TRẦN KHẮC QUYỀN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ KẾT QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG CẢI THIỆN HÀNH VI SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ THƯỜNG KIỆ
Trang 1TRẦN KHẮC QUYỀN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ KẾT QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG CẢI THIỆN HÀNH VI SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ THƯỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ YÊN BÁI NĂM 2010-2011
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2TRẦN KHẮC QUYỀN
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI VÀ KẾT QUẢ CỦA GIÁO DỤC TRUYỀN THÔNG CẢI THIỆN HÀNH VI SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÝ THƯỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ YÊN BÁI NĂM 2010-2011
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
Chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: CK 62 72 76 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC BSCKII Phạm Thị Quỳnh Hoa
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3đã cảm nhận được tinh thần hết lòng vì học viên của các thầy cô Ngoài việc truyền đạt kiến thức cho học viên, thầy cô còn truyền cho chúng tôi lòng say mê học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi vô cùng biết ơn cô Phạm Thị Quỳnh Hoa là cô giáo hướng dẫn đề tài đã hết sức tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn bạn đồng nghiệp, tập thể lớp chuyên khoa cấp II Yên Bái, bè bạn
đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoc tập
Xin cảm ơn Ban giám đốc và các đồng nghiệp tại Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe tỉnh Yên Bái; Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Lý Thường Kiệt, các em học sinh trường Cao đẳng Y tế Yên Bái,
đã nhiệt tình ủng hộ, đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình triển khai để tôi hoàn thành tốt luận văn
Sau cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và dành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quí báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Yên Bái tháng 12 năm 2011
Học viên
Trần Khắc Quyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Trần Khắc Quyền, bác sỹ đang công tác tại Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh Yên Bái, hiện đang là học viên lớp chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng tại Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng của tôi, tên đè tài: "Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và kết quả của giáo dục truyền thông cải thiện hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên tại trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Yên Bái năm 2010 -2011, là đề tài
do tôi tiến hành từ khi viết đề cương, quá trình điều tra trước can thiệp, quá trình chuẩn bị tài liệu, quá trình triển khai các hoạt động truyền thông, cho tới khi hoàn thành luận văn đều do tôi tiến hành, dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chân thực của đề tài do tôi tiến hành
Người viết cam đoan
Trần Khắc Quyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên 3
1.1 Một số khái niệm 3
1.1.1 Khái niệm vị thành niên 3
1.1.2 Khái niệm về kiến thức, thái độ, hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên 3
1.1.3 Các nội dung về chăm sóc sức khỏe sinh sản 6
1.2 Tình hình nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên 7
1.2.1 Tình hình sức khỏe sinh sản VTN trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên Việt Nam 13
1.2.3 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Yên Bái 19
1.2.4 Vấn đề cung cấp thông tin về SKSS cho VTN 21
1.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS VTN 22
1.3.1 Trên thế giới 22
1.3.2 Tại Việt Nam 22
1.3.3 Tại Yên Bái 23
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản VTN 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng: 24
Trang 62.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối với học sinh 24
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 24
2.2.1 Thời gian 24
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu: 25
2.3.1 Nghiên cứu định lượng 25
2.3.2 Nghiên cứu định tính 25
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.4.1 Nghiên cứu định lượng 26
2.4.2 Nghiên cứu định tính 26
2.5 Xây dựng biện pháp can thiệp 27
2.6 Các biến số nghiên cứu 27
2.5.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 28
2.5.2 Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu 28
2.5.3 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về SKSS của đối tượng nghiên cứu 28
2.7 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá 29
2.7.1 Đánh giá kiến thức về hôn nhân, tình dục, tránh thai, bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu 29
2.7.2 Đánh giá thái độ của đối tượng nghiên cứu về hành vi SKSS 30
2.7.3 Đánh giá hành vi của đối tượng nghiên cứu về tình dục và tránh thai 30
2.7.4 Đáng giá KAP về SKSS của đối tượng nghiên cứu 31
2.8 Xử lý và phân tích số liệu 31
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 31
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 32
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu, sai số 32
2.10.2 Biện pháp khắc phục 32
Trang 7Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học về đối tượng nghiên cứu 33
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33
3.1.2 Thông tin về gia đình 34
3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và đánh giá kết quả truyền thông can thiệp cải thiện hành vi SKSS VTN 35
3.2.1 Thay đổi về kiến thức của VTN về SKSS 35
3.2.2 Thay đổi về thái độ của VTN về CSSKSS 44
3.2.3 Thay đổi về hành vi của VTN trước và sau can thiệp 47
Chương 4: BÀN LUẬN 56
4.1 Thông tin chung của ĐTNC 56
4.2 Đánh giá kết quả truyền thông cải thiện kiến thức, thái độ, hành vi trong việc chăm sóc SKSS của VTN 57
4.2.1 Kiến thức về SKSS của VTN 57
4.2.2 Thái độ của VTN về các nội dung SKSS 67
4.2.3 Hành vi SKSS của VTN 69
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Câu lạc bộ Chăm sóc sức khoẻ sinh sản Chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thành niên Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên Dụng cụ tử cung
Đối tượng nghiên cứu Hội chứng suy giảm miễn dịch ở người
Kế hoạch hoá gia đình Lây truyền qua đường tình dục Quan hệ tình dục
Sức khoẻ sinh sản Sức khỏe sinh sản vị thành niên Trung học phổ thông
Thuốc uống tránh thai (United Nations Children’s Fund) Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (United Nations Population Fund) Quỹ dân số liên hiệp quốc
Sức khoẻ tình dục
Vị thành niên thanh niên
Uỷ ban quốc gia Phỏng vấn sâu
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Những thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33
Bảng 3.2: Tình trạng hôn nhân của bố mẹ vị thành niên 34
Bảng 3.3: Trình độ học vấn của bố mẹ VTN 34
Bảng 3.4: Nghề nghiệp của bố mẹ VTN 35
Bảng 3.5: Tỷ lệ vị thành niên biết các dấu hiệu dậy thì 35
Bảng 3.6: Tỷ lệ VTN biết giai đoạn dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh nguyệt 36
Bảng 3.7: Tỷ lệ VTN biết các biện pháp tránh thai 37
Bảng 3.8: Tỷ lệ VTN biết ảnh hưởng của nạo phá thai 38
Bảng 3.9: Tỷ lệ VTN biết tai biến của nạo phá thai 38
Bảng 3.10: Hiểu biết của VTN về bệnh LTQĐTD 39
Bảng 3.11: Tỷ lệ VTN biết lý do mắc bệnh LTQĐTD 40
Bảng 3.12: Tỷ lệ VTN biết các đường lây truyền HIV/AIDS 42
Bảng 3.13: Thái độ VTN về việc có người yêu ở tuổi VTN 44
Bảng 3.14: Thái độ của VTN trong việc sử dụng BPTT khi QHTD 45
Bảng 3.15: Thái độ VTN về giáo dục SKSS trong nhà trường 46
Bảng 3.16: Tỷ lệ vị thành niên bắt đầu có người yêu ở các độ tuổi 48
Bảng 3.17: Những hành vi thường làm khi vị thành niên đi chơi với người yêu 48
Bảng 3.18: Tỷ lệ VTN đã có quan hệ tình dục lần đầu 49
Bảng 3.19: Tỷ lệ VTN có quan hệ tình dục lần đầu theo tuổi 49
Bảng 3.20: Địa điểm VTN quan hệ tình dục lần đầu 49
Bảng 3.21: VTN sử dụng các BPTT trong quan hệ tình dục lần đầu 50
Bảng 3.22: Các BPTT VTN thường sử dụng trong QHTD lần đầu 50
Bảng 3.23: Lý do vị thành niên không sử dụng BPTT trong QHTD lần đầu 50
Bảng 3.24: Tỷ lệ vị thành niên tiếp tục QHTD những lần sau 51
Bảng 3.25: Các BPTT VTN thường sử dụng trong QHTD lần sau 51
Bảng 3.26: Tỉ lệ vị thành niên có trao đổi với bố mẹ, giáo viên về tình dục, biện pháp tránh thai, bệnh LTQĐTD 52
Bảng 3.27: Nguồn cung cấp thông tin về sức khoẻ sinh sản 54
Bảng 3.28: Các nguồn cung cấp thông tin mà VTN muốn nhận về CSSKSS 55
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ VTN biết tuổi kết hôn theo luật 36
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ VTN biết về QHTD 36
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ VTN biết về nơi cung cấp BPTT 37
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ VTN biết cách xử trí khi nghi bị bệnh LTQĐTD 41
Biểu đồ 3.5: Đánh giá chung về kiến thức của VTN về CSSKSS 43
Biểu đồ 3.6: Thái độ VTN về QHTD trước hôn nhân 44
Biểu đồ 3.7: Thái độ VTN về việc mang thai khi ở tuổi VTN 45
Biểu đồ 3.8: Đánh giá chung về thái độ chăm sóc SKSS của VTN 47
Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ vị thành niên đã có người yêu 47
Biểu đồ 3.10: Đánh giá chung hành vi của VTN về CS SKSS 52
Biểu đồ 3.11: VTN có nhu cầu nhận thông tin về sức khoẻ sinh sản 54
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê của Uỷ ban Dân số gia đình và trẻ em ở Việt Nam có 17 triệu
vị thành niên (VTN) chiếm 18% cơ cấu dân số (4/2010) [4] Đây là thời kỳ phát triển mạnh nhất về thể chất và trí tuệ; là giai đoạn có ý nghĩa quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách con người Đây là giai đoạn VTN thoát dần từ phạm
vi gia đình để hoà nhập vào tập thể và hoạt động cùng trang lứa Với đặc điểm của giới tính, thời kỳ này rất cần chăm sóc giúp đỡ và tạo điều kiện để rèn luyện
Trong những năm vừa qua, nhóm đối tượng này đã dành được sự quan tâm của toàn xã hội Nhiều hoạt động nhằm tác động đến lứa tuổi này như: các chương trình, hội thảo, hoạt động của các câu lạc bộ…Tuy nhiên những hoạt động này vẫn chưa đạt được hiệu quả sâu sắc Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) về hành vi sức khỏe sinh sản (SKSS) cho VTN tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chưa được tổ chức một cách hệ thống Nam, nữ VTN đang đứng trước sự đe dọa và thách thức nhiều mặt: đó là bệnh tật, sự tổn thương về thể trạng và tinh thần,
sự thiếu hiểu biết về thông tin giới tính, về an toàn tình dục và kế hoạch hóa gia đình Rất nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra như tự tử, mại dâm, ma túy, tảo hôn, yêu kiểu "trào lưu" Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, vấn đề VTN cũng như các vấn đề có liên quan đang trở nên bức xúc, có tác động không nhỏ đến mỗi cá nhân, gia đình, công đồng và xã hội Vai trò của truyền thông trong việc tuyên truyền sức khỏe sinh sản VTN càng trở nên cấp bách
Trước thực trạng đó, công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ đã và đang tham gia vào quá trình cung cấp thông tin, tuyên truyền và giáo dục sức khỏe (GDSK) sinh sản VTN Tuy nhiên, vấn đề sức khỏe sinh sản VTN ở nước ta là một vấn đề hoàn toàn mới và khó, những quan niệm về giới tính còn mang nặng tư tưởng ấu trĩ, lạc hậu và rất dè dặt, do đó mà thông tin về sức khỏe sinh sản VTN còn mang tính đơn lẻ, thiếu hệ thống
Việc nghiên cứu về "Thực trạng kiến thức, thái độ, hành vi và kết quả của giáo dục truyền thông cải thiện hành vi sức khỏe sinh sản vị thành niên tại trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Yên Bái năm 2010 -2011” là sự
Trang 12lựa chọn mới mẻ Cũng đã có một vài nghiên cứu lẻ tẻ về vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên SKSSVTN ở một số địa phương nhưng chưa thực sự đầy đủ Trên địa bàn tỉnh Yên Bái năm 2009 đã có 1 đề tài nghiên cứu về SKSSVTN nhưng chỉ là nghiên cứu mô tả cắt ngang tại một huyện, chưa có nghiên cứu can thiệp cộng đồng nào được thực hiện Nhất là chưa có nghiên cứu nào ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông Đối tượng VTN là học sinh trung học phổ thông, là giai đoạn cuối của tuổi VTN, nhạy cảm, dễ bị tác của nhiều yếu tố môi trường xã hội, nếu không có nhận thức, thái độ, hành vi đúng sẽ dễ để lại hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho bản thân VTN, cho gia đình và xã hội
Với những giải pháp can thiệp đồng bộ như nói chuyện ngoại khoá, đưa nội dung vào chương trình giảng dạy, cấp phát tài liệu, thảo luận nhóm…tác động vào các đối tượng có liên quan như gia đình, thầy cô giáo, đoàn thanh niên…sẽ cung cấp kiến thức, đào tạo kỹ năng, làm thay đổi thái độ, chuyển đổi hành vi có lợi cho sức khoẻ trong lĩnh vực CSSKSS VTN cho lứa tuổi này Từ đó đánh giá, nhân rộng
ra địa bàn toàn tỉnh
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản VTN tại trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, thành phố Yên Bái năm 2010
2 Đánh giá kết quả truyền thông cải thiện kiến thức, thái độ, hành vi sức khỏe sinh sản VTN tại trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt thành phố Yên Bái sau 9 tháng thực hiện
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm vị thành niên
VTN là một nhóm xã hội tập hợp những người nằm giữa khoảng tuổi ấu thơ
và tuổi trưởng thành Những người này đang phát triển nhanh về thể chất, đang hoàn thiện bộ máy sinh sản để thực hiện chức năng sinh sản Đây cũng là thời kỳ mỗi thành viên của nhóm, định hình nhân cách của mình thông qua quá trình xã hội hóa trong gia đình, ở nhà trường và xã hội, vươn lên làm chủ bản thân
VTN sẽ trải qua một giai đoạn chuyển tiếp đầy những tiềm năng nhưng lại rất mong manh Họ cần được nuôi dưỡng, chăm sóc và sống trong một môi trường thuận lợi để trở thành những người trưởng thành khỏe mạnh, có trách nhiệm, có khả năng sinh sản và lao động
VTN có những năng lực, ý tưởng, nhiệt tình, khát vọng và tiềm năng rất lớn
Họ là tài sản và nguồn lực quan trọng của quốc gia và là thế hệ kế cận để phát triển giống nòi trong tương lai
Theo tổ chức y tế thế giới, VTN nằm trong độ tuổi từ 10-19, ở một số nước VTN là những người từ 13-20 hoặc từ 15-24 tuổi Các nhà nghiên cứu sinh lý, tâm
lý chia lứa tuổi này thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn VTN sớm tương đương với tuổi thiếu niên: nam từ 12-14 tuổi, nữ
Trang 14nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “ Sức khỏe sinh sản là sự thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế, của tất cả các vấn đề liên quan đến cơ quan sinh sản của nam và nữ, mà là sự hài hòa trong mọi hoạt động của hệ thống ấy nhằm mục tiêu sinh sản hay không sinh sản (tình dục)” [7]
- Theo tổ chức Y tế thế giới: "Sức khỏe tình dục (SKTD) là sự tổng hợp các khía cạnh thể chất, trí thức và xã hội của con người, sao cho cuộc sống con người phong phú hơn, tốt đẹp hơn về nhân cách, về giao tiếp và tình yêu" [2], [23]
- Theo định nghĩa của WHO, vị thành niên “là giai đoạn khác biệt và năng động của con người, là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng thành được đánh dấu bằng sự phát triển vượt bậc về thể chất, tinh thần, tình cảm
và xã hội”[2]
Sức khỏe sinh sản VTN cần được nhìn nhận một cách toàn diện, sức khỏe phát triển thể chất, sức khỏe phát triển trí tuệ, tâm thần và khả năng hòa nhập với cộng đồng VTN nói riêng và cộng đồng nói chung có quyền được nhận thông tin
về SKSS, quyền được tiếp cận và nhận dịch vụ chăm sóc SKSS (các dịch vụ về bảo
vệ sức khỏe bà mẹ, KHHGĐ, sức khỏe tình dục ) và tự do lựa chọn các dịch vụ đó phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và sức khỏe của từng người
Sự lớn lên và trưởng thành ở VTN có thể xảy ra với tốc độ khác nhau giữa các cá nhân, phụ thuộc vào các yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội và văn hoá Do đó sự phân chia về độ tuổi này chỉ mang tính chất tương đối Tuổi này ít mắc bệnh, tỷ lệ
tử vong thấp nhất nên vấn đề sức khoẻ của họ hầu như bị lãng quên Song trong quá trình phát triển, sự thiếu kiến thức đã dẫn tới quyết định không đúng của VTN liên quan đến sức khỏe và SKSS như quan hệ tình dục bừa bãi gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe và tương lai trong suốt cuộc đời của họ là:
- Nhiều VTN có thai ngh n sinh đẻ quá sớm, nhất là VTN có thai ngh n sinh
đẻ ngoài ý muốn;
- Các bệnh lây truyền theo đường tình dục mà họ mắc phải có thể làm cho họ phải chịu đựng lâu dài, có khi trở thành vô sinh;
Trang 15- Giai đoạn này sự sinh đẻ, thai ngh n sẽ làm VTN gián đoạn việc học tập, tổn hại cho chính bản thân họ, gia đình và xã hội
Qua nghiên cứu cho thấy VTN nước ta và nhiều nước khác đang bước vào tuổi dậy thì và tuổi sinh sản sớm hơn trước Nhiều hiểm họa đe dọa sức khoẻ do hoạt động tình dục không được bảo vệ ngày càng nhiều hơn; thiếu nữ chưa có chồng mà
đã có thai là đối tượng nguy cơ của nạo phá thai không an toàn, bất hợp pháp hoặc mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục
1.1.2.2 Khái niệm về kiến thức, thái độ và hành vi
- Kiến thức hay hiểu biết của mỗi người được tích lũy dần qua quá trình học tập và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống Mỗi người có thể thu được kiến thức
từ thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, đồng nghiệp những người xung quanh, sách vở và các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp [28]
Kiến thức là một trong các yếu tố quan trọng giúp con người có các suy nghĩ
và tình cảm đúng đắn, từ đó dẫn đến hành vi phù hợp trước mỗi sự việc Kiến thức của mỗi người được tích lũy trong suốt cuộc đời Có các kiến thức hay hiểu biết về bệnh tật, sức khỏe và bảo vệ, nâng cao sức khỏe là điều kiện cần thiết để mọi người
có cơ sở thực hành các hành vi sức khỏe lành mạnh Vai trò của ngành y tế và cán
bộ y tế trong việc cung cấp kiến thức cho người dân trong cộng đồng là rất quan trọng, thông qua việc thực hiện nhiệm vụ thông tin-giáo dục sức khỏe [28]
- Thái độ được coi là trạng thái chuẩn bị của cơ thể để đáp ứng với những tình huống hay hoàn cảnh cụ thể Thái độ cũng là cách nhìn nhận của con người về các vấn đề trong đó có sức khỏe Thái độ phản ánh những điều người ta thích hoặc không thích, mong muốn hay không mong muốn, tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, ủng hộ hay ngăn cản Thái độ thường bắt nguồn từ kiến thức, niềm tin và kinh nghiệm thu được trong cuộc sống, đồng thời thái độ cũng chịu ảnh hưởng của những người xung quanh [28]
- Hành vi mỗi cá nhân đều sống trong một tập thể xã hội và có quan hệ với những người xung quanh trong những mối tác động qua lại nhất định Sự tác động qua lại giữa người này với người khác, hay giữa con người với các sự việc, hiện tượng hoàn cảnh xung quanh được thể hiện qua các hành động hay gọi là hành vi
Trang 16Hành vi của con người là một tập hợp phức tạp của nhiều hành động, mà những hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan cũng như khách quan (từ điển Wikipedia) [29]
Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của cộng đồng Từ khái niệm của hành vi chúng ta thấy có hai loại hành vi sức khỏe, đó là các hành vi có lợi cho sức khỏe và các hành vi có hại cho sức khỏe [28]
1.1.2.3 Khái niệm về tình dục an toàn, tình dục lành mạnh
Tình dục an toàn là những hành vi tình dục bao gồm cả 3 yếu tố: không có nguy
cơ nhiễm khuẩn, nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, không gây tổn thương
về thể chất và tâm lý, không làm mang thai ngoài ý muốn
Tình dục lành mạnh: hành vi tình dục được coi là lành mạnh khi phù hợp với những đặc thù của tình dục con người, với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội hiện đại Tình dục lành mạnh phải đảm bảo 4 yếu tố: tự nguyện, đồng thuận, có trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau Một số hành vi tình dục thường được xã hội coi
là không lành mạnh: ngoại tình, quan hệ với gái mại dâm, xâm hại tình dục…[10]
1.1.2.4 Khái niệm về dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên
Theo tổ chức Y tế thế giới, dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN là “các dịch
vụ có thể tiếp cận được và phù hợp với VTN” Dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN cần đảm bảo các tiêu chuẩn như địa điểm, giá cả phù hợp (có thể chi trả được hoặc miễn phí nếu cần thiết), độ an toàn, phục vụ theo phương cách mà VTN chấp nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của VTN và khuyến khích các em trở lại cơ sở y
tế khi cần cũng như giới thiệu về dịch vụ với bạn bè Các dịch vụ sức khỏe thân
thiện với VTN triển khai từ tuyến cơ sở đến trung ương [11]
1.1.3 Các nội dung về chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Từ định nghĩa trên về (SKSS) Việt Nam đưa ra 10 nội dung chính của chăm sóc sức khỏe sinh sản bao gồm:
+ Thông tin giáo dục truyền thông về sức khỏe sinh sản
+ Thực hiện KHHGĐ, tăng cường sự chia sẻ của nam giới
Trang 17+ Làm mẹ an toàn
+ Phòng tránh thai, nạo phá thai an toàn
+ Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản
+ Chăm sóc sức khỏe sinh sản VTN
+ Phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục
+ Phòng chống nguyên nhân và điều trị vô sinh
+ Phòng chống các ung thư sinh dục
+ Sức khỏe sinh sản người cao tuổi và giáo dục tình dục học [8]
- Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho VTN:
Đối với VTN, chăm sóc sức khỏe sinh sản cần tập trung vào một số nội dung trọng tâm như sau:
+ Các thay đổi giải phẫu, sinh lý, tâm lý của VTN
+ Tư vấn sức khỏe sinh sản cho VTN
+ Tình dục an toàn và lành mạnh ở VTN
+ Kinh nguyệt ở VTN
+ Nạo phá thai ở VTN
+ Thai ngh n và sinh đẻ ở VTN
+ Các biện pháp tránh thai cho VTN
+ Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình [9]
1.2 Tình hình nghiên cứu về sức khỏe vị thành niên
Trên thế giới ước tính hiện nay có khoảng 800 triệu trẻ VTN sẽ đối mặt với
sự chọn lựa hành vi tình dục vào năm 2010 Nhiều triệu trong số đó bước vào tuổi hoạt động tình dục với nguy cơ có thai ngoài ý muốn, (HIV/AIDS) và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) khác Rất nhiều người lớn không chấp nhận một thực tế là con cái họ đang ở tuổi hoạt động tình dục, mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy rằng bất chấp ràng buộc về văn hóa, tập tục, tôn giáo, một bộ phận không nhỏ VTN đã bắt đầu có hoạt động tình dục khá sớm, dưới các hình thức khác nhau, trước tuổi 20 Ở hầu hết các quốc gia, trường học, bố mẹ và xã hội vẫn chưa cung cấp cho VTN những thông tin cần thiết về (SKSS) để VTN có những quyết định và
Trang 18hành vi đúng đắn về đời sống tình dục của mình, để không làm ảnh hưởng đến tương lai về sức khỏe sinh sản của chính mình
1.2.1 Tình hình sức khỏe sinh sản VTN trên thế giới
Theo thống kê của quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), hiện nay trên thế giới có khoảng 1/5 dân số thuộc lứa tuổi VTN, như thế nghĩa là hiện đang có khoảng hơn 1 tỷ người đang ở tuổi VTN, 80% hiện đang sống tại các nước đang phát triển ở châu , châu Phi, châu Mỹ La Tinh Những nước có nền kinh tế k m phát triển thì dân số lại càng trẻ, lứa tuổi VTN lại càng lớn, chiếm tới trên 40% dân
số Đây là tỷ lệ rất cao, nếu so với mức trung bình ở các nước phát triển tỷ lệ này
lớn gấp tới 2 lần và so với các nước đang phát triển nó gấp tới 1,3 lần [35]
Dự báo xu hướng ở một số khu vực thuộc các nước đang phát triển, dân số
trong nhóm tuổi VTN từ những năm 1975 đến 2025 như sau:
So với các nước khu vực trên thế giới, châu Phi là lục địa có số lượng VTN tăng trưởng ở mức cao nhất hiện nay, năm 1975 là khoảng 94,5 triệu VTN (chiếm khoảng 22,8%), đến năm 1995 là khoảng 165,5 triệu VTN (chiếm 23%), năm 2005
là khoảng 310,5 triệu; đặc biệt khu vực cận sa mạc Sahara châu Phi từ năm
1960-1995, mỗi thập kỷ số lượng VTN tăng từ 80-200 triệu người Với các nước phát triển, dân số có xu hướng giảm, số lượng VTN cũng giảm đi do tỷ lệ sinh thấp, đe dọa đến nguồn lực của nước này; năm 1975 tỷ lệ VTN chiếm 23%, năm 2005 dự kiến 16% so với tổng dân số trong nước Đối với một số nước đang phát triển, năm
1975 tỷ lệ VTN là 22,3% và có xu hướng giảm dần, năm 1995 là 20,2% và đến năm
2005 chỉ còn khoảng 16,6% so với tổng số dân trong cả nước [35]
1.2.1.1 Về kiến thức
Đối với các nước phát triển trên thế giới, vấn đề sức khỏe sinh sản VTN đã được đề cập được vài chục năm nay Phần lớn VTN ở những nước phát triển đã được tiếp cận các thông tin về sức khỏe sinh sản khá sớm, người ta nhận thấy rằng, việc cung cấp đầy đủ các thông tin cho VTN về các nội dung liên quan đến thai ngh n và sinh đẻ, liên quan đến các bệnh LTQĐTD thì VTN sẽ chủ động bảo vệ cho mình, có các biện pháp phòng tránh các nguy cơ có thai và bệnh tật, do vậy tỷ lệ VTN có thai
Trang 19và mắc các bệnh LTQĐTD có xu thế giảm trong những năm gần đây
Đương nhiên trên thế giới vẫn còn có những nước còn có những phong tục tập quán lạc hậu để lại những hậu quả nặng nề cho VTN như việc p đã nóng vào ngực các cô gái mới lớn hoặc cắt âm vật ở em gái 13 đến 14 tuổi
Đối với các nước ở khu vực Châu các nội dung CSSKSS mới được quan tâm mấy năm gần đây, tình hình SKSS của VTN cũng không có gì khác biệt như ở Việt Nam
1.2.1.2 Về thái độ
Chương trình nghiên cứu can thiệp giảm nguy cơ AIDS ở vị thành niên có độ tuổi trung bình từ 14,3 năm (độ lệch chuẩn, ĐLC=1.31; phạm vi: 10 đến 18 tuổi) được thu nhận Không nhận sinh viên đại học Nghiên cứu nhằm “cải thiện thái độ
về nguy cơ AIDS và hành vi bảo vệ, kiến thức về nguy cơ, tăng sự quan tâm đối với kiêng giao hợp hoặc dùng bao cao su và giảm hành vi tình dục nguy cơ tại các trường học ở Mỹ ” cho thấy có 88% thay đổi kiến thức, 58% thay đổi thái độ, 60% thay đổi trong ý định dùng bao cao su, 73% dùng bao cao su và 64% giảm số lượng bạn tình [13]
1.2.1.3 Về hành vi
Các kết quả nghiên cứu về lĩnh vực quan hệ tình dục, nạo hút thai và sinh đẻ
ở VTN trên thế giới gây ra cho chúng ta hết sức bất ngờ Theo WHO hàng năm có khoảng 20 triệu ca nạo phá thai không an toàn Theo quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA), hiện nay mỗi năm có khoảng 15 triệu VTN nữ sinh con, chiếm 10% số phụ nữ sinh con trên thế giới Mỹ là quốc gia có tỷ lệ nữ VTN mang thai sớm cao nhất ở các nước phát triển: có khoảng 20% số phụ nữ đẻ trước tuổi 20 Các nghiên cứu cho thấy ở châu Phi, thai ngh n ngoài dự định dao động từ 50-90% trong số VTN chưa chồng và 25-40% trong số VTN có chồng Ở Kenia, số VTN có thai ngoài dự định trong nhóm chưa chồng là 74% và nhóm có chồng là 47% Còn ở Peru, số VTN có thai ngoài dự định trong nhóm chưa chồng là 69% và nhóm có chồng là 51% Các số liệu tổng hợp về tình trạng VTN sinh con ngoài ý muốn ở một số khu vực có tỷ lệ cao là: Mỹ LaTinh 40-50%; Bắc Phi và Tây là 15-23%;
Trang 20Ấn Độ và Pakistan là 16%, Philipin, Bangladesh, Srilanka và Thái Lan là 23-41%, Với tình trạng mang thai ngoài ý muốn này, mỗi năm có tới 4,4 triệu ca nạo phá thai của VTN Ch ng hạn, ở cộng hòa Tanzania có khoảng 71% các cuộc nạo phá thai rơi vào trẻ VTN, trong khi số VTN chỉ chiếm 24% mẫu điều tra Mang thai và nạo phá thai sớm là một trong những nguyên nhân cơ bản tàn phá SKSS VTN trên thế giới hiện nay [35]
Tình trạng quan hệ tình dục (QHTD) sớm và mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) ở VTN là một nguy cơ mang tính toàn cầu Quan hệ tình dục sớm thường để lại những hậu quả xã hội nghiêm trọng về mang thai, nạo hút thai ngoài ý muốn và mắc các bệnh LTQĐTD, đặc biệt là mắc căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS
Một nghiên cứu cho thấy, VTN Mỹ, ở tuổi 15 có khoảng 27% nữ và 33% nam đã có sinh hoạt tình dục, đến tuổi 17 tỷ lệ này tăng lên 50% và 66% Nếu tính riêng trong nhóm VTN học sinh thì có đến 72% số học sinh ở Mỹ có QHTD khi bước vào năm học cuối trung học phổ thông (THPT), trong số đó có tới 40% các học sinh ở tuổi 15 Theo ước tính của văn phòng thông tin dân số Mỹ về SKSS VTN thì có ít nhất 80% số người bước vào tuổi 20 ở vùng cận sa mạc Sahara (châu Phi) đã trải qua quan hệ tình dục Vì thế đây cũng là nơi mắc các bệnh LTQĐTD lớn nhất, ch ng hạn như HIV/AIDS Theo quỹ liên hợp quốc về phòng chống AIDS,
số người mắc AIDS ở đây chiếm 2/3 bệnh nhân này trên thế giới [35]
Ở Thái Lan ngay từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nghiên cứu đã cho thấy có tới 60% VTN nam có QHTD trong đó một số không nhỏ mới ở độ tuổi 13;
ở Trung Quốc theo thống kê mới đây kh ng định có 20% nữ học sinh có QHTD; ở Bangladesh 25% và ở Nepan 34% VTN nữ 14 tuổi đã kết hôn; châu Phi là lục địa
có tỷ lệ VTN có QHTD và mắc các bệnh LTQĐTD lớn nhất thế giới Các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở Botswana (1995) có 41% nữ và 15% nam ở tuổi 15-16 đã có QHTD; ở Cameroon (1996) 55% nữ và 70% nam có QHTD ở tuổi 15, nghiên cứu này còn kh ng định, VTN càng lớn tuổi mức độ QHTD càng tăng và có tới 5% nữ
và 16% nam ở tuổi 12-17 đã có trên 2 bạn tình thường xuyên Một báo cáo cho biết,
Trang 21tình trạng QHTD ở tuổi VTN là mang tính chất phổ biến ở nhiều quốc gia Theo báo cáo này, tỷ lệ QHTD ở tuổi 15 tại một số nước là: tại Greenland có khoảng 53%, Đan Mạch 38%, Thụy Điển 69%, và ở tuổi 18 là 54,1% tại Mỹ, 31% tại New Zealand và 51,6% tại Australia [35]
Theo thống kê và các kết quả nghiên cứu của Australia: các bà mẹ tuổi VTN
từ 15-19 tuổi có 10.744 chiếm 4% tại thời điểm năm 2005; tỷ lệ sinh của tuổi VTN chiếm 16%o trẻ VTN [41] Theo ước tính của WHO, mỗi năm có khoảng 250 triệu người mắc các bệnh LTQĐTD, trong đó nhóm tuổi 15-19 chiếm tỷ lệ cao thứ 2 sau nhóm tuổi 20-24 Sở dĩ nhóm thanh niên mắc các bệnh LTQĐTD cao là do khi QHTD nhóm này thường không sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) an toàn là bao cao su (BCS) Cũng theo tổ chức này, 1/20 số nữ VTN mắc các bệnh LTQĐTD hàng năm Nghiên cứu cụ thể ở Kenya, Nigieria, Sierra Leone tỷ lệ nữ VTN mắc các bệnh nêu trên dao động từ 16-36%; ở Mỹ 1/8 VTN đăng ký chữa bệnh LTQĐTD hàng năm Hiện nay trên thế giới có trên 40 triệu người nhiễm HIV, tỷ lệ cao nhất đối với nam nhóm tuổi 15-25 tuổi và nữ là nhóm tuổi 25-35 [35]
Ngoài ra, mang thai sớm còn để lại những hậu quả rất đáng lo ngại về mặt xã hội Các kết quả nghiên cứu cho biết, biến chứng do thai ngh n ở tuổi VTN là rất lớn Nguy cơ tử vong của VTN là nhóm cao nhất so với các tử vong do thai ngh n gây ra Ch ng hạn, ở Matlab Bangladesh tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ VTN tuổi từ 10-
14 cao gấp 5 lần so với nhóm 15-19 tuổi và tỷ lệ tử vong ở nhóm tuổi 15-19 lại cao gấp 2 lần so với nhóm tuổi 20-24 [35]
Theo tác giả Dr.Y.N.Sridhar và nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu tại trường học ở miền bắc của Thái Lan và Ấn Độ cho thấy thiếu niên thiếu kỹ năng sống cần thiết đối với thực tế và những thách thức trong cuộc sống của họ; thanh thiếu niên chiếm phần lớn nhất của dân số thế giới và có xu hướng ngày càng tăng; có khoảng 230.000.000 người Ấn Độ trong nhóm tuổi từ 4 đến 19 tuổi (dân số và sức khỏe IndoShare, 2006) VTN ở Ấn Độ là vấn đề nghiên trọng, thiếu tiếp cận với kiến thức đáng tin cậy về quá trình trưởng thành sức khỏe sinh sản và hệ thống giá trị Hiện cần phải cung cấp, giáo dục về những thay đổi phát triển và nhu cầu trong
Trang 22thanh thiếu niên Điều này có thể làm giảm nguy cơ trong tương lai Cụ thể họ trở thành những đứa trẻ lang thang, trẻ có hành vi phạm pháp, cờ bạc, nghiện ma túy, tội phạm, trốn học, mại dâm, ăn xin; hậu quả của những hành vi bất lợi này, các trường hợp mang thai bất hợp pháp, nạo phá thai và nhiễm HIV/AIDS đang ngày càng trở nên nghiêm trọng [45]
Ở nhiều nước đang phát triển, các cô gái kết hôn ngay sau tuổi dậy thì, nhiều phụ nữ trẻ có thai ngay sau khi kết hôn Năm 1995, nhân khẩu học và y tế Ai Cập điều tra thấy rằng 10% dân số nữ dưới 20 đã bắt đầu sinh sản; tuy nhiên chỉ có vài thanh thiếu niên biết hoặc hiểu khái niệm về SKSS [39]
Theo Elissa Kennedyet all, mỗi năm có khoảng hơn 14 triệu VTN tuổi
15-19 sinh đẻ, 91% số này ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình; sáu triệu VTN mang thai là ngoài ý muốn do không sử dụng các BPTT Hoạt động tình dục ngoài hôn nhân đang gia tăng, nhưng có dưới một nửa sử dụng các BPTT hiện đại; tỷ lệ trẻ VTN tử vong do thai ngh n và sinh con cao hơn người trưởng thành; 14% VTN phá thai không an toàn; sự bất bình đ ng và nghèo đói của các bà mẹ VTN có hậu quả lâu dài về kinh tế, xã hội cho đất nước họ [42] Theo nhóm nghiên cứu Dân số châu á về SKSS VTN ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương,
độ tuổi kết hôn của VTN các nước ở Nam và Đông Nam chiếm 6,6% đến 19,7% trong đó có Việt Nam (chiếm 11,1%) [44]
Theo một báo cáo của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS, tính chung trên thế giới những năm gần đây, bình quân mỗi ngày có khoảng 7.000 thanh thiếu niên, hay mỗi phút có 5 thanh thiếu niên tuổi 10-24 bị nhiễm HIV Mỗi năm thế giới có 1/2 triệu trẻ em dưới 15 tuổi chết do AIDS; có khoảng 1,7 triệu thanh thiếu niên châu Phi
bị nhiễm HIV, trong đó có khoảng 530.000 trẻ sinh ra bị nhiễm do mẹ truyền Riêng khu vực châu -Thái Bình Dương mỗi năm ước tính khoảng 700.000 thanh thiếu niên bị nhiễm HIV [38] Theo một nghiên cứu tại Uganda có 17% VTN trong diện nghiên cứu mắc bệnh LTQĐTD và 6,5% có nguy cơ nhiễm HIV [43]
Với những thực trạng như nêu trên, r ràng, số khía cạnh của vấn đề SKSS VTN đang trở thành một nguy cơ dẫn tới suy thoái ở nhiều quốc gia trong giai đoạn
Trang 23phát triển hiện nay Chính thực tế này đang đặt nhân loại trước những thách thức vô cùng nan giải Để thay đổi tình trạng nêu trên thực tế đòi hỏi chúng ta phải sớm có một chiến lýợc mới mang tính toàn cầu về SKSS vị thành niên [35]
1.2.2 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển, VTN có tỷ lệ tương tự như các nước đang phát triển khác Tổng dân số của Việt Nam tháng 4 năm 2009 là 85.789.573 người Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam (sau Indonesia
và Philipin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới Với mật
độ dân số 259 người/km2, dân số nam chiếm 49,5% và nữ chiếm 50,5%; trong đó trẻ vị thành niên là 16.064.066 người chiếm tỷ lệ 18,7% tổng dân số toàn quốc; số trẻ đang đi học trung học phổ thông là 3.424.368 chiếm tỷ lệ 21.3% trẻ ở độ tuổi vị
thành niên và chiếm tỷ lệ 4% tổng dân số [3]
Theo nghiên cứu thuộc kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe VTN và thanh niên trong giai đoạn 2006-2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020 cho thấy, nhóm VTN và thanh niên (từ 10-24 tuổi) chiếm khoảng 32% dân số Việt Nam (khoảng 27 triệu) Đối tượng này hiện đang đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe sinh sản như quan hệ tình dục không an toàn, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, HIV/AIDS [8]
Hiện nay sự phát triển của thanh thiếu niên luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới Mặc dù vị thành niên và thanh niên trên toàn thế giới đều trải qua quá trình phát triển với những đặc điểm chung, nhưng ở mỗi quốc gia, giai đoạn này mang một số đặc trưng nhất định Tại Việt Nam, vị thành niên là một hiện tượng tương đối mới mẻ đang nhận được nhiều
sự quan tâm do đây là độ tuổi thường gắn liền với sự phát triển trí tuệ, khả năng và tính tự chủ, người ta thường quan niệm thanh niên và vị thành niên vẫn cần được người lớn định hướng, uốn nắn để theo dõi hành vi của họ (SAVY) Bởi vì nam, nữ VTN đang đứng trước sự đe dọa và thách thức nhiều mặt: đó là bệnh tật, sự tổn thương về thể trạng và tinh thần, sự thiếu hiểu biết về thông tin giới tính, an toàn tình dục và KHHGĐ Rất nhiều chuyện đau lòng đã xảy ra như tự tử, mại dâm, ma
Trang 24túy, tảo hôn, yêu kiểu "trào lưu"….Thực trạng này đã và đang trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà trường và toàn thể xã hội [12]
Giống như hầu hết các quốc gia trong khu vực, Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng lại chịu các tác động tiêu cực về mặt xã hội Những thay đổi về xã hội đã dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về phong cách sống, đem lại nhiều thách thức cho VTN như HIV/AIDS, lạm dụng chất kích thích, những vấn đề về sức khỏe tinh thần, thiếu tiếp cận những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là SKSS đảm bảo chất lượng…Vị thành niên thường được xem là lứa tuổi đang tìm kiếm lời giải đáp cho câu hỏi “tôi là ai” Trên chặng đường xác định bản sắc riêng cho mình và quá độ thành người trưởng thành, VTN phải nỗ lực xây dựng và củng cố một hệ thống giá trị trở nên độc lập hơn và trải qua hàng loạt những thay đổi về thể chất, tinh thần và xã hội Đây cũng là giai đoạn mà thanh thiếu niên thường tò mò và thử nghiệm những hành vi tương đối nguy hại [12]
Điều tra SAVY I có 19,4% nữ thanh thiếu niên được phỏng vấn đã từng có thai Tỷ lệ này tính trong nhóm phụ nữ đã từng có quan hệ tình dục là 88,3%; những phụ nữ đã từng có quan hệ tình dục chiếm 22% trong tổng số nữ thuộc nhóm tuổi 14-25; có 11 người trong số 41 nữ chưa lập gia đình (chiếm 26,8%) đã có QHTD trả lời
đã từng mang thai [12] Tuy con số tuyệt đối không lớn, nhưng cứ 4 nữ thanh thiếu niên có QHTD trước hôn nhân thì có 1 mang thai, điều này cho thấy các tồn tại về vấn đề tránh thai, kiến thức về thai ngh n, kỹ năng thuyết phục về tình dục an toàn Trong số phụ nữ đã từng có thai 7,2% đã kết thúc bằng phá thai Tỷ lệ phá thai ở thành thị cao gấp đôi nông thôn (12,6% so với 6,2%) Với nữ VTNTN chưa có gia đình, tỷ lệ thai ngh n kết thúc bằng phá thai là 27,3% Tỷ lệ phá thai từ 2 lần trở lên cũng khá phổ biến đối với các phụ nữ trẻ chưa có gia đình đến các dịch vụ phá thai
Tỷ lệ phá thai cao là một chỉ số quan trọng cho thấy các dịch vụ tránh thai có thể tiếp cận được, với giá cả hợp lý và hiệu quả chưa đáp ứng được như cầu Tuy nhiên, các con số thống kê đáng tin cậy về tỷ lệ nạo phá thai là rất khó thu thập do sự nhạy cảm của vấn đề này và một thực tế là các ca nạo thai tại cơ sở y tế tư nhân không thu thập được để đưa vào con số thống kê chính thức [12]
Trang 25Tổng số thanh thiếu niên nói có nạo hút thai ở điều tra SAVYI tương đối nhỏ: chỉ 54 trường hợp, trong đó có 03 trường hợp chưa lập gia đình Trong một nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên tại 07 tỉnh năm 2003 cũng cho kết quả tương tự; ở đây những thanh, thiếu niên chưa có chồng, nạo hút thai vẫn là vấn đề nhạy cảm nên số liệu có thể không được báo cáo đầy đủ; bên cạnh đó việc tiếp cận với các biện pháp tránh thai cũng được cải thiện làm cho tỷ lệ nạo hút thai cũng giảm nhiều trong khoảng những năm 2002
Trong nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Dân số và sức khỏe nông thôn thuộc đại học Y Thái Bình: hiểu biết đúng về thời điểm dễ có thai trong chu kỳ kinh nguyệt là 39,6% (sau can thiệp) Hiểu biết về các biện pháp tránh thai nhóm can thiệp là:74,8% VTN biết về thuốc uống tránh thai theo tháng; 88,1% biết về bao cao
su, 21,6% biết biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo Đó là những biện pháp tránh thai phù hợp với tuổi VTN [26]
Hiểu biết về tai biến do nạo phá thai: 38,9% biết tai biến thủng tử cung, 39,1% biết tai biến băng huyết Hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục: 97,7% biết về HIV, 65,7 biết về bệnh lậu, 78,2% biết về bệnh giang mai [25] Hiểu biết về con đường lây truyền HIV: đường QHTD: 97,7%, đường máu: 90,6%, mẹ truyền cho con 79,4% Về biện pháp giải quyết khi có các bệnh lý ở đường sinh dục: 21 % đến cơ sở y tế, 4,5 % tự mua thuốc điều trị, 13,6 % không làm gì cả [26]
Điều này cho thấy VTN, thanh niên trẻ chưa có đầy đủ kiến thức, kỹ năng về phòng tránh thai và bị hạn chế tiếp cận với biện pháp tránh thai Không chỉ tình trạng nạo phá thai, mà tình dục không an toàn ở VTN, thanh niên cũng ở mức đáng báo động Theo một điều tra khác thì có tới 99,3% thanh niên không sử dụng các
Trang 26biện pháp bảo vệ trong lần quan hệ đầu tiên [17]
Đối với xã hội việc chấp nhận cung cấp các thông tin về SKSS cho VTN vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau, một số thì ủng hộ việc cung cấp các thông tin về CSSKSS cho VTN, song một bộ phận không nhỏ vẫn cho rằng không nên cung cấp các nội dung về CSSKSS cho VTN, vì làm như vậy sẽ làm cho VTN sớm có các hành vi tình dục, vi phạm đạo đức xã hội v.v
Đối với nhà trường, mặc dù về chủ trương các thầy cô giáo đều nhận thấy việc cung cấp thông tin cho VTN về các nội dung CSSKSS là cần thiết, nhưng việc
bố trí thời gian để cung cấp thông tin chưa được thống nhất, chưa có quĩ thời gian cho hoạt động này Phần lớn các thầy cô giáo cũng chưa được cập nhật các kiến thức về lĩnh vực này
Đối với các bậc cha mẹ, việc cung cấp các thông tin về CSSKSS cho VTN vẫn còn là một trở ngại rất lớn, hầu hết các bậc phụ huynh không đồng tình với việc
tổ chức cung cấp các nội dung về CSSKSS cho VTN vì sợ rằng con cái họ sẽ sớm
có QHTD ảnh hưởng đến việc học tập
1.2.2.3 Về hành vi
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam hiện có gần 11,2% VTN
có quan hệ tình dục, trong đó 33,9% không sử dụng các biện pháp tránh thai Hàng năm có khoảng 300.000 nữ thanh niên có thai trước tuổi 20 tuổi [6] Trong đó, khoảng 20% số trẻ trên toàn quốc được sinh ra từ những người mẹ dưới 19 tuổi Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức của đại dịch HIV/AIDS, trong đó số vị
Trang 27thanh niên, thanh niên dưới 19 tuổi chiếm 6%, tỷ lệ cao nhất là nhóm tuổi từ 20 đến
29 chiếm 52,1% trên tổng số người nhiễm mới HIV/AIDS được phát hiện [6]
Theo nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu Dân số và sức khỏe nông thôn thì
tỷ lệ QHTD ở VTN chiếm 1,4%, chủ yếu tập trung ở VTN tuổi từ 17-19, người chủ động trong QHTD là do bạn đòi hỏi chiếm 38,1% Địa điểm QHTD thường là ở nhà của bạn tình hoặc công viên, tại 2 nơi này chiếm tới 39,6% Đối tượng QHTD chiếm tới 77,8% là người yêu [25], như vậy cũng tương đương với nghiên cứu của học sinh trường THPT Lý Thường Kiệt: 37,3% ở nhà mình hoặc bạn tình, nơi khác 12%, khách sạn/ nhà nghỉ 41,2%
Nghiên cứu về phòng tránh thai và phá thai an toàn cho vị thành niên và thanh niên trẻ của tổ chức Concept Foundation cho thấy, trong tổng số các ca phá thai có khoảng 20-30% phụ nữ trẻ chưa lập gia đình Đặc biệt, có đến 23% số khách hàng chưa có gia đình phải phá thai lặp lại trên 01 lần
Cũng trong nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu Dân số và sức khỏe nông thôn, số sử dụng biện pháp tránh thai thường xuyên trong QHTD của vị thành niên chỉ chiếm 19,1%, có tới 60,3% chưa bao giờ sử dụng BPTT trong QHTD [25]
Nhiều VTN chưa kết hôn đã phải gánh chịu những biến chứng nặng nề từ việc QHTD trước hôn nhân và nạo phá thai không an toàn
Theo thống kê trong năm 2006 tại địa bàn TPHCM, số lượng nạo hút thai lên đến hơn 88.160 ca, trong đó có 750 ca nạo phá thai dưới 18 tuổi và có không ít ca tuổi đời chỉ mới 13 và 14
Trong một nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hà bệnh viện đại học Y dược TPHCM cho biết: tỷ lệ phá thai dưới 18 tuổi ngày càng tăng Tại khoa phụ sản, ngày nào cũng có vài ca phá thai của những “bà mẹ tương lai” dưới 18 tuổi Điều đáng nói là, những tháng cuối năm cũ và đầu năm mới- tình trạng nạo hút thai, nhất
là tuổi VTN tăng đột biến Tháng 12/2006, khoa phụ sản bệnh viện đại học Y dược TPHCM tiếp nhận 481 ca, tăng gần 200 ca so với các tháng bình thường Chỉ trong
số đó hơn 40% dưới 18 tuổi và hơn 20% là học sinh các cấp Chỉ trong 2 tuần đầu của tháng 1/2007, có 248 ca nạo phá thai, trong đó có hơn 24% dưới 18 tuổi
Trang 28Theo báo cáo trình bày trong hội nghị sản phụ khoa Việt Pháp châu -Thái Bình Dương lần thứ 10 cho rằng hàng năm Việt nam có chừng khoảng 1 triệu 200 ngàn người nạo và phá thai ngoài ý muốn chiếm tỷ lệ 20% trên tổng số thanh niên
và VTN độ tuổi từ 10-17 tuổi Đây chỉ là con số thống kê chính thức của các bệnh viện, nhưng người ta tin rằng con số thực sự cao hơn nhiều vì số lượng phá thai tại các phòng khám tư nhân không có điều kiện thống kê được
Với con số không đầy đủ, trong 1.200.000 ca nạo phá thai hàng năm của nước
ta thì số ca nạo phá thai ở VTN là 240.000 ca, chiếm tỷ lệ 20 % số thanh thiếu niên
độ tuổi từ 10-17 thật là đáng lo ngại, bởi vấn đề này liên quan đến sức khỏe của người mang thai và đặc biệt là nó phản ảnh tới sự xuống cấp của đạo đức xã hội đặc biệt là trong lứa tuổi học trò, ảnh hưởng tới thế hệ tương lai của đất nước Đây không chỉ là điều mà các phụ huynh có con gái ở lứa tuổi nói trên hết sức lo lắng cho tương lai của con em họ mà nó còn liên quan tới các vấn đề xã hội khác của đất nước
Theo Nguyễn Thị Hoài Đức, viện trưởng viện sức khỏe sinh sản và gia đình, Việt Nam là một trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trung bình mỗi ngày có 20 ca nạo phá thai tại viện, trong đó 20-30% người phá thai ở lứa tuổi VTN Cả nước có 5% em gái sinh con trước 18 tuổi và 15% sinh con trước 20 tuổi
Theo Mai Hoa, Trung tâm Sức khỏe sinh sản Hà Nội cho biết, nhóm đối tượng đến phá thai tại trung tâm khoảng 150-180 người/tháng, trong đó số thanh niên chưa lập gia đình chiếm khoảng 30% Dù tất cả các trường hợp đến phá thai đều được tư vấn, nhưng rất nhiều người quay trở lại phá thai lần hai…
Bên cạnh đó, tình hình tệ nạn ma tuý đang xâm nhập vào thế hệ trẻ ngày một gia tăng Trên thế giới hiện nay có 300 triệu người nghiện ma tuý Ở nước
ta, con số này cũng không ngừng tăng lên Năm 1997 là 7.800 và năm 1998 là 10.000 Trong số 24.151 người nhiễm HIV/AIDS ở nước ta năm 2000 có tới 65% bị lây nhiễm qua tiêm chích ma tuý Năm 2005 con số này đã tăng lên gấp nhiều lần.Tổ chức Y tế thế giới cho biết trong số 20 phụ nữ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục thì 1 ở tuổi VTN Trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS trên thế giới có 50% là dưới 25 tuổi [38]
Trang 291.2.3 Tình hình sức khỏe sinh sản vị thành niên ở Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh miền núi, diện tích tự nhiên 6.882,9 km2 Dân số toàn tỉnh năm 2008 là 750.519 người Có khoảng 30 dân tộc sinh sống, đông nhất là người kinh (54,1%), sau đó đến người tày (17,3%), người dao (9,1%), người H.Mông (7,9%), người Thái (6%) và các dân tộc khác (5%) Theo kết quả điều tra của Cục thống kê tỉnh Yên Bái năm 2007, vị thành niên và thanh niên chiếm khoảng 28,5 % dân số của tỉnh, chia nhóm như sau: 10-14 tuổi: 11,3%; 15-19 tuổi: 9,2%; 20-24 tuổi: 8% Theo tổng điều tra dân số 2009, tổng số VTN của tỉnh là: 151.054 chiếm 20,40% so với tổng dân số toàn tỉnh [5]
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc, kinh tế nghèo, giao thông đi lại khó khăn Được chia thành 09 huyện, thị, thành phố (01 thành phố, 01 thị xã, 07 huyện) Toàn tỉnh có 180 xã/ phường Với địa hình phức tạp, mức sống và trình độ văn hoá của người dân thấp, phân bố dân cư không đồng đều mật độ dân cư tập chung đông
ở thành phố, thị xã là 1300-1600 người/1 km2
, nhưng ở 2 huyện vùng cao Trạm Tấu
và Mù Căng Chải thì dân cư thưa thớt khoảng 30 người/ km2 Các dân tộc thiểu số Yên Bái có nhiều phong tục lạc hậu đã ảnh hưởng không tốt tới công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản nói chung và công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho VTN nói riêng Điều đó đã xác định tính phong phú của nhu cầu giáo dục và cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản của cộng đồng dân cư ở Yên Bái
Trong những năm qua, được sự tài trợ của quĩ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), ngành Y tế Yên Bái đã tổ chức đào tạo cho 100% cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản về chuẩn quốc gia về SKSS trong đó có chuẩn về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho VTN 100% trưởng trạm y tế được đào tạo về quản lý chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Tại các trạm y tế xã/ phường đã triển khai góc truyền thông, tuy nhiên việc tư vấn và cung cấp các dịch vụ SKSS cho VTN chưa làm được bao nhiêu, số lượt VTN đến nhận dịch vụ không nhiều
Năm 2009, Yên Bái là một trong các tỉnh được Bộ Y tế hướng dẫn và hỗ trợ kinh phí xây dựng “Kế hoạch hành động về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ sinh sản cho VTN-thanh niên Yên Bái giai đoạn 2009-2010 và định hướng đến năm
Trang 302020 Dự án chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh Yên Bái năm 2009 cũng đặc biệt chú ý đến việc đào tạo cho cán bộ cung cấp dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản về kiến thức, thái độ và kỹ năng cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản thân thiện cho VTN và có kế hoạch kinh phí để xây dựng 2 mô hình điểm trong tỉnh về cung cấp dịch vụ sức khỏe thân thiện cho VTN
Được sự tài trợ của Quĩ dân số Liên hiệp quốc, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Yên Bái đã triển khai một trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản VTN tại tỉnh đoàn, quá trình hoạt động đã mời các chuyên gia đầu ngành của tỉnh trong lĩnh vực CSSKSS, thường xuyên tổ chức các hoạt động tư vấn cho VTN đang theo học tại các trường trung học phổ thông, các trường trung học chuyên nghiệp trên địa bàn, quá trình hoạt động đã cung cấp kiến thức cho hàng ngàn VTN được tiếp cận các thông tin về SKSS, về hôn nhân và gia đình, về tình bạn và tình yêu… Tuy nhiên Trung tâm chỉ hoạt động trong 5 năm, do dự án kết thúc, không còn nguồn lực để duy trì hoạt động
1.2.3.1 Về kiến thức
Thực hiện chiến lược Quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ, tỉnh Đoàn thanh niên và hội Phụ nữ tỉnh cũng đã tổ chức những hoạt động tiếp cận với VTN như: câu lạc bộ tiền hôn nhân, câu lạc bộ VTN
và thanh niên trẻ Tại các câu lạc bộ, VTN cũng đã được tiếp cận với những kiến thức về SKSS và giáo dục tiền hôn nhân, mặc dù vậy các hoạt động này chưa thường xuyên và chưa thu hút được số đông VTN, đặc biệt là VTN con em của đồng bào các dân tộc thiểu số
Trong năm 2008 - 2009 bác sỹ Lê Phương Lan, PGĐ trung tâm Chăm sóc sức khỏe tỉnh Yên Bái đã tiến hành nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi của VTN đang học tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn huyên Văn Yên, kết quả là:
Nhận biết về các dấu hiệu dậy thì: Đa số các em học sinh đều nhận biết được các dấu hiệu dậy thì, chí có (0,5-6,8) % các em được hỏi trả lời sai các dấu hiệu về dậy thì
Trang 31Kiến thức của VTN về sức khoẻ sinh sản còn nhiều bất cập, có tới 80 % các
em không biết ngày nào dễ thụ thai nhất trong chu kỳ kinh
Về các biện pháp tránh thai phù hợp với lứa tuổi VTN: 80% các em biết về Bao cao su, có 41% biết về viên tránh thai khẩn cấp
Nhận thức về khả năng có thai ở tuổi VTN chỉ có 4% các em trai và 3,25% các em gái trả lời đúng
Nhận thức về hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn trước hôn nhân chỉ
có 3,7% trả lời đúng, 81,8% trả lời sai, 14,5% không trả lời [17]
Nhận thức về hậu quả có thai ở tuổi VTN có 77,8 % các em cho là có tổn thương ở bộ phận sinh dục, 70,2 % cho rằng nạo phá thai có khả năng gây vô sinh
Nhận thức về hậu quả của QHTD không an toàn có từ (74- 90,5) % các em trả lời đúng về hậu quả của QHTD không an toàn [17]
1.2.3.2 Về thái độ
Thái độ của VTN đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân có 10% cho rằng được ph p quan hệ, 16,5% cho là quan hệ là chuyện bình thường trong giai đoạn hiện nay, có 33% cho rằng QHTD dùng biện pháp tránh thai thì chấp nhận được 71,5% không đồng tình với QHTD trước hôn nhân, 64,5 % cho rằng QHTD trước hôn nhân là vi phạm đạo đức [17]
Thái độ của VTN đối với việc tiếp cận các dịch vụ CSSKSS, có 87,3 % VTN trả lời nên đến các cơ sở dịch vụ khi có vấn đề về SKSS [17]
1.2.4 Vấn đề cung cấp thông tin về SKSS cho VTN
Về nhu cầu cung cấp thông tin về CSSKSS có 96% VTN cho là cần thiết, có
Trang 324% không trả lời, không có trường hợp nào phản đối Về các hình thức cung cấp thông tin có 79,5% cho rằng cung cấp các cuốn sách nhỏ cho VTN là nên làm, 51% muốn được tư vấn qua điện thoại [17]
Về nơi cung cấp dịch vụ SKSS cho VTN có tới 81% VTN mong muốn có cơ
sở cung cấp dịch vụ SKSS riêng cho VTN
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng ta thấy tình hình sức khỏe sinh sản VTN nói chung và sức khỏe sinh sản VTN tại Yên Bái vẫn còn nhiều bất cập Cần phải có một nghiên cứu can thiệp cho VTN, đặc biệt cho VTN cuối, những người đã
và đang bước vào đời sống tình dục, sự thiếu hụt trong nhận thức của các em, cũng như thái độ dè dặt của các bậc cha mẹ, của các thầy cô giáo và của toàn xã hội đã và đang tạo ra một khoảng trống trong chăm sóc sức khỏe sinh sản VTN ở nước ta Hậu quả để lại sẽ là rất lớn với thế hệ trẻ của chúng ta
1.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS VTN
1.3.1 Trên thế giới:
Ở các nước trên thế giới vấn đề cung cấp thông tin cho VTN về các nội dung CSSKSS được tiến hành dưới nhiều hình thức, một số nước đã đưa chương trình này vào các nhà trường phổ thông, được coi như một môn học, ở một số nước lại đưa vào chương trình giảng dạy ngoại khóa, đồng thời tổ chức các hoạt động tư vấn, sinh hoạt câu lạc bộ Các kênh thông tin đại chúng như ấn phẩm báo chí, phát thanh truyền hình đã đang tải các nội dung liên quan đến giáo dục sức khỏe sinh sản VTN Hiện nay trên hệ thống internet cũng có rất nhiều thông tin về lĩnh vực này
1.3.2 Tại Việt Nam
Trong nhiều năm vấn đề CSSKSS VTN đã bị bỏ ngỏ, hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu can thiệp thí điểm ở một vài địa phương, nhưng kết quả nghiên cứu xong không được tiếp tục triển khai nhân rộng do thiếu nguồn lực
Những năm gần đây được sự tài trợ của tổ chức UNFPA (Quĩ dân số của Liên hiệp quốc) chương trình CSSKSS VTN đã được khởi động, một số tài liệu đã được biên soạn, ở những tỉnh có tài trợ của tổ chức này đã có nhiều hình thức truyền thông cung cấp thông tin cho VTN về các nội dung CSSKSS VTN, nhiều câu lạc bộ
Trang 33cùng các Trung tâm Tư vấn về SKSS cho VTN được thành lập, các hình thức cung cấp thông tin đa dạng và khá dầy đủ, vấn đề tư vấn qua điện thoại thông qua đường dây 1080 đã được thiết lập Ở một số địa phương còn tổ chức các hội thi nhằm giúp cho VTN nâng cao nhận thức về các nội dung CSSKSS VTN Hiện nay các chương trình truyền hình đã dần đưa một số nội dung phù hợp nhằm cung cấp thông tin về CSSKSS cho VTN
1.3.3 Tại Yên Bái
Là một tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Việt Nam, có 30 dân tộc sinh sống trong đó có một số dân tộc ít người còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu như: Vấn
đề tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, vấn đề quan hệ tình dục không an toàn, chưa
sử dụng các biện pháp phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục (BLQĐTD) Ở một
bộ phận nhỏ đồng bào dân tộc còn có biểu hiện tạp giao
Tại Yên Bái được sự tài trợ của quĩ Dân số của Liên Hiệp Quốc (UNFPA) trong chu kỳ VI đã triển khai một số nội dung liên quan đến CSSKSS VTN, một số tài liệu được biên soạn, đào tạo cho cán bộ y tế của hệ thống CSSKSS và kế hoach hóa gia đình (KHHGĐ), tổ chức các Trung tâm tư vấn SKSS VTN thường xuyên tư vấn trực tiếp và tư vấn qua điện thoại Trên thực tế số lượng VTN được tiếp cận với các thông tin về CSSKSS không được nhiều, do tâm lý e ngại đến các Trung tâm tư vấn, thời gian đó dịch vụ điện thoại chưa phát triển nên khả năng tiếp cận của VTN qua kênh này còn quá ít
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản VTN
Như chúng ta đã biết việc cung cấp thông tin về CSSKSS cho VTN là hết sức cần thiết, song có rất nhiều cản trở trong việc cung cấp thông tin về CSSKSS cho VTN, vấn đề chưa được xã hội chấp nhận, chưa có một cơ chế thống nhất và toàn diện cho việc này, các bậc cha mẹ vẫn chưa thực sự hiểu sự cần thiết của vấn
đề này, bản thân các VTN vẫn còn e ngại khi tiếp xúc với các khía cạnh nhạy cảm của vấn đề, một vấn đề rất quan trọng nữa là thiếu nguồn lực và đặc biệt là chưa có đội ngũ cung cấp thông tin chính xác, toàn diện và đầy đủ
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu định lượng: học sinh lớp 10, 11, 12 trường THPT Lý Thường Kiệt
- Nghiên cứu định tính: học sinh, phụ huynh học sinh, thầy, cô giáo
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn đối với học sinh
Là học sinh đang học tập tại trường trong thời điểm nghiên cứu
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian: từ tháng 9/2010 đến tháng 06/2011
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Trường THPT Lý Thường Kiệt: phường Hồng
Hà-thành phố Yên Bái-tỉnh Yên Bái
Trường THPT Lý Thường Kiệt nằm ở trên địa bàn phường Hồng Hà là 01
trong 05 trường THPT của thành phố (trường THPT chuyên Nguyễn Tất Thành; trường THPT Nguyễn Huệ; trường THPT Hoàng Quốc Việt và trường THPT Lý Thường Kiệt) Chúng tôi chọn chủ đích trường THPT Lý Thường Kiệt với các lý do sau: trường nằm ở trung tâm của thành phố gần các khu đô thị, các trung tâm thương mại: bến tàu, bến xe là nơi tập trung nhiều các nhà hành, khách sạn, các dịch
vụ vui chơi giải trí của tỉnh Yên Bái, nơi có số lượng học sinh tương đối đông; trình
độ của học sinh so với các trường THPT khác trên địa bàn thành phố cũng tương đồng; trình độ chuyên môn của giáo viên cũng ngang bằng nhau
Trong năm học 2010-2011, nhà trường với tổng số 86 cán bộ, giáo viên, trong đó có 73 cán bộ có trình độ đại học (chiếm 84,9%); sau đại học là 06 (chiếm 7%), cán bộ khác 07 (chiếm 8,1%) Trường có tổng số 29 lớp với 1074 học sinh
Trong đó: - Lớp 10 có 12 lớp, tổng số 371 học sinh;
- Lớp 11 có 10 lớp, tổng số 369 học sinh;
- Lớp 12 có 9 lớp, tổng số 334 học sinh
Trang 352.2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính có can thiệp trước sau không đối chứng
2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.3.1 Nghiên cứu định lượng
- ε là giá trị tương ứng được chọn là 0,2
- Từ công thức trên tính được số đối tượng nghiên cứu là 288
Phương pháp chọn mẫu
- p dụng phương pháp chọn mẫu cụm
- Mỗi cụm là 1 lớp, giả định kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan của các học sinh nam và các học sinh nữ ngang nhau do đó chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Toàn trường có 29 lớp/29 cụm với tổng số 1.074 học sinh
- Mã hoá các lớp ở từng khối theo số thứ tự và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên, chúng tôi đã chọn được 9 lớp: 3 lớp 10; 3 lớp 11 và 3 lớp 12, mỗi lớp chọn
34 VTN trong đó có 17 nam và 17 nữ, với tổng số là 306 học sinh Chúng tôi tiến hành phát vấn theo lớp và khối cho đủ tổng số mẫu là 306 học sinh
2.3.2 Nghiên cứu định tính
- Học sinh: tổ chức được 9 cuộc thảo luận nhóm với khối lớp 10: 3 lớp; khối
lớp 11: 3 lớp; khối lớp 12: 3 lớp với tổng số 126 học sinh Học sinh được lựa chọn vào tham gia thảo luận là hoàn toàn tự nguyện
- Giáo viên: PVS 07, trong đó: 1 phó hiệu trưởng; 01 bí thư đoàn trường, 03
giáo viên chủ nhiệm mỗi khối 1 người và 02 giáo viên bộ môn giáo dục công dân
Trang 36- Cha /mẹ: 01 hội trưởng hội phụ huynh nhà trường
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
Công cụ thu thập: thông tin thu thập bằng phiếu tự điền, khuyết danh Bộ câu hỏi được biên soạn dựa trên bộ câu hỏi của một số nghiên cứu về vấn đề này đã được triển khai trước đây về SKSSVTN: điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, nghiên cứu dọc về sức khoẻ VTN và thanh niên tại một vùng đô thị hóa huyện Chí Linh-Hải Dương của Lê Cự Linh và cộng sự; nghiên cứu về tìm hiểu kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS VTN của Khuất Thu Hồng thực hiện
Số học sinh trong từng nhóm thảo luận được chọn bằng bốc thăm ngẫu nhiên Thời gian thu thập được BGH nhà trường bố trí một cách hợp lý theo lịch học của học sinh Số liệu được thu thập sau mỗi buổi học, mỗi khối lớp một buổi
Trước khi phát vấn bằng bộ phiếu được thiết kế sẵn, điều tra viên giới thiệu với học sinh về mục đích của nghiên cứu này cũng như chia sẻ với các em những vấn đề mà các em quan tâm xung quanh nội dung sức khoẻ sinh sản vị thành niên Điều tra viên cũng giới thiệu qua nội dung của phiếu tự điền, giải thích một số cụm
từ mà các em học sinh chưa r hiểu biết về các hành vi tình dục an toàn, quan niệm của bản thân về QHTD trước hôn nhân
Học sinh tự điền các thông tin vào phiếu điều tra dưới sự hướng dẫn, giám sát của điều tra viên
Sau khi điền xong thu phiếu tại lớp, thông tin được hoàn toàn giữ bí mật Nhóm điều tra viên là cán bộ của Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khoẻ tỉnh Yên Bái và sinh viên của trường Cao đ ng y tế Yên Bái
Trang 37BGH nhà trường bố trí, đảm tính bảo riêng tư không bị người khác làm phiền trong quá trình phỏng vấn/ thảo luận
Nội dung phỏng vấn/ thảo luận được ghi âm lại và tóm tắt bằng văn bản phỏng vấn/ thảo luận
2.5 Xây dựng biện pháp can thiệp:
*/ Mục tiêu TTGDSK: Nhằm chia sẻ những thông tin, kiến thức, thái độ, tình
cảm và kỹ năng tạoc cho học sinh có sự hiểu biết về CSSK đặc biệt là SKSS dẫ đến các thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành động đúng
*/ Nội dung truyền thông, GDSK:
- Những thay đổi về tâm sinh lý trong thời kỳ VTN;
- Tình dục an toàn, tình dục lành mạnh;
- Các biện pháp tránh thai cho VTN;
- Mang thai ở tuổi VTN và tác hại của nó;
- Phòng chống các bệnh NKĐSS và bệnh LTQĐTD bao gồm cả HIV/AIDS
- Dịch vụ CSSKSS VTN
*/ Các bước tiến hành:
- Tập huấn cho các thành viên tham gia truyền thông giáo dục;
- Các thành viên phối hợp với BGH nhà trường tham gia tổ chức hoạt động TTGDSK theo tháng bằng truyền thông trực tiếp và gián tiếp Các hoạt động của
mô hình diễ ra trong 6 tháng
*/ Phương tiện truyền thông giáo dục sức khoẻ:
- Bộ máy chiếu vi tính để phục vụ cho truyền thông trực tiếp
- Tờ rơi về CSSKSS
- Tài liệu về nội dung truyền thông
*/ Kiểm tra giám sát: Hoạt động của nhóm nghiên cứu: Mỗi tháng giám sát 1 lần để xem xét tiến độ thực hiện truyền thông và và bổ sung những vấn đề cần hỗ trợ cho công tác truyền thông giáo dục
2.6 Các biến số nghiên cứu
Trang 382.6.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
- Dân tộc
- Tuổi
- Tôn giáo
2.6.2 Đặc điểm gia đình của đối tượng nghiên cứu
- Tình trạng hôn nhân của bố, mẹ
- Tình trạng học vấn của bố, mẹ
- Nghề nghiệp của bố, mẹ
2.6.3 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành về SKSS của đối tượng nghiên cứu
Thông tin về kiến thức
- Biết về dấu hiệu dậy thì
- Biết về tuổi kết hôn theo pháp luật
- Biết về QHTD
- Biết giai đoạn dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh nguyệt
- Biết các biện pháp tránh thai
- Biết nơi cung cấp BPTT
- Biết ảnh hưởng của nạo phá thai
- Biết tai biến của nạo phá thai
- Đối tượng mà học sinh thường trao đổi nhiều nhất về QHTD
- Đối tượng mà học sinh thường trao đổi nhiều nhất về BPTT
- Hiểu biết của học sinh về bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Biết lý do mắc bệnh LTQĐTD
- Biết xử trí khi nghi bị bệnh LTQĐTD
- Biết các đường lây truyền HIV/AIDS
Thông tin về thái độ
- Thái độ của học sinh về việc có người yêu ở tuổi VTN
- Thái độ của học sinh về việc QHTD trước hôn nhân
- Thái độ của học sinh trong việc sử dụng BPTT khi QHTD
Trang 39- Thái độ của học sinh về việc mang thai ở tuổi VTN
- Thái độ học sinh về giáo dục SKSS trong nhà trường
Thông tin về hành vi
- Học sinh đã có người yêu
- Tuổi học sinh khi bắt đầu có người yêu
- Học sinh thường làm gì khi đi chơi với người yêu
- Học sinh đã có QHTD lần đầu
- Địa điểm học sinh QHTD lần đầu
- Sử dụng các BPTT trong lần QHTD lần đầu
- Các BPTT học sinh thường sử dụng trong QHTD lần đầu
- Các lý do học sinh không sử dụng các BPTT trong QHTD lần đầu
- Thảo luận về tình dục, BPTT, bệnh LTQĐTD
- Nguồn cung cấp thông tin về SKSS cho học sinh
- Nguồn cung cấp thông tin
- Muốn nhận nguồn thông tin của đối tường nào
2.7 Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá
2.7.1 Đánh giá kiến thức về hôn nhân, tình dục, tránh thai, bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS của đối tượng nghiên cứu
Thang điểm với tổng số điểm tối đa đánh giá về kiến thức là 41 điểm
Tổng số điểm đạt: - Trả lời đạt đúng 41 câu = 100 %
- Trả lời đạt đúng từ 30-40 câu = 76-99%
- Trả lời đạt đúng từ 21-29 câu = 51-75%
Tổng số điểm không đạt khi trả lời đúng <= 20 câu = < 50%
Trang 40C21 Chọn ý 1,2,3,4,5,6,7,8,9 (Chọn đúng ≥ 5 ý) Mỗi ý 1 điểm
C23 Chọn ý 1,2,3,4 (chọn đúng ≥ 2 ý) Mỗi ý 1 điểm C24 Chọn ý 1,2,3,5 (Chọn đúng ≥ 3 ý) Mỗi ý 1 điểm
2.7.2 Đánh giá thái độ của đối tượng nghiên cứu về hành vi SKSS
Thang điểm với tổng số điểm tối đa là 05 điểm
Tổng số điểm đạt: - Trả lời đúng 05 câu =100 %
- Trả lời đúng từ 03-04 câu = 51-99%
Tổng số điểm không đạt khi trả lời đúng <= 02 câu = <50%
2.7.3 Đánh giá hành vi của đối tượng nghiên cứu về tình dục và tránh thai
Thang điểm với tổng số điểm tối đa 04 điểm Đạt yêu cầu khi trả lời đúng trên 50 % số điểm
Tổng số điểm: < 02 điểm == > Hành vi không đạt
Tổng số điểm ≥ 02 điểm == > Hành vi đạt