Hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong những năm qua tại tỉnh Thái Nguyên đã đạt những kết quả đáng kể như: Tỷ lệ PNMT được xét nghiệm HIV đạt tỷ lệ khoảng 60% - 80%; Tỷ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LƯƠNG MINH TUẤN
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
LƯƠNG MINH TUẤN
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỰ PHÒNG LÂY TRUYỀN HIV TỪ MẸ SANG CON TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: CK 62 72 76 01
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lương Minh Tuấn xin cam đoan:
1 Đây là luận án do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tố Uyên
2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam
3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Người viết cam đoan
Lương Minh Tuấn
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo, phòng đào tạo sau đại học - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Tố Uyên - người đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt tôi trong suốt 2 năm học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo của Khoa Y Tế Công Cộng - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã truyền đạt cho tôi những kiến thức về chuyên môn và nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô trong Hội đồng khoa học đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện A Thái Nguyên, tập thể cán bộ khoa Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Nguyên, Trung tâm Y tế các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
và các bệnh nhân đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Gia đình, đồng nghiệp những người luôn sát cánh, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong công việc và cuộc sống
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Lương Minh Tuấn
Trang 53TC : Lamivudine
ADN : Acid Deoxyribonucleic
AIDS : Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
(Acquired Immuno Deficiency Syndrome)
ARV : Kháng retrovirus (Antiretroviral)
AZT (ZDV) : Zidovudine:
CSSKND : Chăm sóc sức khỏe nhân dân
CSSKSS : Chăm sóc sức khỏe sinh sản
DPLTMC : Dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
EFV : Efavirenz
GĐLS : Giai đoạn lâm sàng
HIV : Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người
(Human Immunodeficiency Virus)
NVP : Nevirapine
PCR : Phản ứng chuỗi men Polymeraza
(Polymerase Chain Reaction)
TTPC HIV/AIDS : Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS
TTYT : Trung tâm y tế
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về tình hình lây nhiễm HIV từ mẹ sang con 3
1.1.1 Thực trạng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con trên thế giới và tại Việt Nam 3
1.1.2 Phương thức lây truyền HIV từ mẹ sang con 5
1.1.3 Các can thiệp dự phòng lây truyền mẹ con ảnh hưởng đến tình hình nhiễm HIV ở trẻ em dưới 18 tháng tuổi phơi nhiễm với HIV 7
1.2 Thực trạng triển khai các can thiệp DPLTMC 11
1.2.1 Tình hình triển khai chương trình DPLTMC trên thế giới 11
1.2.2 Thực hiện phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở Việt Nam 13
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Hệ thống sổ sách báo cáo 24
2.1.2 Các cán bộ y tế quản lý và thực hiện hoạt động DPLTMC tuyến tỉnh, huyện và xã/ phường 24
2.1.3 Phụ nữ mang thai được xét nghiệm khẳng định HIV dương tính từ 1/1/2011 đến 31/12/2015 24
2.2 Địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Thời gian nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.4.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu 25
2.5 Các chỉ số nghiên cứu 26
2.5.1 Nhóm các chỉ số mô tả hoạt động DPLTMC 26
2.5.2 Nhóm các chỉ số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC 26
Trang 72.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng 27
2.6.2 Thu thập số liệu định tính 27
2.6.3 Cán bộ thu thập thông tin 28
2.7 Xử lý số liệu 29
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thực trạng hoạt động DPLTMC tại tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2015 30
3.1.1 Thông tin chung về số PNMT nhiễm HIV được nghiên cứu 30
3.1.2 Thực trạng công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con 33
3.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC tại tỉnh Thái Nguyên và đề xuất giải pháp 44
3.2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC 444 3.2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động chương trình dự phòng lây truyền mẹ con giai đoạn 2017 - 2020 58
Chương 4 BÀN LUẬN 60
4.1 Thực trạng hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con 60
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động DPLTMC và đề xuất giải pháp 71
KẾT LUẬN 80
1 Thực trạng hoạt động DPLTMC tại tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2011 - 2015 80
2 Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC tại tỉnh Thái Nguyên và đề xuất giải pháp 80
KHUYẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Bảng 1.1 Các yếu tố nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con 6
Bảng 3.1 Thực trạng PNMT được quản lý tại các cơ sở y tế 30
Bảng 3.2 Số lượng và tỷ lệ PNMT nhiễm HIV được phát hiện tại các cở sở y tế 31
Bảng 3.3 Phân bố PNMT nhiễm HIV theo địa dư 32
Bảng 3.4 Tình hình xét nghiệm HIV cho PNMT qua các năm 33
Bảng 3.5 Tỷ lệ PNMT nhiễm HIV/PNMT được làm xét XN qua các năm 34
Bảng 3.6 Thời điểm phát hiện nhiễm HIV của PNMT 34
Bảng 3.7 Điều trị ARV của PNMT nhiễm HIV 35
Bảng 3.8 Thời điểm bắt đầu điều trị ARV của 126 PNMT nhiễm HIV 35
Bảng 3.9 Phác đồ điều trị ARV của PNMT nhiễm HIV 36
Bảng 3.10 Số trẻ đẻ sống từ bà mẹ nhiễm HIV 36
Bảng 3.11 Số trẻ được quản lý tại bệnh viện A Thái Nguyên giai đoạn 2011- 2015 37
Bảng 3.12 Nơi sinh của trẻ theo cơ sở y tế 37
Bảng 3.13 Tình trạng điều trị dự phòng bằng thuốc ARV cho trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV 38
Bảng 3.14 Tình trạng bú sữa mẹ của trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV 39
Bảng 3.15 Phân bố trẻ theo nhóm tuổi được làm xét nghiệm PCR 39
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của việc điều trị bằng thuốc ARV của mẹ và tình trạng nhiễm HIV của con 43
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của việc bú sữa mẹ sau sinh đến tình trạng nhiễm HIV của con 43
Bảng 3.18 Số lượng cán bộ y tế tham gia chương trình DPLTMC theo cơ sở y tế 44
Trang 9Bảng 3.20 Cán bộ y tế được tập huấn nâng cao năng lực về DPLTMC 45
Bảng 3.21 Hoạt động truyền thông về DPLTMC 47
Bảng 3.22 Kinh phí hoạt động chương trình DPLTMC phân bổ qua các năm 49
Bảng 3.23 Kinh phí mua Test sinh phẩm XN HIV qua các năm 50
Bảng 3.24 Số lượng test XN HIV sử dụng qua các năm 51
Bảng 3.25 Số máy ly tâm phục vụ chương trình DPLTMC qua các năm 52
Bảng 3.26 Số tủ an toàn sinh học phục vụ chương trình DPLTMC qua các năm 53
Bảng 3.27 Số thùng vận chuyển mẫu bệnh phẩm phục vụ chương trình 54
Bảng 3.28 Cơ sở vật chất phục vụ chương trình DPLCMC qua các năm 55
Trang 10Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai 4
Biểu đồ 3.1 Nhóm tuổi của PNMT nhiễm HIV 32
Biểu đồ 3.2 Tình trạng hôn nhân của PNMT nhiễm HIV 33
Biểu đồ 3.3 Điều trị dự phòng bằng Cotrimoxazol cho trẻ phơi nhiễm 38
Biểu đồ 3.4 Kết quả xét nghiệm PCR chẩn đoán sớm HIV của trẻ 40
Trang 11Hộp 3.1 Thực trạng hoạt động DPLTMC trên địa bàn tỉnh hiện nay 40
Hộp 3.2 Ảnh hưởng của nhân lực đối với chương trình DPLTMC 46
Hộp 3.3 Ảnh hưởng của hoạt động truyền thông đối với chương trình DPLTMC 48
Hộp 3.4 Ảnh hưởng của kinh phí đối với chương trình DPLTMC 50
Hộp 3.5 Các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị ảnh hưởng đến kết quả hoạt động DPLTMC 56
Hộp 3.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố khác 57
Hộp 3.7 Giải pháp về tổ chức, quản lý, chỉ đạo, chính sách 58
Hộp 3.8 Giải pháp về phối hợp liên ngành 59
Hộp 3.9 Giải pháp về nhân lực 59
Hộp 3.10 Giải pháp về chuyên môn, kỹ thuật, tư vấn, xét nghiệm, điều trị 60
Hộp 3.11 Giải pháp về cung cấp dịch vụ can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con 61
Hộp 3.12 Giải pháp về tăng cường kết nối với các dịch vụ y tế khác 62
Trang 12
ĐẶT VẤN ĐỀ
HIV là một bệnh dịch nguy hiểm, ảnh hưởng đến sức khỏe và tương lai của giống nòi, ảnh hưởng đến kinh tế chính trị và trật tự an toàn xã hội [1], [5] Đến cuối năm 2015, trên thế giới đã có 35 triệu người đang bị nhiễm HIV, 1,5 triệu người đã chết do AIDS, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tuổi
15 - 49 là 0,8% [67] Tại Việt Nam, kể từ trường hợp nhiễm HIV lần đầu tiên được phát hiện từ năm 1990 ở thành phố Hồ Chí Minh, đến 30/06/2015 toàn quốc có 227.114 người nhiễm HIV, trong số đó bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 71.115, có 74.442 người nhiễm HIV đã tử vong [14]
Hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con trong những năm qua nước ta đã đạt được những kết quả đáng kể [4] Độ bao phủ xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai đã tăng từ 8,2% năm 2006 lên gần 50% năm
2013 - 2014 Riêng trong năm 2014 có tới 48,7% trong số 1,7 triệu phụ nữ mang thai được xét nghiệm HIV Ước tính trong 3.000 phụ nữ mang thai được chẩn đoán dương tính với HIV đã có 1.733 bà mẹ và 1.854 trẻ sơ sinh
đã được điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi rút (ARV) Mặc dù vậy, vẫn
có tới trên 50% PNMT không được xét nghiệm HIV Nếu không được điều trị ARV, khoảng 25 - 40% số trẻ này sẽ bị nhiễm HIV và khoảng 1/3 trong số này sẽ chết trước 2 tuổi [14] Hơn nữa, mục tiêu chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, giảm 50% số ca tử vong
ở bà mẹ bị nhiễm HIV vào năm 2015”, tiếp tục duy trì không có trường hợp nhiễm HIV từ mẹ sang con đến năm 2020 và sau 2030” [10] Mục tiêu này đang là thách thức đối với ngành y tế nói chung và chương trình phòng chống HIV/AIDS nói riêng
Tại tỉnh Thái Nguyên, kể từ trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào tháng 7/1996, đến nay dịch đã lan rộng ra 9/9 huyện/thành thi, 178/181 xã/phường với 9.217 người nhiễm HIV, 6.155 bệnh nhân AIDS và
Trang 133.319 người đã tử vong do AIDS [35] Hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ
mẹ sang con trong những năm qua tại tỉnh Thái Nguyên đã đạt những kết quả đáng kể như: Tỷ lệ PNMT được xét nghiệm HIV đạt tỷ lệ khoảng 60% - 80%;
Tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con có xu hướng giảm dần qua các năm Tuy vậy vẫn còn một số tồn tại như: Phụ nữ mang thai nhiễm HIV được làm xét nghiệm muộn (xét nghiệm vào thời điểm chuyển dạ hoặc thậm chí sau sinh), một số PNMT nhiễm HIV đã được tư vấn nhưng vẫn không dùng thuốc dự phòng, một số trường hợp mất dấu ngay sau khi xét nghiệm dẫn đến tình trạng trẻ bị nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ Để tìm hiểu các nguyên nhân của các
vấn đề còn tồn tại trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại tỉnh Thái Nguyên
và đề xuất giải pháp” nhằm các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng hoạt động dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dự phòng lây truyền HIV
từ mẹ sang con tại tỉnh Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về tình hình lây nhiễm HIV từ mẹ sang con
1.1.1 Thực trạng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con trên thế giới và tại Việt Nam
Trên toàn cầu, tính đến 2010 ước tính số người nhiễm HIV là phụ nữ khoảng 50%, số PNMT nhiễm HIV là 1.490.000, số lượng này vẫn ổn định từ
2005, nhưng số nhiễm mới đang giảm tại các khu vực châu Phi, nơi mà có số lượng lớn PNMT nhiễm HIV [67] Ước tính số PNMT nhiễm HIV là 1.400.000 vào năm 2005 thì năm 2010 có con số này là 1.360.000 Một vài quốc gia đang triển khai mạnh mẽ phòng LTMC thì tỷ lệ mới nhiễm HIV đã giảm đi tới 50 % như Botswana, Zimbabwe, Cote d’Ivoire and Namibia [63]
Tác giả Sirengo M và cs (2014) nghiên cứu về LTMC của HIV tại Kenya thấy trong số 3310 bà mẹ đã sinh ≥ 1 con trong 5 năm thì có 171 (6,1%) bà mẹ xét ngiệm HIV (+); trong số 76 trẻ em được sinh ra từ các bà
mẹ HIV (+) thì có 8 trẻ (15,1%) xét nghiệm HIV (+) [60]
Ở Việt Nam, cũng như một số nước đang phát triển khác, HIV vẫn tập trung trong giới trẻ, chủ yếu ở nhóm tuổi từ 20 - 39 tuổi chiếm 82% số người nhiễm HIV, tỷ lệ này hầu như không thay đổi trong 5 năm gần đây [14], [15], [16] Tuy nhiên, phân bố nhiễm HIV theo giới có xu hướng chuyển dịch Tỷ
lệ nhiễm HIV ở nam giới chiếm 69%, nữ giới chiếm 31%, so sánh cùng kỳ năm 2010, tỷ lệ này giảm khoảng 2% ở nhóm nam và tăng gần 2% ở nữ giới,
tỷ lệ người nhiễm HIV là nữ giới ngày càng nhiều [4] Ở Việt Nam, tỷ lệ nam giới nhiễm HIV vẫn nhiều hơn nữ giới Nhưng với xu hướng chuyển dịch trên
và tính dễ bị tổn thương với lây nhiễm HIV của phụ nữ, những gánh nặng về kinh tế xã hội có liên quan đến HIV mà phụ nữ phải gánh chịu, thì các can thiệp trên nhóm đối tượng này vẫn rất cần được ưu tiên [3], [17]
Hơn thế nữa, phụ nữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giảm thiểu nhiễm HIV ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [7] Bởi lẽ, có đến hơn 90% số trẻ
Trang 15nhiễm HIV bị lây truyền trong suốt quá trình mang thai, chuyển dạ, sinh đẻ và cho con bú từ mẹ [55] Dữ liệu quốc gia hàng năm cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong PNMT tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh từ năm 1994 đến năm
2005 từ 0,02% lên 0,37%
Tại Hà Giang theo báo cáo của tác giả Vũ Thanh Hiền (2014) cho thấy trong giai đoạn 2008 - 2012 có 51 phụ nữ mang nhiễm HIV 100% các phụ nữ mang thai đều được điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, trong
đó có 12 phụ nữ đã được điều trị bằng thuốc kháng vi rút cho mẹ sớm <14 tuần, có 9 bà mẹ được điều trị khi mang thai từ 14 - 32 tuần và điều trị vào lúc chuyển dạ là 32 bà mẹ Số trẻ sinh ra từ bà mẹ mang thai còn sống và được quản lý là 39 và đều có kết quả xét nghiệm HIV âm tính Như vậy chương trình DPLTMC được triển khai tại Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 - 2012 có hiệu quả [21]
Tại Bắc Ninh qua kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Mai Vân (2012) cho thấy thực hiện chương trình DPLTMC chưa thực sự tốt Số bà mẹ biết trước tình trạng nhiễm HIV là 5,6% (3 người), số bà mẹ phát hiện nhiễm HIV lúc chuyển dạ đẻ là 29,6% (16 bà mẹ) Đa số các bà mẹ phát hiện nhiễm HIV muộn vào thời điểm sau sinh 57,4% (31 người) Có tới 19 trẻ lây truyền HIV
từ mẹ sang con [38]
0 0.030.04
0.12 0.08 0.05 0.19
0.3 0.34 0.24
0.350.370.370.34
0.25
0.3 0.25 0.21
0 0.1 0.2 0.3 0.4
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai
(Nguồn: Báo cáo kết quả giám sát trọng điểm qua các năm 1994 - 2011,
Cục phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế) [13]
Trang 16Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm PNMT đã có xu hướng giảm trong ba năm trở lại Năm 2011, tỷ lệ này là 0,21% Tuy nhiên một số tỉnh tỷ lệ nhiễm HIV vẫn đang ở mức cao như Điện Biên 1%, các tỉnh khác vẫn còn khá cao như Hà Nội 0,63%, Lào Cai 0,63% [4]
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách trong việc thực hiện chương trình phòng chống HIV/AIDS trong đó có hoạt động giảm lây truyền mẹ con [8], [9], [10] Theo “Ước tính và dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam năm
2007 - 2012”, số lượng phụ nữ có thai nhiễm HIV tại Việt Nam sẽ tiếp tục tăng lên trong thời gian tới, với ước tính khoảng 4.800 PNMT nhiễm HIV ở Việt Nam vào năm 2012 Theo ước tính này, số PNMT nhiễm HIV cần sử dụng các dịch vụ DPLTMC khoảng 4.100 người [11] Tình hình này đặt ra yêu cầu cần thiết mở rộng các can thiệp dự phòng để ngăn ngừa lây truyền mẹ con, trong đó dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định những phụ nữ cần dịch vụ điều trị phòng LTMC [6]
1.1.2 Phương thức lây truyền HIV từ mẹ sang con
Lây truyền từ mẹ sang con là nguyên nhân chủ yếu, chiếm hơn 90% các nguyên nhân khiến trẻ dưới 15 tuổi nhiễm HIV [63] Phụ nữ mang thai nhiễm HIV có thể truyền HIV cho con như sau:
- Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai nhi [50]
- Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da xây xát của trẻ) HIV cũng có thể từ trong máu của mẹ thông qua các vết loét ở cơ quan sinh dục mẹ và xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc của trẻ sơ sinh
- Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm
vú người mẹ, nhất là khi trẻ có tổn thương niêm mạc miệng [40]
Trang 17- Ước tính, nếu không có can thiệp, nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con từ 20 đến 45%, Trong đó, giai đoạn chuyển dạ, sinh con, trẻ có nguy cơ lây nhiễm cao nhất với tỷ lệ 10 - 20% [69],[44]
Bảng 1.1 Các yếu tố nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con
Thời kỳ mang thai Chuyển dạ và sinh
con Thời kỳ mẹ cho con bú
- Mẹ bị nhiễm HIV với
tải lượng HIV trong
máu rất cao (giai đoạn
mới nhiễm HIV hoặc
giai đoạn HIV tiến
và AIDS)
- Những trường hợp
đẻ khó, chuyển dạ kéo dài
- Phần mềm của người mẹ bị dập nát, thai bị xây xước, sang chấn
- Vỡ ối sớm trên 4 giờ
-Mẹ bị nhiễm HIV với nồng
độ HIV trong máu rất cao
- Viêm vú, nứt vú, áp xe vú hay tổn thương ở miệng trẻ
sơ sinh hoặc bệnh nhiễm khuẩn của mẹ trong khi cho con bú
- Thời gian cho trẻ bú càng dài thì nguy cơ lây truyền HIV sang con càng cao
- Nuôi trẻ hỗn hợp (vừa cho trẻ bú mẹ vừa cho ăn thêm): nguy cơ lây nhiễm HIV từ
mẹ sẽ cao hơn vì có thể làm tổn thương niêm mạc ruột Điều này làm cho HIV từ sữa mẹ dễ xâm nhập vào cơ thể trẻ
(Nguồn: Hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS - Bộ Y tế( [5]
Qua phân tích trên, có thể thấy rằng dịch nhiễm HIV ở trẻ em dưới 18 tháng tuổi phơi nhiễm HIV bị ảnh hưởng rất lớn vào dịch HIV trên phụ nữ và PNMT nhiễm HIV Chỉ có các can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang
Trang 18con mới làm giảm được tình hình nhiễm HIV ở trẻ em, tiến tới loại trừ nhiễm HIV ở trẻ em
1.1.3 Các can thiệp dự phòng lây truyền mẹ con ảnh hưởng đến tình hình nhiễm HIV ở trẻ em dưới 18 tháng tuổi phơi nhiễm với HIV
1.1.3.1 Các bằng chứng về hiệu quả can thiệp sử dụng ARV cho PNMT nhiễm HIV và trẻ sơ sinh trong phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
Zidovudine (ZDV) là thuốc điều trị ARV đầu tiên được cơ quan thực phẩm và thuốc của Hoa Kỳ cho phép sử dụng vào năm 1987 Năm 1991 thử nghiệm PACTG 076 đầu tiên sử dụng ZDV để phòng LTMC đã được thực hiện tại Hoa Kỳ và Pháp Thử nghiệm này đã chứng minh được hiệu quả của thuốc ARV trong phòng LTMC Tiếp sau đó hàng loạt các thử nghiệm được thực hiện cùng với sự ra đời của các thuốc mới mang đến các kết hợp điều trị ARV ngày càng có hiệu quả cao hơn trong DPLTMC [69] Đánh giá quốc gia
về lây truyền HIV từ mẹ sang con ở Canada trên 2700 cặp mẹ - con từ năm
1990 - 2011 cho thấy tỷ lệ LTMC chung là 20,2% giai đoạn 1990 - 1996 (trước khi có liệu pháp điều trị ARV 3 thuốc) và 2,9% giai đoạn 1997 - 2011 Nếu bà mẹ mang thai được điều trị ARV trong quá trình mang thai, tỉ lệ LTMC chỉ là 1% Nếu bà mẹ mang thai được điều trị ARV > 4 tuần trước sinh – tỉ lệ LTMC là 0,4% [68]
Nghiên cứu tại Malawi, trên các cặp mẹ con được phòng LTMC bằng ARV với các lựa chọn phác đồ khác nhau cho kết quả thấy, tỷ lệ PCR dương tính trung bình là 4,1% Nhóm điều trị phòng LTMC bằng ARV ngắn hạn có
tỷ lệ PCR (+) (10,3%, 95% CI, 5.5 - 18.1%) so với nhóm được điều trị ARV sớm bằng 3 thuốc (1.4%, 95% CI, 0.6 - 3.0%) Kết luận của nghiên cứu là này điều trị ARV có liên quan đến giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con với tỷ lệ lây truyền là 1,4% so với các nhóm khác với p = 0,001 [69] Nghiên cứu của Park J.W và cộng sự (2014) trên 8 bà mẹ HIV (+) sinh con tại bệnh viện đại học Ansan Hàn Quốc Tất cả 8 trẻ em được sử dụng thuốc điều trị kháng virus
Trang 19sử dụng, 5 bà mẹ được sử dụng thuốc đơn trị liệu và 5 bà mẹ được dùng thuốc
đa trị liệu Việc nuôi con bằng sữa mẹ không được sử dụng Kết quả cho thấy toàn bộ trẻ em xét nghiệm HIV âm tính Xét nghiệm HIV ở mẹ cho kết quả < 1.000 copies/ml với trung vị CD4+ là 325 µl [57]
1.1.3.2 Các phác đồ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
Hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS - Bộ y tế, 2011[3]
* Điều trị ARV cho mẹ (TCD4 ≤ 350)
- ARV 3 thuốc bắt đầu ngay khi được chẩn đoán, tiếp tục suốt đời
* Dự phòng ARV cho mẹ (TCD4 > 350)
- DPLTMC bằng AZT/NVP (A)
+ Mẹ: Trước sinh: AZT ngay từ tuần thứ 14; Khi sinh: liều đơn NVP ngay khi chuyển dạ và AZT/3TC; Sau sinh: AZT/3TC hàng ngày trong 7 ngày sau sinh
+ Con: NVP liều đơn 6mg, uống một lần ngay sau khi sinh + AZT 4mg/kg uống ngày 2 lần x 4 tuần
- DPLTMC bằng ARV phác đồ 3 thuốc (B)
+ Mẹ: ARV 3 thuốc bắt đầu ngay khi phát hiện nhiễm HIV và tiếp tục tới khi sinh Nếu người mẹ không cho con bú sữa mẹ thì dừng uống Nếu người mẹ cho con bú sữa mẹ tiếp tục uống hàng ngày cho đến khi sau cai sữa một tuần
+ Con: NVP hàng ngày từ khi sinh tới 6 tuần tuổi bất kể trẻ được nuôi dưỡng bằng phương pháp nào [52]
* Điều trị ARV lâu dài và DPLTMC (B+)
+ Mẹ: Điềutrị ARV cho PNMT nhiễm HIV và phụ nữ nhiễm HIV cho con bú không căn cứ vào giai đoạn lâm sàng hoặc số lượng tế bào TCD4 với mục đích DPLTMC và điều trị vì sức khỏe bà mẹ
Phác đồ: TDF + 3TC + EFV viên kết hợp ngày 1 viên
Trang 20+ Con: NVP hàng ngày từ khi sinh tới 6 tuần tuổi bất kể trẻ được nuôi dưỡng bằng phương pháp nào
+ Khuyến cáo điều trị ARV lâu dài một phác đồ ba thuốc đơn giản hóa cho tất cả phụ nữ nhiễm HIV có thai và đang cho con bú trong giai đoạn nguy
cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con và tiếp tục điều trị ARV vì sức khỏe bản thân không phụ thuộc vào CD4 là khuyến cáo có điều kiện, dựa trên vùng dịch cụ thể và chương trình quốc gia, và do thiếu các bằng chứng rõ ràng về ảnh hưởng và hiệu quả của việc triển khai toàn diện điều trị ARV lâu dài Ưu điểm của phác đồ điều trị ARV chuẩn hóa cho tất cả phụ nữ nhiễm HIV có thai và đang cho con bú [66]
Mặc dù các dữ liệu sẵn có tiếp tục cho thấy lựa chọn A và B có hiệu quả tương đương ở những cơ sở thử nghiệm lâm sàng, sự phức tạp của lựa chọn A là một trở ngại cho việc nhân rộng quy mô DPLTMC ở nhiều quốc gia Sự phức tạp này bao gồm các phác đồ điều trị và phác đồ dự phòng khác nhau; yêu cầu định lượng CD4 để xác định đủ tiêu chuẩn điều trị và loại phác đồ; thay đổi phác đồ trước sinh - trong sinh - sau sinh; nhu cầu “đuôi” ARV
bổ sung sau sinh ARV cho mẹ và phác đồ dự phòng NVP kéo dài ở trẻ sơ sinh Mặc dù có những thách thức nhất định khi mở rộng lựa chọn B+, như vấn đề đào tạo, sự cam kết cũng như tuân thủ điều trị của PNMT cũng cần tiếp tục đánh giá, việc cung cấp một phác đồ điều trị ARV bậc một tối ưu phối hợp liều cố định TDF + 3TC (hay FTC) + EFV cho tất cả phụ nữ có thai và đang cho con bú nhiễm HIV đem lại những lợi ích chương trình và lâm sàng quan trọng, bao gồm:
- Cung cấp cùng một phác đồ ARV đơn giản hóa cho tất cả phụ nữ có thai (không phụ thuộc “đủ tiêu chuẩn điều kiện” điều trị) và tiếp tục trong thời
kỳ mang thai, khi sinh và sau sinh
- Phác đồ hài hòa: Phối hợp liều cố định bậc một tối ưu có thể hài hòa với hướng dẫn điều trị ARV cho người trưởng thành không mang thai
Trang 21- Tăng cường độ bao phủ của điều trị ARV: Phác đồ đảm bảo những phụ nữ suy giảm miễn dịch không được tiếp cận xét nghiệm CD4, được điều trị ARV phù hợp ngay lập tức
- Cung cấp bao phủ điều trị ARV để tối đa hóa dự phòng lây nhiễm cho trẻ sơ sinh
- Lợi ích đối với sức khỏe bà mẹ: Phác đồ sẽ trì hoãn sự tiền triển của bệnh trong quá trình điều trị
- Khả năng chấp nhận: Những đánh giá được thực hiện cho hướng dẫn này cho thấy sự ưu tiên mạnh mẽ và chấp thuận của cộng đồng với phương pháp tiếp cận này
- Lợi ích dự phòng lây nhiễm qua đường tình dục: Điều trị ARV sẽ làm giảm lây truyền HIV qua đường tình dục cho các bạn tình
1.1.3.3 Sử dụng ARV và bú sữa mẹ
Vào năm 2010, WHO khuyến cáo cung cấp thuốc ARV cho bà mẹ hoặc trẻ sơ sinh trong suốt thời kỳ cho bú để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV sau sinh Ở những quốc gia khuyến cáo cho bú và thuốc ARV, khuyến cáo phụ nữ nhiễm HIV nên “tiếp tục cho bú trong 12 tháng đầu đời của trẻ” và
“chỉ ngừng khi có thể cung cấp một chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng và an toàn không có sữa mẹ” Khuyến cáo này được dựa trên bằng chứng rằng việc cho
bú có lợi ích tối đa trong dự phòng tử vong do tiêu chảy, viêm phổi và suy dinh dưỡng trong 12 tháng đầu đời và nguy cơ lây truyền HIV cho trẻ sơ sinh khi cho bú là rất thấp khi có thuốc ARV Chỉ khuyến nghị dùng sữa công thức nếu đáp ứng được các tiêu chí: được bà mẹ chấp nhận, khả thi, có khả năng chi trả, bền vững và an toàn [63]
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng cho thấy phác đồ ARV cho mẹ và trẻ sơ sinh ngăn ngừa lây truyền HIV-1 sau sinh Việc sử dụng 3 thuốc ARV cho mẹ và NVP hàng ngày cho trẻ sơ sinh làm giảm được lây truyền HIV qua bú mẹ Cai sữa ở tháng thứ 4 làm tăng tỉ lệ
Trang 22mắc bệnh và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh [70] Năm 2013, Hướng dẫn tổng hợp
về sử dụng thuốc ARV trong dự phòng và điều trị của WHO không có sự thay đổi về sử dụng ARV và bú mẹ, đặc biệt khi sử dụng lựa chọn B+ trong mở rộng chương trình DPLTMC và điều trị ARV cho PNMT
Hướng dẫn quốc gia về dinh dưỡng cho người nhiễm HIV đã đưa ra hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng sữa công thức cho trẻ dưới 18 tháng tuổi phơi nhiễm HIV khi đáp ứng đủ 6 điều kiện dưới đây:
- Gia đình hỗ trợ cách nuôi dưỡng trẻ bằng sữa công thức
- Bà mẹ/người chăm sóc có thể cung cấp sữa công thức hoàn toàn trong
6 tháng đầu
- Bà mẹ/người chăm sóc có thể cung cấp sữa công thức đầy đủ để hỗ trợ sự trưởng thành và phát triển của trẻ
- Bà mẹ/người chăm sóc có khả năng chuẩn bị sữa công thức đảm bảo hợp
vệ sinh, an toàn, đủ số lượng để giảm nguy cơ gây tiêu chảy và suy dinh dưỡng
- Nước sạch và vệ sinh môi trường được đảm bảo tại hộ gia đình và cộng đồng
- Bà mẹ hay người chăm sóc có thể tiếp cận dịch vụ y tế để nhận được chăm sóc sức khỏe toàn diện cho trẻ [3]
1.2 Thực trạng triển khai các can thiệp DPLTMC
1.2.1 Tình hình triển khai chương trình DPLTMC trên thế giới
Kể từ khi thử nghiệm lâm sàng đầu tiên chứng minh hiệu quả của phác
đồ điều trị kháng vi rút trong việc ngăn chặn lây truyền HIV từ mẹ sang con thành công, việc điều trị, chăm sóc, hỗ trợ cho phụ nữ và trẻ em nhằm giảm thiểu lây nhiễm HIV đã liên tục phát triển Năm 2008, số lượng quốc gia liên kết với Liên hợp quốc nhằm phổ cập các dịch vụ liên quan đến HIV cho phụ
nữ trẻ em là 142 nước, tăng thêm 34 nước so với năm 2006, trong 142 quốc gia này có tới 123 nước có thu nhập thấp hoặc trung bình tham gia [62] Chương trình DPLTMC ở 142 quốc gia này được thực hiện dựa trên phương
Trang 23pháp tiếp cận toàn diện do Liên Hiệp Quốc hướng dẫn, gồm 4 thành tố Trong
đó, do LTMC xảy ra chủ yếu trong quá trình mang thai, chuyển dạ, sinh con,
và cho con bú Vì vậy, phần trình bày dưới đây sẽ tập trung chủ yếu vào các can thiệp cho PNMT nói chung và phụ nữ nhiễm HIV mang thai và sẽ sinh con
Các can thiệp cho phụ nữ nhiễm HIV mang thai đóng một vai trò to lớn trong việc giảm lây truyền HIV từ mẹ sang con Theo hướng dẫn của WHO,
để ngăn ngừa lây nhiễm từ PNMT sống chung với HIV sang con của họ, đòi hỏi một tập hợp các can thiệp liên tiếp, cụ thể như sau:
* Tư vấn xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai
Việc tiếp cận với dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV sớm sẽ cho phép PNMT sống chung với HIV nhận được những can thiệp cần thiết để giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm HIV cho con của họ Tuy nhiên, trên thế giới, ước tính tỷ lệ phụ nữ đi khám thai ít nhất 1 lần chỉ đạt 79%, số lượng phụ nữ đi khám thai hai lần, ba lần có xu hướng giảm dần Do đó, một tỷ lệ lớn PNMT nhiễm HIV không nhận được bất kể dịch vụ nào của chương trình DPLTMC [56] Trong năm 2010, ước tính 35% số PNMT (43,2 triệu người trong số ước tính 123 triệu người) ở các nước thu nhập thấp và trung bình đã được xét nghiệm HIV, so với trên 26% năm 2009 Năm 2011, có 12 quốc gia báo cáo trong số PNMT nhiễm HIV có 23% PNMT biết về tình trạng nhiễm HIV trước lần khám thai đầu tiên tại cơ sở sản khoa, 77% được phát hiện nhiễm HIV khi đến khám thai Trong số 43.170.000 PNMT ước tính được xét nghiệm HIV tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình có 1.006 000 (2,3%) được báo cáo là HIV dương tính [67]
* Sử dụng thuốc kháng vi rút phòng lây truyền mẹ con
Ở các nước thu nhập trung bình và thấp, năm 2010, ước tính 571.000 phụ nữ mang thai nhiễm HIV (tương ứng 38% phụ nữ mang thai nhiễm HIV cần điều trị ARV để phòng lây truyền từ mẹ sang con) có CD4 ≤ 350 tế bào/mm3 và vì thế đủ tiêu chuẩn để điều trị ARV Trong số phụ nữ cần điều
Trang 24trị ARV, 35% (197.000 người) đã có thuốc Độ bao phủ ước tính của điều trị ARV hiệu quả nhất để phòng lây truyền từ mẹ sang con ở các nước phát triển thấp và trung bình là 48% trong năm 2010 [69] Nghiên cứu của De Cock năm 2000, phần lớn trẻ em dưới 5 tuổi sống chung với HIV là do nhiễm qua đường lây truyền HIV từ mẹ sang con trong thời gian mang thai, chuyển dạ đẻ hoặc sau sinh Nếu không được can thiệp, nếu người mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ, tỷ lệ LTMC chiếm khoảng 15 - 30% Nếu người mẹ nhiễm HIV không được điều trị phòng LTMC và cho con bú, tỷ lệ này có thể tăng lên tới
tỉ lệ HIV dương tính ở trẻ sơ sinh là 1,3%; nếu chỉ có mẹ điều trị ARV thì tỉ lệ HIV dương tính ở trẻ là 4,6%; nếu chỉ có trẻ được điều trị ARV thì tỉ lệ HIV dương tính ở trẻ là 20,0% và nếu cả mẹ và trẻ đều không được điều trị ARV thì tỉ lệ HIV dương tính ở trẻ là 66,7% [44]
1.2.2 Thực hiện phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở Việt Nam
Mặc dù bắt đầu thực hiện từ năm 1996, tuy nhiên các hoạt động DPLTMC tại Việt Nam từ trước năm 2005 vẫn diễn ra với quy mô rất hạn chế [27] Một phần cũng do ở giai đoạn này, Việt Nam mới bắt đầu hình thành các định hướng, chính sách về thực hiện DPLTMC Chương trình DPLTMC trước năm 2005 chủ yếu được định hướng vào trẻ em và phụ nữ đang mang thai, nhưng lại thờ ơ với chồng và gia đình của họ Các hoạt động chủ yếu của
Trang 25chương trình ở giai đoạn này là (1) thông tin, giáo dục, truyền thông, (2) xét nghiệm, tư vấn HIV và (3) điều trị dự phòng cho bà mẹ và trẻ sơ sinh Các hoạt động này chủ yếu được lồng ghép vào chương trình sức khỏe bà mẹ và trẻ em theo chiều dọc [16], [17]
Sau khi “Chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS đến năm
2010 và tầm nhìn đến năm 2020” được Chính phủ ban hành, chương trình DPLTMC ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi, đặc biệt độ bao phủ của chương trình đã được mở rộng đáng kể để áp dụng chiến lược bốn thành tố trong hoạt động DPLTMC do Liên Hợp Quốc khởi xướng [8]
Dưới đây là kết quả việc thực hiện chương trình DPLTMC ở Việt Nam:
* Các can thiệp cho phụ nữ mang thai nhiễm HIV và sẽ sinh con:
- Tư vấn, xét nghiệm HIV trong thời kì mang thai, chuyển dạ, trong khi sinh và sau khi sinh
Tư vấn xét nghiệm HIV cho PNMT nhằm phát hiện sớm tình trạng nhiễm HIV của họ được coi là cửa ngõ quan trọng giúp phụ nữ và trẻ em tiếp cận với các dịch vụ điều trị phòng chống HIV cũng như chăm sóc và hỗ trợ Việc tiếp cận với dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV sớm sẽ cho phép PNMT nhiễm HIV nhận được những can thiệp cần thiết, kịp thời để giảm thiểu nguy
cơ lây nhiễm HIV cho con của họ
Về số lượng các điểm cung cấp dịch vụ, trước năm 2005 chăm sóc và điều trị DPLTMC chủ yếu được thực hiện tại các cơ sở sản khoa lớn Giai đoạn 2006 - 2011, số lượng các điểm cung cấp dịch vụ này đã được mở rộng nhanh chóng, từ 26 cở sở năm 2007 lên 226 cơ sở năm 2011 Trong số 226 điểm cung cấp dịch vụ DPLTMC có 2 cơ sở tuyến trung ương, 92 cơ sở ở tuyến tỉnh, còn lại 132 điểm tuyến huyện chiếm khoảng 25% số huyện trên toàn quốc Số lượng các cơ sở cung cấp dịch vụ DPLTMC toàn diện là 133 điểm, chủ yếu các cơ sở này tập trung ở tuyến tỉnh/ thành phố có dự án, 96
Trang 26điểm còn lại chỉ cung cấp dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện và dịch vụ chuyển tiếp cho các bà mẹ mang thai [17]
Mô hình cung cấp gói dịch vụ DPLTMC toàn diện ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Tư vấn xét nghiệm HIV cho PNMT, DPLTMC bằng thuốc ARV cho thai phụ xét nghiệm HIV dương tính và trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV, cấp sữa ăn thay thế đến 6 tuần tuổi, chuyển tiếp dịch vụ Gói dịch vụ toàn diện thường được triển khai tại các Bệnh viện Phụ sản, Khoa sản – BVĐK tuyến tỉnh/huyện Còn mô hình cung cấp dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV và chuyển tiếp thai phụ nhiễm HIV đến cơ sở cung cấp dịch vụ trọn gói được triển khai tại các Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh, TTYT tuyến quận, huyện và xã phường [2]
Nhờ gia tăng độ bao phủ các cơ sở cung cấp dịch vụ DPLTMC nên số lượng PNMT xét nghiệm HIV và biết kết quả của họ là 36,7% Con số này đã tăng đáng kể so với năm 2009 (21%), tuy nhiên nó vẫn rất khiêm tốn so với mục tiêu 60% PNMT xét nghiệm HIV mà “Chương trình hành động quốc gia DPLTMC giai đoạn 2006 – 2010” đề ra Ngoài ra, tỷ lệ PNMT được xét nghiệm HIV trong khi chuyển dạ vẫn rất cao
Các hoạt động DPLTMC này được lồng ghép vào các hoạt động khám thai ở tuyến huyện, đặc biệt là tuyến tỉnh và tuyến trung ương Trong khi trạm
y tế xã, phường đóng vai trò rất quan trọng trong chăm sóc, quản lý thai cho PNMT ở nông thôn nhưng phần lớn chưa tham gia vào các hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV, điều này làm giảm đáng kể độ bao phủ của tư vấn xét nghiệm HIV cho PNMT Ngoài ra, với việc đưa hoạt động tư vấn xét nghiệm DPLTMC trở thành một phần của chăm sóc tiền sản được thực hiện theo các chương trình sức khỏe sinh sản/sức khỏe bà mẹ và trẻ em cũng rất cần thiết
- Cung cấp điều trị bằng thuốc ARV cho cả mẹ và con
Năm 2002, Việt Nam tiếp cận thành công chương trình viện trợ Nevirapine của công ty Boehringer Ingelheim, điều này đánh dấu sự khởi đầu
Trang 27của công tác can thiệp DPLTMC Trong năm 2002, chỉ có 25,4% phụ nữ có thai nhiễm HIV được điều trị NPV DPLTMC [29] Trong giai đoạn từ 2006 đến 2010, số lượng PNMT nhiễm HIV được điều trị đã tăng lên một cách đáng kể Năm 2011, ước tính có khoảng 44% PNMT nhiễm HIV được DPLTMC bằng ARV [31]
Nguyễn Viết Tiến và cộng sự trong nghiên cứu “Đánh giá tình hình phụ nữ mang thai nhiễm HIV và các biện pháp điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại một số cơ sở sản khoa lớn ở phía Bắc giai đoạn
2006 - 2010” cho thấy 81,3% sản phụ được dùng ARV dự phòng trong
chuyển dạ theo các phác đồ khác nhau khi mang thai hoặc khi chuyển dạ, 98% số con sinh ra sống được dùng ARV dự phòng sau đẻ Tuy nhiên, trong nghiên cứu chưa cho thấy được mối liên quan giữa tỷ lệ bà mẹ được dùng thuốc DPLTMC trong chuyển dạ cũng như tỷ lệ con được dùng ARV dự phòng sau đẻ với tỷ lệ con bị nhiễm HIV [30]
Nguyên nhân của việc sản phụ nhiễm HIV chưa tiếp cận điều trị chủ yếu là do bệnh nhân đến quá muộn trong giai đoạn chuyển dạ nên không kịp dùng thuốc [16],[17] Ngoài ra, cũng còn một số nguyên nhân chủ quan từ phía cơ sở y tế như trả kết quả xét nghiệm HIV muộn, thuốc không sẵn có, điều chuyển thuốc không kịp thời
- Thông tin, tư vấn và hỗ trợ nuôi trẻ trước sinh và sau sinh
Thông tin tư vấn về nuôi dưỡng trẻ, sử dụng sữa thay thế hay bú mẹ, dự phòng lây nhiễm HIV qua sữa mẹ, tư vấn về chẩn đoán sớm, chuyển gửi dịch
vụ chăm sóc và điều trị sau sinh là các nội dung quan trọng trong triển khai phòng LTMC [12] Chương trình phòng LTMC ở Việt Nam đã đưa việc phát sữa công thức là một hình thức hỗ trợ nuôi dưỡng nhằm DPLTMC với sự hỗ trợ của các dự án Quỹ toàn cầu, PEPFAR Tỷ lệ trẻ được phát sữa ăn thay tại một số bệnh viện phụ sản lớn ở phía bắc Việt Nam do các dự án tài trợ trong giai đoạn 2006 - 2009 đạt 92% [26] Tuy nhiên, cũng chưa có đánh giá nào
Trang 28mang tính chất đại diện về thực trạng nuôi dưỡng trẻ phơi nhiễm trên cả nước
bao gồm các khu vực không có dự án hỗ trợ sữa công thức, cũng như không
đánh giá được sử dụng sữa công thức theo Hướng dẫn quốc gia về dinh dưỡng
cho người nhiễm HIV
* Kết quả về giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con phòng lây truyền mẹ
con tại Việt Nam
Hiện nay, chưa có báo cáo mang tính quốc gia về hiệu quả của các can
thiệp phòng LTMC tại Việt Nam Tại TP Hồ Chí Minh, báo cáo tổng kết về hoạt
động phòng LTMC cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV đã giảm đi đáng kể xuống còn
2,9% [37] Trong một nghiên cứu khác đánh giá tác động của ARV đến tỷ lệ lây
truyền HIV từ mẹ sang con tại 21 tỉnh triển khai dịch vụ trọn gói do dự án
LIFE-GAP/CDC hỗ trợ triển khai có 174.347 phụ nữ sinh con, trong đó có 483 trường
hợp nhiễm HIV đã sinh con, 293/483 (60,7%) phát hiện trước và trong giai
đoạn mang thai, 88,6 % sản phụ nhiễm HIV được nhận ARV Đối với trẻ phơi
nhiễm có 87,3% trẻ được chuyển đến cơ sở chăm sóc và điều trị và 94,1% trẻ
được làm PCR, và tỷ lệ PCR dương tính là 4,7%, trong đó tỷ lệ lây truyền
là 1,7 % trong nhóm trẻ có mẹ được điều trị ARV trước và trong khi mang
thai [32]
Trong nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hà về “Lây truyền HIV-1 từ mẹ
sang con ở Hà Nội và Hải Phòng từ năm 2005 - 2007” đã sử dụng phương
pháp nghiên cứu thuần tập trên 234 phụ nữ mang thai nhiễm HIV và đang
được điều trị thuốc kháng vi rút, con của họ được làm xét nghiệm phát hiện
HIV khi được 12 - 18 tháng tuổi trong đó PCR được dùng để phát hiện HIV
trong 12 tháng đầu, phương pháp chẩn đoán huyết thanh được dùng khi trẻ
được 18 tháng tuổi Phần lớn phụ nữ mang thai nhiễm HIV-1 trong nghiên
cứu được biết tình trạng nhiễm HIV của mình trong những tháng cuối của thai
kỳ Gần 60% số phụ nữ mang thai trong nghiên cứu được điều trị 1 liều
NVP trong khi chuyển dạ; 11% phụ nữ được điều trị phác đồ 3 thuốc
Trang 29(AZT + 3TC + Nelfinavir) trước khi chuyển dạ bốn tuần và con của họ được chỉ định dùng dung dịch AZT 1 tuần sau khi sinh Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 135 đứa trẻ có 9 đứa trẻ (6,7%) bị nhiễm 7/167 (4,2%) đứa trẻ dương tính với HIV khi sinh, 2/135 (1,48%) đứa trẻ được làm xét nghiệm bằng PCR có kết quả âm tính ngay sau khi sinh xong, tuy nghiên sau 1 tháng làm xét nghiệm lại cho thấy kết quả dương tính, điều này chứng tỏ những đứa trẻ trên đã bị lây truyền trong quá trình chuyển dạ Tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con trong giai đoạn mang thai là 77,8 % (7/9) và trong khi sinh là 22,2% (2/9) Tỷ lệ lây truyền ở Hải Phòng là 14,7% (5/34) cao hơn ở Hà Nội Những
bà mẹ được chỉ định điều trị ARV 4 tuần trước khi sinh, con của họ có thể bị nhiễm trước khi được điều trị ARV Mặt khác 13/15 bà mẹ được điều trị phác
đồ 3 thuốc, con của họ không bị nhiễm, điều này đã chứng minh được tác dụng dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con bằng phác đồ 3 thuốc [19]
Nghiên cứu “Chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ dưới 18 tháng tuổi sinh
ra từ mẹ nhiễm HIV ở khu vực phía Nam” của Trần Tôn và cộng sự [34]
nhằm xác định tỷ lệ nhiễm HIV ở trẻ em dưới 18 tháng tuổi sinh ra từ mẹ nhiễm HIV ở khu vực phía Nam và so sánh 2 kỹ thuật chẩn đoán sớm nhiễm HIV ở trẻ em đang có tại Việt Nam Nghiên cứu thu thập 313 mẫu gót chân lấy trên giấy thấm của nhóm trẻ phơi nhiễm từ 1 đến 18 tháng tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ nhiễm HIV sinh ra từ mẹ có tham gia chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con được dự phòng đầy đủ (mẹ và trẻ được dùng ARV và trẻ không bú mẹ) là 5%, tỷ lệ này khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm trẻ sinh ra từ mẹ không tham gia phòng LTMC (mẹ và con không được uống dự phòng ARV, trẻ có bú mẹ) có tỷ lệ HIV-1 DNA dương tính
là 69,2% hay trong nhóm dự phòng không đầy đủ (mẹ không uống ARV, trẻ
có uống dự phòng ARV không bú mẹ hoặc mẹ không uống ARV, trẻ không uống ARV và không bú mẹ ) tỷ lệ trẻ có HIV-1 DNA dương tính 23,1% Phân tích thời điểm phát hiện nhiễm HIV ở người mẹ và tỷ lệ trẻ thực nhiễm
Trang 30cho thấy nếu mẹ biết nhiễm HIV trước hoặc trong khi mang thai và có uống ARV dự phòng thì tỷ lệ trẻ có HIV dương tính là 3,4% và 4% Nếu mẹ chỉ được xét nghiệm HIV dương tính lúc đến sinh và chỉ uống dự phòng 1 liều duy nhất thì tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn là 17,7% Qua đó ta thấy nếu mẹ được chăm sóc tiền sản tốt và sớm tham gia vào chương trình phòng LTMC thì sẽ làm giảm đáng kể khả năng lây truyền HIV sang cho con
Nghiên cứu “Đánh giá chương trình Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại Bệnh viện Hùng Vương giai đoạn 2005 - 2008” của tác giả Vũ Thị
Nhung được tiến hành trong thời gian từ 2005 - 2008, trong đó có 127.013 ca sinh với 1.036 phụ nữ mang thai nhiễm HIV (0,81%) Trong 1.036 bà mẹ nhiễm HIV chỉ có 905 trường hợp mẹ sinh con sống và 640 trường hợp theo dõi được, có 91,5% thai phụ được uống thuốc DPLTMC và 265 trường hợp mất dấu (29,28%) Trong số 640 trường hợp mẹ có HIV theo dõi được, tỷ lệ trẻ có phản ứng PCR dương tính sau sinh 2 tháng là 5,15% Trong trường hợp
mẹ và con đều được uống thuốc thì tỷ lệ là 4,81% Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tỷ lệ mất dấu cao đã khiến vấn đề đánh giá hiệu quả của chương trình phòng lây truyền HIV tự mẹ sang con bị hạn chế [26]
Trong nghiên cứu “Nhận xét về thái độ xử trí trong chuyển dạ của sản phụ có HIV/AIDS tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2008” của Nguyễn
Thị Liên Phương và Lê Thị Thanh Vân, tác giả đã điều tra 105 phụ nữ nhiễm HIV vào đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 01/10/2008 đến 31/12/2008
từ hồ sơ bệnh án lưu trữ Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát hiện có HIV trong khi chuyển dạ khá cao 39% Tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm sản phụ có HIV/AIDS là 54,3%, mổ chủ động phòng LTMC 26,3%, tuy nhiên tỷ lệ đẻ thường vẫn khá cao 43,8% Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV được dùng thuốc dự phòng LTMC bằng ARV khá cao, có 48,6% sản phụ được dùng AZT trong quá trình mang thai, 58,8% sản phụ được tiếp cận với AZT từ tuần thứ 28
Có 76,2% sản phụ được dùng ARV dự phòng trong chuyển dạ 100% sản phụ
Trang 31được dùng ARV sau đẻ 1 tuần 100% sản phụ được tư vấn không cho con bú
và cấp sữa công thức 100% số con sinh ra sống của sản phụ được dùng ARV
dự phòng sau đẻ Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra được tỷ lệ trẻ nhiễm HIV từ những bà mẹ trên, cũng như mối liên quan giữa tỷ lệ phụ nữ mang thai được điều trị dự phòng LTMC với tỷ lệ con nhiễm HIV [27]
Nghiên cứu “Tình trạng nhiễm HIV và chăm sóc, điều trị ARV cho trẻ dưới 18 tháng tuổi sinh ra từ mẹ nhiễm HIV tại Việt Nam, 2010 - 2013” tác
giả Cao Thị Thanh Thủy đã cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm trẻ được dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con bằng ARV và mẹ được điều trị ARV (theo phác đồ điều trị suốt đời) rất thấp (0,6%), trong nhóm trẻ được DPLTMC bằng ARV và mẹ được điều trị DPLTMC bằng ARV là 3,8% Yếu
tố liên quan chủ yếu đến tỷ lệ nhiễm HIV ở trẻ dưới 18 tháng tuổi sinh ra từ
mẹ nhiễm HIV là can thiệp DPLTMC [29]
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC
- Tiếp cận các dịch vụ phòng LTMC của PNMT còn nhiều hạn chế trong tất cá các bước từ khi tiếp cận xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV, tiếp cận xét nghiệm trong quá trình mang thai hay khi chuyển dạ nhận kết quả xét nghiệm, tiếp cận với dịch vụ phòng LTMC để điều trị dự phòng hay tiếp cận
cơ sở chăm sóc điều trị trước và sau sinh Các thách thức làm ảnh hưởng đến quá trình trên bao gồm những điểm sau:
- Hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt tại các cơ sở chăm sóc sản khoa: Các dịch vụ DPLTMC không sẵn có tại cơ sở chăm sóc ban đầu, tại các
cơ sở tuyến trên thì hiện tượng quá tải bệnh nhân, quá tải công việc cho nhân viên y tế, hạn chế thời gian của nhân viên y tế trong hoạt động DPLTMC Nghiên cứu ở Nigieria thấy thách thức của chương trình DPLTMC tại đây chính là do nguồn lực dành cho chương trình thấp ở các tỉnh và ở tuyến y tế
cơ sở [56]
Trang 32- Các dịch vụ DPLTMC đứng đơn lẻ không lồng ghép hoặc thiếu sự liên kết với cơ sở chăm sóc và điều trị HIV khác dẫn đến hạn chế tiếp cận xét nghiệm như CD4, các xét nghiệm khác cũng như khám lâm sàng, phối hợp điều trị ARV và quản lý trẻ, điều này dẫn đến hiện tương mất dấu trong quá trình chăm sóc sản khoa cũng như chăm sóc và điều trị HIV [31] Theo nghiên cứu của Nkwo P.O việc thực hiện chương trình DPLTMC chạy song song với chương trình bảo vệ chăm sóc bà mẹ và trẻ em thay vì lồng ghép vào chương trình chính là thách thức khi thực thi chương trình [56]
- Khoảng cách đi lại cũng như yếu tố kinh tế cũng ảnh hưởng đến tiếp cận phòng LTMC của PNMT [24] Nghiên cứu của Mnyani C.N và cộng sự (2009) thấy việc tiếp cận xét nghiệm HIV, điều trị diệt virus và DPLTMC rất hạn chế tại các cơ sở y tế thiếu nguồn lực và cần phải được phát trển [55] Nghiên cứu của Malaju M.T và cộng sự (2012) ở thị trấn Gondar, Tây Bắc Ethiopia cho kết quả trong 400 bà mẹ mang thai thì có 330 bà mẹ (82,5%) chấp nhận người cung cấp dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV; 70 bà mẹ (17,5%)
từ chối Yếu tố liên quan đến việc chấp nhận sử dụng dịch vụ là cư trú ở vùng thành thị (OR = 2,85; 95% CI: 1,10 - 7,41) [53]
- Chưa có sự phối hợp tốt, hiệu quả giữa các cơ sở sản khoa và các dịch
vụ có liên quan đến HIV/AIDS Thời gian trả kết quả xét nghiệm HIV kéo dài
- Năng lực nhân viên y tế: các tư vấn viên hạn chế về kỹ năng tư vấn, chất lượng tư vấn về phòng LTMC không đảm bảo do chưa được đào tạo đầy
đủ [22] Nghiên cứu của Hembah-Hilekaan SK và cộng sự (2012) trên 384 bà
mẹ đến thực hiện chăm sóc trước sinh tại Uyam, bang Benue, Nigieria cho kết quả: 281 bà mẹ (73,2%) biết phụ nữ nhiễm HIV vẫn có khả năng mang thai;
275 bà mẹ (71,6%) biết HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con Các yếu tố ảnh hưởng tới việc khám thai, test HIV gồm: tuổi, số lần sinh con, tình trạng kinh
tế, địa dư (nơi sống), trang thiết bị ở các cơ sở y tế và việc thiếu các nhân viên
Trang 33y tế được đào tạo [49] Nghiên cứu cũng khuyến nghị tăng cường đào tạo cho các nhân viên y tế ở tuyến y tế cơ sở để nâng cao chất lượng DPLTMC
- Sự chấp nhận xét nghiệm HIV thấp ở một số khu vực Theo báo cáo của Bộ y tế một số nơi tỷ lệ phụ nữ mang thai được xét nghiệm chỉ đạt khoảng 50% như vậy còn một số lượng lớn phụ nữ mang thai chưa được làm xét nghiệm và sẽ làm tăng nguy cơ lây truyền cho con [7], [8] Mặc dù phạm
vi bao phủ của chăm sóc tiền sản cao, nhiều phụ nữ mang thai chỉ được xét nghiệm khi chuyển dạ hơn là xét nghiệm từ giai đoạn sớm hơn trước đó: trong năm 2011, có 42% phụ nữ được báo cáo đã được xét nghiệm khi sinh mà không phải là trong quá trình khám thai Việc xét nghiệm muộn cản trở các phụ nữ nhiễm HIV nhận được phác đồ điều trị tối ưu Các con số ước tính cũng cho thấy một tỷ lệ đáng kể số người mới nhiễm HIV trong phụ nữ là do hành vi nguy cơ cao của người chồng Hoạt động dự phòng cho những phụ nữ này do đó cần phải được cải thiện, cũng như các hoạt động nhằm làm giảm mang thai ngoài ý muốn ở những phụ nữ sống chung với HIV [1],[4]
- Kỳ thị và phân biệt đối xử vẫn là một rào cản trong quá trình PNMT tiếp cận với dịch vụ DPLTMC [32] Sự phân biệt đỗi xử liên quan đến HIV/AIDS ở gia đình, cộng đồng và nơi làm việc vẫn là một thực tế đang diễn ra ở Việt Nam, điều đã được đề cập trong các báo cáo của Chính phủ cũng như các nghiên cứu do các tổ chức quốc tế và các tổ chức trong nước thực hiện Mặc dù nhìn chung, người sử dụng lao động và người lao động có thái độ thông cảm đối với người lao động bị nhiễm HIV/AIDS nhưng không
có bằng chứng có tính hệ thống và đáng thuyết phục để chỉ ra rằng những người bị nhiễm căn bệnh này nhận được sự trợ giúp thích đáng và cần được
hỗ trợ về mặt tài chính, xã hội và tinh thần Hơn thế nữa, nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ các biểu hiện của sự kỳ thị và phân biệt đỗi xử đối với những người bị nhiễm HIV tại nơi làm việc như là cho thôi việc, công bố kết quả xét nghiệm, cách ly và đôi lúc bị quy chụp sai đó là nhóm “tệ nạn xã hội” Điều này làm
Trang 34cho những người bị nhiễm HIV cảm thấy bị cách ly với xã hội và nhân phẩm của họ bị hạ thấp và đó là rào cản làm cho họ ngại đi làm xét nghiệm và muốn che giấu kết quả xét nghiệm nên khó tiếp cận tới các dịch vụ chăm sóc và điều trị
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự “Sinh viên y khoa thực tập tại PKNT HIV giúp giảm kỳ thị phân biệt đối sử” 98% sinh viên cho rằng đợt thực tập rất hữu ích, 85,1% tự tin khẳng định đã cải thiện kỹ năng khai thác bệnh sử 97% giảm lo sợ khi chăm sóc bệnh nhân HIV [23]
- Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe: Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thanh Xuân cho thấy, hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về
dự phòng lây truyền HIV ở phụ nữ mang thai được thực hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng: bảng tin, đài truyền thanh huyện, đài tryền thanh xã với số lượt phát, tin bài được tăng dần qua các năm Hoạt động đài truyền thanh huyện Bình Chánh; Năm 2010 có 66 lượt phát; Năm 2012 tăng lên 220 lượt phát Đài truyền thanh xã số lượt phát sóng cũng tăng dần qua các năm; Năm 2010 có 886 lượt phát; Năm 2012 tăng lên 1.750 lượt phát
Năm 2010 có 36 tin bài; Năm 2012 tăng lên 96 tin bài Hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe trên các phương tiện truyền thông đại chúng: bảng tin, đài truyền thanh huyện, xã đã góp phần đưa các thông tin về nội dung chương trình can thiệp dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con đến với thai phụ và các thành viên trong cộng đồng, từ đó giúp nâng cao kiến thức của thai phụ
Hoạt động cung cấp tài liệu truyền thông cho các thai phụ được tăng dần qua các năm Năm 2010 cấp phát được 5.000 tờ rơi, bướm truyền thông; Năm 2012 cấp phát tăng lên 10.500 tờ Số lượng sổ tay, tranh lật được cung cấp cũng tăng dần qua các năm Năm 2010, cung cấp được
200 quyển; Năm 2012 cung cấp tăng lên1.500 quyển [39]
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Hệ thống sổ sách báo cáo
+ Sổ tư vấn và xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai
+ Sổ quản lý trẻ phơi nhiễm HIV tại phòng khám điều trị nhi
+ Số đăng ký trước điều trị ARV
+ Sổ điều trị ARV
+ Bệnh án điều trị ngoại trú HIV/AIDS
+ Phiếu chuyển tiếp
+ Sổ xét nghiệm HIV
+ Báo cáo dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
+ Phiếu thu thập thông tin khách hàng tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện
2.1.2 Các cán bộ y tế quản lý và thực hiện hoạt động DPLTMC tuyến tỉnh, huyện và xã/ phường
2.1.3 Phụ nữ mang thai được xét nghiệm khẳng định HIV dương tính từ 1/1/2011 đến 31/12/2015
2.2 Địa điểm nghiên cứu
- Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh
- Bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, tỉnh, huyện và các trung tâm y tế tuyến huyện, trạm y tế xã, phường trên địa bàn tỉnh
2.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04 năm 2016 đến tháng 09 năm 2017
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
Trang 36- Toàn bộ trẻ em sinh ra từ mẹ nhiễm HIV từ 01/01/2011 đến 31/12/2015 có thông tin lưu trữ tại các cơ sở y tế trong tỉnh
- Số trẻ em nhiễm HIV được điều trị ARV tại Bệnh viện A trong giai đoạn 2011 - 2015
Trang 37+ 02 cuộc thảo luận nhóm với với 05 cán bộ của Ban chăm sóc sức khỏe nhân dân ở xã Đồng Bẩm - TPTN và Tân Thái - Đại Từ
2.5 Các chỉ số nghiên cứu
2.5.1 Nhóm các chỉ số mô tả hoạt động DPLTMC
- Số PNMT đến khám lần đầu tại cơ sở y tế
- Tỷ lệ PNMT được xét nghiệm HIV
- Tỷ lệ PNMT có kết quả xét nghiệm khẳng định HIV dương tính trước thời kỳ mang thai
- Tỷ lệ PNMT có kết quả xét nghiệm khẳng định HIV dương tính trong thời kỳ mang thai
- Tỷ lệ PNMT có kết quả xét nghiệm khẳng định HIV dương tính trong thời kỳ chuyển dạ
- Tỷ lệ PNMT có kết quả xét nghiệm khẳng định HIV dương tính sau khi sinh
- Tỷ lệ PNMT nhiễm HIV được điều trị ARV trước khi có thai
- Tỷ lệ PNMT nhiễm HIV được điều trị ARV trong quá trình mang thai
- Tỷ lệ PNMT nhiễm HIV được điều trị ARV khi chuyển dạ
- Tỷ lệ PNMT nhiễm HIV được điều trị ARV sau khi sinh con
- Số sản phụ nhiễm HIV không dùng bất kỳ một loại thuốc ARV nào
- Tỷ lệ trẻ đẻ sống từ mẹ nhiễm HIV
- Tỷ lệ trẻ được điều trị dự phòng bằng thuốc ARV
- Tỷ lệ trẻ đẻ sống từ mẹ nhiễm HIV có bú mẹ
- Tỷ lệ trẻ trẻ được quản lý tại phòng khám ngoại trú
- Số trẻ trẻ được làm xét nghiệm chẩn đoán HIV
- Số trẻ được chẩn đoán nhiễm HIV
2.5.2 Nhóm các chỉ số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DPLTMC
- Nhân lực hoạt động của chương trình
- Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
Trang 38- Tổ chức triển khai hoạt động
- Sự phối hợp liên nghành, lồng ghép các tổ chức đoàn thể, gia đình
- Công tác quản lý, giám sát theo dõi thực hiện hoạt động chương trình
- Công tác truyền thông, tư vấn
- Số cán bộ được đào tạo kiến thức về lây truyền HIV từ mẹ sang con
- Giải pháp về công tác tổ chức, quản lý, chỉ đạo, chính sách
- Giải pháp về công tác hợp liên ngành
- Giải pháp về nguồn nhân lực
- Giải pháp về đào tạo chuyên môn, kỹ thuật: tư vấn, xét nghiệm, điều trị…
- Giải pháp về cơ sơ vật chất, trang thiết bị, kinh phí
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng
Hồi cứu số liệu sẵn có từ sổ sách, báo cáo, hồ sơ, bệnh án… tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, các bệnh viện và trung tâm y tế tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Công cụ thu thập số liệu: Các số liệu cần thu thập được tổng hợp theo biểu mẫu (Phụ lục 8)
2.6.2 Thu thập số liệu định tính
2.6.2.1 Phỏng vấn sâu
Xây dựng nội dung phiếu phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động DPLTMC cho các cán bộ cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ phụ trách hoạt động DPLTMC tuyển tỉnh, huyện, xã các bác sỹ khoa sản và nhi bệnh viện A
Trang 39- Nội dung chính của phỏng vấn sâu dành cho cán bộ quản lý và phụ trách hoạt động DPLTMC Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS tỉnh (Phụ lục 1)
- Nội dung chính của phỏng vấn sâu dành cho cán bộ phụ trách hoạt
động DPLTMC tại các cơ sở Sản khoa (Phụ lục 2)
- Nội dung chính của phỏng vấn sâu dành cho cán bộ phụ trách hoạt động DPLTMC tại phòng khám ngoại trú HIV/AIDS Nhi khoa (Phụ lục 3)
- Nội dung chính của phỏng vấn sâu dành cho cán bộ phụ trách hoạt động DPLTMC tuyến huyện, thành phố (Phụ lục 4)
- Nội dung chính của phỏng vấn sâu dành cho cán bộ trạm y tế xã (Phụ lục 5)
- Nội dung thảo luận nhóm Ban Chăm sóc sức khỏe nhân dân của xã, phường (Phụ lục 7)
Tiến hành thảo luận nhóm: Điều tra viên được tập huấn nội dung, kỹ năng điều hành nhóm thảo luận Ghi chép đầy đủ nội dung trong quá trình thảo luận nhóm
2.6.3 Cán bộ thu thập thông tin
- Điều tra viên: Cán bộ tham gia hoạt động DPLTMC tại Trung tâm
phòng chống HIV/AIDS tỉnh
Trang 40- Giám sát viên: Là nghiên cứu viên đồ ng thời nghiên cứu viên cũng tham gia vào quá trình điều tra, giải quyết các khó khăn trong quá trình thu
thập số liệu
2.7 Xử lý số liệu
- Số liệu định lượng sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
- Số liệu định tính được lấy từ nội dung ghi chép trong quá trình phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng khoa học trường Đại học Y dược Thái Nguyên Được Sở y tế Thái Nguyên, Khoa phòng chống HIV/AIDS tỉnh Thái Nguyên - Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan y tế trên địa bàn đồng ý cùng phối hợp thực hiện
- Các đối tượng tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm đều được giải thích rõ ràng về nội dung và mục đích thực hiện nghiên cứu, chỉ lựa chọn những đối tượng tự nguyện tham gia
- Các số liệu thu thập chỉ sử dụng cho nghiên cứu này không dùng cho bất kỳ mục đích nào khác