độ, niềm tin và cách thực hành của con người trong một sự việc hay trong hoàn cảnh cụ thể nào đó
Lối sống là biểu hiện cụ thể của hành vi liên quan đến sức khỏe Lối sống muốn nói về tập hợp các hành vi tạo nên cách sống của con người bao gồm nhiều vấn đề như thói quen ăn uống, vệ sinh, kiểu quần áo, cuộc sống gia đình, nhà ở, sở thích, công việc Có những hành vi tồn tại từ lâu đời, được gọi là phong tục tập quán Phong tục tập quán và truyền thống là các hành vi được nhiều người cùng chia sẻ trong cộng đồng, được thực hiện trong thời gian dài, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Thực tế ở các cộng đồng người dân tộc thiểu số ở miền núi phía bắc tồn tại nhiều phong tục tập quán
có lợi cho sức khỏe, bên cạnh đó cũng có nhiều phong tục tập quán có hại cho sức khỏe, lạc hậu cần phải thay đổi, phải cần đến các hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe
Như vậy hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ của những người xung quanh và của cộng đồng Theo ảnh hưởng của hành vi, chúng ta thấy luôn luôn có hai loại hành vi sức khỏe, đó là các hành vi có lợi cho sức khỏe và các hành vi có hại cho sức khỏe
Những hành vi có lợi cho sức khỏe là các hành vi lành mạnh được người dân thực hành để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe Có rất nhiều hành vi lành mạnh có lợi cho sức khỏe như thực hiện tiêm chủng phòng
Trang 12bệnh, vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường, xây dựng và sử dụng các công trình vệ sinh, nuôi con bằng sữa mẹ, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, tập luyện thể dục thể thao, đi khám chữa bệnh sớm khi có các dấu hiệu của bệnh, rèn luyện phục hồi chức năng sau khi điều trị bệnh tật Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cán bộ y tế là khuyến khích động viên người dân thực hành các hành vi lành mạnh nhằm nâng cao sức khỏe
Những hành vi có hại cho sức khỏe là các hành vi không lành mạnh, tác động xấu đến sức khỏe, do một cá nhân, một nhóm người hay có thể cả một cộng đồng thực hành Một số hành vi có hại cho sức khỏe do cá nhân và cộng đồng thực hành đã lâu và trở thành thói quen, phong tục tập quán gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe Trên thực tế còn tồn tại nhiều hành vi có hại cho sức khỏe ở các cộng đồng khác nhau Có thể kể đến nhiều hành vi có hại cho sức khỏe như sử dụng phân tươi bón ruộng, ăn sống, tái, uống nước lã, hút thuốc
lá, nghiện rượu, quan hệ tình dục bừa bãi, nghiện hút, cúng bái khi bị đau ốm,
sử dụng thuốc không theo chỉ dẫ của thày thuốc, ăn kiêng không cần thiết
Để giúp người dân thay đổi các hành vi có hại cho sức khỏe, đòi hỏi cán bộ y
tế phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân tại sao người dân lại thực hành các hành vi này, từ đó có biện pháp thích hợp, kiên trì thực hiện TT-GDSK và giới thiệu các hành vi lành mạnh để người dân thực hành
Bên cạnh những hành vi có lợi và có hại cho sức khỏe, chúng ta còn thấy một số cá nhân hay cộng đồng thực hành các hành vi không có lợi và không
có hại cho sức khỏe Ví dụ một số bà mẹ đeo vòng bạc cho trẻ nhỏ, bôi nhọ nồi vào trán đứa trẻ khi di chuyển để tránh gió, tránh bệnh Hầu hết các gia đình thường có bàn thờ tổ tiên trong nhà để cúng bái mong tổ tiên phù hộ cho mọi người khoẻ mạnh, may mắn trong quá trình sống và phát triển với các loại hành vi trung gian này thì không cần phải tác động để loại bỏ mà đôi khi cần chú ý khai thác những khía cạnh có lợi của các hành vi này đối với sức khỏe, ví dụ như hướng dẫn các bà mẹ theo dõi độ chặt, lỏng của vòng cổ tay,
cổ chân của trẻ để đánh giá tình trạng tăng trưởng của trẻ Nhiệm vụ của TT - GDSK là giúp cho cá nhân và cộng đồng loại bỏ các hành vi có hại cho sức khỏe và thực hành các hành vi có lợi cho sức khỏe
Trang 131.2.1.2 Hành vi cá nhân gây lây truyền bệnh
Thói quen vệ sinh cá nhân như ăn chín uống sôi, chế biến thực phẩm an toàn, rửa tay xà phòng trước khi ăn vệ sinh môi trường làm việc, lao động, học tập, sinh hoạt chưa được thực hiện triệt để Tập quán sinh hoạt, vấn đề thức ăn đường phố còn rất phức tạp, khó kiểm soát, tập quán ăn uống tập trung (cỗ bàn, hội họp) rất phổ biến [22], [53]
Đối với một số thông tin cụ thể liên quan đến nguồn lây, triệu chứng của bệnh ở người, cách thức thông báo khi có gia cầm bị bệnh, cách nuôi gia cầm an toàn, các cách phòng bệnh cho gia cầm, các cách phòng bệnh cho bản thân thì số người dân có hiểu biết chính xác, đầy đủ chưa nhiều Phần đông dân cư (>60%) chưa nhận biết hết được các nguồn lây bệnh nhất là đối với các chất thải của gia cầm, đây có thể sẽ là yếu tố nguy cơ làm bùng phát dịch bệnh Tỷ lệ người biết thông báo thông tin về tình hình dịch tới đúng địa chỉ không cao, chỉ có >50% Và đáng chú ý là hiện nay ở hầu hết các tỉnh trong
cả nước, phần đông dân cư vẫn ngộ nhận cho rằng chỉ xuất hiện dịch cúm ở gia cầm đối với những gia cầm nuôi nhốt tập trung và sử dụng thức ăn công nghiệp còn với gà nuôi thả rông thì không bị bệnh [24], [25]
Bắt đầu từ năm 2003, khi dịch cúm gia cầm hoành hành, các trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn, vệ sinh chuồng trại, tiêm phòng đầy đủ thì gần như miễn dịch, còn gia cầm bị nhiễm cúm chủ yếu là các hộ chăn nuôi nhỏ, lẻ Chính phủ đã phải chi ra cả trăm tỉ đồng mỗi năm để hỗ trợ người chăn nuôi gia cầm, chưa kể hàng trăm tỉ đồng khác để chi cho việc nhập vác xin và các phương tiện tiêm phòng vác xin miễn phí cho nông dân chăn nuôi nhỏ lẻ Thế nhưng tỷ lệ tiêm phòng cho gia cầm còn thấp và tỷ lệ chủ hộ gia đình chăn nuôi thực hiện vệ sinh chuồng trại hàng ngày cũng còn rất thấp [26]
Điều kiện kinh tế thấp, ý thức người dân chưa cao nên việc thay đổi thói quen cá nhân, nghiêm túc khai báo khi có dịch và tiêu hủy theo yêu cầu của cán bộ y tế không đảm bảo Biện pháp tiêu hủy gia cầm bị chết không rõ
Trang 14nguyên nhân an toàn như chôn/đốt chỉ được khoảng 60 – 80% ở các hộ gia đình Ngoài ra người dân còn sử dụng các biện pháp khác như vứt đi không cho ai biết và đặc biệt nguy hiểm hơn là đem bán hoặc ăn Mặc dù đa số các
hộ gia đình cho rằng cần báo cáo chính quyền khi có gia cầm chết không rõ nguyên nhân tuy nhiên thực tế không có hộ gia đình nào làm như vậy khi gia cầm của mình ốm chết [32]
1.2.2 Yếu tố môi trường, xã hội ảnh hưởng đến việc lây truyền bệnh
Nguồn nước sạch chưa đảm bảo, nhất là tại các vùng nông thôn, vùng
xa Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước sạch ở nước ta vào năm 2002 khoảng 50% [23] Tỷ lệ hộ gia đình dùng nước được coi là sạch bao gồm giếng khoan và nước máy còn rất thấp (6,8% và 6,6%) Hơn một nửa (53,2%)
số hộ gia đình điều tra sử dụng nước giếng đào Ở vùng duyên hải miền Trung, hầu hết (99,5%) số hộ cũng dùng nguồn nước giếng đào cho ăn uống
Đa số (66,0%) các hộ gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long dùng nguồn nước
từ sông kênh rạch, tỷ lệ chung ở 7 vùng sinh thái được điều tra dùng nguồn nước sạch là 15,5% [4], [20]
Tỷ lệ hộ gia đình có công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn thấp Số hộ gia đình có hố xí được đánh giá là hợp vệ sinh gồm hố xí dội nước và 2 ngăn chiếm một tỷ lệ rất thấp (5,3% và 9,6%) Nơi có tỷ lệ loại hố xí này cao nhất ở đồng bằng sông Hồng (36,9% và 48%), thấp nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (7,0% và 2,4%) Loại hố xí thùng, một ngăn rất phổ biến ở các vùng với
tỷ lệ chung 40,6%, cao nhất ở vùng Bắc Trung Bộ (68,3%) và thấp nhất ở duyên hải miền Trung (13,0%) Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long loại hố xí thường gặp là cầu ao cá chiếm tỷ lệ 46,4% Có tới 1/5 tổng số hộ gia đình (19,2%) không có hố xí, tỷ lệ này cao nhất ở đồng bằng sông Cửu Long (42,9%), thấp nhất ở vùng Nam Bộ (2,8%) [4], [20]
Trang 151.2.3 Yếu tố hành vi chăn nuôi gia súc gia cầm
Đợt rét đậm, rét hại ở các tỉnh phía bắc năm 2008 đã gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi hơn 200 tỉ đồng với hàng chục ngàn con trâu bò bị chết vì rét, vì đói Theo Cục trưởng Cục Chăn nuôi: sự thiệt hại này đã cảnh tỉnh cho người nông dân về tập quán chăn nuôi gia xúc quảng canh, thả rông trâu bò,
gà lợn hàng bao nhiêu năm qua Dịch cúm gia cầm bùng phát lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối năm 2003 và kéo dài cho tới hiện nay Ngoài yếu tố khách quan là virus cúm A H5N1 trên gia cầm khó bị loại trừ hoàn toàn, còn có yếu
tố chủ quan chính là tập quán chăn nuôi gia cầm theo lối quảng canh [13]
Đa phần người dân miền núi chăn nuôi theo lối quảng canh, thả rông Một hộ gia đình có thể có chục con trâu nhưng họ đem vào trong núi thả và
cứ sau một khoảng thời gian 10 – 15 ngày sau thì mới vào trong núi kiểm tra
và xem đàn trâu của mình (Đài truyền hình Việt Nam phát đi phóng sự, trong
đó có cảnh một nông dân trả lời phỏng vấn, nói rằng nhà có nuôi 10 con trâu,
đã chết 3 con, số còn lại sống chết thế nào anh ta không biết, phải đi lên đồi, núi, nơi anh ta thả rông trâu bò để xác định lại)
Nuôi lợn cũng vậy, các gia đình thường nuôi lợn, chó theo cách thả rông, cho các gia súc này chạy xung quanh nhà tự tìm thức ăn, đào bới Bên cạnh đó việc vệ sinh môi trường thấp, tỷ lệ số hộ gia đình chưa có hố xí hợp
vệ sinh cao, đó là lý do làm lây lan các bệnh khác chứ không chỉ gây dịch bệnh cúm gia cầm và cúm lợn và gây khó khăn trong phòng chống dịch Đặc biệt đối với miền núi, chúng ta thường thấy phong tục chăn thả của họ theo
đúng mô hình: “gà chạy bộ, chó leo thang, lợn dũi đất” Ngoài ra, đối với
người dân tộc thiểu số, do thói quen và phong tục từ ngày xưa vì sợ thú rừng bắt mất gia súc gia cầm mà họ thường nuôi gia súc gia cầm ngay dưới gầm nhà sàn Việc này ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sống của chính họ
và dễ lan truyền các bệnh từ động vật sang cho người
Trang 16Chỉ số hành vi thực hành các biện pháp phòng bệnh trong chăn nuôi gia cầm của đồng bào các dân tộc thiểu số còn thấp Hầu hết các hộ gia đình hiện vẫn đang nuôi gà theo tập quán cũ và thói quen cố hữu như thả rông, nuôi trong chuồng ngay gần nhà Đặc biệt là ở các tỉnh miền Tây Nam bộ hiện vẫn đang tồn tại thói quen nuôi gia cầm theo đàn và thả chạy đồng từ tỉnh này qua tỉnh khác tìm kiếm thức ăn thậm chí còn chạy sang cả Căm-pu-chia Đây là một thói quen tiềm ẩn nguy cơ cao có thể dẫn đến sự bùng phát của dịch bệnh cúm A [19]
Đa phần các hộ chăn nuôi gia cầm có nuôi gà (80%), số lượng gà nuôi trung bình khoảng 15 – 16 con/hộ Hình thức chăn thả gia cầm tự do của các
hộ gia đình chăn nuôi tương đối phổ biến (40%), nếu các hộ gia đình tiếp tục nuôi thả gia cầm tự do thì đây sẽ là một khó khăn cho công tác phòng chống
và kiểm soát dịch cúm gia cầm [53]
1.2.4 Các hoạt động của hệ thống y tế ngăn ngừa dịch bệnh
Khi có dịch bệnh xảy ra thì luôn có sự quan tâm, chỉ đạo của Chính phủ đối với công tác phòng chống các dịch bệnh: Ngày 28/01/2004 Chính phủ thành lập Ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống cúm gia cầm do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn làm Trưởng ban và các thành viên còn lại của Ban chỉ đạo là lãnh đạo các ban ngành khác Ngày 21/02/2006, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban chỉ đạo phòng chống đại dịch cúm ở người, do Bộ trưởng Bộ Y tế làm Trưởng ban, các Thứ trưởng các Bộ, ngành
là thành viên của Ban chỉ đạo và sẽ bao gồm các Tiểu ban trực thuộc như Tiểu ban Giám sát phòng, chống dịch, Tiểu ban Điều trị, Tiểu ban Tuyên truyền và Tiểu ban Hậu cần [54]
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch phối hợp hoạt động của các Bộ, ngành trong việc phòng, chống đại dịch cúm ở người; tổ chức thực hiện và đôn đốc, kiểm tra các Bộ, ngành, địa phương thực hiện kế hoạch phòng, chống đại dịch cúm ở người Ban chỉ đạo sẽ làm việc theo chế độ kiêm
Trang 17nhiệm và có bộ phận thường trực đặt tại Bộ Y tế Các ban ngành khác sẽ thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm của riêng ngành mình Từ đó sẽ phân cấp thành lập các Ban chỉ đạo phòng chống cúm từ trung ương tới địa phương và trong các ngành nghề khác nhau Và việc thành lập, hoạt động của các ban chỉ đạo được triển khai nghiêm túc, hoạt động hiệu quả và được giám sát chặt chẽ bởi ban chỉ đạo phòng chống cúm cấp trên
Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức Nông lương LHQ (FAO) và Tổ chức Thú y thế giới (OIE) cho biết họ ủng hộ sáng kiến chống dịch của Việt Nam là: thành lập ban chỉ đạo phòng chống dịch cúm gia cầm liên ngành và khuyến khích các quan chức Chính phủ phối hợp chặt chẽ hơn với các chuyên gia của WHO, FAO, OIE trong các hoạt động điều tra và kiểm soát dịch [56]
Bên cạnh đó, Chính phủ luôn theo dõi sát sao tình hình dịch bệnh và có các quyết sách chỉ đạo các ban ngành kịp thời Trước tình hình dịch cúm A
H1N1 tại Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn lây lan trong cộng đồng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra công điện yêu cầu các Bộ, ngành chức năng, Chủ tịch UBND các cấp triển khai một số biện pháp cấp bách, nhằm hạn chế
sự lây lan của dịch bệnh, đặc biệt là hạn chế tối đa tử vong Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu cả hệ thống chính trị, các phương tiện thông tin đại chúng phải tuyên truyền rộng rãi các biện pháp phòng, chống để toàn dân tham gia chống dịch Như vậy luôn có sự phối hợp của tất cả các ban ngành từ trung ương tới địa phương trong công việc phòng chống dịch cúm A Điều này phát huy được tiềm lực mạnh mẽ của tất cả các ban ngành, các cấp chính quyền để thực hiện công tác phòng chống dịch [46]
Ngành Y tế chủ động và chuẩn bị cơ sở vật chất sẵn sàng ứng phó khi
có dịch Phối hợp tham mưu cho ban chỉ đạo để kịp thời dập được dịch khi dịch xảy ra, hạn chế tổn thất về người và của Trong những năm gần đây, các địa phương đều đã chú trọng tới việc triển khai rộng khắp trên địa bàn các
Trang 18hoạt động phòng chống cúm A H1N1 như: mở các lớp tập huấn cho nhân viên
y tế, đầu tư cơ sở vật chất, thuốc và trang thiết bị, tổ chức diễn tập, kiểm soát đàn gia cầm bị bệnh, xử lý các ổ dịch tuy nhiên khả năng ứng phó của các
cơ sở y tế còn nhiều bất cập do thiếu các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, thiếu trang thiết bị, thiếu thuốc, thiếu trang bị bảo hộ, thiếu nhân lực y tế và chính sách chế độ đãi ngộ chưa đồng bộ [39], [47]
Chỉ số hiểu biết của nhân viên y tế về những thông tin chung liên quan đến phòng chống cúm A H1N1 như nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, mức
độ nguy hiểm, đường lây, biện pháp phòng ngừa lây nhiễm trong bệnh viện và trong cộng đồng thường rất cao đạt tỷ lệ từ >80% đến >95% Tuy nhiên, đối với một số thông tin cụ thể liên quan đến chẩn đoán phát hiện sớm và xét nghiệm , tỷ lệ cán bộ y tế có hiểu biết chính xác chưa nhiều Điều này sẽ làm hạn chế khả năng phát hiện sớm cũng như xử lý kịp thời các ổ dịch cúm trong cộng đồng Trong các cơ sở điều trị, tỷ lệ nhân viên y tế nắm vững kiến thức
về chẩn đoán và điều trị theo hướng dẫn của Bộ Y tế rất cao từ >80% đến
>90% Hiểu biết của họ về các biện pháp phòng lây nhiễm trong bệnh viện cũng khá đầy đủ và toàn diện Đáng chú ý hiện đang có một khoảng cách rất lớn giữa nhận thức và thực hành của nhân viên y tế trong xử trí các trường hợp nghi nhiễm cũng như sử dụng các biện pháp phòng hộ tự bảo vệ trong khi làm việc Chỉ có >50% xếp bệnh nhân vào khu vực cách ly khi có dấu hiệu nghi ngờ; >44% chỉ định làm các xét nghiệm và >17% thông báo với cơ quan chức năng Có tới 97,8% cán bộ cho biết phải sử dụng các phương tiện phòng hộ khi tiếp xúc với bệnh nhân song trong thực tế chỉ có 2% đã sử dụng khẩu trang và găng tay khi khám bệnh cho bệnh nhân có dấu hiệu về đường
hô hấp Nguyên nhân của sự cách biệt này là do sự chủ quan của nhân viên y
tế, nhất là ở những vùng chưa có dịch, do thói quen, do thiếu ý thức dự phòng lây nhiễm, do thiếu hiểu biết về cách thức sử dụng (đối với quần áo, mặt nạ ), do thiếu phương tiện phòng hộ và do áp lực công việc không có đủ thời
Trang 19gian để thực hiện các biện pháp phòng hộ Hiểu biết của nhân viên y tế thuộc các cơ sở điều trị về phác đồ điều trị cúm A H1N1 còn chưa đầy đủ do chưa được hướng dẫn chi tiết cũng như chưa có nhiều trường hợp bệnh nhân trong thực tế để thực hành Kiến thức và kỹ năng vận hành các máy hỗ trợ điều trị (máy thở) còn nhiều bất cập [48]
Học vấn và mức sống là những yếu tố có ảnh hưởng rõ nét đối với nhận thức của người dân về phòng chống cúm A H1N1 Do vậy đối tượng đích cần tăng cường hoạt động truyền thông trong thời gian tới là nhóm người nghèo, nhóm có trình độ học vấn thấp, đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở khu vực Tây Nguyên và Tây Nam Bộ Có khoảng cách rất lớn giữa nhận thức và hành
vi an toàn trong phòng lây nhiễm cúm A H1N1 của người dân Tỷ lệ người dân
có hành vi an toàn trong phòng lây nhiễm cúm A H1N1 cho bản thân trong chế biến cũng như sử dụng sản phẩm gia cầm không cao Có tỷ lệ đáng kể người dân hiện vẫn mong muốn được tiếp nhận thông tin về sự nguy hiểm của dịch cúm như các triệu chứng của gia cầm bị bệnh và người bị bệnh, tình hình dịch trên thế giới và trong nước…Kênh truyền thông mà người dân ưa thích là truyền hình, đài phát thanh và loa truyền thanh, tuyên truyền trực tiếp Ngôn ngữ tuyên truyền theo mong đợi của người dân là: tiếng phổ thông trong phương tiện nghe/nhìn (57,6%), tiếng dân tộc (38,9%), chữ phổ thông trong ngôn ngữ viết (62,4%), chữ dân tộc (20,1%) [25]
Bộ Y tế chính thức khuyến cáo: Hiện nay, dịch cúm A H1N1 đã ghi nhận tại các khu vực nông thôn, vùng xa trung tâm thành phố và có trường hợp tử vong Do đó mọi người dân, kể các những khu vực xa trung tâm, vùng núi, vùng sâu, vùng xa nếu có biểu hiện cúm cần tư vấn y tế để được khám, chữa trị kịp thời
Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của người dân về phòng chống bệnh và tiến hành truyền thông cho người dân về bệnh cúm A là rất cần thiết
Trang 201.3 Các sáng kiến huy động cộng đồng truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu ở miền núi phía bắc
1.3.1 Mô hình xây dựng đội ngũ nhân viên sức khỏe cộng đồng tham gia truyền thông giáo dục sức khỏe thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu ở xã Quang Sơn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Mô hình này của Đàm Khải Hoàn và CS thực hiện từ 1993-1996 Các tác giả đã tiến hành xây dựng và thử nghiệm mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe với sự tham gia của cộng đồng phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá,
xã hội tại một xã điểm (xã Quang Sơn - Thái Nguyên) Kết quả của mô hình
đã xây dựng được Ban chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại xã Quang Sơn - Thái Nguyên từ năm 1993 đến năm 1996 Trong mô hình nhóm nghiên cứu đã xây dựng đội ngũ NVYTCĐ hoạt động như là mạng lưới chân rết của Trạm Y tế
xã Đội ngũ này đã góp phần tích cực vào việc CSSKBĐ ở Quang Sơn Sau 3 năm xây dựng mô hình và thử nghiệm ở xã Quang Sơn thấy tình hình hoạt động Y tế ở Quang Sơn chuyển biến rõ rệt Các tổ chức chính quyền, đoàn thể, nhân dân trong xã ủng hộ tích cực các hoạt động Y tế, trình độ người dân hiểu biết và có thái độ đúng đắn để bảo vệ sức khoẻ tăng lên Tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch tăng từ 21,% lên 48,99% Tỉ lệ người dân sử dụng
hố xí hợp vệ sinh tăng từ 14% lên 26,26% Tình trạng ô nhiễm trứng giun trên mặt đất đã giảm Tỉ lệ bệnh thông thường cũng giảm từ 16,04% xuống 7,96%, đặc biệt là bệnh tiêu chảy giảm từ 2,66% xuống còn 0,5% Công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ em được cải thiện, thực hiện chương trình nuôi con bằng sữa mẹ tốt hơn trước, tỉ lệ trẻ dưới 1 tuổi tiêm chủng đầy đủ tăng từ 68,75% lên 90,91% Thực hiện chương trình kế hoạch hoá gia đình, sinh đẻ
kế hoạch tương đối tốt, tỉ lệ phát triển dân số giảm từ 2,29% xuống còn 1,79% Qua mô hình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy được vai trò của cộng đồng ở đây là đội ngũ NVYTTB trong thực hiện CSSKBĐ [28]
Trang 211.3.2 Mô hình huy động giáo viên “cắm bản” truyền thông về vệ sinh môi trường và CSSKSS cho người dân ở các làng bản vùng sâu xã Văn Lăng huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Mô hình này của Đàm Khải Hoàn và CS thực hiện từ 2002 đến 2003
Các tác giả đã thực hiện mô hình huy động giáo viên "cắm bản" tham gia
Truyền thông - Giáo dục sức khoẻ sinh sản cho người dân vùng cao ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên trong một năm Việc lồng ghép các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình với các chương trình chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em theo cách tiếp cận về sức khoẻ sinh sản như tinh thần Hội nghị Cairo về Dân
số và Phát triển Đã đến lúc phải thực hiện sự lồng ghép này để phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực đồng thời tránh lãng phí và chồng chéo Thực tế sau thời gian thực hiện mô hình ở xã Văn Lăng cho thấy: Các giáo viên có thể vừa thực hiện công việc chính của mình là dạy học vừa có thể làm công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ Các giáo viên là thành viên của Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu của xã Họ đã tiến hành được nhiều buổi truyền thông bằng nhiều hình thức cho nhiều lượt người nghe rất hiệu quả Người dân đã thấy được các giáo viên là những người truyền thụ kiến thức cho họ rất tốt dễ thông cảm, dễ tiếp thu, dễ thực hiện Các giáo viên ở các bản làng vùng cao là những người ăn ở và sinh hoạt cùng dân Ngày nay đội ngũ này khá đông nếu chúng ta huy động được họ tham gia vào công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ thì sẽ tạo ra được một lực lượng rất mạnh hỗ trợ nhiều cho y tế thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn Mặt khác cùng với các giáo viên là các em học sinh đây là một đội ngũ rất đông đảo khi các em tham gia thì một mặt các em sẽ hiểu rõ được những kiến thức trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ giúp cho bản thân mình đồng thời cũng giúp cho gia đình và bản làng Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khi
có sự tác động của truyền thông tích cực thì kiến thức, thái độ, thực hành của
Trang 22người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã có chuyển biến tốt hơn Trong ba tiêu chí trên thì kiến thức tiến triển tốt hơn điều này cũng hợp lý vì thái độ và thực hành là những vấn đề đã có từ lâu đời có những vấn đề đã thành phong tục, thành thói quen vì vậy muốn thay đổi được phải có thời gian dài hơn Qua một năm nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm ở xã Văn Lăng, huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với nội dung huy động đội ngũ giáo viên “cắm
bản” tham gia vào truyền thông giáo dục sức khoẻ sinh sản các tác giả đã:
Xây dựng được mô hình giáo viên “cắm bản” truyền thông giáo dục sức khoẻ
sinh sản Mô hình này lồng ghép vào với Ban chăm sóc sức khoẻ ban đầu của
xã Để thực hiện được mô hình thì việc tuyển chọn các thầy cô giáo tham gia vào hoạt động này có những yêu cầu cụ thể như nhiệt tình, phải có thời gian
ở bản liên tục, phải biết nói tiếng địa phương và phải có uy tín với dân bản nơi mình dạy học Mô hình xây dựng quy chế chung cho tất cả các thầy cô giáo, đảm bảo vừa dạy học tốt lại vừa lồng ghép được truyền thông giáo dục sức khoẻ sinh sản và đảm bảo sự quản lý của Trạm y tế xã về mặt chuyên môn Kết quả bước đầu của mô hình sau một năm hoạt động tập trung vào truyền thông các nội dung làm mẹ an toàn và Dân số - Kế hoạch hoá gia đình kết quả có sự thay đổi về kiến thức, thái độ, thực hành như sau: Chăm sóc bà
mẹ trước sinh: Kiến thức mức độ khá của người dân Văn Lăng tăng được 20,39% còn Tân Long chỉ tăng được 3,6% Thái độ đạt khá của Văn Lăng tăng được 20,22% trong khi đó Tân Long chỉ tăng được 5,9% Thực hành khá
ở Văn Lăng và Tân Long đều mới tăng rất ít, chưa có ý nghĩa Chăm sóc bà
mẹ trong và sau sinh: Thực hành mức độ khá trong và sau sinh ở Văn Lăng tăng được 7,1% còn Tân Long chỉ tăng được 4,1% Về kế hoạch hoá gia đình Kiến thức mức độ khá ở Văn Lăng tăng được 24,5% còn Tân Long chỉ tăng được 2,5% Thái độ đạt khá ở Văn Lăng tăng được 8,5% còn Tân Long là 7,0% [29]
Trang 231.3.3 Mô hình huy động cộng đồng truyền thông cải thiện hành vi về vệ sinh môi trường ở các bản vùng xa xôi hẻo lánh xã vùng sâu Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Mô hình nghiên cứu của Đàm Khải Hoàn và CS thực hiện từ 2006 đến
2007 Các tác giả đã xây dựng mô hình huy động cộng đồng cải thiện hành vi
vệ sinh môi trường cho người dân ở xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả mô hình trong việc cải thiện hành vi vệ sinh môi trường cho người dân tộc thiểu số ở xã Cây Thị sau hai năm thực hiện Việc huy động cộng đồng tham gia truyền thông VSMT ở xã Cây Thị huyện Đồng
Hỷ tỉnh Thái Nguyên là một sáng kiến hưởng ứng chủ trương này của Đảng
và Nhà nước Cộng đồng đánh giá rất cao vai trò của công tác Truyền thông giáo dục sức khoẻ nói chung và VSMT nói riêng Đây cũng là một lẽ tất yếu bởi vì khi tuyên truyền, giáo dục được cho mọi người hiểu để họ thực hiện sẽ tốt hơn rất nhiều khi họ làm mà chưa được biết hoặc là biết chưa đầy đủ Mặt khác công tác VSMT liên quan đến tất cả mọi người và mọi gia đình trong xã hội vì vậy việc xã hội hoá công tác này là điều rất cần thiết Đồng thời để đạt được kết quả tốt thì phải hoạt động liên tục và trên một địa bàn vô cùng rộng lớn và phức tạp Vì vậy việc bố trí hoạt động lồng ghép công tác này với các chương trình khác trên cùng một địa bàn và trong cùng thời gian sẽ đem lại kết quả và lợi ích tốt hơn Các thành viên tham gia mô hình là những người cùng làm việc và sinh hoạt với dân Ngày nay đội ngũ này khá đông nếu chúng ta huy động được họ tham gia vào công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ thì sẽ tạo ra được một lực lượng rất mạnh hỗ trợ nhiều cho y tế thực hiện công tác CSSK nhân dân ở vùng sâu vùng xa vùng đặc biệt khó khăn nhất là vấn đề VSMT Các kết quả nghiên cứu nhóm nghiên cứu thấy rằng khi có sự tác động của truyền thông tích cực thì kiến thức, thái độ, thực hành của người dân đã có chuyển biến tốt hơn Cùng có các điều kiện tương tự như nhau và
Trang 24cũng có các thành viên, nhưng ở Hợp Tiến các thành viên Chính quyền và các ban ngành không được tập huấn và không được giao nhiệm vụ truyền thông giáo dục sức khoẻ về VSMT thì kết quả chuyển biến chậm hơn Trong các tiêu chí trên thì kiến thức tiến triển tốt hơn điều này cũng hợp lý vì thái độ và thực hành là những vấn đề đã có từ lâu đời có những vấn đề đã thành phong tục, thành thói quen vì vậy muốn thay đổi được phải có thời gian dài hơn Qua hơn 1 năm nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm ở xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên với nội dung huy động cộng đồng tham gia truyền thông vệ sinh môi trường cho người dân vùng đặc biệt khó khăn các tác giả rút ra kết luận sau: Xây dựng được mô hình: Huy động cộng đồng truyền thông vệ sinh môi trường, đó là các tổ chức ban ngành ở địa phương đều chia xẻ trách nhiệm với y tế trong việc cải thiện hành vi cho người dân về
vệ sinh môi trường, gắn việc thực hiện mô hình với nhiệm vụ của cá nhân, đơn vị…Mô hình nghiên cứu được lồng ghép vào với Ban chăm sóc sức khoẻ ban đầu của xã Để thực hiện mô hình cần thành lập Ban chỉ đạo xã, Ban này lồng ghép với Ban chăm sóc sức khoẻ ban đầu xã Khi huy động cộng đồng cần xây dựng chức năng, nhiệm vụ cụ thể vừa đảm bảo vừa làm việc tốt lại vừa lồng ghép được truyền thông giáo dục sức khoẻ vệ sinh môi trường và đảm bảo sự quản lý của trạm y tế xã về mặt chuyên môn Kết quả hoạt động của mô hình là sau hơn 1 năm hoạt động ở xã Cây Thị có sự thay đổi hành vi
vệ sinh môi trường như kiến thức tăng 63%, thái độ tăng 33,2% thực hành tăng 14,5% Hiệu quả can thiệp rõ nhất là kiến thức vệ sinh môi trường (323%), tiếp theo là thực hành (253%) và thái độ về vệ sinh môi trường (206%) Sau can thiệp ở xã Cây Thị có sự thay đổi rõ rệt nhất là sử dụng hố xí hợp vệ sinh (tăng 26,5% hộ gia đình), hiệu quả can thiệp là 217,22% [30]
Trang 251.3.4 Một số mô hình can thiệp cộng đồng khác
Để CSSK cho người dân, có rất nhiều mô hình, nhưng điển hình là một
- Mô hình chăm sóc sức khỏe người già ở một số xã vùng đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Văn Tiến dựa trên cơ sở tuyên truyền giáo dục sức khỏe và khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi đã nâng cao năng lực cho
đa số người cao tuổi để họ tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân theo hướng dự phòng [49] Các mô hình trên đã sử dụng giáo viên, nhân viên y tế thôn hoặc tình nguyện viên để truyền thông, hướng dẫn nhân dân tự chăm sóc sức khoẻ, tạo nên bức tranh đa dạng trong chăm sóc sức khoẻ và đã có nhiều đóng góp trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng
- Ngoài ra, còn có một số đề tài nghiên cứu của một số tác giả có thực hiện can thiệp về TT-GDSK với những nội dung cụ thể và đề cập đến mô hình hoạt động TT-GDSK như đề tài của Nguyễn Văn Hiến: “Nghiên cứu hoạt động GDSK tại một số xã của huyện Đồng Bằng Bắc bộ và thử nghiệm
mô hình can thiệp GDSK” [27]
Mặc dù TT-GDSK đã có nhiều đóng góp vào công cuộc chăm sóc và BVSK nhân dân nhưng trong tình hình hiện nay do có những biến động về kinh tế, văn hóa, xã hội và nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khỏe nên hoạt
Trang 26động TT-GDSK cần có những phương thức tiếp cận phù hợp Những thay đổi về mô hình bệnh tật với sự gia tăng của các bệnh không lây, tai nạn thương tích, ngộ độc thực phẩm vì thế cần có các nghiên cứu để tăng cường tính hiệu quả của các hoạt động TT-GDSK nhằm tích cực góp phần nâng cao sức khỏe thông qua thay đổi hành vi có hại, tạo nên thói quen có lợi cho sức khoẻ Bên cạnh vai trò tác động trực tiếp trong công tác dự phòng và điều trị bệnh tật, TT-GDSK cũng có vai trò gián tiếp hỗ trợ các
cá nhân và gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính cho y tế, tránh những lãng phí trong chi tiêu cho y tế thông qua tuyên truyền, vận động người dân tham gia mua bảo hiểm y tế
Như vậy, có thể thấy nhiều lĩnh vực trong CSSK hiện nay muốn thực hiện tốt thì cần đẩy mạnh hoạt động TT-GDSK Đáp ứng nhu cầu đó đòi hỏi phải tiến hành những nghiên cứu, nhằm giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ trong hệ thống TT-GDSK có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn
để thực hiện và quản lý hoạt động TT-GDSK ngày càng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng trong hoạt động CSSK cộng đồng
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
- Chủ hộ trong các hộ gia đình
- Cán bộ Trung tâm y tế huyện, trạm y tế xã, NVYTTB
- Lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đoàn thể ở xã và thôn xóm
- Một số tài liệu thứ cấp như báo cáo, sổ sách lưu trữ về phòng chống dịch cúm A ở các trạm y tế
2.2 Địa điểm
2.2.1 Huyện Đồng Hỷ
Phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, gồm 18 xã, địa bàn rộng, nhiều dân tộc anh em chung sống Người dân đi làm tại các huyện thành khác nhiều, ngoài ra bộ phận chủ yếu người dân trên địa bàn huyện làm nông nghiệp, tỷ lệ công trình vệ sinh đạt thấp (46%), tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh thấp (65%), còn tập quán sử dụng phân tươi bón ruộng [21] Nhiều gia đình nuôi gà và chăn nuôi gia súc thả rông, cũng còn nhiều hộ còn có tập quán nuôi gia súc, gia cầm ngay dưới gầm nhà sàn
2.2.2 Xã Hòa Bình
Hòa Bình là một xã miền núi thuộc huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên,
nằm cách trung tâm huyện 15km Diện tích của xã trải rộng 18,29km2 được chia thành 7 xóm và là nơi cư trú của 6 dân tộc anh em sinh sống Dân số của
xã là 2871 người, và có 663 hộ gia đình
- Về kinh tế: là một xã tương đối phát triển, thu nhập bình quân đầu người 375.000đ/tháng, tỷ lệ hộ đói nghèo trong xã là 9,2%
- Về văn hóa: tình hình dân trí được nâng cao, xã còn tỷ lệ 5% người
mù chữ, hầu hết các thôn có nhà văn hóa, có hệ thống loa truyền thanh, có phương tiện truyền thông
Trang 28- Về giáo dục: hệ thống trường học đầy đủ phòng học, xây dựng kiên
cố, đội ngũ giáo viên đã được chuẩn hóa
- Về giao thông: đi lại tương đối thuận tiện, đã có đường nhựa, đang hoàn thiện một số cầu đưa vào sử dụng
- Về y tế: đạt chuẩn quốc gia về y tế xã năm 2005; Trạm có 01 bác sỹ,
01 điều dưỡng viên trung học, 01 y sỹ, 1 dược sỹ trung học (07 y tế thôn bản)
Trạm y tế xã hoạt động lồng ghép với phòng khám đa khoa khu vực Hòa Bình
2.2.3 Xã Khe Mo
Xã Khe Mo là một xã miền núi của tỉnh Thái Nguyên Xã cách xa
Trung tâm huyện khoảng 10 km, phía đông giáp với xã Văn Hán, tây giáp với
xã Hoá Thượng, nam giáp với xã Linh Sơn, Bắc giáp với xã Quang Sơn Tổng diện tích khoảng 30 km2 với dân số 6.436 người có 1.478 hộ gia đình được chia ra làm 15 thôn xóm Xã có 8 dân tộc trong đó người Kinh là chủ yếu
Chọn 2 xã Hòa Bình, Khe Mo vào mẫu nghiên cứu với lý do là hai xã đều thuộc khu vực miền núi của huyện có nhiều đặc điểm tương đồng Kinh
tế, văn hóa, xã hội cả hai xã vào loại trung bình của huyện, tương tự như nhau Xã Hòa Bình được chọn làm xã can thiệp và xã Khe Mo làm xã chứng
2.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12 năm 2009 đến tháng
12 năm 2010
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp nghiên cứu mô tả và nghiên cứu can thiệp
2.4.2 Thiết kế nghiên cứu
- Mô tả theo thiết kế cắt ngang
- Can thiệp cộng đồng trước sau có đối chứng
Trang 29Trong nghiên cứu này chúng tôi kết hợp định lượng với định tính trong thu thập và đánh giá các số liệu, kết quả nghiên cứu
2.4.3 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu
2.4.3.1 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả
* Cỡ mẫu Cỡ mẫu mô tả được tính theo công thức:
2
2 ) 2 / 1 (
d
q p
n
Trong đó:
: Xác xuất sai lầm loại 1, chọn = 0,05 Z1 - /2 = 1,96
Lấy p = 0,5 (Tỷ lệ người dân có kiến thức tốt về cúm A, theo kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Minh Hạnh và cộng sự (2008) về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân thuộc một số vùng dân tộc thiểu số đối với cúm A
H5N1, Tỷ lệ người dân có kiến thức tốt là 50% [25]): từ đó ta có q = 1 – p = 0,5, d được chọn tương ứng sẽ là 0,05 Thay vào công thức ta tính được n =
385 Để tránh bỏ cuộc ước lượng là 4%, chúng tôi lấy tròn 400 hộ
Do vậy cỡ mẫu cuối cùng là: n = 400 hộ gia đình
* Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn huyện và xã : chủ đích Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 200 hộ Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Mỗi hộ gia đình: Chọn 1 người (chủ hộ)/ Đơn vị gọi chung là hộ
Bước 1 Lập danh sách toàn bộ số hộ trong mỗi xã
Bước 2 Xác định khoảng cách mẫu: k = Số hộ trong mỗi xã/200
Bước 3 Bốc thăm ngẫu nhiên trong khoảng cách mẫu để lấy hộ đầu tiên vào mẫu
Chọn các hộ tiếp theo có số thứ tự bắt đầu từ hộ đầu tiên được chọn, theo khoảng cách k, cứ cách (k) hộ ta lại lấy 1 hộ vào mẫu cho đến khi đủ 200
hộ mỗi xã là đủ (Tổng mẫu mô tả là 400 hộ)
Trang 302.4.3.2 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp
Mô hình nghiên cứu là can thiệp trước sau có đối chứng theo sơ đồ sau:
* Cỡ mẫu: Cỡ mẫu can thiệp được tính theo công thức:
Can thiệp cộng đồng và đánh giá chung về cải thiện hành vi dự phòng cúm A dựa theo công thức:
p2: Tỷ lệ người dân có kiến thức tốt mong muốn đạt được là 0,9
: Mức ý nghĩa thống kê, là xác suất của sai lầm loại I, ở đây là 0,1
: Xác suất của sai lầm loại II, ở đây lấy là: 0,1 Như vậy lực mẫu là 90%
z2 : Tra từ bảng ứng với giá trị được z = 8,6 > z2 = 73,96
Thay số vào công thức tính được n=194, để tăng tính đại diện lấy tròn
là 200 Để việc so sánh được chính xác, ta lấy n1= n2 = 200 Vậy số hộ cần lấy vào mẫu điều tra ở mỗi xã là 200, 2 xã sẽ là 400
Trang 31* Kỹ thuật chọn mẫu: Do cỡ mẫu mô tả và can thiệp tương tự như nhau
nên chúng tôi đã đồng thời chọn cho cả 2 mục đích
Nội dung can thiệp:
Tiến hành xây dựng mô hình can thiệp đó là huy động cộng đồng tham gia TT-GDSK cho người dân phòng cúm
- Xây dựng Ban chỉ đạo thực hiện mô hình ở xã Hòa Bình (xã can thiệp)
- Tập huấn cho các thành viên tham gia mô hình các vấn đề cơ bản về TT-GDSK phòng cúm và phương pháp hoạt động trong mô hình (Thời gian tập huấn là 2 ngày) Nội dung tập huấn đi sâu vào các nội dung sau:
- Vai trò các thành viên trong mô hình:
+ Nhân viên y tế bản, CTV dân số là người thực hiện chính tập trung vào TT-GDSK trực tiếp cho cộng đồng về dự phòng Cúm A
+ Giáo viên, học sinh, thanh niên là các thành viên tham gia hỗ trợ GDSK cho cộng đồng về dự phòng Cúm A thông qua kênh giáo viên, học sinh, thanh niên
+ Các tổ chức chính quyền, ban ngành, đoàn thể tham gia hỗ trợ GDSK cho cộng đồng về dự phòng Cúm A thông qua kênh chính quyền, ban ngành, đoàn thể
TT-+ Trưởng bản là người tạo điều kiện cho các thành viên làm việc
+ Trạm trưởng trạm y tế xã có trách nhiệm giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên
+ Chủ tịch xã là Trưởng Ban chỉ đạo điều hành chung
- Ban chỉ đạo mỗi tháng họp với các thành viên 1 lần để:
+ Xem xét tiến độ thực hiện mô hình
+ Bổ sung, cập nhật một số vấn đề về kiến thức cho các thành viên;
- Hoạt động của nhóm nghiên cứu: cứ 2 tháng tiến hành giám sát 1 lần
để xem xét tiến độ thực hiện và bổ sung những vấn đề chỉ đạo hỗ trợ thêm
- Các hoạt động can thiệp diễn ra liên tục trong 1 năm
Trang 322.4.4 Các nhóm chỉ số nghiên cứu
2.4.4.1 Chỉ số về tình hình kinh tế văn hoá xã hội của các hộ gia đình điều tra
- Giới, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hộ nghèo, không nghèo
- Số hộ gia đình có chuồng gia cầm gần nhà
- Số hộ gia đình có chuồng gia súc xa nhà
2.4.4.3 Định nghĩa, cách tính các chỉ số nghiên cứu
*Hộ nghèo: Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn
2006 - 2010: Chuẩn này được tính theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng khu vực cụ thể như sau:
- Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Như vậy các xã nghiên cứu ở huyện Đồng Hỷ thuộc khu vực nông thôn, chuẩn nghèo sẽ là hộ có thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng
* Chỉ số về trình độ học vấn
- Mù chữ là những người không biết đọc, không biết viết
- Biết đọc, biết viết là những người có học chưa hết 4/10 hoặc 5/12
- Tiểu học là những người đã học hết lớp 4/10 hoặc 5/12
Trang 33- Trung học cơ sở (THCS) là những người đã học hết lớp 7/10 hoặc lớp 9/12
- Phổ thông trung học (PTTH) là những người đã học hết lớp 10/10 hoặc lớp 12/12
* Chỉ số về vệ sinh môi trường:
- Nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh: Xa hố xí, nguồn ô nhiễm, nước bẩn không thấm vào, nước trong, không có màu khi nhìn bằng mắt thường, không mùi
vị Nguồn nước sạch bao gồm nước máy, nước giếng, bể chứa nước khe núi cao
- Hộ có giếng nước đủ tiêu chuẩn vệ sinh: Là hộ gia đình có giếng đủ tiêu chuẩn qui định của Bộ Y tế [9]: Giếng xây, cách nguồn ô nhiễm 10 mét; Sâu 5 mét; Bờ cao 70cm; Sân giếng rộng 1 mét; Thoát nước; Có cần vọt và cọc treo gầu
- Người dân được sử dụng nước sạch là những người dân trong các hộ gia đình có giếng đủ tiêu chuẩn vệ sinh
- Hộ có hố xí hợp vệ sinh: Là hộ gia đình có hố xí đảm bảo diệt trừ mầm bệnh, không để cho mầm bệnh phát tán ra ngoài môi trường xung quanh Những hố xí này không làm ô nhiễm đất, nước bề mặt, nước ngầm, không có mùi hôi thối, không có ruồi nhặng, không thu hút côn trùng và gia súc Nếu là hố xí hai ngăn: sạch, không hôi, khô, không có ruồi, ủ kín đủ hai tháng, có mái che, có cửa, có rãnh nước tiểu Nếu là hố xí thấm hay tự hoại: sạch, không hôi, đủ nước dội, không có ruồi Miền núi có loại hố xí chìm, xây dựng và sử dụng đúng quy cách cũng được coi là hố xí hợp vệ sinh [8]
2.4.4.4 Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về phòng dịch cúm A
- Đánh giá kiến thức của người dân về bệnh cúm A
+ Số người biết bệnh cúm là do vi rút gây ra
+ Số người biết bệnh cúm lây qua đường hô hấp
+ Số người biết nguồn lây cúm là từ gia cầm, lợn, người
Trang 34+ Số người biết biểu hiện bệnh cúm gia cầm, cúm lợn
+ Số người biết khi bị bệnh cúm cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất Trả lời đúng ≥ 6 điểm là kiến thức tốt; trả lời đúng <6 điểm là kiến thức chưa tốt
- Đánh giá thái độ của người dân về bệnh cúm A
+ Số người đồng ý là bệnh cúm gia cầm là bệnh rất nguy hiểm
+ Số người cho là cần thiết phải phòng bệnh cúm gia cầm
+ Số người đồng ý là bệnh cúm A là bệnh rất nguy hiểm
+ Số người cho là cần thiết phải phòng bệnh A
+ Số người đồng ý khi bị bệnh cúm cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất Trả lời đúng ≥ 6 điểm là thái độ tốt; trả lời đúng < 6 điểm câu là thái độ chưa tốt
- Đánh giá thực hành của người dân về bệnh cúm A:
+ Tiêu hủy gia cầm, lợn chết không rõ nguyên nhân khi có dịch
+ Không tiếp xúc, ăn thịt gia cầm, lợn chết hay bị bệnh
+ Tiêm phòng vác xin phòng cúm cho gia cầm, gia súc
+ Tích cực tẩy uế chuồng trại
+ Đeo khẩu trang và các phương tiện bảo hộ khi tiếp xúc với gia cầm, lợn ốm, chết
+ Vệ sinh nguồn nước
+ Thực hiện triệt để yêu cầu của cán bộ thú y cũng như y tế về phòng cúm Trả lời đúng ≥ 7 điểm là thực hành tốt; trả lời đúng < 7 điểm là thực hành chưa tốt
2.4.4.5 Đánh giá kết quả hoạt động truyền thông có sự tham gia của cộng đồng dựa vào các chỉ số:
- Số buổi truyền thông
- Số người tham dự
- Số truyền thông viên được tập huấn
Trang 35- Kết quả thay đổi KAP của người dân trong phòng cúm A sau can thiệp
2.4.5 Phương pháp điều tra
Điều tra viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp với đối tượng điều tra tại các hộ gia đình Kết quả được ghi chép vào phiếu in sẵn (phụ lục kèm theo)
sau đó chỉnh lý lại trước khi chế bản thành phiếu chính thức
- Đội ngũ điều tra viên và giám sát viên được tập huấn nội dung, kỹ năng điều tra, thống nhất trước khi tiến hành thực hiện
- Ghi chép đầy đủ thông tin trong phiếu
- Các số liệu được làm sạch ngay tại cộng đồng
- Các phiếu điều tra được các giám sát viên kiểm tra và xác nhận
2.4.8 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo các thuật toán thống kê trên phần mềm Stata 10.0 Đánh giá kết quả can thiệp dựa vào chỉ số hiệu quả (CSHQ) và hiệu quả can thiệp (HQCT):
Chỉ số hiệu quả được tính theo công thức sau đây:
p1 là tỷ lệ gặp trước can thiệp
p2 là tỷ lệ thu được hoặc dự kiến thu được sau can thiệp Hiệu quả can thiệp được tính như sau:
HQCT = CSHQ (nhóm can thiệp) - CSHQ (nhóm chứng)
Trang 362.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đây là một nghiên cứu tại cộng đồng nhằm mục đích tìm hiểu kiến thức, thái độ của người dân đối với dịch cúm, quá trình nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, mang lợi ích cho cộng đồng
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHẬN XÉT
3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo lứa tuổi và giới
Giới Nhóm tuổi
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp
Trang 38Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn
Kết quả nghiên cứu tại bảng 3.3 cho thấy sự phân bố đối tượng điều tra theo trình độ học vấn: Tỷ lệ đối tượng có trình độ học vấn cao nhất tập trung
từ tiểu học trở lên (Tiểu học: 36,5%, Trung học cơ sở: 45,0%)
Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo điều kiện sống
Trang 39Bảng 3.5 Tình hình phương tiện truyền thông tại các hộ gia đình
Biểu đồ 3.1 Các công trình vệ sinh tại các hộ gia đình
Trang 40Kết quả nghiên cứu tại biểu đồ 3.1 cho thấy tình hình sử dụng các công trình vệ sinh tại các hộ gia đình: Tỷ lệ hộ gia đình có nước sạch khá cao (94,0%); Tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh khá cao (77,0%), Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng gia cầm cách xa nhà (≥ 10m) khá cao (59,2%), Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng gia súc cách xa nhà (≥ 10m) khá cao (56,0%)
3.2 Kiến thức, thái độ và thực hành của người dân đối với bệnh cúm
gây ra
Số người biết bệnh cúm gia cầm lây qua đường hô hấp
Số người biết nguồn lây cúm gia cầm là từ gia cầm
Số người biết biểu hiện bệnh cúm gia cầm
Số người biết khi bị bệnh cúm gia cầm cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất
Số người có kiến thức tốt về phòng cúm gia cầm
Số người có kiến thức chưa tốt về phòng cúm gia cầm
Biểu đồ 3.2 Hiểu biết của người dân về bệnh cúm A H 5 N 1
Kết quả nghiên cứu tại biểu đồ 3.2 cho thấy hiểu biết của người dân về bệnh cúm A H5N1 tương đối khá: Tỷ lệ người dân biết nguồn lây cúm gia cầm là
từ gia cầm cao nhất (84,5%); Tỷ lệ người dân biết biểu hiện bệnh cúm gia cầm cũng khá cao (82,7%), Tỷ lệ người dân biết bệnh cúm gia cầm là do vi rút gây ra khá cao (74,8%) Tỷ lệ người dân có kiến thức tốt về phòng cúm gia cầm khá cao (83,8%)