1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiểm soát nhiểm khuẩn tại bệnh viện đa khoa thành phố yên bái và kết quả một số giải pháp can thiệp

111 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một năm triển khai thực hiện thông tư, đến nay đã đạt được một số kết quả ban đầu như: một số bệnh viện đã thành lập được khoa hoặc bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn, một số trang thiết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC THÁI NGUYÊN

NGUYỄN VĂN TUYẾN

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ YÊN BÁI

VÀ KẾT QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

NGUYỄN VĂN TUYẾN

THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ YÊN BÁI

VÀ KẾT QUẢ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu nghiêm túc, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận án và bảo vệ tốt nghiệp theo kế hoạch của Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên

Có được kết quả này, trước hết cho tôi được gửi lời cảm ơn đến tập thể các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã truyền đạt những kiến thức quý giá trong thời gian tôi được học tập tại trường Đặc biệt tôi xin được trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Đắc Trung, Phó Trưởng Bộ môn Y học cơ sở, Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên đã hướng dẫn, giúp

đỡ tôi tận tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành bản luận án này

Tôi cũng xin được cảm ơn Ban Giám đốc và tất cả cán bộ viên chức của Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái; xin cảm ơn tập thể cán bộ, công chức Phòng Nghiệp vụ Y, Sở Y tế; Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Yên Bái đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin và tài liệu liên quan phục vụ cho công tác nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập

và nghiên cứu hoàn thành luận án này

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuyến

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Các hình thái, tỷ lệ, căn nguyên và phương thức lây truyền của nhiễm khuẩn bệnh viện 4

1.3 Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện 13

1.4 Biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện 16

1.5 Thực trạng công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3 Các giải pháp can thiệp 29

2.4 Các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu 29

2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 32

2.6 Đạo đức nghiên cứu 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thực trạng cán bộ y tế của bệnh viện 35

Trang 6

3.2 Thực trạng công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện 37

3.3 Thực trạng kiến thức, thực hành của cán bộ bệnh viện về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trước khi can thiệp 41

3.4 Kết quả sau can thiệp 49

Chương 4 BÀN LUẬN 58

4.1 Thực trạng cán bộ y tế của bệnh viện 58

4.2 Thực trạng công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện 59

4.3 Thực trạng kiến thức, thực hành của cán bộ bệnh viện về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trước khi can thiệp 60

4.4 Đánh giá kết quả giải pháp truyền thông về kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện 64

KẾT LUẬN 68

KHUYẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO a Phụ lục j

Trang 7

KS NKBV Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.3 Phân bố NVYT trực tiếp làm công tác KSNK theo giới 37 3.4 Phân bố NVYT trực tiếp làm công tác KSNK theo trình độ 38

3.17 Đánh giá công tác CNK tại các khoa theo bảng kiểm 48 3.18 Kiến thức về rửa tay thường quy và xử lý dụng cụ y tế 49

3.20 Thực hành rửa tay thường quy và xử lý dụng cụ y tế 53

Trang 9

Số Tên bảng Trang

3.27 Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ, bỏng trước và sau can thiệp 57 3.28 Xếp loại công tác CNK tại khoa lâm sàng trước và sau can thiệp 57

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

3.5 Phân bố NVYT làm công tác KSNK theo thâm niên công tác 39 3.6 Kiến thức của NVYT về rửa tay thường quy trước và sau can

3.7 Kiến thức của NVYT về phân loại và xử lý chất thải y tế 53

Trang 11

Mỹ hàng năm ước tính có 2 triệu bệnh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện, làm 90.000 người tử vong, tiêu tốn 4,5 tỷ USD [7] Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam chưa được xác định đầy đủ, chưa có những nghiên cứu quốc gia đánh giá chi phí của nhiễm khuẩn bệnh viện; tại Bệnh viện Chợ Rẫy nghiên cứu cho thấy 1 ca nhiễm khuẩn bệnh viện làm kéo dài thời gian nằm viện 15 ngày, viện phí trung bình mỗi ngày là 192.000 VNĐ, có thể ước tính chi phí phát sinh do nhiễm khuẩn bệnh viện là vào khoảng 2.880.000 VNĐ [15]

Ngày nay, kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) có hiệu quả đang là thách thức toàn cầu Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia y tế, hơn 1/3

số trường hợp nhiễm trùng mắc phải ở bệnh viện có thể tránh được nếu như tuân thủ nghiêm các biện pháp thực hành chống nhiễm khuẩn đơn giản là phòng ngừa phổ cập như rửa tay hoặc sát khuẩn tay thường quy, thực hiện tiêm an toàn, xử lý khử khuẩn dụng cụ y tế, vệ sinh môi trường bệnh viện, xử

lý chất thải y tế

Tại tỉnh Yên Bái, công tác kiểm soát nhiễm khuẩn đã được quan tâm

Trang 12

chú trọng, nhất là từ khi có Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Sau một năm triển khai thực hiện thông tư, đến nay đã đạt được một số kết quả ban đầu như: một số bệnh viện đã thành lập được khoa hoặc bộ phận kiểm soát nhiễm khuẩn, một số trang thiết bị chống nhiễm khuẩn (CNK) đã được quan tâm đầu tư, một số bệnh viện đã có cán bộ chuyên trách làm việc này Tuy nhiên, hiện nay công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại tỉnh còn nhiều bất cập, chất lượng chưa cao; khoa hoặc tổ kiểm soát nhiễm khuẩn mới thành lập thiếu cán bộ chuyên trách chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, năng lực chuyên môn còn hạn chế, hầu hết cán bộ chưa được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực này; trang thiết bị còn thiếu thốn, mới chỉ có 2/14 bệnh viện trên địa bàn của tỉnh có hệ thống hấp sấy tập trung; mới có 3/14 bệnh viện được đầu tư hoàn chỉnh hệ thống xử lý chất thải y tế, số còn lại vẫn

xử lý thủ công

Trong những năm qua, Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái là một trong những bệnh viện đã được Sở Y tế quan tâm đầu tư, cơ sở vật chất được đầu tư xây dựng, khu nhà chống nhiễm khuẩn đã được cải tạo nâng cấp tương đối hoàn chỉnh; hệ thống xử lý chất thải y tế đã được đầu tư lắp đặt hoàn chỉnh (gồm cả chất thải rắn và chất thải lỏng) và đi vào hoạt động từ năm

2009, tình hình xử lý chất thải tại bệnh viện đã được cải thiện rất nhiều Tuy nhiên, công tác chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện vẫn còn nhiều bất cập đó là: chưa thành lập được bộ phận chống nhiễm khuẩn riêng, việc xử lý tiệt khuẩn các dụng cụ nằm tản mát ở tất cả các khoa như: Khoa Dược xử lý hấp sấy tiệt trùng đồ vải, phòng mổ xử lý tiệt trùng dụng cụ mổ, còn lại dụng cụ của khoa nào thì khoa đó tự hấp sấy, chưa có cán bộ chuyên trách làm việc này, chủ yếu là cán bộ làm kiêm nhiệm Trang thiết bị tiệt trùng còn rất thiếu thốn và lạc hậu Mặt khác nhân viên y tế (NVYT) hiểu biết đúng về kiểm soát nhiễm

Trang 13

khuẩn còn rất hạn chế; hầu hết các cán bộ y tế chưa tuân thủ rửa tay thường quy theo đúng quy định và rửa không đúng quy trình; xử lý dụng cụ chưa đúng quy trình, chưa tập trung; việc giám sát chống nhiễm khuẩn chưa được thực hiện thường xuyên, không khoa học Đây thực sự là những yếu tố nguy

cơ cao có thể gây nên nhiễm khuẩn bệnh viện, gây tốn kém cho người bệnh trong quá trình điều trị và nguy hiểm đến tính mạng người bệnh Từ năm 2000 đến nay tại tỉnh Yên Bái mới có 2 nghiên cứu về xử lý chất thải y tế tại một số bệnh viện, chưa có một nghiên cứu nào toàn diện về công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

Để tìm ra giải pháp tốt hơn cho công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện thành phố trong thời gian tới, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:

“Thực trạng kiểm soát nhiểm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa thành

phố Yên Bái và kết quả một số giải pháp can thiệp”

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mô tả thực trạng kiểm soát nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái năm 2011

2 Đánh giá kiến thức, thực hành của cán bộ bệnh viện trong thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện

3 Đánh giá kết quả của giải pháp truyền thông về kiểm soát nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm nhiễm khuẩn bệnh viện

Nhiễm khuẩn bệnh viện là những nhiễm khuẩn mắc phải trong thời gian nằm viện (thường xuất hiện sau 48 giờ nhập viện) Nhiễm khuẩn này không hiện diện cũng như không ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện

1.2 Các hình thái, tỷ lệ, căn nguyên và phương thức lây truyền của nhiễm khuẩn bệnh viện

1.2.1 Các hình thái, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện và căn nguyên gây nhiễm khuẩn bệnh viện

Có 6 hình thái NKBV thường gặp đó là:

- Viêm phổi

- Nhiễm khuẩn máu

- Nhiễm khuẩn vết mổ

- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu

- Viêm dạ dày, ruột

- Nhiễm khuẩn da, mô mềm

Về tỷ lệ NKBV trên thế giới: Theo thống kê của hệ thống quốc gia về giám sát NKBV (National Nosocomial Infection Surveillance System – NNISS) thuộc Trung tâm Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control – CDC): NKBV xảy ra trên 5% bệnh nhân nhập viện, thay đổi giao động từ 5-15% tùy theo loại bệnh, tỷ lệ này cao hơn ở những bệnh nhân phẫu thuật cũng như người bệnh tại khoa hồi sức tích cực [7]

Tại Việt Nam, có ba điều tra cắt ngang quốc gia đã được thực hiện Điều tra năm 1998 trên 901 bệnh nhân trong 12 bệnh viện toàn quốc cho thấy

Trang 15

tỷ lệ NKBV là 11,5%, trong đó nhiễm khuẩn vết mổ chiếm 51% trong tổng số các ca NKBV Năm 2001, tỷ lệ NKBV là 6,8% trong 11 bệnh viện và viêm phổi bệnh viện là nguyên nhân thường gặp nhất (41,8%) Điều tra năm 2005,

tỷ lệ NKBV trong 19 bệnh viện toàn quốc là 5,7% và viêm phổi bệnh viện cũng là nguyên nhân thường gặp nhất (55,4%) [47] Qua 4 đợt điều tra cắt ngang năm 2001, 2002, 2003 và 2004 tại bệnh viện Việt Đức, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện chung là 4,1% (ở 1127 bệnh nhân) Tỷ lệ nhiễm khuẩn vết

mổ là 3,2% ở 808 bệnh nhân mổ, là loại nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp nhất, chiếm hơn một nửa tổng số nhiễm khuẩn bệnh viện (56,6%) [14] Tỷ lệ NKBV tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2000 là 9,6% Điều tra 5 bệnh viện thuộc

Sở Y tế Hà Nội năm 2006 thì tỷ lệ NKBV chung là 10%; điều tra NKBV ở 36 bệnh viện khu vực phía Bắc năm 2006-2007 tỷ lệ NKBV là 7,8% Theo một nghiên cứu của Chu Minh Nhì tại bệnh viện Phổi trung ương năm 2008, tỷ lệ NKBV chung là 8,1%, trong đó khoa HSCC có tỷ lệ NKBV cao nhất (20%), nhiễm khuẩn hô hấp đứng đầu trong 5 loại NKBV được phát hiện chiếm 48,6% [24] Một nghiên cứu tiến cứu trên 449 bệnh nhân điều trị tại khoa Điều trị tích cực – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2002 đến tháng 6/2003 cho thấy tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn phổi bệnh viện chiếm 19,8% [14] Tỷ lệ nhiễm trùng máu trên bệnh nhân có đặt cathether là 0,85 /1000 BN nằm điều trị tại khoa Hồi sức tăng cường sơ sinh của bệnh viện Nhi Đồng I [6] Tỷ lệ bệnh nhân bị viêm phổi mắc phải tại khoa săn sóc đặc biệt của bệnh viện Chợ Rẫy 2003-2004 là 24,3% [34]

Căn nguyên NKBV đa số là vi khuẩn Gram âm chiếm 78%; 19 % là

Gram âm và 3% là Candida sp [47] Nghiên cứu tiến cứu trên 449 bệnh nhân

điều trị tại khoa Điều trị tích cực – Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2002 đến tháng 6/2003 cho thấy tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn phổi bệnh viện chiếm

19,8% Bốn loại tác nhân chính gây bệnh là Acinetobacter baumanii (31,8%),

Trang 16

Pseudomonas aeruginosa (25,0%), Klebsiella pneumonia (14,8%) và Candida spp (11,4%) Các yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn phổi bệnh viện

qua phân tích hồi quy logistic: Đặt nội khí quản (OR = 5,6; p < 0,001), mở khí quản (OR = 2,9; p < 0,001), đặt catheter tĩnh mạch trung tâm (OR = 1,9; p < 0,05) [17]

Theo thống kê của hệ thống quốc gia về giám sát NKBV (National Nosocomial Infection Surveeillance System - NNISS) thuộc Trung tâm Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control - CDC): NKBV xảy ra trên 5% bệnh nhân nhập viện, thay đổi giao động từ 5-15% tùy theo loại bệnh, tỷ

lệ này cao hơn ở những bệnh nhân phẫu thuật cũng như người bệnh tại khoa hồi sức tích cực [49]

Nhiễm trùng bệnh viện đang phổ biến, hình thái nhiễm trùng này đang góp phần quan trọng tới tỷ lệ thương tật và tử vong Thậm chí chúng sẽ trở nên nghiêm trọng hơn một vấn đề y tế công cộng với gia tăng về kinh tế và tác động tới con người do: (1), Sự gia tăng về số lượng và mật độ người đông đúc; (2), miễn dịch bị tổn thương thường xuyên hơn (tuổi, bệnh, thuốc điều trị); (3), sự xuất hiện của các vi sinh vật mới; (4), gia tăng sự đề kháng của vi khuẩn với các thuốc kháng sinh [58]

Những vị trí thường bị nhiễm trùng bệnh viện rất khác nhau Các nhiễm khuẩn ở hệ thống tiết niệu là loại nhiễm trùng bệnh viện phổ biến nhất, 80%

số trường hợp nhiễm khuẩn này là do đặt ống sonde bàng quang [59], [64] Nhiễm khuẩn tiết niệu ít liên quan tới thương tật hơn so với các loại nhiễm trùng bệnh viện khác nhưng đôi khi nó có thể dẫn tới nhiễm trùng huyết và gây tử vong Các vi khuẩn gây nhiễm khuẩn tiết niệu thường từ quần thể vi

khuẩn ở đường tiêu hóa như E coli hoặc nhiễm phải trong bệnh viện (Klebsiella kháng đa kháng sinh) Các nhiễm trùng vị trí phẫu thuật cũng là

dạng nhiễm trùng bệnh viện phổ biến, tỷ lệ dao động từ 0,5% đến 15% tùy

Trang 17

thuộc vào vị trí phẫu thuật và thể trạng của bệnh nhân Nhiễm trùng vị trí phẫu thuật là một vấn đề đáng lo ngại làm hạn chế lợi ích của việc can thiệp bằng phẫu thuật Nhiễm trùng vị trí phẫu thuật thường mắc phải do chính phẫu thuật đó (nhiễm trùng nội sinh) hoặc từ bên ngoài (nhiễm trùng ngoại sinh) như từ môi trường không khí, dụng cụ y tế, người phẫu thuật viên, nhân viên y tế khác [57], [61] Nhiễm trùng nội sinh là do hệ vi khuẩn trên da hoặc trong vị trí phẫu thuật hoặc đôi khi từ máu được truyền trong phẫu thuật Các

vi khuẩn gây nhiễm trùng phẫu thuật luôn tồn tại tùy thuộc vào loại phẫu thuật, vị trí phẫu thuật và kháng sinh mà bệnh nhân được sử dụng Yếu tố nguy cơ chính là mức độ ô nhiễm của quá trình phẫu thuật (sạch, nhiễm sạch, nhiễm, bẩn), mức độ ô nhiễm phụ thuộc đáng kể vào thời gian của cuộc phẫu thuật và điều kiện chung của bệnh nhân Các yếu tố ảnh hưởng khác bao gồm chất lượng của kỹ thuật phẫu thuật, việc sử dụng các dụng cụ xâm nhập như ống dẫn lưu, độc lực của vi sinh vật, nhiễm trùng đồng thời tại các vị trí khác, việc cạo lông trước phẫu thuật và kinh nghiệm của nhóm phẫu thuật viên [65] Viêm phổi mắc phải trong bệnh viện xuất hiện ở một số nhóm bệnh nhân, phổ biến nhất là những bệnh nhân phải thở máy xâm nhập tại các phòng điều trị tích cực - những nơi có tỷ lệ viêm phổi khoảng 3%/ ngày Có tỷ lệ tử vong cao do viêm phổi liên quan tới thở máy Tuy nhiên yếu tố nguy cơ rất khó xác định Yếu tố nguy cơ cho nhiễm khuẩn loại này có thể là hình thức thở máy

và thời gian thở máy, chất lượng chăm sóc hô hấp, thể trạng bệnh nhân và các kháng sinh được sử dụng trước đó Ngoài viêm phổi liên quan tới thở máy những bệnh nhân bị động kinh hoặc giảm ý thức đều có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện mặc dù không phải đặt nội khí quản Viêm tiểu phế quản do virus (virus hợp bào hô hấp) là phổ biến tại các khoa nhi Cúm và viêm phổi thứ phát do vi khuẩn có thể xuất hiện tại các cơ sở y tế dành cho người cao

tuổi Với những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng, viêm phổi do Legionella

Trang 18

và Aspergillus có thể xảy ra Tại các nước có tỷ lệ bệnh lao cao, đặc biệt do

các chủng vi khuẩn lao đa kháng thuốc thì sự lây nhiễm của bệnh ở các cơ sở

y tế là một vấn đề quan trọng Nhiễm trùng huyết mắc phải trong bệnh viện chỉ chiếm khoảng 5% trong số các nhiễm trùng bệnh viện những tỷ lệ tử vong cao trên 50% do một số loại vi khuẩn Tỷ lệ này đang tăng lên đặc biệt do một

số vi khuẩn nhất định như Staphylococcus coagulase (-) kháng đa kháng sinh

và các nấm Candida spp Nhiễm trùng huyết có thể xảy ra từ vị trí da đặt thiết

bị nội mạch hoặc trong các đường luồn dưới da của các ống thông Quần thể

vi khuẩn cư trú hoặc tiềm ẩn trên da là nguồn gây nhiễm trùng huyết Yếu tố nguy cơ chính cho dạng nhiễm trùng này là thời gian đặt ống thông, mức độ

vô trùng tại vị trí đặt ống và sự chăm sóc ống thông thường xuyên Trên đây

là 4 dạng nhiễm trùng bệnh viện quan trọng và phổ biến nhất nhưng còn có vị trí nhiễm trùng tiềm tàng khác: các nhiễm trùng da và mô mềm (các viêm nhiễm mở như loét, bỏng, loét ở những vị trí tỳ đè), từ những nhiễm trùng này

có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân; viêm dạ dày - ruột (là nhiễm trùng bệnh viện phổ biến nhất ở trẻ em trong đó rotavirus là căn nguyên chính); viêm xoang và các viêm nhiễm mắt, kết mạc; viêm nội mạc tử cung và các viêm

nhiễm của cơ quan sinh sản sau khi sinh [73]

Để xác định mức độ và nguyên nhân nhiễm khuẩn huyết mắc phải tại bệnh viện của trẻ em tại châu Phi, Alexander và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu thuần tập tương lai qua kiểm tra dữ liệu của 33.188 trường hợp nhập viện tại bệnh viện quận Kilifi, tỉnh Coast của Kenya từ 16/4/2002 đến 30/9/2009 Nhóm nghiên cứu đã định nghĩa nhiễm khuẩn huyết như là một nhiễm khuẩn bệnh viện khi mà biểu hiện của nhiễm khuẩn này xuất hiện sau khi bệnh nhi nhập viện 48 giờ hoặc sau 48 giờ Kết quả cho thấy: nguy cơ chung của nhiểm khuẩn huyết trong giai đoạn này là từ 5 - 9/1000 bệnh nhân nhập viện (95% CI 5·2–6·9), sự gia tăng của nguy cơ nhiễm khuẩn này là

Trang 19

27% trong một năm Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhi mắc nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện là 53%, trong khi tỷ lệ này ở những trường hợp nhiễm khuẩn huyết tại cộng đồng là 24% và 6% ở những bệnh nhân không có nhiểm khuẩn

huyết Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Acinetobacter spp, streptococci nhóm D, và Pseudomonas aeruginosa chiếm

3/4 trong các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiễm khuẩn huyết bệnh viện có liên quan đáng kể tới tình trạng suy dinh dưỡng nặng và truyền máu ở trẻ em không có thiếu máu nặng [52]

Tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện đã được nhóm nghiên cứu của Magill khảo sát ở 9 bệnh viện tại Jacksonville, Florida, Hoa Kỳ Kết quả cho thấy trong số

851 bệnh nhân được điều tra thì có 6% bênh nhân mắc một hoặc trên một bệnh nhiễm trùng bệnh viện Nhiễm trùng vị trí phẫu thuật, nhiễm trùng tiết niệu, viêm phổi và nhiễm trùng máu chiếm tới 75,8% các trường hợp được

phát hiện Staphylococcus aureus là căn nguyên phổ biến nhất của nhiễm

trùng bệnh viện (15,5%) Việc điều trị bằng kháng sinh là chỉ số dự phòng nhạy cảm nhất mà đã xác định được 95,5% các bệnh nhân mắc nhiễm trùng bệnh viện [63]

Một nghiên cứu hồi cứu về căn nguyên gây nhiễm trùng máu mắc phải trong bệnh viện trong thời gian 10 năm đã được thực hiện tại viện ung thư châu Âu, Milan, Italy từ tháng 01/1999 đến tháng 12/2008 Trong tổng số 13.058 mẫu cấy máu của 2.976 bệnh nhân, kết quả dương tính ở 2.447 mẫu máu với 740 bệnh nhân có biểu hiện nhiễm trùng/sốt: 358 bệnh nhân (48%) tại khoa ung thư và 382 bệnh nhân (52%) tại các khoa phẫu thuật Các vi khuẩn gram dương là căn nguyên chính cho 63% bệnh nhân tại khoa ung thư

và 55% bệnh nhân tại khoa phẫu thuật Vi khuẩn gram âm cũng là căn nguyên phổ biến ở những trường hợp nhiễm trùng máu không đặt catheter (75% với bệnh nhân khoa ung thư và 50% với bệnh nhân khoa phẫu thuật) [66]

Trang 20

Để xác định mức độ và nguyên nhân nhiễm khuẩn huyết mắc phải tại bệnh viện của trẻ em tại châu Phi, Alexander và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu thuần tập tương lai qua kiểm tra dữ liệu của 33.188 trường hợp nhập viện tại bệnh viện quận Kilifi, tỉnh Coast của Kenya từ 16/4/2002 đến 30/9/2009 Nhóm nghiên cứu đã định nghĩa nhiễm khuẩn huyết như là một nhiễm khuẩn bệnh viện khi mà biểu hiện của nhiễm khuẩn này xuất hiện sau khi bệnh nhi nhập viện 48 giờ hoặc sau 48 giờ Kết quả cho thấy: nguy cơ chung của nhiểm khuẩn huyết trong giai đoạn này là từ 5-9/1000 bệnh nhân nhập viện (95% CI 5·2–6·9), sự gia tăng của nguy cơ nhiễm khuẩn này là 27% trong một năm Tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhi mắc nhiễm khuẩn huyết tại bệnh viện là 53%, trong khi tỷ lệ này ở những trường hợp nhiễm khuẩn huyết tại cộng đồng là 24% và 6% ở những bệnh nhân không có nhiểm khuẩn

huyết Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Staphylococcus aureus, Acinetobacter spp, streptococci nhóm D, và Pseudomonas aeruginosa chiếm

3/4 trong các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiễm khuẩn huyết bệnh viện có liên quan đáng kể tới tình trạng suy dinh dưỡng nặng và truyền máu ở trẻ em không có thiếu máu nặng [52]

Tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện đã được nhóm nghiên cứu của Magill khảo sát ở 9 bệnh viện tại Jacksonville, Florida, Hoa Kỳ Kết quả cho thấy trong số

851 bệnh nhân được điều tra thì có 6% bênh nhân mắc một hoặc trên một bệnh nhiễm trùng bệnh viện Nhiễm trùng vị trí phẫu thuật, nhiễm trùng tiết niệu, viêm phổi và nhiễm trùng máu chiếm tới 75,8% các trường hợp được

phát hiện Staphylococcus aureus là căn nguyên phổ biến nhất của nhiễm

trùng bệnh viện (15,5%) Việc điều trị bằng kháng sinh là chỉ số dự phòng nhạy cảm nhất mà đã xác định được 95,5% các bệnh nhân mắc nhiễm trùng bệnh viện [63]

Trang 21

Một nghiên cứu hồi cứu về căn nguyên gây nhiễm trùng máu mắc phải trong bệnh viện trong thời gian 10 năm đã được thực hiện tại viện ung thư châu Âu, Milan, Italy từ tháng 01/1999 đến tháng 12/2008 Trong tổng số 13.058 mẫu cấy máu của 2.976 bệnh nhân, kết quả dương tính ở 2.447 mẫu máu với 740 bệnh nhân có biểu hiện nhiễm trùng/sốt: 358 bệnh nhân (48%) tại khoa ung thư và 382 bệnh nhân (52%) tại các khoa phẫu thuật Các vi khuẩn gram dương là căn nguyên chính cho 63% bệnh nhân tại khoa ung thư

và 55% bệnh nhân tại khoa phẫu thuật.Vi khuẩn gram âm cũng là căn nguyên phổ biến ở những trường hợp nhiễm trùng máu không đặt catheter (75% với bệnh nhân khoa ung thư và 50% với bệnh nhân khoa phẫu thuật) [66]

1.2.2 Phương thức lây truyền của nhiễm khuẩn bệnh viện

Có 3 phương thức lây truyền trong NKBV:

- Phương thức thứ nhất là lây truyền qua tiếp xúc: xảy ra do sự tiếp xúc trực tiếp giữa da với da và có sự truyền vi sinh vật từ người bệnh này sang người bệnh khác hay từ tay nhân viên y tế nhiễm khuẩn tiếp xúc với người bệnh, cụ thể như sau:

Một là từ những người bệnh bị nhiễm khuẩn hoặc những người bệnh mang nguồn vi khuẩn nhưng không có triệu chứng lâm sàng Quá trình lây truyền này có thể xảy ra khi sự chăm sóc không được đảm bảo vô khuẩn, đưa nguồn bệnh từ người này sang người khác và ngược lại

Hai là từ bề mặt môi trường bị nhiễm (bề mặt nơi người bệnh nằm điều trị, bề mặt máy móc, trang thiết bi sử dụng cho người bệnh ), khi nhân viên y

tế đụng chạm vào bề mặt môi trường đó mà không rửa tay khi tiếp xúc với người bệnh, thì họ sẽ đưa nguồn vi khuẩn đến người bệnh

Ba là chính từ người NVYT, nhân viên có thể làm lây trực tiếp hay gián tiếp nguồn vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là vi khuẩn kháng thuốc cho người bệnh qua bàn tay bị nhiễm khuẩn trong quá trình chăm sóc bệnh nhân

Trang 22

Bệnh lây truyền qua đường này thường do cộng sinh hay nhiễm khuẩn những vi sinh vật đa kháng, các nhiễm khuẩn da và đường ruột như:

Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA), Herpes simplex, chốc,

ghẻ những trẻ dưới 6 tuổi thường dễ lây nhiễm virus đường ruột, virus viêm gan A theo đường này Đây là đường lây hay gặp nhất và nghiêm trọng nhất

- Phương thức thứ hai là lây truyền qua giọt bắn: xảy ra do những bệnh nguyên lây truyền qua những giọt phân tử hô hấp lớn (> 5 µm) tạo ra trong quá trình ho, hắt hơi, nói chuyện hoặc trong một số thủ thuật hút rửa, nội soi

Sự lây truyền qua giọt bắn ly ti chứa vi sinh vật từ người này sang người khác trong khoảng cách ngắn trong không khí (< 1 mét) và đi vào niêm mạc mắt, niêm mạc mũi, miệng của người tiếp cận Các bệnh thường gặp lây theo đường này bao gồm: viêm phổi, ho gà, bạch hầu, cúm, SARS, quai bị và viêm màng não

- Phương thức thứ ba là lây truyền qua đường khí: xảy ra do sự lây lan các giọt nước bốc hơi trong không khí chứa các tác nhân nhiễm khuẩn có kích thước phân tử < 5 µm phát sinh ra khi bệnh nhân ho, hay hắt hơi Vi sinh vật truyền theo cách này có thể phân tán rộng trong dòng không khí, có thể lơ lửng trong không khí, lưu chuyển trong một thời gian dài Những vi sinh vật truyền bằng đường khí như lao phổi, rubella, thủy đậu, H5N1 và SARS cũng

có thể lây qua đường này khi thực hiện các thủ thuật có tạo khí dung

1.2.3 Các yếu tố nguy cơ làm gia tăng nhiễm khuẩn bệnh viện

Có 2 nhóm nguy cơ chính gây NKBV đó là:

Yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện khách quan: do cơ địa của chính người bệnh (người già, trẻ sơ sinh non yếu, người mắc bệnh mãn tính phải nằm viện kéo dài, người phải trải qua nhiều can thiệp xâm lấn vào cơ thể)

Yếu tố nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện chủ quan: do tình trạng quá tải người bệnh quá đông đúc , nhân viên y tế thiếu , phòng ốc quá chật hẹp ,

Trang 23

thiếu dung dịch sát khuẩn tay , thiếu bồn rửa tay ; công tác chăm sóc , điều trị chưa được đảm bảo vô trùng ; NVYT và người nhà bệnh nhân không tuân thủ rửa tay thường quy khi chăm sóc bệnh nhân ; sử du ̣ng đồ dùng kém vê ̣ sinh như khăn lau , chiếu trải dưới đất (sau đó lại phủ lên những chiếc khăn trải giường sạch mà bệnh viện cung cấp) Đây là những yếu tố nguy cơ góp phần mang nguồn bệnh đến cho người bệnh

1.3 Hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện

Nhiều nghiên cứu cho thấy hậu quả của NKBV là rất nghiêm trọng và rất đáng báo động, nó làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh, xuất hiện các chủng vi khuẩn kháng thuốc, tăng tỷ lệ tử vong và gây những phí tổn không nhỏ cho mỗi gia đình trong quá trình điều trị, gây lãng phí nguồn lực của xã hội

Theo thông kế của Mỹ cho thấy chi phí điều trị cho một bệnh nhân NKBV thường gấp 2 đến 4 lần so với những trường hợp không NKBV Trong

đó chi phí phát sinh do nhiễm khuẩn huyết có liên quan đến dụng cụ đặt trong lòng mạch là từ 34.508 USD đến 56.000 USD/1 bệnh nhân và do viêm phổi trên người bệnh có thông khí hỗ trợ là từ 10.000 USD đến 25.000 USD/1 bệnh nhân Để điều trị 250.000 ca nhiễm trùng máu liên quan đến ống thông trong toàn bộ hệ thống bệnh viện, mỗi năm Mỹ phải tốn hơn 2 tỷ USD ( trong tổng số thiệt hại khoảng 6,5 tỷ USD mỗi năm do nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc y tế Tại châu Âu, mỗi năm nhiễm khuẩn bệnh viện cũng tiêu tốn khoảng 16 triệu ngày giường và khoản tài chính ước khoảng 7 tỷ Euro Riêng tại Bỉ, mỗi năm gần 1 triệu ngày giường của các bệnh viện cho các bệnh nhân NKBV Tại các đơn vị chăm sóc đặc biệt ở Mexico chi phí trung bình cho một bệnh nhân NKBV là 11.591 USD, tại Argentina chi phí cho mỗi ca bệnh nhiễm trùng máu liên quan đến ống thông là 4.888 USD và nhiễm trùng đường tiết niệu liên quan đến ống thông là 2.255 USD Tại Ấn Độ, các chi phí

Trang 24

điều trị cho 1 bệnh nhân phẫu thuật tim bị nhiễm trùng trong điều trị cao hơn gần 15.000 USD so với các trường hợp không nhiễm [20]

Tại Việt Nam, có ít công trình nghiên cứu về giám sát NKBV được công bố, những tốn kém về nhân lực và tài lực do NKBV trong toàn quốc cũng chưa được xác định Tuy nhiên, NKBV cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ tử vong, làm kéo dài thời gian nằm viện, tăng việc sử dụng kháng sinh và làm gia tăng tỷ lệ kháng kháng sinh Trong một nghiên cứu của các tác giả tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy: ngày nằm viện trung bình ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn phổi bệnh viện: 22,0 + 8,9 ngày cao hơn nhiều so với nhóm bệnh nhân không nhiễm khuẩn bệnh viện là 11,9 + 6,3 ngày [17] Chưa có những nghiên cứu quốc gia đánh giá chi phí của NKBV Tại Bệnh viện Chợ Rẫy nghiên cứu cho thấy 1 ca NKBV làm kéo dài thời gian nằm viện 15 ngày, viện phí trung bình mỗi ngày là 192.000 VNĐ, có thể ước tính chi phí phát sinh do NKBV là vào khoảng 2.880.000 VNĐ [7] Theo PGS.TS Lê Hoàng Ninh, viện trưởng Viện Vệ sinh y tế công cộng TP.HCM, cho biết tại Việt Nam mỗi năm có khoảng 600.000 trường hợp bị nhiễm khuẩn bệnh viện, trên tổng số 7,5 triệu bệnh nhân nhập viện mỗi năm; NKBV

đã kéo dài thời gian điều trị và chi phí tăng Cụ thể, khi người bệnh nhiễm trùng vết mổ thì thời gian nằm viện tăng 9 - 24 ngày, chi phí điều trị tăng 2 -

32 triệu đồng Ngoài ra, một số nhiễm trùng bệnh viện còn có tỉ lệ tử vong cao [48] Ngoài các hậu quả tăng chi phí, tăng thời gian nàm viện NKBV có làm tăng tỷ lệ kháng kháng sinh trong các bệnh viện, trong một nghiên cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng cho thấy: có 351 chủng Pseudomonas aeruginosa được phân lập từ bệnh phẩm gửi đến bởi các khoa phòng tại bệnh viện Phân tích kết quả kháng sinh đồ của những chủng vi khuẩn này, thấy vi khuẩn đề kháng cao với các kháng sinh thường dùng để điều trị, như Ceftazidim (36,7%), Amikacin (39,7%) Xác định sự phân bố của các serotype (249 chủng),

Trang 25

serotype P11 chiếm đa số(58,6%) trên tổng số 8 serotype phân lập được P11

có ở 16/17 khoa phòng tại bệnh viện và phân bố cao ở một số khoa như Ngoại Bỏng, Ngoại Tiết niệu - Lồng ngực Serotype P11và P12 có tỷ lệ đề kháng cao hơn các serotype khác, và thường là đa đề kháng như: Pseudomonas aeruginosa type P11 kháng từ 6 - 9 loại kháng sinh chiếm tỷ lệ 69,7% Đặc biệt ở khoa Ngoại Bỏng, tỷ lệ vi khuẩn kháng từ 8 - 9 loại kháng sinh rất cao (88,5%), lại là type P11, là loại hay gặp ở môi trường, vì vậy vấn đề đặt ra là phải quan tâm đến khâu chống nhiễm khuẩn để hạn chế vi khuẩn lan tràn, rất khó tiêu diệt được Ngoài ra, type P11 đa kháng với 7 loại kháng sinh cũng được tìm thấy nhiều ở khoa Hồi sức cấp cứu (40%) [1]

Có thể nói NKBV đang là vấn đề toàn cầu, nó để lại hậu quả rất lớn, làm gia tăng tần suất mắc bệnh, tăng việc sử dụng kháng sinh, tăng đề kháng kháng sinh, tăng chi phí điều trị, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong cho người bệnh

Nhiễm trùng bệnh viện xảy ra trên toàn thế giới và có ảnh hưởng tới cả các nước nghèo và các nước đã phát triển Nhiễm trùng bệnh viện là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong và gia tăng tỷ lệ bệnh tật trong số các bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện, chúng là gánh nặng đáng kể với cả bệnh nhân và ngành y tế Một nghiên cứu dưới sự tài trợ của Tổ chức Y tế thế giới đã được tiến thành tại 55 bệnh viện của 14 quốc gia thuộc 4 khu vực (châu Âu, Đông Địa Trung Hải, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương), kết quả cho thấy tỷ

lệ nhiễm trùng bệnh viện trung bình ở các bệnh nhân là 8,7% Tại bất kỳ thời điểm nào cũng có khoảng 1,4 triệu người trên thế giới phải chịu dựng các biến chứng của nhiễm trùng do mắc phải trong bệnh viện Tần số nhiễm trùng bệnh viện cao nhất là tại các bệnh viện thuộc khu vực Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á (11,8% và 10,0%), tiếp theo là khu vực châu Âu (7,7%) và khu vực Tây Thái Bình Dương (9,0%) [64]

Trang 26

Nhiễm trùng bệnh viện gây ra các khuyết tật về chức năng và căng thẳng về tâm thần cho bệnh nhân và có thể trong một số trường hợp nó còn dẫn tới các điều kiện cho khuyết tật, làm giảm chất lượng sống Nhiễm trùng bệnh viện là một trong những nguyên nhân hàng đầu của tử vong [67], [68] Kéo dài thời gian nằm điều trị của những bệnh nhân bị nhiễm trùng bệnh viện góp phần lớn nhất làm gia tăng chi phí điều trị [62], [67], [70] Trong một nghiên cứu của mình, Coella và cộng sự cho thấy với các nhiễm trùng sau phẫu thuật thì thời gian điều trị của các bệnh nhân tăng trung bình là 8,2 ngày, dao động từ 3 ngày cho các phẫu thuật về phụ khoa tới 9,9 ngày cho các phẫu thuật chung và 19,8 ngày cho các phẫu thuật chỉnh hình Thời gian điều trị kéo dài không chỉ làm gia tăng chí phí trực tiếp với bệnh nhân hoặc người chi trả mà còn làm tăng chi phí gián tiếp do mất việc làm Thuốc sử dụng tăng, nhu cầu cho sự cách ly, các xét nghiệm bổ sung, và các nghiên cứu chẩn đoán khác cũng góp phần làm tăng chi phí điều trị [54]

1.4 Biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

Theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009, công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện tập trung và các giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất là phải củng cố hệ thống tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn tại

cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Các bệnh viện phải thiết lập hệ thống tổ chức kiểm soát nhiễm khuẩn, bao gồm: Hội đồng (ban) kiểm soát nhiễm khuẩn; Khoa (tổ) kiểm soát nhiễm khuẩn; Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn

Thứ hai là phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị

cho công tác KSNK: Đơn vị khử khuẩn phải được xây dựng đảm bảo đúng

tiêu chuẩn theo quy định và phải được trang bị đầy đủ các trang thiết bị và hóa chất khử khuẩn

Thứ ba là tăng cường công tác đào tạo và tuyên truyền cho NVYT: giáo

Trang 27

dục về kiến thức, kỹ năng thực hành và chăm sóc cũng như biện pháp phòng ngừa kiểm soát lây nhiễm và giám sát phát hiện các ca NKBV kịp thời, phản hồi và đưa biện pháp can thiệp Việc huấn luyện và giáo dục phải được cụ thể hóa trong các quy trình thực hành KSNK, và có kiểm tra giám sát thường xuyên

Thứ tư là thực hiện nghiêm túc các kỹ thuật chuyên môn về KSNK như: Vệ sinh bàn tay; Thực hiện các quy định về vô khuẩn; Làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ và phương tiện chăm sóc, điều trị; Thực hiện các biện pháp phòng ngừa cách ly; Giám sát phát hiện nhiễm khuẩn mắc phải và các bệnh truyền nhiễm trong cơ sở y tế; Vệ sinh môi trường và quản lý chất thải; Vệ sinh đối với người bệnh, người nhà người bệnh; Vệ sinh an toàn thực phẩm; Quản lý và sử dụng đồ vải; Vệ sinh trong việc bảo quản, ướp, mai táng,

di chuyển thi thể khi người bệnh tử vong

Như vậy có rất nhiều giải pháp cho phòng ngừa NKBV, việc chọn lựa sắp xếp ưu tiên các giải pháp là tùy vào thực tế của từng bệnh viện và nhà quản lý Nhưng một điều chắc chắn là những giải pháp này sẽ đem lại uy tín, chất lượng cho mọi cơ sở khám chữa bệnh áp dụng nó

1.5 Thực trạng công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện

Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện là hoạt động tổng hợp gồm rất nhiều hoạt động nhằm kiểm soát tất cả các quy trình chuyên môn của nhân viên y tế bao gồm như: rửa tay hoặc sát khuẩn tay thường quy, thực hiện tiêm an toàn,

xử lý khử khuẩn dụng cụ y tế, vệ sinh môi trường bệnh viện, xử lý chất thải y

tế mà đặc biệt là vật sắc nhọn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm khuẩn tại bệnh viện

Để dự phòng nhiễm trùng bệnh viện cần có một chương trình được lồng ghép và kiểm soát bao gồm những nội dung quan trọng sau: (1), hạn chế

sự lan truyền vi sinh vật gây bệnh giữa các bệnh nhân trong chăm sóc bệnh nhân trực tiếp thông qua việc rửa tay đúng cách và sử dụng găng tay, thực

Trang 28

hành sát khuẩn tay đúng cách, các phương thức cách ly, thực hành tiệt trùng

và vô khuẩn, giặt là (2), kiểm soát các nguy cơ về môi trường gây nhiễm trùng (3), bảo vệ bệnh nhân bằng cách sử dụng các kháng sinh dự phòng phù hợp, bằng chế độ dinh dưỡng và sử dụng các vacxin (4) Làm giảm các nguy

cơ của nhiễm trùng nội sinh bằng cách hạn các quy trình xâm nhập và thúc đẩy sử dụng các kháng sinh một cách tối ưu (5), Điều tra, khảo sát về nhiễm trùng; xác định và kiểm soát các vụ dịch (6), dự phòng nhiễm trùng cho nhân viên y tế (7), tăng cường thực hành chăm sóc bệnh nhân và giáo dục thường xuyên cho nhân viên y tế Kiểm soát nhiễm trùng là trách nhiệm của tất các nhân viên y tế, bao gồm từ các bác sĩ, y tá điều dưỡng, dược sĩ, kỹ sư và các nhân viên khác Mắc phải nhiễm trùng bệnh viện được xác định do cả những yếu tố nguy cơ về phía bệnh nhân như mức độ suy giảm miễn dịch và cả những can thiệp khi được thực hiện chúng làm tăng các yếu tố nguy cơ Mức

độ thực hành chăm sóc bệnh nhân có thể khác nhau cho các nhóm bệnh nhân với nguy cơ mắc nhiễm trùng khác nhau Việc xác định một yếu tố nguy cơ sẽ hữu ích cho phân loại bệnh nhân và có kế hoạch cho các can thiệp kiểm soát nhiễm trùng [72]

1.5.1 Tình hình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện trên thế giới

Một nghiên cứu đã được Suchitra và Lakshmi Devi tiến hành tại Ấn Độ

để đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành về nhiễm khuẩn bệnh viện của đội ngũ nhân viên y tế Tổng số 150 nhân viên y tế bao gồm 50 bác sĩ, 50 điều dưỡng viên và 50 hộ lý đã tham gia vào nghiên cứu Một bộ câu hỏi đã được

sử dụng để đánh giá kiến thức, thái độ và hành vi của các nhân viên y tế về nhiễm trùng bệnh viện Một hệ thống thang tính điểm cũng đã được sử dụng

để phân loại Những nhân viên y tế này sẽ tiếp tục trả lời một loạt các câu hỏi tương tự tại các thời điểm 6, 12 và 24 tháng sau khi tham dự một chương trình giáo dục Các nhân viên y tế trong mỗi nhóm (n=10) đã được quan sát về thực

Trang 29

hành rửa tay đúng tại các phòng làm việc sau giai đoạn giáo dục can thiệp Nghiên cứu đã cho thấy có sự gia tăng về số lượng các đối tượng trong mỗi nhóm đối tượng đạt điểm tốt và xuất sắc sau can thiệp giáo dục, tuy nhiên số lượng này lại giảm theo thời gian Kết quả cho thấy mức độ thực hành rửa tay đúng có sự khác nhau trong các nhóm nhân viên y tế 63,3% đối tượng nghiên cứu thực hành rửa tay đúng và 76,7% hộ lý thực hành đúng Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo dục đã có ảnh hưởng tích cực trong duy trì kiến thức, thái

độ và thực hành trong tất các nhóm nhân viên y tế Có một nhu cầu để phát triển một hệ thống giáo dục liên tục cho tất các các nhóm nhân viên y tế Để giảm tỷ lệ mắc nhiễm trùng bệnh viện, việc thực hành đúng các can thiệp là bắt buộc [69]

Để đánh giá mức độ kiến thức, thái độ và thực hành về quy trình khử trùng của các điều dưỡng dưỡng viên tại các bệnh viện Italia, Alessandra và cộng sự đã tiến hành các phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học và thực hành; kiến thức về nhiễm khuẩn bệnh viện và thực hành khử trùng; thái độ về các hướng dẫn và nhận thức về các nguy cơ mắc phải/hoặc lan truyền nhiễm khuẩn bệnh viện; việc tuân thủ các quy trình sát trùng và khử khuẩn Kết quả cho thấy chỉ có 29% thừa nhận các nhiễm trùng tiết niệu và hô hấp là 2 nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến nhất, kiến thức này cao hơn đáng kể ở những người có mức độ giáo dục cao hơn Điểm trung bình đạt được cho thái độ về các hướng dẫn khử trùng là 9,1 Kết quả của mô hình hồi quy tuyến tính cho thấy một thái độ tích cực hơn ở những nữ điều dưỡng, ở những người có số năm công tác ít hơn và ở những người cần thông tin bổ sung về quy trình khử khuẩn Những điều dưỡng có trình độ giáo dục cao hơn và với nhận thức cao hơn về nguy cơ truyền bệnh trong khi làm việc thì có nhiều khả năng thực hiện sát trùng vết thương và rửa tay trước và sau dùng thuốc phù hợp Nghiên cứu đã cho thấy các chương trình giáo dục và

Trang 30

đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện nhằm bổ sung những thiếu hụt, nâng cao kiến thức, tăng cường các quy trình khử trùng, dự phòng và quản lý nhiễm khuẩn bệnh viện là những chiến lược cần thiết cho an toàn bệnh nhân

và giảm nhiễm khuẩn bệnh viện [51]

Một thiết kế nghiên cứu cắt ngang sử dụng một bảng câu hỏi gồm 14 phần đã được thực hiện tại 2 bệnh viện tại Jamaica với sự tham gia của các bác sĩ và điều dưỡng viên Đối tượng nghiên cứu cho rằng những loại dịch sau có nguy cơ lây nhiễm HIV cao: sữa mẹ (79%), nước bọt (14%), nước tiểu (27%), dịch màng phổi (53%), dịch não tủy (55%), dịch bao hoạt dịch (37%), phân (27%), dịch màng bụng (53%) và chất nôn (21%) Nguy cơ truyền bệnh sau một chấn thương do kim tiêm đâm từ một bệnh nhân với HIV ước tính là 22,5%, virus viêm gan B là 34% và virus viêm gan C là 26% Các biện pháp phòng ngừa được tuân thủ liên tục: đeo găng tay (38%), không bọc lại đầu kim (22%), không đưa đầu kim trực tiếp cho người khác (70%), xử lý đúng các vật nhọn (88%) và máu, các loại dịch của bệnh nhân có nguy cơ nhiễm bệnh cao (62%) Sau phơi nhiễm, 43% cho rằng làm chảy máu hoặc nặn vị trí chấn thương do kim tiêm đâm là quy trình cấp cứu ban đầu, rửa bằng nước và

xà phòng (29%), rửa nước vết thương (20%) Nghiên cứu cho thấy các nhân viên y tế đã nhận thức được các nguy cơ lây nhiễm bệnh, tuy nhiên việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa chưa đầy đủ Nâng cao kiến thức và thực hành với những hướng dẫn rõ ràng là cần thiết và một chương trình giáo dục toàn diện cho các nhân viên y tế về tuân thủ các biện pháp phòng ngừa là một yêu cầu cấp bách [60]

Qua đánh giá kiến thức, thái độ và sự tuân thủ các các biện pháp dự phòng tiêu chuẩn với các nhiễm trùng kết hợp với sự chăm sóc y tế và các quyết định có liên quan của các nhân viên y tế làm việc tại các phòng cấp cứu của 8 bệnh viện đa khoa tại Italia, Cristiana và các cộng sự đã kết luận: những

Trang 31

nhân viên y tế có kiến thức cao, thái độ tích cực nhưng lại có sự tuân thủ các biện pháp dự phòng tiêu chuẩn thấp Các điều dưỡng viên có kiến thức, nhận thức yếu tố nguy và các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng biện viện cao hơn

so với các bác sĩ Các nhân viên y tế đã đã trả lời chính xác và sử dụng một cách thích hợp các biện pháp kiểm soát nếu họ nhận được thông tin từ các khóa giáo dục và các tạp chí khoa học [56]

Thông qua sử dụng một bảng câu hỏi được thiết kế nhằm thu thập thông tin về các quy trình đã được sử dụng để ngăn ngừa nhiễm trùng chéo trong thực hành nha khoa, Yüzbasioglu và nhóm nghiên cứu của mình đã đã xác định được kiến thức, thái độ và hành vi của các nha sĩ Thổ Nhĩ Kỳ tại thành phố Samsung về kiểm soát nhiễm trùng chéo.Tỷ lệ nha sĩ tham gia khảo sát đạt 73,36%; 74,10% các nha sĩ bày tỏ lo ngại về nguy cơ nhiễm trùng chéo

từ bệnh nhân cho bản thân họ và các trợ lý của họ; 43% người tham gia nghiên cứu đã định nghĩa chính xác nhiễm trùng chéo; Phần lớn số người được hỏi (95,60%) số người được hỏi nói rằng tất cả bệnh nhân phải được xem như là nguồn nhiễm trùng và các biện pháp ngăn ngừa chung phải được

áp dụng với tất cả họ Các tác giả kết luận: việc tăng cường tuân thủ các quy trình kiểm soát nhiễm trùng đã được khuyến cáo là cần thiết cho tất cả các nha sĩ được khảo sát trong nghiên cứu; các chương trình giáo dục thường xuyên và các khóa đào tạo ngắn hạn về các quy trình kiểm soát nhiễm trùng

và nhiễm trùng chéo thích hợp để nâng cao kiến thức cho các nha sĩ [74]

Một nghiên cứu mô tả cắt ngang trong thời gian 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2006) đã được tiến hành tại 10 khoa của các bệnh viện đại học thuộc đại học Ain-Shams, Cairo, Ai Cập nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành rửa tay của các nhân viên y tế và điều tra điều kiện cơ sở vật chất cần thiết cho việc rửa tay Việc quan sát thực hành rửa tay được tiến hành bất

kỳ khi có sự tiếp xúc của nhân viên y tế với người bệnh bởi các thành viên

Trang 32

nhóm kiểm soát nhiễm khuẩn Kiến thức và thái độ của nhân viên y tế với vệ sinh bàn tay được thực hiện thông qua bảng câu hỏi tự điền dành cho các nhân viên y tế làm việc tại 10 phòng điều trị khác nhau Tổng số lượt quan sát là

2189 Kết quả cho thấy các bác sĩ có một sự tuân thủ cao hơn đáng kể (37,5%) so với các nhóm nhân viên y tế khác, tuy nhiên chỉ có 11,6% cơ hội quan sát cho bác sĩ được thực hiện một cách phù hợp Hình thức rửa tay thường quy của nhân viên y tế là phổ biến nhất (64,2%), thấp nhất là vệ sinh tay bằng dung dịch sát trùng (3,9%); 23,2% nhân viên y tế có thời gian làm khô tay ngắn và không đúng cách, đây là lỗi phổ biến nhất của vệ sinh tay không phù hợp Hầu hết các khoa đều có bồn rửa tay (80%) nhưng không có khoa nào có sẵn khăn giấy lau tay; Các điều dưỡng viên có điểm kiến thức trung bình cao hơn so với các bác sĩ (42,6  1,7 so với 39,1  10,5); Hầu hết các điều dưỡng viên (97,3%) tin rằng các mênh lệnh hành chính và sự giám sát liên túc có thể cải thiện được thực hành rửa tay Việc thực hiện đa dạng chương trình can thiệp hành vi rửa tay kết hợp với sự giám sát liên tục và thông tin phản hồi về thực hành, tăng cường các thiết bị cần thiết cho vệ sinh tay và sự hỗ trợ hành chính sẽ là những yếu tố quan trọng để tăng cường sự tuân thủ các hướng dẫn vệ sinh tay [50]

1.5.2 Thực trạng công tác KSNK và NKBV tại Việt Nam

Tại Việt Nam, thực hành chống NKBV đã có từ lâu nhưng chưa thực

sự được hệ thống hóa lại thành một lĩnh vực có tính chất chuyên môn, mà nằm tản mát trong một số quy chế chuyên môn Cho đến năm 1997, Bộ Y tế chính thức đưa quy chế chống nhiễm khuẩn vào quy chế bệnh viện và xây dựng khoa chống nhiễm khuẩn trong hệ thống tổ chức của bệnh viện, từ đó thực hành chống NKBV mới thực sự được các bệnh viện quan tâm Đứng trước nhu cầu cấp thiết của công tác chống NKBV ngày 14/10/2009 Bộ Y tế

đã ban hành Thông tư 18/2009/TT-BYT về việc hướng dẫn thực hiện công tác

Trang 33

kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh thay thế cho quy chế chống nhiễm khuẩn trong quy chế bệnh viện năm 1997 Ngoài ra Bộ Y tế cũng đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế Ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007; Kế hoạch bảo vệ môi trường ngành y tế giai đoạn 2009 - 2015 kèm theo Quyết định số 1783/QĐ-BYT ngày

28/5/2009; Tài liệu hướng dẫn quy trình chống nhiễm khuấn bệnh viện kèm theo

quyết định số 1040/QĐ-BYT ngày 01/4/2003

Tuy nhiên việc triển khai công tác KSNK tại các bệnh viện trong cả nước vẫn còn nhiều bất cập:

Về mô hình, hệ thống KSNK: Kết quả khảo sát cho thấy 97% các bệnh

viện đã thành lập ban chống nhiễm khuẩn với 94,7% trưởng ban là giám đốc hoặc phó giám đốc; 97,6% bệnh viện đã thành lập khoa chống nhiễm khuẩn với 75% bác sĩ, 10% dược sĩ và 7,5% điều dưỡng là trưởng khoa; Hầu hết điều dưỡng trưởng khoa có trình độ trung học (70%), rất ít điều dưỡng có trình độ cử nhân; một phần tư nhân lực của khoa CNK có chuyên môn y hoặc dược Trung bình số nhân lực của 1 khoa chống nhiễm khuẩn sấp sỉ 20 người;

tổ chức của khoa chống nhiễm khuẩn gồm các tổ công tác hành chính tổng hợp, giám sát nhiễm khuẩn, giặt là, tiệt khuẩn, vệ sinh môi trường và chất thải; Những hoạt động của các khoa chống nhiễm khuẩn cũng đa dạng tùy thuộc vào quy mô bệnh viện, khả năng của nhân lực trong khoa và sự quan tâm đầu tư, giao quyền cho khoa CNK Máy móc của các khoa CNK còn rất hạn chế Nhìn chung việc thành lập khoa CNK và Ban CNK vẫn còn đi vào số lượng, cần tăng cường chất lượng hoạt động Các bệnh viện đề nghị: Bộ Y tế nên quy định chuẩn về mô hình tổ chức, định biên nhân lực, giao nhiệm vụ phù hợp với khoa, đầu tư kinh phí, máy móc và nâng cấp hạ tầng cơ sở [31]

Về kiến thức và thực hành của NVYT về CNK:

Tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) nhận thức tốt về VSBT là 41,2% Tỷ lệ

Trang 34

tuân thủ VSBT tính chung là 13,4% Tỷ lệ tuân thủ VSBT ở NVYT bệnh viện Bạch Mai: 17,7%, các bệnh viện tỉnh/TP: 10,7% [15] Một nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy 91.33% đều hiểu được nhiễm trùng bệnh viện là

gì và 88.92% số người biết được nhiễm trùng bệnh viện có thể gây ra do vi trùng, vi rút, nấm và ký sinh trùng Sự hiểu biết của nhân viên y tế về tác nhân gây NTBV có thể đến từ môi trường, dụng cụ, NVYT, bệnh nhân là 93.6%

Có 64.25% số người biết được các yếu tố làm tăng nguy cơ NTBV Đa số nhân viên (97.15%) biết được tác hại của NTBV 98.62% nhân viên biết phân loại rác

Về thực hành: tại các khoa được trang bị 100% chai rửa tay nhanh trên các xe tiêm và xà phòng tại các labo, khăn sạch để lau tay; tuy nhiên tỷ lệ luôn luôn tuôn thủ VSBT chỉ đạt 56.74 – 57.57%; 89.97% NVYT phân loại rác y tế đúng quy định Qua phân tích sự hiểu biết về nhiễm khuẩn bệnh viện theo nghề nghiệp cho thấy còn nhiều điều dưỡng chưa hiểu rõ các yếu tố làm tăng nguy cơ NKBV (45.18%); 42.46% bác sĩ nội và 35.91% BS ngoại chưa biết nguy cơ nhiễm viêm gan B sau khi bị kim có máu nhiễm HBV đâm khi chưa được chủng ngừa; kết quả điều tra cho thấy phần lớn nhân viên y tế tại Bệnh viện Chợ rẫy đã hiểu được NKBV và các biện pháp kiểm soát cũng như việc thực hiện các biện pháp này trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện như rửa tay, mang găng, phân loại rác…Tuy nhiên vẫn còn một số ít chưạ hiểu rõ chính vì vậy việc thường xuyên đào tạo lại là hết sức cần thiết [37]

Một khảo sát riêng về kiến thức thái độ, thực hành của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, cho thấy: chỉ có 14,3% (15/105) kiến thức, thái độ chống nhiễm khuẩn đầy đủ, 64,5% (60/93) thực hành rửa tay đúng quy trình Kiểm tra vi khuẩn trước khi rửa tay chỉ có 23,7% (22/93) nhân viên có bàn tay sạch, không có vi khuẩn và sau rửa tay thường

quy đạt yêu cầu vi khuẩn là 65,6% (61/93) [19]

Trang 35

1.5.2.1 Thực trạng công tác KSNK tại Yên Bái

* Đặc điểm tình hình chung

Yên Bái là một tỉnh miền núi phía bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội

180 km về phía Tây bắc Diện tích 6.883 km2, được chia thành 7 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã; tổng số có 180 xã, phường, thị trấn (trong đó có 85 xã vùng cao và đặc biệt khó khăn); gồm 30 dân tộc sinh sống với 50% dân số là người dân tộc ít người Năm 2010 dân số toàn tỉnh là: 751.040 người, mật độ dân số bình quân 109 người /1km2, tỷ lệ dân số sống ở vùng nông thôn chiếm: 80,39% Là một tỉnh kinh tế còn nghèo, thu nhập bình quân 10,7 triệu đồng / người / năm; tỷ lệ hộ nghèo 24%, trình độ dân trí còn hạn chế; giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn

Thành phố Yên Bái là một thành phố trực thuộc tỉnh, là cửa ngõ vào vùng Tây Bắc, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh, phía Đông- Đông Bắc tiếp giáp huyện Yên Bình, phía Tây- Tây Nam tiếp giáp huyện Trấn Yên Diện tích là: 57.69 km2; có 17 phường, xã; Dân số toàn thành phố 94.176 người, gồm 18 dân tộc anh em sinh sống, đa số là dân tộc Kinh Có vị trí thuận lợi về đường giao thông, có cơ sở hạ tầng phát triển; Thu nhập bình quân: 25,33 triệu đồng/người/năm

Trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện tại có 17 BV đang hoạt động (trong

đó có: 02 BV đa khoa tuyến tỉnh; 04 BV chuyên khoa tuyến tỉnh; 08 BVĐK tuyến huyện; 02 BV ngành đóng trên địa bàn là Bệnh viện Giao thông vận tải II Yên Bái, Bệnh viện Chè Trần Phú; 01 BVĐK tư nhân, 19 Phòng khám đa khoa khu vực và 180 trạm y tế xã, phường Tổng số toàn tỉnh có 1.464 giường bệnh quốc lập, bình quân 19,5 giường bệnh/10.000 dân

Trong những năm qua, công tác kiểm soát nhiễm nhuẩn đã được quan tâm chú trọng nhất là từ khi triển khai thực hiện Thông tư 18/2009/TT-BYT

Trang 36

Tổ chức bộ máy của kiểm soát nhiễm khuẩn tại các bệnh viện đã được củng cố: kiện toàn lại hội đồng chống nhiễm khuẩn bệnh viện; đã có 2/17 bệnh viện

có khoa chống nhiễm, một số bệnh viện có tổ kiểm soát nhiễm khuẩn, vẫn còn

4 bệnh viện chưa hình thành bộ phận CNK Trình độ cán bộ làm việc trong lĩnh vực này còn rất hạn chế, hầu hết cán bộ là làm kiêm nhiệm rất ít cán bộ chuyên sâu

Tất cả các bệnh viện chưa có trung tâm tiệt trùng riêng, trang thiết bị còn lạc hậu và thiết thốn chưa được đầu tư

Việc xử lý chất thải y tế trên địa bàn cũng còn nhiều khó khăn, mới chỉ

có 3/17 bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế hoàn chỉnh đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định, còn lại các cơ sở khác chủ yếu là xử chất thải y tế bằng phương pháp thủ công, tình trạng gây ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra

Việc tuân thủ rửa tay thường quy còn rất thấp, qua các đợt kiểm tra định kỳ các năm chỉ khoảng 10% Tình hình NKBV chưa kiểm soát được chặt trẽ, từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu nào tại tỉnh về NKBV

Nhìn chung công tác KSNK tại các cơ sở khám chữa bệnh của tỉnh Yên Bái hiện nay chưa kiểm soát được thường xuyên, rất cần được quan tâm đầu

tư và chỉ đạo trong giai đoạn tới

1.5.2.2 Công tác KSNK tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái

Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái là bệnh viện hạng III, với quy

mô 110 giường bệnh, bệnh viện hiện có 9 khoa (6 khoa lâm sàng và 3 khoa cận lâm sàng), 4 phòng; tổng số có 141 cán bộ, trong đó: bác sĩ: 30 (bác sĩ chuyên khoa I: 11), dược sĩ đại học : 2(dược sĩ chuyên khoa I: 1), tỷ lệ bác sĩ/ điều dưỡng là 2,1

Về hệ thống KSNK: hiện nay, bệnh viện mới được đầu tư xây mới khoa CNK, chưa thành lập tổ KSNK, chưa có trung tâm tiệt trùng, hấp sấy dụng cụ chưa tập trung Chưa có hệ thống giám sát KSNK thường xuyên; việc tuân

Trang 37

thủ rửa tay thường quy của cán bộ bệnh viện cũng còn chưa thường xuyên, chưa có một điều tra nào tại bệnh viện về sự tuân thủ của NVYT của bệnh viện trong việc rửa tay thường quy, tuy nhiên qua các đợt kiểm tra bệnh viện

tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 12%

Về hệ thống xử lý chất thải trong bệnh viện: bệnh viện đã được Bộ khoa học công nghệ đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống xử lý chất thải y tế bao gồm cả thải rắn và chất thải lỏng đi vào hoạt động từ năm 2009 Đối với chất thải thông thường bệnh viện hợp đồng với Công ty môi trường của thành

phố đến thu gom đưa về bãi rác của thành phố xử lý tập trung

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các mẫu xét nghiệm nuôi cấy vi sinh

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viên Đa khoa thành phố Yên Bái

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 6/2011 đến 12/2011

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả kết hợp can thiệp

- Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp có chủ đích so sánh trước sau

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

* Chọn mẫu chủ đích: Bệnh viện Đa khoa thành phố Yên Bái

* Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện theo chủ đích

- Điều tra về kiến thức:

+ Điều tra kiến thức về rửa tay thường quy và phân loại chất thải: toàn bộ NVYT làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng: 104 NVYT

Trang 39

+ Điều tra kiến thức về xử lý dụng cụ y tế: tất cả NVYT trực tiếp làm công tác CNK tại các khoa và nhà mổ: 12 người

+ Điều tra kiến thức về rửa tay đi găng phẫu thuật: tất cả các phẫu thuật viên, trợ thủ viên làm việc tại khoa ngoại, sản và phòng mổ: 12 người

- Đánh giá thực hành của cán bộ:

+ Đánh giá thực hành rửa tay thường quy và phân loại chất thải: tất cả NVYT làm việc trực tiếp tại khu vực điều tra và thời điểm quan sát (khoa ngoại, sản, Nội -Hồi sức cấp cứu, Nhi -Truyền nhiễm, nhà mổ, phòng khám) trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ, trong 2 ngày liên tiếp

+ Đánh giá thực hành rửa tay đi găng phẫu thuật: tất cả các phẫu thuật viên, trợ thủ viên làm việc tại khoa ngoại, sản và phòng mổ: 12 người

2.3 Các giải pháp can thiệp

- Về tổ chức hoạt động KSCNK: đề xuất thành lập tổ kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện, tổ chức giám sát thường xuyên công tác chống nhiễm khuẩn 2 lần/tháng bằng bảng kiểm tại các khoa, phân xếp loại các khoa về công tác CNK hàng tháng nhắc nhở trên giao ban và đưa vào tiêu chuẩn xét thi đua của bệnh viện

- Tổ chức 2 lớp tập huấn về kiểm soát nhiễm khuẩn cho tất cả NVYT các khoa lâm sàng và cận lâm sàng

- In ấn tranh rửa tay thường quy, rửa tay đi găng phẫu thuật và các khẩu hiệu

về lợi ích của rửa tay treo tại các buồng tiêm, buồng thủ thuật, các bồn rửa tay nơi NVYT dễ nhìn thấy

2.4 Các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1 Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu

- Tỷ lệ cán bộ chung của bệnh viện theo tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

- Tỷ lệ cán bộ của bệnh viện theo công việc, nhóm công việc

Trang 40

2.4.2 Thực trạng công tác KSNK tại bệnh viện

* Thực trạng đội ngũ NVYT trực tiếp làm công tác KSNK tại bệnh viện:

- Hệ thống tổ chức KSNK tại bệnh viện;

- Tỷ lệ cán bộ trực tiếp làm KSNK của bệnh viện theo tuổi, giới, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

* Thực trạng về cơ sở vật chất:

- Tỷ lệ phòng thủ thuật, phòng tiêm có bồn rửa tay;

- Tỷ lệ bồn rửa tay đảm bảo đúng quy định;

- Tỷ lệ bàn tiêm được trang bị đủ dung dịch sát khuẩn nhanh;

- Tỷ lệ khoa lâm sàng có đủ nhà vệ sinh theo quy định

* Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác KSNK của bệnh viện: Danh mục trang thiết bị chủ yếu

2.4.3 Thực trạng kiến thức, thực hành của cán bộ bệnh viện về công tác KSNK trước khi can thiệp

* Thực trạng kiến thức của NVYT bệnh viện về công tác KSNK trước khi can thiệp:

- Tỷ lệ cán bộ trả lời đúng về rửa tay thường quy;

- Tỷ lệ cán bộ trả lời đúng về quy trình xử lý dụng cụ y tế;

- Tỷ lệ cán bộ trả lời đúng về phân loại chất thải y tế

* Thực trạng về thực hành của cán bộ bệnh viện về công tác KSNK trước khi can thiệp:

- Tỷ lệ NVYT có rửa tay cả trước, sau khi tiếp xúc với bệnh nhân;

- Tỷ lệ NVYT chỉ rửa tay trước khi tiếp xúc với bệnh nhân;

- Tỷ lệ NVYT chỉ rửa tay sau khi tiếp xúc với bệnh nhân;

- Tỷ lệ NVYT rửa tay thường quy đúng kỹ thuật;

- Tỷ lệ NVYT rửa tay đi găng phẫu thuật đúng kỹ thuật;

- Tỷ lệ NVYT có đeo khẩu trang, đội mũ đúng quy định khi tiếp xúc với bệnh nhân;

Ngày đăng: 19/03/2021, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w