1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tổ chức và hoạt động phềng chống hiv aids tại huyện sơn dương tỉnh tuyấn quang giai đoạn 2008 2010 đề xuất một số giải pháp can thiệp

102 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vong và các căn bệnh liên quan tới AIDS; nâng cao tuổi thọ và chất lượng sống của người nhiễm HIV/AIDS; giảm thiểu kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo lực đối với người nhiễm HIV/AIDS… Theo

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN

NGÔ CAO LÂM

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG PHềNG CHỐNG HIV/AIDS TẠI HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYấN QUANG GIAI ĐOẠN 2008 – 2010; ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN

THIỆP

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYấN KHOA CẤP II

Thỏi Nguyờn, tháng 12 năm 2011

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch HIV/AIDS xuất hiện từ năm 1981 tại Mỹ và nhanh chóng lan khắp toàn cầu Dịch không chỉ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khoẻ của con người mà còn gây tác hại lớn đến phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và nòi giống [22] Đến nay, HIV/AIDS đã thực sự trở thành hiểm hoạ khôn lường với những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng Hàng năm trên thế giới có hàng triệu người tiếp tục nhiễm HIV, hàng triệu người chết do AIDS, trong đó chủ yếu ở độ tuổi thanh niên Hơn 20 năm qua, đại dịch HIV/AIDS vẫn tiếp tục phát triển, lan rộng và khó kiểm soát, đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo dự báo của Tổ chức Y tế thế giới, trong thế kỷ XXI, số người nhiễm đều gia tăng ở tất cả các châu lục, trong đó khu vực Châu Á và Đông Nam Á sẽ là châu lục bị ảnh hưởng nặng nề nhất [34]

Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm

1990 ở Thành phố Hồ Chí Minh Số nhiễm HIV được phát hiện liên tục tăng, luỹ tích số nhiễm HIV trên toàn quốc tính đến 31/12/2005 là 104.111, bệnh nhân AIDS: 17.289, chết do AIDS: 10.071 Trong đó đối tượng nhiễm chủ yếu ở lứa tuổi trẻ đang trong độ tuổi lao động (20-39): 79,0% [1], [48], [39]

Cho đến nay việc ngăn chặn đại dịch HIV/AIDS vẫn còn gặp nhiều khó khăn do chưa tìm được thuốc đặc trị đặc hiệu và vác xin phòng bệnh [3], [6] Chính vì vậy biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống AIDS vẫn là hạn chế sự lan truyền HIV ra cộng đồng

Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy nguy cơ của đại dịch HIV/AIDS, xác định công tác phòng, chống HIV/AIDS là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách

và lâu dài Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước đã được ban hành cùng với các giải pháp đồng bộ và các hoạt động

ưu tiên phù hợp từng giai đoạn [4] Đồng thời tích cực thực hiện cam kết quốc

Trang 3

tế, tăng cường hợp tác đa phương, song phương, mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới trong phòng, chống HIV/AIDS, tập trung vào các biện pháp phòng, chống lây nhiễm cũng như các tiếp cận, chăm sóc

và điều trị đối với người có nhiễm HIV/AIDS [6]

Sơn Dương là một huyện trung du thuộc phía Nam tỉnh Tuyên Quang, trường hợp phát hiện đầu tiên nhiễm HIV vào tháng 12 năm 2001 tại thôn Thanh Sơn, xã Hợp Hoà; từ đó cho tới nay số nhiễm HIV/AIDS hàng năm vẫn tiếp tục tăng nhanh, không chỉ ở thị trấn mà còn xuất hiện gia tăng ở các bản vùng sâu, vùng xa ở nơi mà đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng chống nhưng tính đến ngày 31/12/2010 số người nhiễm HIV/AIDS ở Sơn Dương theo số liệu báo cáo đã lên tới 263 người, trong đó 153 người chuyển sang giai đoạn AIDS,

122 người đã tử vong do AIDS [52] Tuy nhiên đây mới chỉ là số liệu báo cáo, con số phát hiện chắc chắn chưa phản ánh đúng tình hình thực trạng nhiễm HIV ở huyện Sơn Dương Xuất phát từ vấn đề trên chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Thực trạng tổ chức và hoạt động phòng chống HIV/

AIDS tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2008 – 2010; đề xuất một số giải pháp can thiệp” với các mục tiêu nghiên cứu sau :

1) Mô tả thực trạng tổ chức và hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2008 – 2010

2) Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang

3) Đề xuất một số giải pháp can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tình hình phòng chống HIV/AIDS

1.1.1 Tình hình dịch HIV/AIDS trên thế giới

Trên thế giới, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch, mối hiểm hoạ đối với nhân loại Cơ sở của nhận định này là tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1981, cho đến nay loài người đã trải qua 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp, tính đến cuối năm 2009, có 33,3 triệu người đang bị nhiễm HIV, tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8% Riêng năm 2009 ước tính

có 2,6 triệu người nhiễm mới HIV và 1,8 triệu người tử vong do AIDS So sánh với năm 1999, số người nhiễm mới HIV đã giảm 21% Báo cáo của UNAIDS cũng ghi nhận đến cuối năm 2009 đã có 33 nước có số ca nhiễm mới giảm, trong đó 22 nước khu vực cận Saharan, Châu Phi Tuy nhiên hiện vẫn còn 7 nước tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% khi so sánh giữa năm 1999 và

2009 [11], [28], [45], [65]

Căn cứ theo số liệu của UNAIDS ( tổ chức AIDS của Liên hợp quốc) thì đến cuối năm 2007, số người nhiễm HIV còn sống trên toàn cầu là khoảng 33,2 (30,6 – 26,1) triệu người, giảm 16% so với con số ước tính công bố năm

2006 là 39,5 triệu (34,7 – 47,1 triệu), trong đó phụ nữ là 15,4% triệu (13,9 – 16,6 triệu), trẻ em dưới 15 tuổi 2,5 triệu (2,2 – 2,6 triệu) đang sống chung với HIV/AIDS, HIV phân bố ở khắp các châu lục [43,], [64] (trừ Châu Nam cực)

Có thể nói ở đâu có người cư trú thì ở đó có mặt HIV Cận sa mạc Sahara Châu Phi là nơi có số người nhiễm cao nhất (22,5 triệu người), tiếp theo là khu vực Nam và Đông Á (4,0 triệu người); Nam Á Thái Bình Dương hiện được dự đoán sẽ là nơi lây lan HIV/AIDS nhanh nhất trong những năm tới (vì

Trang 5

đại bộ phận các nước ở khu vực là những quốc gia nghèo; dân số đông; sự định hình trong lối sống chưa bền vững; có nơi sản xuất thuốc phiện nổi tiếng thế giới, đó là vùng “tam giác vàng” [30], [42], [67], [68], [69]

Tại Châu Phi, cận Sahara Châu Phi là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong dịch HIV/AIDS toàn cầu Hơn 2/3 (68%) tổng số người nhiễm HIV đang sống tại khu vực này, trong năm 2007 đã có trên ¾ (76%) tổng số ca tử vong do AIDS Ước tính khoảng 22,5 triệu (20,9 – 24,3 triệu người) sống chung với HIV ở vùng cận Sahara Châu phi, không giống các khu vực khác,

đa số người nhiễm HIV cận Sahara Châu Phi 61% là phụ nữ Cuối năm 2007

có những quốc gia tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong dân số lên đến 15 – 20%; đặc biệt vùng Botswana và Suaziland tỷ lệ này lên đến trên 35% [70], [71], [72], [82]

Ở Đông Âu và Trung Á, ước tính khoảng 1,6 triệu (1,2 – 2,1 triệu) người đang sống chung với HIV, so với 630.000 trong năm 2001, tăng gấp 150% Đặc biệt gần 90% số ca nhiễm HIV mới tại khu vực này là từ hai quốc gia Cộng hoà liên bang Nga (66%) và Ucraina (21%) Nguyên nhân chính lây nhiễm tại khu vực này vẫn là tiêm chích ma tuý (62%) và quan hệ tình dục không an toàn (37%) [14], [48], [69]

Vùng Caribe, ước tính khoảng 230.000 – 270.000 người hiện đang sống chung với HIV Cộng hoà Dominica và Haiti là hai quốc gia có số người nhiễm cao nhất Dịch lan truyền ở vùng Caribe chủ yếu là do quan hệ tình dục khác giới, nhiều nơi tập trung trong nhóm phụ nữ hành nghề mại dâm và cũng

là đường lây tình dục khác giới trong cộng đồng [44], [76], [77], [78]

Châu Mỹ La tinh có khoảng 1,6 – 1,9 triệu người đang sống chung với HIV, dịch tập trung trong nhóm nghiện chích ma tuý và tình dục đồng giới nam Tình dục đồng giới nam không an toàn là nguyên nhân chính nhiễm HIV

Trang 6

tại Bolivia, Chi Lê, Ecuador và Peru Khoảng 1/3 số người nhiễm tại Châu

Mỹ la tinh đang sống tại Brazin [64], [71]

Khu vực Bắc Mỹ, Tây và Trung Âu, ước tính có khoảng 2,1 triệu người đang sống chung với HIV Không giống khu vực khác, đại đa số người sống chung với HIV tại những nước này khi cần đã được điều trị bởi thuốc ARV đúng chuẩn nên vẫn sống khoẻ mạnh và sống lâu hơn so với bất cứ nơi nào khác Báo cáo về dịch tễ cho biết có sự gia tăng lây nhiễm HIV ở Mỹ, Tây và Trung Âu Tại Bắc Mỹ ước tính số mắc mới trong những năm gần đây là trong nhóm người Mỹ gốc Phi; có 1,3 triệu người sống chung với HIV cao hơn năm 2001 chỉ có 1,1 triệu Hơn nữa Tây và Trung Âu có khoảng 760.000 sống chung với HIV còn năm 2001 là 620.000 [42], [74], [81]

Tại châu Á, ước tính có khoảng 4,9 triệu người đang bị nhiễm HIV trong năm 2009 Hầu hết dịch tại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại; không có quốc gia nào trong khu vực có dịch toàn thể Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm gần 1% và xét một cách tổng thể, dịch

ở nước này cũng có dấu hiệu chững lại Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số người trưởng thành là 1,3% trong năm 2009, và tỷ lệ nhiễm mới đã giảm xuống còn 0,1% Tại Cam-pu-chia, tỷ lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009, giảm từ 1,2% trong năm 2001 [66] Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV lại đang gia tăng ở những quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính) và Philippin Về hình thái nhiễm mới HIV ở châu Á, năm 2009 có 360.000 người mới nhiễm HIV, thấp hơn 20% so với 450.000 người năm

2001 Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ, Nepal và Thái Lan trong các năm từ 2001 đến 2009 Dịch cũng chững lại tại Malaysia và Sri Lanka trong khoảng thời gian này Tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ở Bangladesh

Trang 7

và Philippin từ 2001 đến 2009 dù dịch tại các nước này vẫn ở mức thấp [66], [72], [73]

Hình thái lây truyền HIV tại châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi, và nam quan hệ tình dục đồng giới Các hình thái nhiễm mới có thể rất khác nhau tại những quốc gia rộng lớn như Ấn Độ Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV tại Ấn Độ được cho là đã lây nhiễm từ việc quan hệ tình dục không an toàn, song việc thường xuyên có 2 hoặc hơn 2 người sử dụng chung bơm kim tiêm mới là hình thái lây truyền HIV chính tại các bang vùng Đông Bắc của quốc gia này [55], [77], [78], [79]

1.1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam

Dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở phần lớn các khu vực địa lý khác nhau trên toàn quốc, thời gian xuất hiện và hình thái dịch ở các khu vực địa lý cũng khác nhau rất lớn Dịch HIV có thể xảy ra ở Việt Nam cuối những năm 1980, lây qua những người nước ngoài đến thành phố Hồ Chí Minh hoặc đến những tỉnh biên giới khu vực Tây Nam, sau đó dịch xảy ra rất nhanh ở các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, tiếp đến các tỉnh khu vực Đông Bắc [4], [5], [7] Trong thập kỷ qua, dịch phát triển nhanh nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc như các tỉnh Thái Nguyên, Điện Biên, Sơn La và Yên Bái [15], [18] Trước năm 2000 dịch chủ yếu tập trung ở các khu vực thành thị, nhưng hiện nay dịch đã xảy ra hầu hết cả nước, kể cả ở cả các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng dân tộc thiểu số [47] Tuy nhiên dịch HIV/AIDS vẫn chủ yếu tập trung trong nhóm nghiện chích ma túy, phụ nữ bán dâm và nhóm người tình dục đồng giới nam Trong tổng số người được xét nghiệm phát hiện HIV dương tính, người nghiện chích ma túy chiếm khoảng 70%, phụ nữ bán dâm chiếm khoảng 5%, còn lại là đối tượng khác [33], [34] Đường lây truyền HIV/AIDS

ở Việt Nam chủ yếu lây truyền qua tiêm chích chung ma túy, hình thái nguy

Trang 8

cơ lây nhiễm HIV/AIDS ở mỗi vùng khu vực cũng có sự khác biệt nhau, trong khi phần lớn các khu vực trong cả nước dịch chủ yếu lây truyền do tiêm chích chung ma túy, các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long sự lây truyền HIV chủ yếu do truyền qua đường tình dục, đặc biệt là các tỉnh khu vực biên giới tỷ lệ người nhiễm HIV cho biết lây truyền qua đường tình dục cao nhất [19], [31] Tuy nhiên, xu hướng do lây truyền qua đường tình dục có nguy cơ gia tăng trong những năm gần đây, tỷ lệ người nhiễm HIV bị lây truyền qua đường tình dục tăng hàng năm từ 12% năm 2004 lên 29% năm 2010 [63] Nhiều bằng chứng cho thấy tỷ lệ phụ nữ bán dâm nghiện chích ma túy và tỷ lệ nam quan hệ tình dục đồng giới nghiện chích ma túy gia tăng làm tăng nguy

cơ lây truyền qua đường tình dục từ nhóm này sang các loại bạn tình của họ,

do đó số người nhiễm HIV do lây truyền qua đường tình ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn so với các năm trước đây [11], [20], [58]

Đánh giá chung về tình hình dịch HIV/AIDS cho thấy dịch HIV/AIDS không tăng nhanh như trước những năm 2005, về cơ bản đã khống chế tình hình dịch HIV/AIDS ở đa số địa phương và các nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV/AIDS, số người nhiễm HIV/AIDS mới phát hiện đã giảm liên tục 3 năm gần đây, phần lớn người nhiễm HIV mới phát hiện chủ yếu tập trung trong nhóm nguy cơ cao Tuy nhiên dịch HIV/AIDS vẫn còn diễn biến phức tạp, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm dễ bị cảm nhiễm HIV vẫn ở mức

độ cho phép khả năng tạo ra mức độ lây nhiễm HIV cao, tuy số người nhiễm HIV phát hiện được giảm liên tiếp 3 năm gần đây, nhưng chưa đủ thời gian đảm bảo bền vững [52]

Tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân tính chung trên toàn quốc là 187 người trên 100.000 dân, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trên 100.000 dân có sự chênh lệch giữa các địa phương, cao nhất là Điện Biên có tỷ lệ 599 người trên 100.000 dân, đứng thứ hai là Thành phố Hồ Chí Minh với 587 người trên

Trang 9

100.000 dân, Sơn La 481/100.000 dân; Yên Bái 385/100.000 dân; Quảng Ninh 304/ 100.000 dân Các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên là những tỉnh có tỷ lệ nhiễm HIV trên 100.000 dân thấp so với mặt bằng chung của cả nước với tỷ lệ nhiễm HIV chủ yếu ở mức dưới 100.000 dân [20], [27, [40], [56]

Bảng 1.1 Mười tỉnh có số nhiễm HIV cao nhất trong năm 2009

(Theo nguồn: Bộ Y tế báo cáo tình hình lây nhiễm HIV/AIDS năm 2009 )

1.1.3 Tình hình phòng chống HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam

Liên Hợp Quốc đã đưa ra tuyên bố chính trị có trên 100 mục với tiêu đề

“Tăng cường các nỗ lực chung để xóa bỏ HIV/ AIDS” đã khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong việc tăng cường các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS trên phạm vi toàn cầu [16]

Liên Hợp Quốc kêu gọi các quốc gia thành viên có những hành động mạnh mẽ hơn trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ; triển khai tích cực hiệu quả các giải pháp nhằm chấm dứt các ca nhiễm HIV mới; xóa bỏ tử

Trang 10

vong và các căn bệnh liên quan tới AIDS; nâng cao tuổi thọ và chất lượng sống của người nhiễm HIV/AIDS; giảm thiểu kỳ thị, phân biệt đối xử và bạo lực đối với người nhiễm HIV/AIDS…

Theo lãnh đạo của nhiều quốc gia, các chương trình quốc gia, quốc tế về phòng, chống HIV/AIDS đã được xây dựng khá đồng bộ, gắn kết với các mục tiêu y tế, phát triển và nhân quyền; tâm lý kỳ thị người nhiễm HIV/AIDS được giảm đáng kể…

Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện nguyên tắc 03 thống nhất do Liên Hiệp Quốc khởi xướng, một trong những nội dung đó là có một chiến lược quốc gia phòng, chống HIV/AIDS ở việt nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 đã được Thủ Tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 36/2004/QĐ-TTg, ngày 17/3/2004 Qua 5 năm tổ chức thực hiện chiến lược Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS, nhìn chung các cấp uỷ đảng, chính quyền

ở các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung chiến lược và đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần ngăn chặn, hạn chế tốc độ gia tăng của đại dịch HIV và chúng ta đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu đã đặt ra khống chế tỷ lệ nhiễm HIV dưới 0,3% trong cộng đồng dân cư năm 2010 [20], [63]

Trong công tác phòng chống HIV/AIDS Việt Nam đã kết hợp các biện pháp xã hội và biện pháp chuyên môn kỹ thuật y tế trên nguyên tắc lấy phòng ngừa là chính, trong đó thông tin giáo dục truyền thông nhằm thay đổi hành vi

là biện pháp chủ yếu Thực hiện việc phối hợp liên ngành và huy động xã hội trong phòng, chống HIV/AIDS trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội Kết hợp chặt chẽ phòng, chống HIV/AIDS với phòng, chống ma túy, mại dâm; chú trọng triển khai các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong dự phòng

trong gia đình họ; tạo điều kiện để người nhiễm HIV và thành viên trong gia

Trang 11

đình họ tham gia các hoạt động xã hội, đặc biệt là các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS [33], [43]

Về công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi đã được triển khai trên toàn quốc Trong thời gian qua, với sự tham gia của các bộ, ban ngành, đoàn thể, bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú, nhiều mô hình phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai tại cộng đồng dân cư, thu hút sự quan tâm và tham gia của các cấp lãnh đạo, người dân Nhờ đó đã có tác động không nhỏ đến sự thay đổi kiến thức và hành vi về phòng, chống HIV/AIDS đặc biệt trong các nhóm nguy cơ cao và trong cộng đồng dân cư [26]

Công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV đã được đẩy mạnh Có thể nói việc triển khai đồng bộ các biện pháp can thiệp giảm tác hại trong thời gian qua đã góp phần hết sức quan trọng làm kiềm chế lây nhiễm HIV ở Việt Nam Độ bao phủ của chương trình giảm tác hại đã tăng lên rõ rệt,

đã có 60 tỉnh, thành phố triển khai chương trình trao đổi bơm kim tiêm và 63 tỉnh, thành phố triển khai chương trình cấp bao cao su [62]

Về chăm sóc và điều trị, với mô hình điều trị, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS toàn diện tại các cơ sở y tế tuyến quận /huyện là chủ đạo và cho đến nay đã và đang triển khai 318 phòng khám ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS người lớn và trẻ em [59]

Về công tác an toàn truyền máu dự phòng lây nhiễm HIV đã được thực hiện tốt, 100% các chai máu được sàng lọc trước khi truyền, chưa để xảy ra trường hợp nào nhiễm HIV qua truyền máu

Chương trình giám sát, theo dõi, đánh giá luôn được quan tâm cải tiến và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý như phần mềm quản lý nhiễm HIV/AIDS; tư vấn xét nghiệm tự nguyện; hệ thống báo cáo trực tuyến

đã góp phần quan trọng quản lý kịp thời và chính xác số liệu hoạt động chương trình Hoạt động tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện ngày càng được

Trang 12

mở rộng với 317 phòng tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện đang hoạt động tại các tỉnh / thành phố [62]

Ngoài ra, các lĩnh vực khác như quản lý và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục; tăng cường năng lực, nghiên cứu khoa học cũng không ngừng được đẩy mạnh

1.1.4 Tình hình phòng chống HIV/AIDS ở Tuyên Quang

* Tình hình nhiễm HIV/AIDS của tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có diện tích 58.687km2, chiếm 1,78% diện tích cả nước; trung du chiếm 50%, còn lại 50% là miền núi, có đầy đủ các vùng sinh thái Bao gồm 6 huyện, 01 thành phố Dân số 748.660 người; điều kiện tự nhiên chia làm hai vùng, vùng phía bắc là các huyện có địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn xen lẫn đá vôi; vùng phía nam có địa hình đồi núi bát

úp, có độ dốc thấp thoải dần, có 03 huyện miền núi; trong đó huyện Sơn Dương là một huyện có địa hình với nhiều đặc điểm đặc thù của vùng chuyển tiếp giữa trung du và miền núi; rừng núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên; dân

số của huyện trên 180 nghìn người

Sơn Dương nằm trong ảnh hưởng khung cảnh dịch tễ HIV/AIDS chung của cả nước, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng đầu tư các khu vực công nghiệp, tiểu khu công nghiệp, du lịch sinh thái (An Hoà, ATK Tân Trào….); tỉ lệ người đi làm ăn xa ở các tỉnh khác vào thời kỳ nông nhàn ngày càng nhiều; các tệ nạn ma tuý, mại dâm diễn biến ngày càng phức tạp, dẫn đến tình hình HIV/AIDS trên địa bàn huyện Sơn Dương ngày một gia tăng Theo báo cáo của Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm, HIV/AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm hiện nay trên địa bàn của tỉnh đã xuất hiện đầy đủ các loại ma tuý có ở Việt Nam và thế giới (thuốc phiện, heroin, hồng phiến và các loại thuốc gây nghiện tổng hợp khác….) nhưng chủ yếu là thuốc phiện và heroin Số người nghiện ma tuý trong những năm qua vẫn chưa có chiều

Trang 13

hướng thuyên giảm, tính đến hết tháng 12 năm 2010 toàn tỉnh có gần 2.000 người nghi nghiện và 3.427 người nghiện có hồ sơ quản lý (trong đó số đối tượng đang ở cộng đồng dân cư là 2.595; số đối tượng đang cai nghiện tại các công trường 06 là 663 người; đối tượng đang ở trong tù giam là 169 người) Người nghiện ma tuý có 141/141 xã, phường, thị trấn của 6 huyện và 1 thành phố Người nghiện ma tuý gồm nhiều thành phần: Nông dân, giáo viên, cán

bộ, học sinh, sinh viên, lái xe, lao động tự do, không nghề nghiệp [49], [50] Cũng theo báo cáo khảo sát của Ban chỉ đạo Phòng chống HIV/AIDS và

tệ nạn ma tuý, mại dâm tỉnh; tính đến hết năm 2010 trên địa bàn tỉnh có khoảng trên 100 gái mại dâm chuyên nghiệp, trên 300 nhân viên nữ làm việc tại các cơ sở kinh doanh nghi vấn có hoạt động mại dâm, nhưng không thường xuyên Tuy nhiên hoạt động mại dâm tại Tuyên Quang cũng hết sức phức tạp, số GMD di biến động từ các nơi khác tới khó có thể thống kê và quản lý đầy đủ [50]

Chiều hướng và diễn biến HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh cũng diễn biến hết sức phức tạp Trường hợp HIV đầu tiên tại Tuyên Quang được phát hiện vào tháng 11 năm 1995 Trong những năm 1995 – 2000 số trường hợp nhiễm mới hàng năm chỉ dừng lại con số hàng chục Tuy nhiên từ năm 2001 đến nay số trường hợp nhiễm mới tăng lên con số hàng trăm; đến ngày 30/6/2010 luỹ tích

số nhiễm HIV/AIDS của toàn tỉnh Tuyên Quang lên tới 1.914 người, trong đó

có 987 bệnh nhân AIDS, tử vong do AIDS là 554 (90% số xã, phường, thị trấn của 7 huyện thành phố có người nhiễm HIV) Số nhiễm HIV phát hiện mới không chỉ gia tăng ở khu vực thành phố, thị trấn mà còn xuất hiện và gia tăng ở các thôn bản vùng sâu, vùng xa [49], [50]

Kết quả giám sát trọng điểm và thường xuyên năm 2010, tình hình lây nhiễm HIV diễn biến hết sức phức tạp Tỉ lệ nhiễm HIV vẫn tập trung chủ yếu

ở nhóm tuổi từ 20 – 39 tuổi (chiếm 88,4%); 72,3% các trường hợp nhiễm HIV

Trang 14

có liên quan đến tiêm chích ma tuý, 3,2% là mại dâm; lây qua đường tình dục 0,5%; nghề nghiệp là lao động tự do và không nghề nghiệp chiếm 6,8%; công nhân chiếm 5,4%; nông dân chiếm 16,7%; lái xe 4,2%; nhân viên hành chính 1,4% Tỉ lệ nam giới nhiễm HIV/AIDS là phổ biến, chiếm 84,6%; trong đó nữ giới 15,4% [50]

Bảng 1.2 Diễn biến HIV/AIDS qua các năm tại Tuyên Quang

* Các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của tỉnh Tuyên Quang

Một trong những hoạt động nổi bật là các địa phương, đơn vị đã tổ chức nhiều hoạt động phong phú trong công tác thông tin, giáo dục, truyền thông Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như Báo Tân Trào, Đài Phát thanh - Truyền hình, Trung tâm Truyền thông - Giáo dục sức khỏe đã đăng tải kịp thời nhiều tin, bài, ảnh, phóng sự về các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống HIV/AIDS, cung cấp kiến thức về HIV/AIDS, đặc biệt đẩy mạnh tuyên truyền về chiến dịch dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

Nhiều hoạt động như lễ mít tinh hưởng ứng ngày “Thế giới phòng, chống AIDS” với sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể, đặc biệt là đại diện người nhiễm HIV trên địa bàn, đêm hội trăng rằm nhân ái dành cho trẻ bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV nhân dịp Tết Trung thu đã thu hút được sự quan tâm của các cấp chính quyền, cộng đồng xã hội Qua đó đã chuyển tải đến mọi người thông điệp "Hãy quan tâm hơn nữa đến trẻ bị nhiễm HIV;

Trang 15

đừng quay lưng với những người bị nhiễm HIV/AIDS" Hoạt động truyền thông trực tiếp cũng được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS đã tổ chức các buổi tập huấn và truyền thông trực tiếp cung cấp kiến thức phòng, chống HIV/AIDS cho các đối tượng có nguy cơ cao, cho đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ thuộc thị trấn Sơn Dương (huyện Sơn Dương), cán bộ nhân viên khu du tích lịch sử Tân Trào (huyện Sơn Dương), hội phụ nữ phường Tân Quang (thành phố Tuyên Quang) thu hút đông đảo người dân tham gia

Trong thời gian qua, đã phân phối nhiều tờ rơi, tờ gấp, cuốn Tạp chí AIDS và cộng đồng, cuốn bản tin, đĩa CD… cho các đơn vị, ban, ngành, đoàn thể trong tỉnh với nội dung tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS Tu sửa và làm mới hệ thống pa nô tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS ở các địa bàn trong toàn tỉnh

Thực hiện Dự án Giám sát HIV/AIDS và can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch triển khai chương trình can thiệp giảm tác hại trên địa bàn Thời gian qua, đã thành lập được nhóm đồng đẳng có sự tham gia của người nhiễm HIV tại huyện Sơn Dương, huyện Yên Sơn, thành phố Tuyên Quang Định kỳ hàng tháng, các nhóm tổ chức giao ban để đánh giá lại những kết quả đã làm được trong tháng, đồng thời nêu lên những khó khăn vướng mắc và bàn cách giải quyết nhằm xây dựng kế hoạch hoạt động cho tháng sau

Thông qua các nhóm nhân viên tiếp cận cộng đồng đã cấp phát miễn phí được trên 100.000 bao cao su và trao đổi bơm kim tiêm cho các đối tượng nghiện chích ma tuý, người bán dâm Đã lắp đặt hộp cấp phát bơm kim tiêm miễn phí ở một số điểm tại huyện Sơn Dương, thành phố Tuyên Quang

Công tác xét nghiệm giám sát phát hiện và XN sàng lọc máu cũng được thực hiện nghiêm túc Hàng năm đã tiến hành lấy mẫu máu xét nghiệm cho

Trang 16

trên 5.000 người, trong đó có trên 1.000 đối tượng là tiêm chích ma tuý, phụ

nữ bán dâm, trên 1.000 người là phụ nữ mang thai, phụ nữ trước đẻ [52] Hoạt động chăm sóc, điều trị và thực hiện dự phòng lây nhiễm HIV từ

mẹ sang con cũng thu được những kết quả đáng mừng Hiện tại, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS và các Trung tâm Y tế huyện, thành phố trực thuộc đang quản lý, chăm sóc và tư vấn cho 75% số người nhiễm HIV/AIDS có địa chỉ Các hình thức chăm sóc tư vấn được tổ chức thường xuyên và đa dạng như lập hồ sơ điều trị ARV, theo dõi sức khoẻ cho bệnh nhân AIDS, tư vấn,

hỗ trợ tuân thủ điều trị, hỗ trợ vật chất, tinh thần, tổ chức thăm hỏi động viên cho các đối tượng nhiễm HIV/AIDS Mặt khác, tỉnh luôn bảo đảm 100% thuốc điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV cho cán bộ thi hành công vụ, bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp, các bà mẹ mang thai bị nhiễm HIV và bảo đảm đủ thuốc điều trị nhiễm trùng cơ hội cho các bệnh nhân AIDS ở các tuyến

Hàng năm, nhiều hoạt động như thăm hỏi, động viên trẻ bị nhiễm và tác động bởi HIV/AIDS nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1- 6, Tết Trung thu, thăm bệnh nhân AIDS nhân dịp ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS được tổ chức ở nhiều địa phương trong tỉnh

Để người dân được tiếp cận với dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, toàn tỉnh đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông qua nhiều hình thức, từ đó đã vận động đông đảo phụ nữ mang thai tham gia xét nghiệm HIV tại các cơ sở xét nghiệm, nhằm kịp thời phát hiện và điều trị dự phòng để các

bà mẹ có cơ hội sinh con khoẻ mạnh

Trung tâm phòng chống HIV/AIDS đã phối hợp với các đơn vị liên quan như Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội, Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ sinh sản để duy trì hệ thống giám sát các bệnh lây truyền qua đường tình dục, lồng ghép chặt chẽ giữa giám sát HIV/AIDS và giám sát các nhiễm khuẩn lây

Trang 17

truyền qua đường tình dục, thực hiện tốt chương trình Lao/HIV và công tác

dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con

Để nâng cao hiệu quả trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS, hàng năm tỉnh đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS tại nhà và cộng đồng cho số cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS tuyến huyện, xã; tập huấn về báo cáo trực tuyến theo qui định của Bộ Y tế cho các cán bộ làm công tác thống kê báo cáo, tập huấn về nâng cao kỹ năng xét nghiệm HIV cho cán bộ xét nghiệm ở tuyến tỉnh và tuyến huyện Đồng thời triển khai tốt các hoạt động trong khuôn khổ của “Dự án can thiệp giảm tác hại” tại huyện Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang

Nhằm thực hiện có hiệu quả các hoạt động xã hội hoá công tác phòng chống HIV/AIDS Thời gian tới, toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức tốt các hoạt động phòng, lây nhiễm HIV trong lĩnh vực y tế, bảo đảm an toàn truyền máu, an toàn trong các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội Đồng thời đẩy mạnh các hoạt động tư vấn, chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS Một trong những hoạt động được chú trọng đó là công tác tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực hoạt động phòng, chống HIV/AIDS cho mạng lưới y tế các cấp, nhất là tuyến y tế cơ sở, nhằm tạo điều kiện cho các đơn vị y tế, các địa phương thực hiện có hiệu quả các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại cơ sở.

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS

1.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam

Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến lây nhiễm HIV làm các nhóm

* Yếu tố Sinh học: Những tổn thương niêm mạc đường sinh dục như

người mắc STDs có khả năng bị nhiễm HIV cao hơn bình thường 2 – 9 lần,

Trang 18

hẹp bao qui đầu dẫn đến dễ bị STDs và gây loét, do vậy nguy cơ nhiễm HIV

và lây bệnh cho người khác cao hơn Ngoài ra, giai đoạn nhiễm HIV cũng ảnh hưởng tới khả năng lây truyền Nguy cơ lây nhiễm rất cao ngay sau khi bị nhiễm HIV (giai đoạn cửa sổ) [10], [54]

* Yếu tố hành vi: Sự chấp nhận của xã hội về lối sống có nhiều bạn tình,

phương thức sinh hoạt tình dục (miệng, hậu môn, âm đạo) không được bảo

vệ Động tác quan hệ tình dục càng mạnh, thời gian càng lâu thì tỷ lệ trầy xước càng cao, nguy cơ nhiễm HIV càng tăng; hay các phong tục xăm mình, xâu lỗ tai; đặc biệt nghiện chích ma tuý là nguy cơ cao lây nhiễm HIV [27], [33]

* Yếu tố dân số học: Hậu quả về dân số của đại dịch đã được thấy ở

vùng Sahara Châu Phi Ở nhiều thành phố miền Tây và Trung Phi, 1/3 số người lớn đang ở độ tuổi hoạt động tình dục bị nhiễm HIV/AIDS Tỉ lệ tử vong của trẻ em đã giảm một cách đáng kể do chết vì AIDS Đồng thời tử vong của những người lớn tăng gấp ba lần trong một thời gian ngắn là 5 năm Tuổi trẻ (tỉ lệ nhiễm HIV cao ở lứa tuổi 15 - 45), biến động về dân số, sự gia tăng giao lưu thương mại, du lịch trong mỗi nước và giữa các quốc gia trên thế giới [41], [44]

* Vấn đề về giới: Phần lớn những người nhiễm HIV/AIDS hiện nay ở

Việt Nam là nam giới Tuy nhiên so với những năm đầu của dịch thì tỉ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nữ giới đã tăng lên So với nam giới, nữ giới là những người rất dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS do: Cấu trúc giải phẫu, niêm mạc sinh dục nữ rộng hơn của nam giới, trong QHTD nữ giới là người nhận tinh dịch nên dễ bị lây nhiễm [32], [59]

Khi phụ nữ nhiễm HIV/AIDS có thai lại dễ dàng truyền bệnh cho con qua nhau thai, trong khi đẻ và trong khi cho con bú sữa mẹ

Trang 19

* Yếu tố kinh tế, văn hoá và xã hội: Trình độ kém hiểu biết về

HIV/AIDS, trình độ văn hoá thấp, quản lý xã hội không tốt, phát triển những mặt tiêu cực trong xã hội (sử dụng ma tuý, mại dâm), tình trạng nghèo đói, suy dinh dưỡng, điều kiện sống thiếu thốn và thấp kém do kinh tế chậm phát triển, khả năng phát hiện và phòng chống dịch bệnh kém Dân trí thấp dẫn đến nhận thức về HIV rất hạn chế giá trị đạo đức, lối sống bị ảnh hưởng nhất trong tình yêu, tình dục, hôn nhân Yếu tố chính trị như thái độ của xã hội, pháp luật với ma tuý, nhóm nguy cơ cao… là những yếu tố góp phần làm lây lan dịch HIV/AIDS, đồng thời cũng gây khó khăn trong công tác phòng, chống HIV/AIDS [8], [9]

* Yếu tố chính trị: Sự quan tâm của xã hội, luật pháp với các nhóm nguy

cơ cao (NCMT, mại dâm); thái độ đối với giáo dục tình dục; sự chấp nhận của

xã hội đối với phương pháp xét nghiệm HIV dấu tên và việc cho phép cung cấp BCS, BKT, điều trị cai nghiện bằng những chất thay thế ma tuý như Methadone …đều ảnh hưởng làm tăng hoặc giảm nguy cơ lây nhiễm HIV [8], [25]

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS tỉnh Tuyên Quang

* Thuận Lợi: Trong những năm qua được sự chỉ đạo của Bộ Y tế, các

chính sách phát triển y tế địa phương và y tế cơ sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Công tác phòng chống HIV/AIDS là một trong những hoạt động được

ưu tiên

- Mạng lưới y tế cơ sở phát triển bền vững, 100% các xã, thị trấn đã có cán bộ làm công tác phòng chống HIV/AIDS

Trang 20

- Các tổ chức đoàn thể, chính quyền, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Phòng Lao động & TBXH….đã và đang hợp tác, hỗ trợ tích cực và thường xuyên đối với các hoạt động phòng chống HIV/AIDS

* Khó khăn:

- Nhân lực: Mô hình tổ chức y tế huyện đã có sự thay đổi theo Thông tư

liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008 của Bộ Y tế - Bộ Nội

vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế, Trung tâm Y tế Toàn huyện thiếu hụt về nhân lực do thiếu biên chế nên từ tuyến huyện đến cơ sở không có cán bộ chuyên trách phụ trách công tác phòng chống HIV/AIDS mà phải kiêm nhiệm lồng ghép nhiều nhiệm

vụ Trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của cán bộ trạm y tế còn yếu, không đồng đều

- Vật lực: Cơ sở vật chất, vật tư trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động

về chăm sóc sức khoẻ ban đầu nói chung; phục vụ cho công tác phòng chống HIV/AIDS nói riêng còn thiếu, hầu hết được trang cấp từ lâu nay đã xuống cấp Tại cơ quan Trung tâm Y tế các phòng chức năng còn thiếu, trong đó phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện lồng ghép các dịch vụ xét nghiệm khác Trạm y tế các xã, thị trấn hầu hết nhà trạm đã xuống cấp và không đủ phòng chức năng cho các hoạt động chuyên môn tại trạm y tế

- Tài lực: Nguồn kinh phí cấp cho hoạt động công tác phòng chống

HIV/AIDS chủ yếu dựa vào nguồn dự án cấp hạn mức trong từng năm

- Các hoạt động triển khai: Dự án phòng, chống HIV/AIDS khu vực

Châu Á tại Việt Nam, được triển khai tại tỉnh Tuyên Quang, dự án được thực hiện từ tháng 6 năm 2010 trên địa bàn huyện Sơn Dương và thành phố Tuyên Quang, với tổng kinh phí trên 2 tỷ đồng Trong đó tập trung vào một số hoạt động: Cung cấp gói dịch vụ cơ bản cho người nghiện chích ma túy, gái mại dâm; dự phòng lây nhiễm cho học viên trong Công trường 06, phạm nhân

Trang 21

trong trại tạm giam Công an tỉnh; dự phòng tái nghiện và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người nghiện chích ma túy sau cai nghiện; tổ chức các hoạt động tập huấn về phòng, chống HIV/AIDS nhằm nâng cao hiểu biết và tăng cường năng lực cho cán bộ ngành Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội, Công an Qua đó, hạn chế sự lan truyền HIV liên quan tới tiêm chích ma túy Tại huyện Sơn Dương có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống trên một địa bàn huyện có diện tích tự nhiên lớn, giao thông phức tạp, đi lại khó khăn Một trong những đặc điểm nổi bật về thành phần các dân tộc và sự chênh lệch về

số dân, trình độ…Tuy nhiên do đặc điểm về địa bàn cư trú cũng như do đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn rất thấp, nên hiện nay khoảng cách về trình độ văn hoá giữa các dân tộc khá chênh lệch Về mặt phân bố, các dân tộc sống cư trú xen kẽ nhau thành các làng, xóm, thôn bản với đủ loại hình kinh tế như sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp … tốc độ gia tăng dân số và di biến động dân cư khó kiểm soát, trình độ dân trí thấp, kiến thức của người dân về HIV còn hạn chế và mặc cảm kỳ thị về HIV/AIDS Vì vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác phòng chống HIV/AIDS

1.3 Các giải pháp thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS

1.3.1 Các giải pháp trên thế giới

Thế giới đã thay đổi căn bản kể từ khi đạt được cam kết lịch sử thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ chống căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.Tuy nhiên, hiện mỗi năm vẫn có tới 1,8 triệu người bị chết vì HIV/AIDS, 2,6 triệu người nhiễm mới và chỉ có chưa đầy 1/3 trong 15 triệu bệnh nhân HIV trên thế giới nhận được thuốc điều trị [8]

Chiến lược mới về phòng chống căn bệnh thế kỷ kêu gọi các nước thực hiện các biện pháp táo bạo nhằm đạt các mục tiêu không còn các ca lây nhiễm

Trang 22

HIV mới, không phân biệt đối xử trong phòng chống HIV/AIDS và không còn ca tử vong do lao phổi liên quan đến HIV/AIDS trên phạm vi toàn cầu Chương trình chung của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) đã xác định 3 định hướng chiến lược phòng chống nhằm đảo ngược xu thế lây lan nhanh của căn bệnh thế kỷ này trên toàn cầu [61]

Một là cách mạng hoá chính sách cũng như phương thức phòng ngừa và ngăn chặn HIV lây lan trên toàn cầu, trước hết nhằm giảm 50% số ca bệnh lây lan qua đường tình dục, loại trừ lây truyền HIV trực tiếp từ mẹ sang con; ngăn chặn hoàn toàn các ca lây nhiễm HIV trong những người sử dụng ma túy Hai là đảm bảo công tác điều trị, chăm sóc và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS, theo đó bệnh nhân HIV được tiếp cận các liệu pháp điều trị; giảm 50% số người nhiễm HIV bị chết vì bệnh lao; người nhiễm HIV và gia đình

họ được đưa vào chiến lược an sinh xã hội

Ba là thúc đẩy quyền con người và bình đẳng giới trong cuộc chiến chống HIV/AIDS trên toàn cầu

1.3.2 Các giải pháp thực hiện tại Việt Nam

1.3.2.1 Nhóm giải pháp về xã hội [12]

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS; đưa công tác phòng, chống HIV/AIDS trở thành mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương Các cấp chính quyền địa phương đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Huy động toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS nhằm từng bước ngăn chặn, đẩy lùi HIV/AIDS Xây dựng chương trình phòng, chống HIV/AIDS thành chương trình phối hợp liên ngành, toàn diện, đặc biệt chú trọng việc lồng ghép có hiệu quả với các chương trình phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS; huy động mọi tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phòng,

Trang 23

chống HIV/AIDS Khuyến khích các tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo, tổ chức

từ thiện, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, nhóm cộng đồng, người nhiễm HIV/AIDS cùng gia đình tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chế độ, chính sách trong công tác phòng, chống HIV/AIDS nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế và phù hợp với xu hướng hội nhập của hệ thống pháp luật quốc gia trong phòng, chống HIV/AIDS với pháp luật quốc tế Tăng cường việc phổ biến, giáo dục pháp luật, tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS

Đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi các hành

vi có nguy cơ; nâng cao số lượng, chất lượng, tính phù hợp và hiệu quả của các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông Xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên gắn liền với đội ngũ cộng tác viên y tế thôn, bản và cán bộ các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở xã, phường Phân công trách nhiệm cụ thể về thực hiện công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho từng bộ, ngành, địa phương; đưa các nội dung về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS, giáo dục sức khỏe sinh sản vào trong chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, giáo dục dạy nghề và phổ thông

Tăng cường tuyên truyền về chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các biện pháp can thiệp Triển khai chương trình can thiệp giảm thiểu tác hại một cách đồng bộ bao gồm chương trình bơm kim tiêm sạch, chương trình bao cao su Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế để xây dựng và áp dụng các mô hình triển khai chương trình bơm kim tiêm sạch, chương trình bao cao su và các chương trình can thiệp khác ở Việt Nam

Trang 24

Xây dựng hệ thống chăm sóc, hỗ trợ toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS; khuyến khích việc hình thành các trung tâm chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm dựa vào cộng đồng; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người nhiễm HIV/AIDS đối với bản thân, gia đình và cộng đồng để ngăn ngừa lây nhiễm HIV/AIDS

1.3.2.2 Nhóm giải pháp về chuyên môn kỹ thuật [12]

Tăng cường hệ thống giám sát quốc gia về HIV/AIDS, xây dựng các phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế, từng bước triển khai hệ thống giám sát đến các quận, huyện Triển khai chương trình giám sát toàn diện (thế hệ 2) và tăng cường sử dụng các dữ liệu giám sát phục vụ việc hoạch định chính sách Tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn,

xét nghiệm tự nguyện HIV/AIDS

Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật bảo đảm an toàn trong truyền máu và chế phẩm máu, sàng lọc HIV 100% đơn vị máu và chế phẩm máu trước khi truyền, từng bước nâng cao chất lượng xét nghiệm HIV trong sàng lọc máu, tăng cường tuyên truyền, vận động và phát triển bền vững

phong trào hiến máu nhân đạo

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân về cách dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội, cung cấp trang thiết

bị vô trùng, tiệt trùng cho các cơ sở y tế đặc biệt là y tế quận, huyện, xã, phường, hướng dẫn và quản lý công tác dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS qua

các dịch vụ y tế tại tất cả các cơ sở y tế tư nhân

Tăng cường khả năng tiếp cận với các thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS, xây dựng chính sách về tiếp cận thuốc, đảm bảo cơ chế thuận lợi cho lưu thông và phân phối thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS Bảo đảm tính sẵn có,

dễ tiếp cận đối với thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS, khuyến khích việc

Trang 25

nghiên cứu, áp dụng các thuốc đông y trong điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân

HIV/AIDS

Nâng cao nhận thức của người dân trong độ tuổi sinh đẻ về nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và khả năng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con, tổ chức điều trị dự phòng lây truyền HIV/AIDS từ mẹ sang con và tổ chức tốt việc

chăm sóc, điều trị trẻ bị nhiễm HIV/AIDS và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS

Xây dựng mạng lưới giám sát các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, cung cấp trang thiết bị xét nghiệm, tăng cường chẩn đoán, điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, tăng cường đào tạo cán bộ, lồng ghép triển khai hoạt động phòng, chống HIV/AIDS với phòng, chống

các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan khoa học và các tổ chức nghiên cứu có liên quan trong cả nước dưới sự điều phối thống nhất của tổ chức phòng, chống HIV/AIDS Hỗ trợ các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học triển khai các hoạt động nghiên cứu, đầu tư ngân sách cho các hoạt động nghiên cứu, tăng cường các hoạt động trao đổi, chuyển giao kỹ thuật và đào tạo chuyên gia giữa các cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước Tiến hành đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS sau 02 năm, 05 năm thực hiện

1.3.2.3 Nhóm giải pháp về nguồn lực và hợp tác quốc tế [12]

Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách phòng, chống HIV/AIDS, đẩy mạnh việc phân cấp và quản lý chương trình, xây dựng cơ chế phù hợp cho việc thúc đẩy các tổ chức, cộng đồng kể cả người nhiễm tham gia quá trình xây dựng kế hoạch phòng, chống HIV/AIDS Ngoài ngân sách của trung ương cấp, ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chủ động

bố trí ngân sách của cấp mình đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS

Khuyến khích và có các chính sách hỗ trợ cho việc nghiên cứu, sản xuất các

Trang 26

loại trang thiết bị, sinh phẩm, thuốc điều trị trong phòng, chống HIV/AIDS, tăng cường việc chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và khuyến

bố mà nhà nước ta đã tham gia ký kết hoặc gia nhập

1.3.3 Các giải pháp thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS tại tỉnh Tuyên Quang

* Công tác truyền thông: Nâng cao hiểu biết của người dân về dự phòng

lây nhiễm HIV/AIDS; đẩy mạnh công tác truyền thông với các nội dung phong phú, dễ hiểu; truyền thông đến cộng đồng bằng nhiều hình thức (trên

hệ thống phát thanh - truyền hình, họp thôn bản, thảo luận nhóm )

* Đẩy mạnh xã hội hoá công tác phòng chống HIV/AIDS: Các đơn vị,

địa phương trên địa bàn huyện Sơn Dương đưa hoạt động phòng, chống HIV/AIDS trở thành một trong các mục tiêu ưu tiên của chương trình phát

triển kinh tế - xã hội tại các đơn vị và địa phương

* Can thiệp giảm tác hại: Về công tác can thiệp giảm tác hại, nó được ví

như quả đấm thép trong phòng chống HIV/AIDS Giảm thiểu tác hại không

Trang 27

chỉ có lợi cho những nơi có nhiều người nhiễm HIV/AIDS mà còn đối với cả những nơi dịch còn ít …

* Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS: Bảo đảm người nhiễm

HIV/AIDS được chăm sóc và điều trị thích hợp

* Công tác quản lý, theo dõi, giám sát: Hoàn thiện hệ thống quản lý,

theo dõi, giám sát, đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS, xét nghiệm HIV tuân thủ quy định tư vấn xét nghiệm tự nguyện

* Ngăn chặn lây nhiễm HIV/AIDS qua các dịch vụ y tế: Bảo đảm các đơn

vị máu và chế phẩm máu được sàng lọc HIV trước khi truyền, các cơ sở y tế thực hiện đúng quy định về vô khuẩn, sát khuẩn phòng lây nhiễm HIV/AIDS Tóm lại: Công tác phòng chống HIV/AIDS ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã được triển khai một cách toàn diện và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên công tác phòng chống HIV/AIDS ở huyện Sơn Dương cũng chưa đạt được kết quả mong muốn như: Công tác quản lý, chăm sóc, tư vấn đối tượng chưa đầy đủ Công tác truyền thông chưa được rộng khắp, nội dung và hình thức còn nghèo nàn, chưa phong phú Sự phối hợp giữa các ban ngành từ huyện đến cơ sở chưa đồng bộ; số mới nhiễm HIV/AIDS ngày càng cao ….đây cũng chính là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết những vấn đề nêu trên

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

+ Lãnh đạo cộng đồng tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS của huyện Sơn Dương: Trưởng ban chỉ đạo và các thành viên Ban chỉ đạo (bao gồm lãnh đạo một số ban ngành, đoàn thể huyện) phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS và các tệ nạn ma tuý, mại dâm huyện

+ Cán bộ y tế phụ trách công tác phòng chống HIV/AIDS tại Trung tâm

Y tế huyện và trạm y tế các xã, thị trấn của huyện Sơn Dương

+ Lãnh đạo cộng đồng tham gia chương trình ở xã: Chủ tịch UBND xã, thị trấn và một số ban ngành đoàn thể

+ Các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm cao

+ Các đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS

+ Sổ sách báo cáo thực hiện chương trình HIV/AIDS của huyện trong 3 năm (2008 – 2010)

2.1.2 Địa điểm: Trung tâm Y tế huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang 2.1.3 Thời gian: Từ 3 - 12/2011

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu nhằm mô tả thực

trạng tổ chức và hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính để phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và đề xuất một số giải pháp can thiệp

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu: thuận tiện; chọn mẫu: chủ đích (huyện Sơn Dương)

Trang 29

- Cỡ mẫu điều tra kết quả hoạt động chuyên môn của công tác phòng chống HIV/AIDS: điều tra toàn huyện

* Chọn mẫu

- Chọn mẫu phỏng vấn sâu: là một số thành viên trong Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm của huyện; một số xã trọng điểm, một số cán bộ tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS từ huyện đến cơ sở (8 cuộc phỏng vấn sâu)

- Chọn mẫu thảo luận nhóm; tiến hành 7 cuộc thảo luận nhóm

+ 1 nhóm 10 người là thành viên Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm của huyện

+ 4 nhóm (10 người/ nhóm /xã) của Ban chỉ đạo phòng chống tội phạm, phòng chống HIV/AIDS và tệ nạn ma tuý, mại dâm của 4 xã trọng điểm: Kháng Nhật, Thượng ấm, Thị trấn Sơn Dương, Hợp Thành

+ 1 nhóm là 10 đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV cao (nhân viên đang phục vụ tại nhà nghỉ)

+ 1 nhóm là 10 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS

2.3 Chỉ số nghiên cứu

2.3.1 Các chỉ số về kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Sơ đồ mô hình Ban chỉ đạo

- Tình hình nhân lực tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS

Trang 30

- Thực trạng vật tư, trang thiết bị phục vụ hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Các chỉ số hoạt động chuyên môn trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS

+ Tỉ lệ cán bộ tham gia hoạt động phòng chống HIV/IDS

+ Trình độ chuyên môn của cán bộ tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS

+ Thực trạng triển khai màng lưới phòng chống HIV/AIDS

+ Kết quả phát hiện bệnh nhân HIV/AIDS

+ Kết quả hoạt động xét nghiệm tự nguyện và xét nghiệm sàng lọc

+ Kết quả quản lý và điều trị, chăm sóc đối với bệnh nhân HIV/AIDS + Kết quả hoạt động truyền thông phòng chống HIV/AIDS

+ Kết quả phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS

+ Kết quả các hoạt động can thiệp giảm tác hại, giảm lây truyền từ mẹ sang con, giám sát phát hiện các bệnh lây truyền qua đường tình dục

+ Kết quả đào tạo, tập huấn cho các nhóm hỗ trợ tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS

+ Kết quả xây dựng các nhóm hỗ trợ truyền thông trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS

+ Kết quả quản lý các đối tượng nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS

2.3.2 Nhóm chỉ số về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Tỉ lệ các nguồn lực so với qui định; nguồn lực bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực

- Các khó khăn thách thức trong công tác phòng chống HIV/AIDS

Trang 31

+ Hoạt động phối hợp lồng ghép giữa các ban ngành, đoàn thể trong công tác phòng chống HIV/AIDS

+ Tỉ lệ nhân lực tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS thông qua kết quả thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu

+ Nhận thức của các đối tượng nhiễm HIV/AIDS và các đối tượng có nguy cơ cao trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Tình hình vật tư, trang thiết bị, kinh phí phục vụ hoạt động phòng chống HIV/AIDS từ huyện đến cơ sở

2.3.3 Nhóm chỉ số đề xuất các giải pháp trong hoạt động phòng chống HIV/AIDS

- Sự chỉ đạo, điều hành phòng chống HIV/AIDS

- Tăng cường và đẩy mạnh truyền thông giáo dục sức khoẻ về phòng chống HIV/AIDS

- Phối hợp lồng ghép giữa các ban ngành về phòng chống HIV/AIDS

- Chuyên môn kỹ thuật

- Quản lý đối tượng và hệ thống báo cáo

2.4 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.4.1 Tổ chức thu thập thông tin

Chọn điều tra và giám sát viên

* Điều tra viên: Được lựa chọn là các cán bộ của TTYT huyện, đủ năng

lực thực hiện nhiệm vụ và được tập huấn thống nhất; đồng ý làm việc với sự giám sát của giám sát viên và ban quản lý

* Giám sát viên: Là các chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm và năng lực

chuyên môn sâu, được lựa chọn dựa theo các tiêu chuẩn sau:

- Đạt được các tiêu chuẩn như điều tra viên

- Có kinh nghiệm làm công tác giám sát

- Có khả năng quản lý, theo dõi và giám sát các điều tra viên

Trang 32

2.4.2 Thu thập thông tin tại thực địa

- Phỏng vấn sâu: một số thành viên tham gia công tác phòng chống

HIV/AIDS từ huyện đến cơ sở; yêu cầu chọn địa điểm phù hợp để không bị ngoại cảnh tác động trong suốt thời gian phỏng vấn

- Thảo luận nhóm trọng tâm với Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn ma tuý, mại dâm huyện

- Thảo luận nhóm trọng tâm với Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn ma tuý, mại dâm các xã trọng điểm: Thị trấn Sơn Dương, Hợp Thành, Kháng Nhật, Thượng ấm

- Thảo luận nhóm đối tượng nguy cơ lây nhiễm cao (nhân viên đang phục vụ tại các nhà nghỉ); nhóm bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS

* Giám sát thu thập thông tin: Giám sát viên được phân công cụ thể;

giám sát kiểm tra đảm bảo chính xác kỹ thuật thông tin của các điều tra viên trong suốt quá trình điều tra; số liệu điều tra phải đảm bảo đầy đủ, khách quan

và xác thực

2.4.3 Thu thập bằng phiếu điều tra: Bộ phiếu điều tra được thiết kế

nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, từng phiếu điều tra đều có các tiêu chí riêng theo các chỉ tiêu phù hợp với các biến số trên các sổ sách, biểu mẫu báo cáo thực tế của công tác phòng chống HIV/AIDS (chi tiết: phụ lục 1)

- Thu thập số liệu: Tiến hành thu thập số liệu về tình hình nguồn lực và

tổ chức các hoạt động phòng chống HIV/AIDS huyện Sơn Dương trong 3 năm (2008 – 2010) từ sổ sách, báo cáo các hoạt động phòng chống HIV/AIDS của các xã, thị trấn, Trung tâm Y tế huyện trong 3 năm (2008 – 2010)

2.4.4 Tổ chức phỏng vấn sâu: Nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến

công tác phòng chống HIV/AIDS và đề xuất các giải pháp can thiệp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS; quá trình phỏng vấn được ghi chép đầy đủ thông tin trong phiếu Tiến hành phỏng vấn Trưởng Ban chỉ đạo,

Trang 33

các thành viên ban chỉ đạo, cán bộ phụ trách chương trình, một số cán bộ tham gia phòng chống HIV/AIDS từ huyện đến cơ sở (phụ lục 2) Kết quả phỏng vấn sâu đều được phân tích và lập thành bảng kết quả tổng hợp

có nguy cơ cao nhiễm HIV/AIDS (nhân viên đang phục vụ tại các nhà nghỉ);

01 nhóm là 10 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS (phụ lục 4) Nội dung thảo luận nhóm đều được phân tích và lập thành bảng kết quả tổng hợp

2.5 Xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê y học, các số liệu

được xử lý bằng phần mềm EPI INFO 6.04 và SPSS 16.0 [23]; [27]

2.6 Đạo đức trong nghiên cứu

- Lĩnh vực nghiên cứu không vi phạm pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Sự tham gia của tất cả các đối tượng vào nghiên cứu hoàn toàn mang tính tự nguyện, tuyệt đối giữ bí mật các thông tin về người tham gia nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp dấu tên; không có tên đặc điểm nhận dạng cá nhân nào được thu thập

- Người phỏng vấn cảm thấy thoải mái, dễ chịu trong khi phỏng vấn Đảm bảo không có sự can thiệp của các cơ quan chức năng và đảm bảo tính riêng tư, không bị quấy rầy trong thời gian phỏng vấn

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng tổ chức và hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2008 – 2010

3.1.1 Thực trạng nguồn lực tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS

Sơ đồ 3.1 Mô hình Ban chỉ đạo Phòng chống HIV/AIDS

Nhận xét: Sơ đồ 3.1 cho ta thấy Ban chỉ đạo huyện đã có đầy đủ các cơ

quan chức năng, các ban ngành đoàn thể tham gia là thành viên

tế huyện

Phòng

LĐ – TB&XH

Phòng GD&

ĐT huyện

Phòng Tài chính –

KH huyện

Phòng

Tư Pháp huyện

LĐLĐ

huyện Liên Hội

hiệp Phụ nữ huyện

Hội Nông Dân

Uỷ ban Mặt trận

TQ huyện

Huyện Đoàn Thanh niên

UBND

thị trấn

SD

Trang 35

Bảng 3.1 Mạng lưới cán bộ y tế tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS của huyện Sơn Dương

cán bộ y tế

CB phụ trách công tác P/C HIV/AIDS

CB kiêm nhiệm công tác P/C HIV/AIDS

Nhận xét: Qua bảng 3.1 cho ta thấy tại huyện Sơn Dương chưa có cán bộ

phụ trách công tác phòng chống HIV/AIDS mà chỉ là kiêm nhiệm

Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn của cán bộ tham gia hoạt động phòng chống HIV/AIDS

Nhận xét: Qua bảng 3.2 cho ta thấy tại huyện Sơn Dương có 19 cán bộ

có trình độ chuyên môn bác sĩ; 21 cán bộ có trình độ chuyên môn y sĩ và điều dưỡng trung cấp; 1 cán bộ có trình độ chuyên môn xét nghiệm trung cấp, còn lại 420 cán bộ có trình độ chuyên môn sơ cấp tham gia công tác phòng chống HIV/AIDS

Trang 36

Bảng 3.3 Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động phòng chống HIV/AIDS

2008 2009 2010

Máy huỷ bơm kim tiêm(cái) 01 03 03 xuống cấp

không có phòng

Màn hình ti vi (cái) 0 33 33 Sử dụng chung của

CT Dân số-KHHGĐ

CT Dân số-KHHGĐ

Tranh tuyên truyền tờ rơi (tờ) 2.000 2.200 2.800

Nhận xét: Qua bảng 3.3 cho thấy số vật tư trang thiết bị cung ứng phục

vụ cho công tác phòng chống HIV/AIDS quá sơ sài, hầu hết đã bị xuống cấp hoặc đã hỏng không sử đụng được; các trang thiết bị phục vụ truyền thông không có, sử dụng chung của chương trình Dân số – KHHGĐ; tại Trung tâm

Y tế và các đơn vị điều trị không có phòng xét nghiệm HIV riêng biệt mà dùng chung các dịch vụ XN khác; các thiết bị phục vụ công tác xét nghiệm đã được trang cấp đầy đủ tại các phòng xét nghiệm chung của 2 bệnh viện đa khoa và Trung tâm Y tế; tuy nhiên đã được trang cấp đã quá lâu, hết thời gian

sử dụng

Trang 37

Bảng 3.4 Kinh phí hoạt động phòng chống HIV/AIDS

Tiêu chí

Năm

Kinh phí ( triệu đồng)

Tổng cộng

Trung ương cấp Ngân sách địa

phương Dự án HAARP

Tiền

mặt

Thuốc, vật tư

Tiền mặt

Thuốc, vật tư

Tiền mặt

Thuốc, vật tư

2010 75,7 75,82 0 9,15 321,0 100,05 581,72

Nhận xét: Qua bảng 3.4 cho ta thấy trong 2 năm (2008 – 2009) mỗi năm

toàn huyện được các nguồn ngân sách từ Trung ương đến địa phương cấp cho các hoạt động phòng chống HIV/SIDS bao gồm tiền mặt và tiền thuốc cấp cho bệnh nhân trung bình 82,77 triệu đồng; năm 2010 có thêm Dự án HAARP nên kinh phí được bổ sung 581,72 triệu đồng

Trang 38

3.1.2 Kết quả hoạt động phòng chống HIV/AIDS của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, trong 3 năm 2008 – 2010

Bảng 3.5 Kết quả triển khai hệ thống màng lưới tham gia phòng chống HIV/AIDS

thuốc tham gia vào các

hoạt động can thiệp

Nhận xét: Kết quả bảng 3.5 cho thấy các hoạt động trong phòng chống

HIV/AIDS trong 3 năm (2008 – 2010) đã được triển khai đồng bộ đến các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện; số buổi tuyên truyền trực tiếp tại các xã, thị trấn được tăng dần theo từng năm (2008: 55/3.570; năm 2009: 167/14.251; năm 2010: 175/15.280); nhóm giáo dục đồng đẳng tham gia phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn huyện ít và mỏng (có 4/33 xã, thị trấn)

Trang 39

3.6 Kết quả phát hiện bệnh nhân HIV/AIDS

Nhận xét: Qua bảng 3.6 cho ta thấy trong 3 năm huyện Sơn Dương phát

hiện, thu nhận thêm 52 bệnh nhân HIV nhiễm mới; tỉ lệ trung bình 9,7/100.000 dân; số tử vong do AIDS trong 3 năm chiếm 13,3% số luỹ tích HIV/AIDS tại huyện Sơn Dương đến 31/12/201

0 50 100

Biểu đồ 3.1 Số bệnh nhân HIV/AIDS phát hiện/ số luỹ tích HIV/AIDS trong 3 năm (2008 – 2010)

Nhận xét: Qua biểu đồ 3.1 cho thấy số phát hiện nhiễm HIV mới trong

năm 2010 giảm hơn so với 2 năm (2008 – 2009)

Trang 40

3.7 Kết quả hoạt động xét nghiệm tự nguyện và xét nghiệm sàng lọc

Năm

Các chỉ số

Xét nghiệm phát hiện (phẫu thuật….) 347 215 695

Xét nghiệm phòng lây truyền từ MSC 112 229 431

Nhận xét: Kết quả bảng 3.7 cho thấy xét nghiệm tự nguyện đã được củng

cố; số xét nghiệm tự nguyện có tăng theo các năm

Biểu đồ 3.2 Phân bố các loại hình xét nghiệm HIV 3 năm (2008 – 2010)

Nhận xét: Qua biểu đồ 3.2 cho thấy số xét nghiệm tự nguyện hàng năm

thấp nhất trong các loại XN thống kê

Ngày đăng: 19/03/2021, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w