1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ bệnh tai mũi họng của học sinh trung học phổ thông dân tộc mường tỉnh hòa bình

92 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh lý tai mũi họng của học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình năm 2014 .... Ngược lại, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các gia đình, trường

Trang 1

LUẬN VĂN SỸ CHUYÊN KHOA ẤP II

THÁI NGUYÊN – NĂM 2015

Trang 2

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN DUY NINH

THÁI NGUYÊN - NĂM 2015

Trang 4

LỜ ẢM ƠN

Với tất cả lòng chân thành tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn tới Đảng

ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên; Phòng Đào tạo - Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên; Thầy cô giáo trong Khoa Y tế Công cộng - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã hướng dẫn giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Duy Ninh người thầy đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ tôi phương pháp nghiên cứu,

tư duy khoa học để hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, phụ huynh và các em học sinh Trường phổ thông trung học huyện Cao Phong, Kỳ Sơn, Lương Sơn đã hết lòng tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình lấy

số liệu thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban giám đốc, các phòng ban chức năng bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm và sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của gia đình, người thân và bạn bè

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

HỌC VIÊN

hu Thị Thu oài

Trang 5

V.A : Viêm VA (Végetations adenoides)

WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

YTTH : Y tế trường học

Trang 6

MỤ LỤ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục chữ viết tắt iii

Mục lục iv

Danh mục bảng vi

Danh mục biểu đồ .viii

Danh mục hộp ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

hương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số bệnh bệnh TMH thường gặp ở học sinh 3

1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh TMH tại cộng đồng trên thế giới.………….….…9

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh TMH tại cộng đồng ở Việt Nam…… …… 10

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh TMH ở học sinh 12

1.5 Một số giải pháp phòng chống bệnh TMH ở cộng đồng 17

1.6 Một số nét cơ bản của tỉnh Hòa Bình và người dân tộc Mường 18

hương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 23

2.3 Chỉ số nghiên cứu 27

2.4 Phương pháp thu thập thông tin 29

2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29

2.6 Phương pháp khống chế sai số 31

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 32

hương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

Trang 7

3.1 Thực trạng bệnh TMH của học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tại

tỉnh Hòa Bình 33

3.2 Một số yếu tố nguy cơ bệnh TMH 37

3.3 Một số giải pháp phòng chống bệnh TMH cho học sinh phổ thông trung học dân tộc Mường 47

hương 4: BÀN LUẬN 52

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 52

4.2 Thực trạng bệnh TMH của học sinh THPT dân tộc Mường 52

4.3 Một số yếu tố nguy cơ gây bệnh lý tai mũi họng của học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình năm 2014 56

4.4 Giải pháp phòng chống bệnh TMH ở học sinh THPT dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình 66

4.5 Một số hạn chế của đề tài luận văn 70

KẾT LUẬN 72

KHUYẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán một số bệnh lý TMH thường gặp

Phụ lục 2: Phiếu khám bệnh

Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn các yếu tố nguy cơ gây bệnh TMH

Phụ lục 4: Bản hướng dẫn thảo luận nhóm

Trang 8

AN MỤ ẢN

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trường, lớp 33 Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh TMH của học sinh THPT dân tộc Mường 34 Bảng 3.3 Tỷ lệ mắc bệnh TMH của học sinh THPT dân tộc Mường theo khối lớp 34 Bảng 3.4 Tỷ lệ mắc bệnh TMH của học sinh THPT dân tộc Mường theo giới tính 35 Bảng 3.5 Tỷ lệ mắc các nhóm bệnh tai, mũi xoang, họng ở học sinh dân tộc Mường 35 Bảng 3.6 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế hộ gia đình với bệnh TMH 37 Bảng 3.7 Mối liên quan giữa loại nhà ở với bệnh TMH 38 Bảng 3.8 Mối liên quan giữa loại bếp đun với bệnh TMH 38 Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nơi để bếp đun với bệnh TMH 39 Bảng 3.10 Mối liên quan giữa nuôi chó/mèo trong nhà với bệnh TMH……39 Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nuôi gia cầm trong nhà với bệnh TMH… 40 Bảng 3.12 Mối liên quan giữa làm nghề dịch vụ tại gia đình với bệnh TMH 40 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa hút thuốc lá với bệnh TMH ………41 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa môi trường học tập tại nhà với bệnh TMH 41 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa môi trường học tập tại trường với bệnh TMH.42 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa hành vi vệ sinh mũi bằng nước muối sinh lý với bệnh TMH……….…42 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa hành vi vệ sinh họng bằng nước muối sinh lý với bệnh TMH……….………43 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức của học sinh với bệnh TMH.…….43 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa thái độ của học sinh với bệnh TMH……… 44 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thực hành của học sinh với bệnh TMH…….44

Trang 9

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa đi khám và điều trị tại cơ sở y tế khi có triệu chứng với bệnh TMH 45 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa giáo dục sức khỏe về phòng bệnh TMH tại trường học với bệnh TMH 45 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa giáo dục sức khỏe về phòng bệnh TMH tại gia đình với bệnh TMH 46 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa việc tự tìm hiểu về phòng bệnh TMH qua các phương tiện truyền thông với bệnh TMH 46 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa bệnh TMH ở người thân trong gia đình với bệnh TMH ở học sinh 47

Trang 11

AN MỤ P

Hộp 3.1 Ý kiến thảo luận về giải pháp truyền thông……… ………48 Hộp 3.2 Hình thức truyền thông trong trường học……… …… ….49 Hộp 3.3 Hình thức truyền thông tại cộng đồng……… ………50 Hộp 3.4 Ý kiến thảo luận về chất lượng khám sức khỏe học sinh…… … 50 Hộp 3.5 Ý kiến thảo luận về năng lực cán bộ y tế trường học………… ….51

Trang 12

ẶT VẤN Ề

Bệnh lý tai mũi họng là nhóm bệnh phổ biến ở nước ta do ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm Bệnh có chiều hướng gia tăng vì mức độ ô nhiễm môi trường ngày một tăng, khí hậu ngày càng kém thuận lợi, nhất là khi đất nước

ta đang thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá

Lứa tuổi thanh thiếu niên là lứa tuổi chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cấu dân số, là một nguồn nhân lực quan trọng cho sự phát triển và là tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc Lứa tuổi học sinh rất thường mắc các bệnh lý về tai mũi họng Theo nghiên cứu của Vũ Văn Minh (1999), tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng ở người dân tộc Tày ở lứa tuổi 16 - 30 là 77,07% [26] Theo nghiên cứu của Phùng Minh Lương (2010), tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng của cộng đồng dân tộc Ê Đê là 58,9% [20] Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái

Hà (2014) tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng của học sinh trung học cơ sở tại Thái Nguyên là 67,0% [7] Một nghiên cứu tại Hoa kỳ cho thấy, bệnh viêm mũi xoang gây ảnh hưởng đến 4,7% dân số vào năm 2007 [59] Nghiên cứu của Viral Shah và cộng sự (2014) cho tỷ lệ bệnh tai mũi họng ở trẻ em Ấn Độ lứa tuổi 5 - 14 là 46,6% [56] Mặc dù các bệnh lý tai mũi họng ít gây tử vong nhưng nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời có thể gây biến chứng, di chứng nặng nề, cũng như ảnh hưởng tới sự phát triển về tinh thần và thể chất của trẻ Ngược lại, nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các gia đình, trường học và cơ sở y tế trong việc dự phòng, phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời không những chỉ giúp cho học sinh có sức khỏe, học tập tốt mà còn giảm được chi phí xã hội trong điều trị các bệnh lý về tai mũi họng

Các yếu tố ảnh hưởng tới bệnh tai mũi họng bao gồm các yếu tố môi trường, thói quen hành vi vệ sinh mũi họng kém, cung ứng các dịch vụ y tế chưa đầy đủ và yếu tố sinh học [17], [24] Chỗ ở là môi trường trực tiếp bảo

vệ sức khỏe cá nhân cả ba mặt thể chất, tinh thần và xã hội Người nghèo nơi

Trang 13

ở chật hẹp, điều kiện vệ sinh kém, ô nhiễm, thiếu nước sạch, không xử lý phân rác, dễ mắc các bệnh tai mũi họng Ô nhiễm không khí trong nhà, nơi học tập, làm việc có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và gây các bệnh theo mùa, thời tiết [27]

Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Bắc với khoảng 815.907 dân cư (2014) trong đó người Mường chiếm 65,38% Độ tuổi từ 5 - 19 trong toàn tỉnh có 176.034 người chiếm 21,6%, trong đó riêng tỷ lệ học sinh phổ thông trung học năm 2014 có 22.615 em chiếm khoảng 2,8% [3], [31] Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về bệnh tai mũi họng của học sinh còn rất hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng bệnh tai mũi họng của học sinh phổ thông trung học dân tộc Mường Chính vì thế chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố nguy cơ bệnh tai mũi họng ở học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh òa ình”

nhằm các mục tiêu sau đây:

1 Đánh giá thực trạng bệnh tai mũi họng ở học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình năm 2014

2 Xác định một số yếu tố nguy cơ bệnh tai mũi họng ở học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

3 Đề xuất một số giải pháp phòng chống bệnh tai mũi họng ở học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

Trang 14

hương 1 TỔN QUAN

1.1 Một số bệnh tai mũi họng thường gặp ở học sinh

Các cơ quan tai mũi họng (TMH) thuộc về đường hô hấp trên và tiêu hóa trên, có nhiều chức năng quan trọng đối với cơ thể như hô hấp, phát âm, nghe, thăng bằng Tuy nhiên, TMH cũng là những cửa ngõ lớn nhất để các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể Do đó, bệnh TMH là một trong những bệnh thường gặp nhất, đặc biệt ở trẻ em Khi bị nhiễm khuẩn (hoặc nhiễm virut), mũi và họng thường bị trước, rồi từ đó lan xuống đường hô hấp dưới Nó có thể gây ra biến chứng tại vùng TMH (như viêm xoang, viêm tai chảy mủ) hoặc xuống đường thở (như viêm phế khí quản, viêm phổi), có thể còn viêm hạch, áp xe hạch của vùng cổ, viêm áp xe trung thất (trong lồng ngực), thậm chí khi nuốt dịch mủ bẩn làm viêm các đường tiêu hoá Hoặc các biến chứng toàn thân như: nhiễm khuẩn huyết, thấp tim, viêm cầu thận, viêm khớp [17], [24], [28], [29]

Các bệnh TMH hay gặp bao gồm: Các bệnh về tai, các bệnh về mũi xoang, các bệnh về họng Cụ thể một số bệnh TMH hay gặp ở trẻ lớn tuổi như sau:

1.1.1 Viêm mũi xoang cấp tính

Viêm mũi xoang cấp tính thường do nhiễm trùng thứ phát sau viêm V.A, amidan, sau bệnh như cúm, sởi, dị ứng với các yếu tố kích thích; các yếu tố lý hóa học Bệnh thường biểu hiện các triệu chứng: sốt nhẹ (hoặc không sốt), đau đầu, tắc mũi, chảy mũi kéo dài, ngửi kém Chủ yếu phải điều trị tại tuyến chuyên khoa Tại tuyến y tế cơ sở: rửa mũi, nhỏ mũi bằng các thuốc thông thở, thuốc sát trùng mũi họng, khí dung mũi xoang Cần giáo dục sức khỏe:

vệ sinh môi trường, điều kiện sống, điều kiện học tập đảm bảo môi trường trong sạch Tránh tiếp xúc với không khí nóng lạnh đột ngột Điều trị tốt với viêm mũi cấp, nâng cao sức đề kháng cơ thể Tiêm phòng vaccin với các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em Khi tiếp xúc bụi nhiều cần rửa mũi bằng nước muối

Trang 15

sinh lý Không được dụi mũi, móc dỉ mũi, ngoáy mũi Điều trị triệt để đúng phác đồ khi viêm mũi, viêm xoang cấp tránh gây biến chứng Khi có chảy mũi kéo dài phải đến cơ sở chuyên khoa khám, điều trị [29]

1.1.2 Viêm mũi xoang mạn tính

Viêm mũi xoang mạn tính là bệnh phổ biến, ở nước ta tỷ lệ viêm mũi trong cộng đồng khoảng 10 - 12%, viêm xoang chiếm 2 - 5% dân số, gặp nhiều nhất ở lứa tuổi lao động Bệnh hay gặp khi thay đổi thời tiết, thời điểm giao mùa, sức đề kháng giảm Bệnh liên quan đến độ ẩm, sự ô nhiễm của môi trường [29]

Bệnh có thể gây các biến chứng nặng nề nếu không được điều trị và dự phòng đúng cách Viêm xoang hay gây viêm mũi họng, V.A, nhất là viêm tai giữa Có thể gây các biến chứng nội sọ: viêm màng não, áp xe não Lâu dài

có thể gây viêm thận, viêm khớp Do đó các em học sinh cần rèn luyện sự thích nghi với môi trường xung quanh, nâng cao sức đề kháng cơ thể, tránh tiếp xúc với không khí nóng, lạnh đột ngột Cải thiện vệ sinh môi trường, điều kiện sống, điều kiện làm việc Chăm sóc mũi: rửa mũi thường xuyên bằng nước muối sinh lý Điều trị triệt để viêm mũi xoang mạn để đề phòng biến chứng [29]

1.1.3 Viêm mũi dị ứng

Viêm mũi dị ứng chiếm tỷ lệ khá cao trong cộng đồng: trẻ em gặp 10%, người lớn gặp 10 - 20% Bệnh thường gặp ở những người có cơ địa dị ứng Một số dị nguyên thường gặp là: phấn hoa, con mạt trong bụi nhà (House dust mites), một số hóa chất như sơn, xăng dầu Bệnh thường xảy ra đột ngột: bệnh nhân có cảm giác cay mũi, ngứa mũi, hắt hơi từng cơn vài chục cái liền Sau cơn hắt hơi là chảy nước mũi trong, loãng như nước lã Những cơn như trên thường xảy ra vào buổi sáng Tình trạng này thường kéo dài hàng tuần, sau đó tự khỏi Hàng năm vào thời kỳ đó lại tái diễn Vì vậy vấn đề phòng bệnh chủ yếu là cách ly với dị nguyên gây dị ứng Vệ sinh môi trường, cải

Trang 16

thiện điều kiện sống và làm việc Tránh tiếp xúc với không khí ô nhiễm, nóng lạnh đột ngột Khi bị bụi nhiều cần rửa mũi bằng nước muối sinh lý [27], [29]

1.1.4 Viêm V.A

Viêm V.A là viêm tổ chức amidan ở vùng họng mũi (V.A vòm và V.A vòi) Tỷ lệ viêm V.A chiếm khoảng 30% ở trẻ em Bệnh thường gặp ở những trẻ sống trong môi trường ẩm thấp, không khí ô nhiễm (bụi, khói ), nguồn nước bị ô nhiễm, vệ sinh kém, trẻ bị suy dinh dưỡng Mặt khác, chính viêm V.A mạn tính lại là nguyên nhân làm cho trẻ bị suy dinh dưỡng Những thống

kê gần đây ở nước ta cho thấy bệnh viêm V.A và những biến chứng của nó còn khá phổ biến, nhất là vùng nông thôn Viêm V.A có thể gây biến chứng: viêm thận, viêm khớp Thậm chí còn gây rối loạn phát triển về thể chất và tinh thần: trẻ xanh xao, còi cọc, có bộ mặt V.A, trẻ kém thông minh, không tập trung tư tưởng, học tập kém do trẻ nghe kém, thiếu oxy não mạn tính Chính

vì vậy, gia đình cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường để giúp các em dự phòng, phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh viêm V.A Bên cạnh đó thường xuyên hướng dẫn các em cách xì mũi, hút, rửa mũi, nhỏ thuốc mũi đặc biệt quan tâm chăm sóc trẻ khi thời tiết thay đổi Khi trẻ bị viêm V.A cần được điều trị tích cực, đúng phương pháp, nạo V.A khi có chỉ định để đề phòng biến chứng [14], [17]

1.1.5 Viêm amidan

Viêm amidan là bệnh khá phổ biến ở nước ta Do amidan có nhiều khe, hốc, nằm ở vị trí ngã tư giữa đường ăn và đường thở Dễ bị viêm nhiễm từ các bệnh lý ở những cơ quan kế cận: răng, mũi, miệng Bệnh thường gặp vào mùa lạnh, thời điểm giao mùa, khi sức khỏe giảm sút Viêm amidan có thể gây ra các biến chứng: tại chỗ (viêm tấy hoặc áp xe amidan, viêm tấy hoặc áp xe quanh amidan); biến chứng gần (viêm mũi, viêm xoang, viêm tai giữa, viêm hạch ); biến chứng xa (viêm nội tâm mạc, viêm khớp, viêm cầu thận ) Để dự phòng mắc viêm amidan, các em học sinh cần được nâng cao thể trạng và tăng cường

Trang 17

sức đề kháng cho cơ thể bằng các loại sinh tố và rèn luyện thân thể thích nghi với môi trường sống Tránh nhiễm lạnh bằng cách: không ăn uống đồ lạnh, tránh

bị ngấm nước mưa, nhất là khi mệt mỏi Vệ sinh mũi họng, răng, miệng, chú ý khi có các bệnh dịch: cúm, sởi Điều trị viêm amidan kịp thời, đúng cách và đặc biệt cắt amidan đúng chỉ định để tránh các biến chứng [14]

1.1.6 Viêm họng

Là bệnh rất thường gặp trong mùa lạnh, khi thời tiết thay đổi Bệnh có thể xuất hiện riêng biệt hoặc đồng thời với viêm V.A, amidan, viêm mũi xoang hoặc trong các bệnh nhiễm trùng của đường hô hấp trên Nguyên nhân của bệnh là do virus (chiếm từ 60 - 80%) và vi khuẩn, vì vậy viêm họng

dễ lây truyền qua đường nước bọt, nước mũi Bệnh cũng có thể gây ra các biến chứng: biến chứng gần (viêm tai giữa cấp, viêm thanh khí phế quản cấp, viêm phổi, viêm hạch góc hàm, viêm tấy hoặc áp xe amidan, viêm tấy hoặc áp

xe quanh amidan); biến chứng xa (viêm cầu thận, viêm khớp, viêm nội tâm mạc )

Để phòng bệnh viêm họng cho học sinh cần tránh nhiễm lạnh, súc họng

thường xuyên và đúng cách Không hút thuốc, hạn chế uống bia, rượu Đeo khẩu trang phòng hộ khi tiếp xúc bụi, khói, hơi hóa chất Nếu viêm họng hay tái phát cần giải quyết các ổ viêm mạn tính: nạo V.A, cắt amidan, điều trị mũi xoang [14]

1.1.7 Viêm tai giữa

Do vi khuẩn, virus từ các ổ viêm ở mũi họng đi lên tai qua vòi nhĩ Eustache Bệnh nhân có thể biểu hiện bằng các triệu chứng như đau tai, ù tai, nghe kém, chảy mủ tai Nhưng nhiều khi không có biểu hiện triệu chứng rõ rệt Nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, tích cực và đúng phương pháp, bệnh sẽ khỏi, không để lại di chứng Ngược lại nếu không được theo dõi, không được điều trị đúng, có thể đưa đến nhiều biến chứng phức tạp Cần quan tâm, điều trị các viêm nhiễm ở mũi họng để đề phòng viêm tai và phòng

Trang 18

tái phát Ở lứa tuổi trẻ lớn thường gặp viêm tai giữa tiết dịch, viêm tai giữa xẹp nhĩ, xơ nhĩ

Trong viêm tai giữa tiết dịch, các triệu chứng thường ít rầm rộ, chủ yếu phải theo dõi và phát hiện triệu chứng nghe kém ở trẻ em Phát hiện những thay đổi bất thường của màng nhĩ Cũng cần kiểm tra thính lực đồ và nhĩ lượng đồ Nói chung bệnh diễn biến nhẹ, sau vài ngày có thể tự khỏi được nhưng hay bị tái phát theo với đợt viêm mũi họng Có thể tiến triển thành viêm tai mạn tính hoặc gây sẹo, xơ dính màng nhĩ Khi phát hiện thấy những dấu hiệu của viêm tai giữa tiết dịch , cần phải điều trị tích cực và chuyển bệnh nhân lên tuyến chuyên khoa kịp thời để đề phòng các biến chứng [28]

Viêm tai giữa xẹp nhĩ, xơ nhĩ là hậu quả của viêm tai giữa tiết dịch tái diễn nhiều lần mà không được phát hiện hoặc điều trị đúng cách và triệt để Triệu chứng chính là điếc Trẻ có thể bị điếc một cách từ từ, lúc đầu điếc không thường xuyên, thỉnh thoảng có lúc nghe rõ trở lại Nhưng sau mỗi đợt

xổ mũi tai bị điếc trở lại và điếc nặng hơn trước Cuối cùng là điếc hoàn toàn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và khả năng học tập của trẻ Vì vậy ngoài việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, trẻ cần được thường xuyên nhắc nhở vệ sinh TMH đúng cách Nên kích thích sự tuần hoàn toàn thân bằng cách vận động thường xuyên hoặc tập thể dục đều đặn [28]

mà phải hít xuống miệng rồi khạc đi, đây cũng là nguyên nhân dễ làm nhiễm khuẩn đường hô hấp trên Ngoài ra, người bệnh còn có thể ngủ ngáy, kém ngủ

và mất ngủ do ngạt mũi, độ nhạy với mùi kém Rất nhiều người phải sống

Trang 19

chung với dị tật này đến suốt đời Vì vậy cần có một chế độ dự phòng thích hợp khi có dị hình vách ngăn mũi Cần hạn chế uống rượu bia, hút thuốc lá Khi đi ra đường nên đeo khẩu trang Vệ sinh mũi bằng cách nhỏ nước muối sinh lý trước khi đi ngủ là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả tích cực [29]

1.1.9 Chảy máu mũi

Nguyên nhân do chấn thương, do phẫu thuật, do viêm mũi xoang, viêm V.A, do khối u mũi xoang hoặc do các bệnh lý nội khoa Biểu hiện bệnh: máu chảy ra cửa mũi trước hoặc chảy ra cả cửa mũi sau, xuống họng Trường hợp chảy máu nặng bệnh nhân có thể nuốt máu, sau đó nôn ra máu đen, có thể có dấu hiệu choáng do mất máu Ở trẻ em thường chảy máu mức độ nhẹ (do tổn thương tại điểm mạch Kisselbach), số lượng ít, có xu hướng tự cầm, hay tái phát Cần cầm máu tại chỗ (tuỳ mức độ nặng nhẹ mà có cách xử trí cầm máu khác nhau) Tuyên truyền và giáo dục nhân dân có thói quen sử dụng các phương tiện bảo hộ lao động, sinh hoạt, an toàn giao thông Không cho trẻ

em nhét dị vật vào mũi hoặc ngoáy mũi Nếu đã chảy máu một lần dù nhẹ vẫn phải đến bác sĩ chuyên khoa TMH để xác định nguyên nhân Cần quan tâm và theo dõi đối với những trường hợp chảy máu tái phát ở một cơ sở y tế chuyên khoa Cần có chế độ theo dõi chu đáo đối với những người có bệnh lý mạn tính[10]

1.1.10 Chấn thương tai mũi họng

Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, chơi thể thao, đánh nhau Những chấn thương thuộc TMH thường nặng nề, có thể dẫn tới nguy hiểm đến tính mạng hoặc để lại những di chứng gây ảnh hưởng đến chức năng hoặc thẩm mỹ cho người bệnh Cần có thái độ và kỹ năng xử trí ban đầu đúng đắn, chuyển bệnh nhân đến tuyến chuyên khoa kịp thời và tuyên truyền các bệnh pháp phòng tránh [10]

Trang 20

1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh tai mũi họng tại cộng đồng trên thế giới

- Năm 2005, Hannaford P.C và cộng sự có nghiên cứu bệnh TMH trong cộng đồng ở Scotland Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có đến 20% đối tượng giảm nghe, 20% đối tượng bị ù tai trong thời gian nghiên cứu, 13 - 18% đối tượng mắc viêm mũi dị ứng, và có đến 31% đối tượng viêm họng cấp tính [45]

- Năm 2010, Sanjay P Kishve và cộng sự nghiên cứu cho thấy rằng viêm tai giữa, viêm amidan và viêm mũi là những vấn đề thường gặp nhất trong số trẻ em đến khám tại khoa TMH của một bệnh viện nông thôn ở

Ấn Độ Bệnh TMH tìm thấy là phổ biến hơn ở trẻ em nam (53,2%) Đa số các bệnh nhân nhi khoa thuộc nhóm tuổi từ 5-14 năm (66,3%), có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn (61,2%), sống trong gia đình hạt nhân (71,3%) và có mẹ mù chữ (70,8%) Bệnh về tai là nhóm hay gặp nhất của các vấn đề TMH trong nhóm dân số trẻ em(57,3%), tiếp theo là bệnh về họng (27,4%) và tỷ lệ gặp ít nhất là các bệnh về mũi (15,3%) [54]

- Năm 2012, Arup Sen Gupta và cộng sự nghiên cứu trên 639 trẻ em Ấn

Độ độ tuổi từ 6 – 14 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh về tai là cao nhất chiếm 52,6% Trong các bệnh về mũi, chảy máu mũi chiếm 28,69% và viêm mũi dị ứng chiếm 24,18% Trong các bệnh về họng, viêm amidan chiếm 57.50% và viêm họng chiếm 35.83% [42]

- Năm 2013, Nghiên cứu của Yan Zhang và cộng sự về các yếu tố nguy

cơ đối với viêm tai giữa mãn tính (COM) và viêm tai giữa tái phát (ROM) Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố dị ứng, nhiễm trùng đường hô hấp trên, tiền sử bệnh COM / ROM, hút thuốc lá thụ động, địa vị xã hội thấp là những yếu tố nguy cơ quan trọng cho COM / ROM [59]

- Nghiên cứu của Olusesi A D và cộng sự ở Nigeria năm 2013 cũng cho thấy trong các bệnh nhân bị bệnh TMH thì các bệnh về tai chiếm cao nhất

Trang 21

(62,7%); tiếp theo là các bệnh về mũi (23,0%); các bệnh về họng (9,6%) và các bệnh phần đầu mặt cổ chiếm 4,7% [52]

- Nghiên cứu của Kalpana Sharma (2014) trên 251 trẻ em dưới 16 tuổi đến viện cấp cứu về các vấn đề TMH thì tỷ lệ các bệnh về tai chiếm 37,8% [48]

- Nghiên cứu của Humaid Al-Humaid I và cộng sự (2014) trên trẻ em từ

6 - 12 tuổi ở 25 trường học tại Qassim, Ả rập Xê út cho tỷ lệ viêm tai giữa tiết dịch là 7,5% [38]

- Năm 2014, Shah Viral và cộng sự nghiên cứu về bệnh TMH ở học sinh

từ 5 - 14 tuổi thuộc 6 trường công lập huyện Jamnagar, Ấn Độ cho thấy: tỷ lệ bệnh TMH chung là 46,6% Tỷ lệ học sinh bị bệnh tai là 14,33%; mũi là 28,66% và họng là 10,0% Các vấn đề TMH phổ biến bao gồm: cảm lạnh chung (23,0%); ho (9,67%); đau họng (8,34%) và đau tai (8,67%) [56]

1.3 Tình hình nghiên cứu bệnh tai mũi họng tại cộng đồng ở Việt Nam

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về bệnh TMH, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê quốc gia về vấn đề này

- Năm 1999, Vũ Văn Minh và cộng sự đã nghiên cứu bệnh TMH trên

2746 người dân tộc Tày tỉnh Thái Nguyên cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh TMH nói chung là 65%, tỷ lệ bệnh tai là 1,7%; tỷ lệ bệnh mũi xoang là 21,1%; tỷ lệ bệnh viêm amidan là 37,7% [26]

- Năm 2001, tác giả Nguyễn Thanh Trúc nghiên cứu bệnh TMH trẻ em ở vùng bãi rác thải Nam Sơn (Sóc Sơn), Hà Nội Kết quả nghiên cứu cho thấy:

tỉ lệ bệnh TMH chiếm 61,99%, trong đó tỉ lệ bệnh TMH ở trẻ nam là 50,36%

và ở trẻ nữ là 49,64% [36]

- Năm 2004, Phạm Thế Hiền nghiên cứu về mô hình bệnh TMH ở người lớn tại tỉnh Cà Mau cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh TMH là 34,4%, viêm mũi xoang mãn tính là 11,8%, viêm amidan mạn tính là 8,4%, viêm tai giữa mãn tính là 1,6% [9]

Trang 22

- Năm 2006, Nguyễn Hữu Khôi đã nghiên cứu bệnh TMH ở trẻ em quận

8 thành phố Hồ Chí Minh, trong tổng số 2072 trẻ độ tuổi từ 4 - 6 tuổi, bệnh TMH nói chung có tỷ lệ 64,77%, viêm amiđan quá phát 46,04%, viêm amiđan quá phát có ngủ ngáy 7,77%, viêm tai giữa ứ dịch 5,79%, viêm tai giữa cấp tính 0,1% [15]

- Năm 2011, Phùng Minh Lương nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh TMH của cộng đồng dân tộc Ê Đê là 58,9% trong đó viêm tai giữa 31,92%, viêm mũi xoang 25,11%, viêm họng 20,02% [20]

- Năm 2012, Nguyễn Lệ Thủy, Trần Duy Ninh qua nghiên cứu bệnh viêm V.A bằng phương pháp nội soi ở 324 học sinh trường trung học cơ sở (THCS) Nha Trang thành phố Thái nguyên cho thấy: Viêm V.A còn gặp nhiều ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (32,5%) trong tổng số các bệnh tai mũi họng, bán tắc vòi nhĩ (14,8%), tắc vòi nhĩ (9,5%), viêm tai giữa ứ dịch (9,9%), viêm mũi mạn tính (14,5%), viêm xoang mạn tính (9,3%) và viêm họng mạn tính (22,5%) [32]

- Năm 2013, Nguyễn Thanh Hà và Trần Duy Ninh nghiên cứu trên 794 học sinh tiểu học thành phố Thái Nguyên, tỷ lệ mắc các bệnh lý về tai mũi họng của học sinh tiểu học khá cao 65,0%, trong đó có từ 24,0% đến 38,2% các em học sinh đang theo học trên lớp có các triệu chứng toàn thân và cơ năng về tai mũi họng Có nhiều bệnh lý ở tai gặp ở học sinh tiểu học, trong đó đáng chú ý nhất là viêm tắc vòi nhĩ (5,9%); Viêm tai giữa tiết dịch 0,9%; Viêm tai giữa tiềm tàng xơ nhĩ 0,5% Trong các bệnh lý về mũi xoang, bệnh gặp nhiều nhất

là viêm mũi mạn tính và mạn tính đang trong đợt viêm cấp (21,2%) Đối với các bệnh lý ở họng, bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là viêm V.A mạn tính (41,6%) và mạn tính đợt cấp (16,9%) Bệnh viêm amidan mạn tính cũng chiếm tỷ lệ khá cao: 34,1% học sinh bị viêm amidan mạn tính và 12,1% viêm amidan mạn tính đợt cấp [4]

Trang 23

- Năm 2014, Nguyễn Thị Thái Hà nghiên cứu trên 355 học sinh THCS thành phố Thái Nguyên cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh TMH là 67%, trong đó tỷ

lệ mắc bệnh về tai là 5,9%, tỷ lệ mắc bệnh về mũi xoang là 23,7% và tỷ lệ mắc bệnh về họng là 54,1% [7]

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu bệnh TMH tại cộng đồng ở đồng bằng, ở miền núi phía bắc, trong các khu công nghiệp, nhà máy và đã đưa ra nhiều tỷ lệ bệnh TMH Chưa có tác giả nào tiến hành nghiên cứu bệnh TMH trên đối tượng học sinh trung học phổ thông (THPT) dân tộc Mường ở Hòa Bình

1.4 ác yếu tố ảnh hưởng tới bệnh tai mũi họng ở học sinh

TMH là bệnh rất hay gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp ở lứa tuổi trẻ nhỏ Bệnh do nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau gây nên, nhưng được chia làm 04 nhóm chính sau: Yếu tố môi trường, yếu tố hành vi, yếu tố cung ứng dịch vụ

y tế và yếu tố sinh học [2], [30], [34]

1.4.1 Các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới bệnh tai mũi họng

Bao gồm các yếu tố môi trường tự nhiên và các yếu tố môi trường xã hội

* Các yếu tố môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học của không khí, đất, nước

- Những thay đổi về vi khí hậu: vi khí hậu nơi ở, nơi làm việc có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và năng suất lao động, môi trường quá nóng, quá lạnh, quá ẩm, quá khô làm căng thẳng quá trình điều nhiệt, suy giảm sức đề kháng, gây các bệnh theo mùa, tăng các bệnh liên quan đến thời tiết

- Ô nhiễm không khí nơi ở, nơi làm việc: do sinh hoạt, đun nấu, nghề phụ, công trình vệ sinh, do ô nhiễm tại các khu công nghiệp, giao thông, xử lý chất thải, thải ra khói bụi, hơi khí độc, các loại vi khuẩn nấm mốc gây bệnh làm gia tăng các bệnh liên quan đến ô nhiễm

- Ô nhiễm các nguồn nước: do khí thải, nước thải, rác thải từ khu dân cư,

Trang 24

khu công nghiệp, làm ô nhiễm các nguồn nước mặt, ngầm, làm cho nguồn nước bị ô nhiễm các chất độc hại

- Ô nhiễm môi trường đất: do khí thải, rác thải từ khu dân cư, công nghiệp, do phân bón, các hóa chất trừ sâu diệt cỏ, gây ô nhiễm nguồn nước, tích lũy trong sản phẩm nông nghiệp, qua thức ăn vào cơ thể, ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ

* Các yếu tố môi trường xã hội

- Việc không ổn định, rủi ro, thu nhập thấp làm giảm sức khỏe

- Ô nhiễm không khí trong nhà ở: yếu tố nguy hại cho các nước đang phát triển và là vấn đề lớn tại các vùng nông thôn Nguyên nhân chính là do đun nấu bếp bằng than củi không được thông khí tốt, nhà cửa không thông thoáng, ẩm thấp, gần chuồng gia súc

- Các yếu tố văn hóa:

+ Trình độ văn hóa: ảnh hưởng đến hiểu biết, thái độ, thực hành đối với sức khỏe và việc bảo vệ sức khỏe của cá nhân và công cộng

+ Phong tục tập quán: ảnh hưởng đến khả năng đối phó với các vấn đề sức khỏe: có thói quen ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [34]

Một trong những giải pháp phòng chống, điều trị bệnh TMH hiệu quả chính là việc đảm bảo vệ sinh môi trường, vệ sinh điều kiện sống và học tập [24], [35] Theo công bố của Schoenwetter W.F (2000) tỷ lệ viêm mũi dị ứng dao động từ 4 - 40% trong cộng đồng; nguyên nhân của viêm mũi dị ứng chưa

rõ ràng nhưng một số yếu tố nguy cơ gây viêm mũi dị ứng có thể kể đến bao gồm: tiếp xúc với không khí ô nhiễm, nhà ở có nhiều bụi, nhà ở và nơi làm việc ít có sự thông thoáng không khí và có xu hướng liên quan đến thói quen sinh hoạt ít vận động [55]

Ô nhiễm không khí trong nhà ở là yếu tố làm gia tăng các bệnh lý TMH Nguyên nhân chính là do đun nấu bếp bằng than, củi không được thông khí tốt, nhà cửa không thông thoáng, nhà cửa ẩm thấp, nhà cửa gần chuồng gia

Trang 25

súc, nuôi chó mèo trong nhà, hay như ở người dân tộc có thói quen nuôi gia súc gia cầm dưới gầm sàn Theo WHO năm 2001 ô nhiễm không khí trong nhà là nguyên nhân của 35,7% trường hợp viêm đường hô hấp dưới [34] Anders Koch năm 2013 nghiên cứu cho thấy các yếu tố kinh tế xã hội, điều kiện nhà ở, đông đúc có nguy cơ gây các bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em [40] Một số nghiên cứu khác đã chứng minh việc sống trong môi trường ẩm thấp, chật chội, có nhiều người, điều kiện kinh tế xã hội thấp là một yếu tố nguy cơ của viêm mũi dị ứng, viêm tai giữa [57], [59].

Một nguyên nhân gây ô nhiễm không khí trong nhà ở là việc hút thuốc lá thụ động Đây là một trong những yếu tố nguy cơ không chỉ cho bệnh TMH của trẻ nhỏ mà còn là yếu tố nguy cơ cho các bệnh nặng nề khác như ung thư Nghiên cứu của Zsuzsanna Csákányi và cộng sự (2014) về mối liên quan giữa môi trường khói thuốc với bệnh viêm tai giữa ở 412 trẻ em tại Budapest, Hungary Kết quả cho thấy tổng cộng có 155 (37,6%) trẻ em có cha mẹ hút thuốc, và có mối tương quan giữa môi trường khói thuốc và tỷ lệ mắc bệnh viêm tai giữa ở trẻ em [60] Kết quả này cũng được chứng minh tương tự trong nghiên cứu của Anil K Lalwani và cộng sự (2011) tại New York về mối liên hệ giữa hút thuốc thụ động và mất thính giác tần số thấp ở tuổi vị thành niên [41], hay trong nghiên cứu của Yan Zhang và cộng sự (2013) cũng chứng minh mối liên quan giữa phơi nhiễm khói thuốc lá và bệnh viêm tai giữa mạn tính Khói thuốc đã được báo cáo có liên quan với tăng tỷ lệ mắc bệnh tai giữa, việc hút thuốc của cha mẹ làm tăng sự khởi đầu của viêm tai giữa cấp tính ở trẻ em Nghiên cứu cho thấy nicotin và các sản phẩm khác trong khói thuốc có thể làm cho đối tượng dễ bị nhiễm trùng tai

và tăng cường khả năng của các vi sinh vật xâm nhập vào tai giữa Tiếp xúc với khói thuốc có thể làm suy giảm chức năng vận chuyển chất nhầy của niêm mạc, dẫn đến tắc nghẽn đường thở mũi họng Vi sinh vật bám dính vào bề mặt tế bào biểu mô và suy giảm chức năng miễn dịch là cơ chế

Trang 26

bệnh sinh của khởi phát bệnh tai giữa do hút thuốc thụ động [59] Nghiên cứu của Monteil M.A và cộng sự (2004) cho thấy nếu bố mẹ hút thuốc lá thì con có nguy cơ mắc các biểu hiện của viêm mũi dị ứng cao hơn 1,35 lần (95% CI: 1,10 - 1,65) [51].

1.4.2 Hành vi phòng chống bệnh

Thông thường, nhắc đến bệnh TMH là người ta thường nghĩ ngay đến tác nhân thời tiết, môi trường, nhưng "kẻ thù" không kém nguy hiểm của bệnh TMH còn đến từ chính những thói quen rất phổ biến trong thời hiện đại Việc

vệ sinh TMH hằng ngày giúp cho trẻ dự phòng và góp phần điều trị bệnh TMH hiệu quả Tuy nhiên nếu vệ sinh không đúng cách lại là nguyên nhân làm cho bệnh lý TMH trầm trọng hơn

Một số nghiên cứu đã chứng minh chế độ ăn uống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến bệnh lý TMH Trong đó điển hình là thói quen ăn bữa phụ trước giờ đi ngủ tối của một số gia đình, theo nghiên cứu của Trần Duy Ninh (2010) trẻ ăn đêm có tỷ lệ mắc các triệu chứng của đường hô hấp trên, đường tiêu hóa và một số bệnh về họng cao hơn so với những trẻ không ăn đêm

Trong nghiên cứu của Phùng Minh Lương (2013) về các yếu tố liên quan đến bệnh TMH ở trẻ em Gia Lai cho thấy, trẻ em thuộc nhóm hộ nghèo và trình

độ học vấn của bố mẹ thấp có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh TMH ở trẻ [19]

Một số tài liệu cũng cho rằng thời gian học tập và giải trí không hợp lý cũng là một trong các yếu tố nguy cơ gây ra bệnh lý TMH Với các em học sinh THPT hiện nay, ngoài thời gian học tập trên lớp hầu hết các em tham gia các lớp học thêm buổi chiều và tối, thậm chí có những em học thêm tất cả các buổi trong tuần Điều này gây ra cho các em học sinh một áp lực rất lớn và các em không có thời gian vui chơi, giải trí Đây cũng là một trong các yếu tố liên quan đến bệnh lý TMH

1.4.3 Cung ứng dịch vụ của hệ thống y tế (Y tế trường học, y tế cơ sở):

Tại mỗi trường THPT trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có một cán bộ y tế

Trang 27

trường học(YTTH) chuyên trách đảm nhiệm công tác y tế cho toàn bộ các học sinh và cán bộ trong trường Tuy nhiên, trên thực tế thì công tác truyền thông,

dự phòng và phát hiện sớm các bệnh lý TMH tại YTTH chưa được quan tâm thỏa đáng, bởi lẽ theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo thì số lượng thời gian dành cho các môn học đã chiếm hết khung thời gian học ở trường và không có/có rất ít thời gian dành cho hoạt động y tế, đặc biệt là tuyên truyền

về bệnh TMH - bệnh có liên quan đến các hành vi cá nhân Bên cạnh đó, là yếu tố nhân lực và trang thiết bị Các em học sinh hầu hết chỉ được khám sức khỏe thông thường mà không được áp dụng các máy cận lâm sàng trong khám sức khỏe, nên bị bỏ sót bệnh lý trong đó có bệnh lý TMH [1], [2] Ngoài ra thì phần lớn cán bộ YTTH có trình độ chuyên môn là cao đẳng y tế, họ chưa được tập huấn chuyên sâu về những bệnh có liên quan đến TMH hay những bệnh thường gặp ở học sinh

Việc nâng cao kiến thức về bệnh TMH, việc phát hiện sớm bệnh sẽ giúp các em điều trị kịp thời, không để lại các biến chứng Tuy nhiên, hệ thống và hoạt động YTTH tại các trường THPT vẫn còn có một số hạn chế nhất định Nếu những vấn đề này được cải thiện sẽ có những tác động không nhỏ đến tỷ

lệ bệnh lý TMH ở trường học và nâng cao sức khỏe cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng học tập và chất lượng gia đình, xã hội[25], [35]

1.4.4 Yếu tố sinh học

Theo Ngô Ngọc Liễn [17] thì yếu tố gia đình trong bệnh TMH thể hiện khá rõ rệt Trong gia đình có người thường mắc bệnh TMH thì nguy cơ trẻ mắc bệnh TMH là khá cao đặc biệt là với các bệnh miễn dịch như viêm mũi xoang dị ứng Mối liên quan giữa cơ địa dị ứng và viêm tai giữa tiết dịch được khẳng định trong nghiên cứu của Kiris M và cộng sự (2012) [49]

Ngoài ra, trong nghiên cứu của Yan Zhang và cộng sự cho thấy, yếu tố nguy cơ liên quan đáng kể với viêm tai giữa mãn tính bao gồm dân tộc, yếu

tố di truyền, giới tính [59] Nghiên cứu của Viral Shah và cộng sự (2014) trên

Trang 28

300 trẻ em độ tuổi 5 - 14 cho thấy: trẻ em mắc bệnh TMH thuộc nhóm tuổi

10-14 tuổi (52,24%), có tình trạng kinh tế xã hội thấp hơn (50,56%), là người Hồi giáo (88,89%), và có bà mẹ được học đến tiểu học và trung học (47%) [56]

1.5 Một số giải pháp phòng chống bệnh tai mũi họng ở cộng đồng

Việc đưa ra các biện pháp phòng phơi nhiễm với các tác nhân độc hại trong công nghiệp như hạn chế tối đa việc tiếp xúc với khói, bụi như cải tạo

hệ thống thông gió, mang khẩu trang thường xuyên trong khi làm việc cũng hạn chế được khá nhiều, làm giảm nhẹ đáng kể tỷ lệ mắc và tần số mắc các bệnh đường hô hấp nói chung và hạn chế bệnh TMH nói riêng [2], [6], [18], [23]

Các nghiên cứu trên thế giới về các bệnh TMH do tiếp xúc với khói bụi còn ít được đề cập tới các phương pháp thải loại giúp hệ thống tiết nhày lông chuyển của niêm mạc mũi xoang trong trường hợp quá tải chức năng của hệ thống này Trong các trường hợp quá tải đó thì việc can thiệp giúp thải loại các tác nhân bụi, khói còn nằm trên bề mặt hệ thống nhày lông chuyển là hoàn toàn cần thiết và giúp cho quá trình phục hồi chức năng của hệ thống, làm giảm nguy cơ mắc bệnh TMH

1.5.1 Biện pháp can thiệp cộng đồng

- Các biện pháp làm thông thoáng nhà ở

- Biện pháp truyền thông về tác hại của bệnh tật tiếp xúc với khói bụi

- Mang khẩu trang khi làm việc

1.5.2 Biện pháp can thiệp cá thể

Rửa mũi phòng tránh bệnh TMH

Thời tiết mùa hè nóng, bụi, môi trường ô nhiễm là nguy cơ gây ra các bệnh về TMH nếu không biết cách bảo vệ Sử dụng khăn che mặt có thể hạn chế được tác hại của môi trường đến cơ thể nhưng chỉ được một phần, phần lớn là sử dụng các biện pháp khác trong đó rửa mũi được coi là hình thức đơn giản, hiệu quả

Trang 29

Khẩu trang thực ra chỉ hạn chế được một phần; đó là chưa kể nhiều khi phải đeo khẩu trang cả buổi mới thay Do vậy rửa sạch mũi là cách để bảo vệ sức khỏe bản thân và những người xung quanh Cần dùng nước rửa mũi vào buổi sáng, buổi tối trước khi ngủ

- Khi thời tiết khí hậu khô hanh, sau khi tiếp xúc với môi trường ô nhiễm

- Khi có bệnh đường hô hấp

1.6 Một số nét cơ bản của tỉnh òa ình và người dân tộc Mường

1.6.1 Một số nét cơ bản của tỉnh Hòa Bình

Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc Việt Nam,

có vị trí quan trọng của vùng chuyển tiếp từ đồng bằng lên miền núi, giới hạn

ở tọa độ 20°19' - 21°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh độ Đông, diện tích

là 4.662 km², tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 76 km Tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và một thành phố Địa hình bị chia cắt phức tạp và có độ dốc lớn, vùng núi cao hiểm trở chiếm 46% diện tích toàn tỉnh [33]

Tỉnh Hòa Bình thuộc đới khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới có mùa đông lạnh khô Mặc dù về mặt khí hậu nói chung, tỉnh Hòa Bình cũng có bốn mùa như các tỉnh miền Bắc Việt Nam, tuy nhiên, rõ rệt hơn cả là sự thể hiện hai mùa theo chế độ mưa ẩm trong năm là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa (nóng, ẩm, mưa nhiều) thường bắt đầu từ tháng 5 tới cuối tháng 10 Mùa khô (lạnh, khô) thường bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau

Hòa Bình từ lâu là một địa danh nổi tiếng với nền văn hóa đặc sắc, tiêu biểu trong quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam Trong đó có 7 dân tộc chủ yếu là Mường, Kinh, Thái, Tày, Nùng, Mông, Dao Theo kết quả suy rộng từ cuộc điều tra dân số và nhà ở tính đến thời điểm 1/4/2014, dân số toàn tỉnh Hòa Bình là 815.907 người, trong đó đông nhất là người Mường chiếm 65,38%; người Kinh chiếm 25,86%; người Thái chiếm 4,26%; người Dao

Trang 30

chiếm 1,7%; người Tày chiếm 3,81%; người Nùng chiếm 0,05%; người Mông chiếm tỷ lệ rất thấp sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh [3]

Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Kinh không chiếm đa số, đồng thời đây cũng được coi là thủ phủ của người Mường, vì phần lớn người dân tộc Mường sống tập trung chủ yếu ở đây Người Mường xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh nhất Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác Sự phân bố dân

cư Mường ở Hòa Bình gắn liền với nguồn gốc lịch sử, môi trường tự nhiên của khu vực cũng như tập quán sản xuất và sinh hoạt của dân tộc Mường Tại Hòa Bình, người Mường tập trung ở những khu vực có địa hình thấp,

độ cao trung bình là 300m, nơi mà trước kia các trung tâm trù phú nhất của người Mường ở Hòa Bình với những cái tên như: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động

Hiện nay, người mường ở Hòa Bình cư trú xen kẽ với người Kinh Tỉnh Hòa Bình có 135 xã có 2 dân tộc thì 129 xã có hai dân tộc Kinh và Mường Nhiều nơi, xóm làng của người Mường cũng chẳng khác gì người Kinh, quanh làng cũng có lũy tre bao bọc, nhà đất xuất hiện ngày càng nhiều Từ khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế của đồng bào dân tộc Mường ở Hòa Bình đã có nhiều biến đổi Từ nền kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín, đồng bào đã bắt đầu làm quen với nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa nên đã có sự tăng trưởng bước đầu của dân cư đô thị và nhiều vùng nông thôn

1.6.2 Người Mường và một số phong tục tập quán ảnh hưởng đến bệnh tai mũi họng

Dân tộc Mường là một dân tộc có nền văn hóa, kinh tế, xã hội tương đối phát triển Theo số liệu của tổng điều tra dân số năm 1999, dân tộc Mường chiếm 1,5% tổng số dân cả nước và 10,8% số dân các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Trong 53 dân tộc thiểu số của Việt Nam, người Mường đứng thứ 3 về

Trang 31

dân số, sau người Tày và người Thái Dựa trên những kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ, dân tộc học, người ta cho rằng người Việt và người Mường có nhiều đặc điểm giống nhau [33]

Trong hoạt động kinh tế, người Mường sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp, khai thác ruộng nương để trồng trọt và chăn nuôi Người Mường thường nuôi gia súc thả rông, nhưng cũng có tập quán phóng uế bừa bãi Làng bản mường cũng chật chội, đường xá nhiều phân gia súc nên đây cũng

là một nguyên nhân gây bệnh [21]

Ngôi nhà truyền thống của người Mường ở Hòa Bình cũng mang đặc trưng độc đáo riêng của văn hóa ở Trước kia, người Mường sống chủ yếu ở nhà sàn Trong kiến trúc truyền thống, bếp được đặt ngay trong nhà, còn trâu,

bò nhốt ở dưới gầm sàn Hiện nay, kiến trúc trong ngôi nhà của người Mường đang trong quá trình chuyển biến theo kiến trúc nhà của người Kinh và ngày càng có nhiều người Mường làm nhà đất Trong tổng thể kiến trúc chung của ngôi nhà, bếp dần dần tách riêng ra khỏi nhà Có thể nói, so với các dân tộc khác, quá trình chuyển biến kiến trúc ngôi nhà từ nhà sàn xuống nhà đất của người Mường mạnh hơn Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này là do mức độ giao lưu văn hóa giữa người Mường và người Kinh rất mạnh mẽ [21], [33].Hòa Bình có truyền thống chữa bệnh bằng thuốc nam, hay nói cách khác

là chữa bệnh bằng phương pháp cổ truyền Các bài thuốc chữa bệnh bằng thuốc nam được lưu truyền trong các gia đình, các cộng đồng dân tộc từ đời này sang đời khác Những bài thuốc hay được dùng như: cảm sốt, kiết lỵ, thương hàn, hóc xương cá, rắn cắn, ngộ độc…Một số người dân khi bị bệnh không đến cơ sở y tế ngay mà ở nhà tự chữa mẹo, chữa theo dân gian nên tình trạng bệnh nặng, chuyển thành mãn tính [21]

- Sinh đẻ và nuôi con: tập quán đẻ nhiều vẫn còn tồn tại ở các làng bản người Mường vùng cao, vùng sâu Tập quán nuôi con của người Mường cũng thường trái với chương trình nuôi con bằng sữa mẹ như: không cho trẻ bú

Trang 32

ngay sau khi sinh, ăn sam sớm và cai sữa sớm Do đó, ảnh hưởng đến sức đề kháng của trẻ, trẻ dễ nhiễm các bệnh lây nhiễm qua đường hô hấp [11]

1.6.3 Một số đặc điểm của hệ thống trường trung học phổ thông tỉnh Hòa Bình

Tỉnh Hòa Bình có 10 huyện và một thành phố, toàn tỉnh có 38 trường THPT tương đương với 22.615 học sinh Trong đó có 1 trường THPT chuyên,

1 trường THPT dân tộc nội trú của tỉnh, còn lại là các trường THPT của các huyện và thành phố [31] Theo kết quả suy rộng từ cuộc điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ vào thời điểm 1/4/2014 của Cục Thống kê tỉnh Hòa Bình, tổng

số dân số nhóm tuổi từ 15 - 19 là 56.590 người [3] Như vậy, có thể thấy, tỷ lệ học sinh tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Hòa Bình so với dân số độ tuổi

15 - 19 chỉ chiếm 40% Hòa Bình là một tỉnh dân tộc miền núi, nền kinh tế còn nghèo nàn, vẫn còn một số lượng không nhỏ các em độ tuổi 15 - 19 không được được đến trường Đây cũng là một vấn đề mà tỉnh Hòa Bình cần quan tâm

Trang 33

hương 2

Ố TƯỢN V P ƯƠN P P N N ỨU

2.1 ối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh THPT người dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

Tiêu chuẩn lựa chọn học sinh:

+ Là người dân tộc Mường: Có bố và/hoặc mẹ là người dân tộc Mường

và được khai sinh dân tộc Mường

+ Sinh sống cùng gia đình trong quá trình đi học THPT

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 3 trường THPT ở 3 huyện tỉnh Hòa Bình

là huyện Lương Sơn, huyện Kim Bôi và huyện Cao Phong

* Trường THPT huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình

Trường THPT huyện Lương Sơn thuộc Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Hòa Bình, nằm ở trung tâm huyện Đây là một trong các trường đạt chuẩn chất lượng của Hòa Bình, toàn trường có 21 lớp với 811 học sinh, trong đó học sinh dân tộc Mường có 346 em Tổng số cán bộ của nhà trường là 57, có 1 cán bộ phụ trách công tác YTTH Cán bộ YTTH có trình độ y sỹ đa khoa, chưa được đào tạo chuyên khoa TMH Hàng năm, nhà trường tổ chức mời cán

bộ của bệnh viện đa khoa huyện Lương Sơn đến khám sức khỏe định kỳ 1 lần vào đầu năm học Năm học 2014 - 2015, nhà trường đã tổ chức khám được cho 795 em, kết quả khám có 468 em đạt sức khỏe loại A (58,8%), 320 em

Trang 34

đạt sức khỏe loại B (40,2%) và có 7 em đạt sức khỏe loại C (1%) Các bệnh thường gặp của học sinh: Tật khúc xạ, sâu răng, viêm họng, viêm mũi dị ứng

* Trường THPT huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình

Trường THPT huyện Kỳ Sơn thuộc Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Hòa Bình, nằm ở trung tâm huyện Toàn trường có 18 lớp với 558 học sinh, trong

đó học sinh dân tộc Mường có 325 em Tổng số cán bộ của nhà trường là 45,

có 1 cán bộ phụ trách công tác YTTH Cán bộ YTTH có trình độ y sỹ đa khoa, chưa được đào tạo chuyên khoa TMH Hàng năm, nhà trường tổ chức khám sức khỏe định kỳ 1 lần vào đầu năm học Năm học 2014 – 2015, nhà trường đã tổ chức khám được cho 545 em, kết quả khám 100% em đạt kết quả

đủ sức khỏe để học tập Các bệnh thường gặp của học sinh: tật khúc xạ, sâu răng, viêm họng, viêm mũi dị ứng

* Trường THPT huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình

Trường THPT huyện Cao Phong thuộc Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Hòa Bình, nằm ở trung tâm huyện Toàn trường có 18 lớp với 589 học sinh, trong

đó học sinh dân tộc Mường có 265 em Có 1 cán bộ phụ trách công tác YTTH, trình độ y sỹ đa khoa, chưa được đào tạo chuyên khoa TMH Hàng năm, nhà trường tổ chức khám sức khỏe định kỳ 1 lần vào đầu năm học Năm học 2014 - 2015, nhà trường đã tổ chức khám được cho 589 em và 100% em đạt kết quả đủ sức khỏe để học tập Các bệnh thường gặp của học sinh: tật khúc xạ, sâu răng, viêm họng, viêm mũi dị ứng

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2015

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang (định lượng kết hợp với định tính): nhằm đánh giá thực trạng bệnh TMH và đề xuất một số giải pháp phòng bệnh

Trang 35

- Nghiên cứu bệnh chứng: nhằm xác định một số yếu tố nguy cơ gây

bệnh TMH

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả [ 8 ]

* Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu mô tả 1 tỷ lệ

Trong đó:

n: số lượng học sinh tối thiểu cần nghiên cứu

Z1-  /2: hệ số giới hạn tin cậy, chọn  = 0,05, tra bảng Z1-  /2 = 1,96

p: tỷ lệ học sinh mắc bệnh TMH ước tính theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hà năm 2014 là 67% (p = 0,67) [7]

d: độ sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ thực của quần thể, chọn d = 0,06

Thay vào công thức, tính được n=236, cộng thêm 10% dự phòng những trường hợp không cung cấp đủ thông tin theo phiếu điều tra, như vậy cỡ mẫu tối thiểu là 260 học sinh Do nghiên cứu được tiến hành tại 3 trường THPT ở

3 khu vực địa lý khác nhau, mỗi địa điểm có những đặc trưng riêng vì vậy cỡ mẫu nghiên cứu mô tả được áp dụng cho từng trường, mỗi trường 260 học sinh

* Chọn mẫu:

- Chọn trường: Chọn chủ đích 3 trường THPT ở 3 huyện có mật độ người Mường cao là Lương Sơn, Kỳ Sơn và Cao Phong

- Chọn học sinh tại các trường bằng phương pháp ngẫu nhiên phân tầng theo tỷ lệ học sinh các khối lớp 10, 11 và 12

p)(1pZ

Trang 36

Trong đó:

nx: số học sinh cần nghiên cứu ở mỗi khối lớp

Nx: số học sinh người dân tộc Mường của từng khối lớp

n: cỡ mẫu nghiên cứu ở mỗi trường (n=260)

N: tổng số học sinh người dân tộc Mường của từng trường

- Tại mỗi trường lập danh sách học sinh là người dân tộc Mường theo từng khối lớp, sau khi phân bổ mẫu theo công thức trên, chọn các học sinh vào nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn:

+ Trường THPT huyện Lương Sơn có 346 học sinh là người dân tộc Mường: Khối 10 có 135 học sinh, chọn 101 học sinh; Khối 11 có 126 học sinh, chọn 95 học sinh; Khối 12 có 85 học sinh, chọn 64 học sinh

+ Trường THPT huyện Kỳ Sơn có 325 học sinh là người dân tộc Mường: Khối 10 có 165 học sinh, chọn 132 học sinh; Khối 11 có 108 học sinh, chọn

86 học sinh; Khối 12 có 53 học sinh, chọn 42 học sinh

+ Trường THPT huyện Cao Phong, tổng số học sinh dân tộc Mường đủ tiêu chuẩn có 265 em, số lượng trên xấp xỉ với cỡ mẫu nghiên cứu, vì vậy lấy toàn bộ số học sinh này vào mẫu nghiên cứu

2.2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng [ 8 ]

* Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh - chứng

1 )

2 / ( 2

)1(

)1

(/1)1

(/1

P P

Trang 37

  

2 2

2 1

1 R

R

P P

O

P O P

Kỳ Sơn và 75 em ở trường THPT Cao Phong

- Nhóm bệnh: là những học sinh mắc một trong các bệnh lý TMH theo tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TMH Nhóm bệnh cũng chọn 248 học sinh trong

số học sinh mắc bệnh TMH cùng trường, cùng lớp và tương đồng về giới với nhóm chứng Trong trường hợp không chọn được học sinh cùng lớp thì chọn học sinh mắc bệnh TMH lớp khác cùng khối đó để thay thế

2.2.2.3 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được tiến hành bằng phương pháp thảo luận nhóm, tổng cộng có 6 cuộc thảo luận nhóm cho 2 đối tượng như sau:

- Thảo luận nhóm với Ban y tế trường học: được phân chia theo 3 nhóm

(mỗi trường một nhóm), mỗi nhóm 08 người gồm Ban giám hiệu, bí thư Đoàn thanh niên, 2 giáo viên chủ nhiệm, cán bộ Y tế trường học, trạm trưởng trạm y

tế xã, 2 đại diện phụ huynh học sinh

- Thảo luận nhóm với học sinh: được phân chia theo 3 nhóm (mỗi trường một nhóm), mỗi nhóm 12 học sinh, trong đó mỗi khối chọn đại diện 4 học sinh là cán bộ lớp

Trang 38

2.3 hỉ số nghiên cứu

2.3.1 Nhóm các chỉ số mô tả thực trạng bệnh tai mũi họng

- Tỷ lệ học sinh THPT dân tộc Mường học sinh dân tộc Mường tại 3 trường nghiên cứu

- Tỷ lệ học sinh dân tộc Mường mắc bệnh TMH theo khối lớp 10, 11, 12

- Tỷ lệ học sinh dân tộc Mường mắc bệnh TMH theo giới tính

- Tỷ lệ học sinh dân tộc Mường mắc bệnh TMH xếp theo từng nhóm bệnh và phối hợp giữa các nhóm bệnh

- Tỷ lệ học sinh dân tộc Mường mắc các bệnh về tai như viêm tai giữa cấp tính, viêm tai giữa mạn tính mủ nhầy, viêm tai giữa mạn tính ổn định, rò luân nhĩ

- Tỷ lệ học sinh dân tộc Mường mắc các bệnh về mũi xoang như viêm mũi cấp tính, viêm mũi mạn tính, viêm xoang cấp tính, viêm xoang mạn tính, viêm mũi dị ứng, vẹo vách ngăn

- Tỷ lệ học sinh dân tộc Mường mắc các bệnh về họng như viêm họng mạn tính, viêm họng mạn tính đợt cấp, viêm amidan mạn tính, viêm amidan mạn tính đợt cấp

2.3.2 Nhóm các chỉ số về yếu tố nguy cơ bệnh tai mũi họng

2.3.2.1 Nhóm yếu tố về kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện môi trường

+ Điều kiện kinh tế hộ gia đình: Nghèo, cận nghèo, đủ ăn

+ Loại nhà ở gồm nhà tầng, nhà cấp 4, nhà sàn, nhà tạm

+ Loại bếp đun gồm bếp đun gas/điện và bếp đun than/củi

+ Nơi để bếp đun gồm: bếp đun riêng là vị trí bếp được đặt ở nơi có khoảng cách trống hoàn toàn với nhà ở Bếp đun trong nhà khi vị trí bếp đun đặt trong không gian của ngôi nhà

+ Có nuôi chó mèo: Nuôi chó hoặc mèo hoặc cả hai, không kể số lượng trong thời gian liên tục một năm trở lại đây, nuôi tại hộ gia đình + Có nuôi gia cầm: Nuôi một loài gia cầm, không kể số lượng trong thời

Trang 39

gian liên tục một năm trở lại đây, nuôi tại hộ gia đình

+ Làm nghề dịch vụ tại gia đình: Bán hàng, may mặc, sửa chữa

+ Trong nhà có người hút thuốc lá

+ Môi trường học tập tại nhà, tại lớp học có thoáng mát hay không: đảm bảo thông gió tự nhiên và nhân tạo theo qui định tại điều 8 quyết định 1221/2000/QĐ-BYT Quy định về vệ sinh trường học và tiêu chuẩn đánh giá kèm theo thông tư tịch số 18/2011/TTLT-BGDĐT-BYT

2.3.2.2 Nhóm yếu tố hành vi:

+ Kiến thức phòng chống bệnh TMH: Kiến thức phòng chống bệnh TMH được xác định dựa vào bộ câu hỏi “Phiếu phỏng vấn các yếu tố nguy cơ bệnh TMH - Phụ lục 3” Với 10 câu hỏi về kiến thức phòng chống bệnh TMH, mỗi câu/ý trả lời đúng được xác định 5 điểm Tính tổng điểm và phân loại kiến thức theo 02 mức độ sau: Kiến thức đạt khi tổng điểm kiến thức đạt từ

≥50% điểm; Kiến thức chưa đạt khi tổng điểm kiến thức < 50% điểm

+ Thái độ phòng chống bệnh TMH: Thái độ phòng chống bệnh TMH được xác định dựa vào bộ câu hỏi “Phiếu phỏng vấn các yếu tố nguy cơ bệnh TMH - Phụ lục 3” Với 8 câu hỏi, mỗi câu hỏi thái độ được thiết kế theo dạng câu hỏi thang đo Likert Câu trả lời được xác định điểm thông qua các mức sau: rất đồng ý: 05 điểm, đồng ý: 04 điểm, không đồng ý: 03 điểm, phản đối:

02 điểm và rất phản đối: 1 điểm Tính tổng điểm và phân loại thái độ theo 02 mức độ sau: Thái độ đạt khi tổng điểm thái độ đạt từ ≥ 50% điểm, thái độ chưa đạt khi tổng điểm thái độ < 50% điểm

+ Thực hành phòng chống bệnh TMH: Thực hành phòng chống bệnh TMH được xác định dựa vào bộ câu hỏi “Phiếu phỏng vấn các yếu tố nguy cơ bệnh TMH - Phụ lục 3” Với 7 câu hỏi thực hành, mỗi câu hỏi thực hành được thiết kế theo dạng câu hỏi tần suất, các câu trả lời được xác định theo phương pháp tính điểm thông qua các mức sau: Thường xuyên: 03 điểm, Thỉnh thoảng: 02 điểm và chưa bao giờ: 01 điểm Tính tổng điểm và phân loại thực

Trang 40

hành theo 02 mức độ sau: Thực hành đạt khi tổng điểm thực hành đạt từ ≥ 50% điểm, thực hành chưa đạt khi tổng điểm thực hành < 50% điểm

+ Giáo dục sức khỏe (GDSK) phòng bệnh TMH tại gia đình: Học sinh được gia đình quan tâm nhắc nhở để thực hiện các hành vi phòng chống bệnh TMH: vệ sinh TMH, lựa chọn trang phục phù hợp thời tiết

+ Tìm hiểu phòng bệnh TMH qua các phương tiện truyền thông (PTTT): Học sinh tự tìm hiểu các vấn đề liên quan đến bệnh TMH trên các PTTT ít nhất một lần trong vòng 6 tháng qua

2.3.2.3 Mối liên quan giữa bệnh TMH với nhóm yếu tố sinh học: người thân

trong gia đình mắc bệnh TMH Trong gia đình có người thân (bố, mẹ, anh chị

em ruột) mắc bệnh TMH với tần xuất trên 4 lần trong một năm

2.3.3 Nhóm chỉ số đề xuất giải pháp phòng chống bệnh tai mũi họng ở học sinh trung học phổ thông dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

Căn cứ vào kết quả điều tra thực trạng và các yếu tố nguy cơ bệnh TMH

để đề xuất các giải pháp cho phù hợp

Các giải pháp được thảo luận, đóng góp ý kiến của ban giám hiệu các trường, cán bộ y tế trường học, giáo viên, học sinh và phụ huynh để lựa chọn các giải pháp có tính khả thi

2.4 Phương pháp thu thập thông tin

2.4.1 Thời điểm thu thập thông tin

Các hoạt động thu thập thông tin đều được triển khai trong năm học (không thu thập thông tin trong các kỳ nghỉ hè) Nhóm can thiệp và nhóm đối chứng đều được tiến hành vào cùng thời điểm

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin

2.4.2.1 Phương pháp thăm khám lâm sàng phát hiện bệnh TMH

- Thăm khám lâm sàng phát hiện bệnh TMH được tiến hành đồng thời với các đợt phỏng vấn Đội ngũ bác sỹ chuyên khoa TMH của bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình tiến hành thăm khám cho 100% đối tượng nghiên cứu

Ngày đăng: 19/03/2021, 23:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w