1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tổ chức hoạt động của y tế thành phố tuyên quang đề xuất một số giải pháp

124 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn mới [8] đã

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Hệ thống y tế cơ sở trên Thế giới 3

1.2 Tổ chức của hệ thống y tế cơ sở theo quy định hiện nay ở Việt Nam 4

1.2.1 Phòng Y tế 5

1.2.2 Trung tâm Y tế thành phố 5

1.2.3 Bệnh viện đa khoa huyện 7

1.2.4 Trung tâm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình huyện 8

1.2.5 Trạm y tế xã phường, thị trấn 8

1.2.6 Nhân viên y tế thôn bản 9

1.3 Thực trạng nguồn nhân lực y tế cơ sở 10

1.3.1 Quy mô y tế cơ sở 10

1.3.2 Về nguồn lực 12

1.3.3 Hoạt động của y tế cơ sở 18

1.4 Một số khó khăn và giải pháp cho y tế cơ sở hiện nay ở Việt Nam 23

1.4.1 Các văn bản chỉ đạo quan trọng định hướng cho ngành y tế xây dựng kế hoạch, chiến lược, chính sách y tế, trong đó có về nhân lực y tế 24

1.4.2 Chính sách quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về bộ máy tổ chức và biên chế 24

1.4.3 Các chính sách quy định về thi tuyển công chức 25

1.4.4 Các chính sách về đào tạo phát triển nguồn lực trong các cơ sở y tế 25

1.4.5 Các chính sách nhằm duy trì nguồn nhân lực tại các cơ sở y tế 25

1.5 Tình hình y tế cơ sở tỉnh Tuyên Quang 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng nghiên cứu 28

Trang 2

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 29

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29

2.3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu: 29

2.4 Công cụ thu thập thông tin 35

2.4.1 Nghiên cứu định lượng 35

2.4.2 Nghiên cứu định tính 35

2.5 Phương pháp thu thập thông tin 35

2.5.1 Nghiên cứu định lượng 35

2.5.2 Nghiên cứu định tính 36

2.6 Phương pháp khống chế sai số 36

2.7 Phân tích và xử lý số liệu 36

2.7.1 Nghiên cứu định lượng 36

2.7.2 Nghiên cứu định tính 36

2.8 Đạo đức nghiên cứu 36

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 37

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Thực trạng tổ chức và kết quả hoạt động của hệ thống y tế ở Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 38

3.1.1 Vài nét về hệ thống y tế Thành phố Tuyên Quang 38

3.1.2 Thực trạng nhân lực y tế ở Thành phố Tuyên Quang 3 năm qua 39 3.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động của các đơn vị y tế Thành phố 3 năm 2008 - 2010 43

3.1.4 Thực trạng nguồn lực tài chính của các đơn vị y tế Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 52

3.2 Một số kết quả hoạt động của hệ thống y tế Thành phố Tuyên Quang 55 3.3 Những bất cập trong tổ chức hoạt động các đơn vị y tế thành phố Tuyên Quang 63

Trang 3

4.1 Thực trạng tổ chức và kết quả hoạt động của hệ thống y tế ở Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 70 4.1.1 Vài nét về hệ thống y tế Thành phố Tuyên Quang 70 4.1.2 Thực trạng nhân lực y tế ở Thành phố Tuyên Quang 3 năm qua 71 4.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động của

các đơn vị Y tế Thành phố 3 năm 2008 - 2010 76 4.1.4 Thực trạng nguồn lực tài chính của các đơn vị y tế Thành phố

Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 80 4.1.5 Một số kết quả hoạt động của hệ thống y tế Thành phố Tuyên

Quang 82 4.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn lực của y tế Thành phố Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2015 90 KẾT LUẬN 92 KHUYÊNNGHỊ 995 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

Bảng 1.2 Cơ cấu trình độ chuyên môn của cán bộ Y tế xã, 1994–2005 13

Bảng 1.3 Trang thiết bị y tế của các Trạm y tế xã, 2002 15

Bảng 1.4 Một số chỉ số về thuốc chữa bệnh tại Trạm y tế xã 16

Bảng 1.5 Cơ cấu giới và tuổi của bệnh nhân điều trị ngoại trú theo loại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu so với dân số cả nước 20

Bảng 1.6 Tỷ lệ các Trạm y tế xã, phường thực hiện một số chương trình y tế dự phòng chủ yếu, 2001–2002 21

Bảng 3.1 Nhân lực y tế chung toàn Thành phố 39

Bảng 3.2 Nhân lực y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước 40

Bảng 3.3 Nhân lực y tế thực hiện chức năng phòng bệnh 41

Bảng 3.4 Nhân lực làm công tác DS – KHHGĐ 41

Bảng 3.5 Nhân lực y tế tuyến xã của Thành phố Tuyên Quang 42

Bảng 3.6 Cơ sở vật chất của các đơn vị y tế Thành phố Tuyên Quang trong 3 năm 2008 - 2010 43

Bảng 3.7 Tình hình trang thiết bị của phòng y tế Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 – 2010 46

Bảng 3.8 Tình hình trang thiết bị của Trung tâm y tế Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 47

Bảng 3.9 Tình hình trang thiết bị của Trung tâm DS-KHHGĐ Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 48

Bảng 3.10 Tình hình nhà trạm của y tế tuyến xã Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010 49

Bảng 3.11 Tình hình trang thiết bị của y tế tuyến xã Thành phố Tuyên quang 3 năm 2008 - 2010 50 Bảng 3.12 Tình hình tài chính Trung tâm Y tế Thành phố năm 2008 - 2010 52

Trang 5

Bảng 3.14 Tình hình dịch bệnh tại thành phố Tuyên Quang năm 2008 - 2010 55 Bảng 3.15 Kết quả chương trình tiêm chủng mở rộng 3 năm 2008 – 2010 56 Bảng 3.16 Kết quả Chương trình phòng chống sốt rét 3 năm 2008 – 2010 57 Bảng 3.17 Kết quả Chương trình phòng chống bướu cổ 3 năm 2008 – 2010 57 Bảng 3.18 Kết quả Chương trình phòng chống HIV/AIDS và cai nghiện ma

tuý 3 năm 2008 – 2010 58 Bảng 3.19 Kết quả Chương trình VSATTP 3 năm 2008 – 2010 59 Bảng 3.20 Kết quả Chương trình sức khoẻ môi trường 3 năm 2008 – 2010 60 Bảng 3.21 Kết quả hoạt động KCB của các Trạm y tếxã 3 năm 2008 – 2010 61 Bảng 3.22 Kết quả một số chỉ tiêu về Dân số 3 năm 2008 – 2010 62 Bảng 3.23 Kết quả một số chỉ tiêu về KHHGĐ 3 năm 2008 – 2010 63

Trang 6

Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức của hệ thống y tế cơ sở hiện nay 4 Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động, 1998- 2005 14

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ thống tổ chức Ngành Y tế Việt Nam được chia thành 4 tuyến: Tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện thị và tuyến xã Mạng lưới y tế cơ sở được xác định bao gồm: Y tế tuyến huyện, thị và y tế tuyến xã, phường trong

đó có y tế thôn bản Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn mới [8] đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 35/2001/QĐ - TTG ngày 19 tháng 3 năm 2001 của Thủ tướng Chính Phủ, phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ

nhân dân giai đoạn 2001 – 2010 tầm nhìn 2020: "Phấn đấu để mọi người dân được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và

sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn Phát triển tốt về thể chất và tinh thần, giảm tỷ lệ mắc bệnh nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi" [7]

Vấn đề củng cố hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Đặc biệt đối với tuyến xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ, kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trên địa bàn [5] Củng cố y tế tuyến xã vừa có

ý nghĩa đưa các dịch vụ y tế có chất lượng đến gần dân, vừa có tác dụng hỗ trợ người nghèo được tiếp cận sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mặt khác cần làm tốt công tác quản lý và chỉ đạo đội ngũ y tế thôn bản, trong việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, phát hiện dịch bệnh, sơ cứu và xử trí cấp cứu ban đầu, chăm sóc người mắc bệnh nhẹ và mãn tính [8]

Thành phố Tuyên Quang được thành lập ngày 16 tháng 8 năm 2010 theo Nghị quyết số 27/NQ-CP ngày 02/7/2010 của Chính phủ Thành phố là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, được đầu tư mạnh trong những năm qua Toàn thành phố có 99.641 nhân khẩu với 22 dân tộc anh em sinh

Trang 8

sống Người dân có đời sống kinh tế, văn hóa xã hội ổn định, thu nhập cao (bình quân đầu người 11.000.000đ/năm) Khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế thuận lợi hơn so với các huyện trong tỉnh, tuổi thọ trung bình 74 tuổi [29] Trong những năm qua, được sự đầu tư của Nhà nước, Chính quyền địa phương, ngành y tế Thành phố Tuyên Quang đã được tăng cường, hệ thống y

tế cơ sở từng bước được củng cố và phát triển và đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên trước yêu cầu của tình hình mới, mạng lưới y tế cơ

sở, nhất là thành phố thuộc tỉnh miền núi còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu nhân lực, cơ sở vật chất thiếu thốn, lạc hậu, việc chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt hơn còn hạn chế, dẫn đến việc quá tải ở các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến trung ương Bên cạnh đó, cấp ủy Đảng, Chính quyền đôi khi còn chưa lãnh đạo, chỉ đạo đúng mức và đầu tư chưa thỏa đáng để củng cố và phát triển mạng lưới Y tế cơ sở

Cho đến nay, chưa có đề tài nghiên cứu nào đánh giá một cách tổng thể, toàn diện về hoạt động của Y tế thành phố Tuyên Quang Một câu hỏi đặt

ra là: Thực trạng nguồn lực và kết quả hoạt động của Y tế Thành phố hiện nay

ra sao? đã đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân chưa? có những khó khăn và thuận lợi gì? Với mục đích cung cấp bằng chứng khoa học, đề xuất các giải pháp phù hợp để củng cố, phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của Y tế Thành phố Tuyên Quang, chúng tôi tiến hành thực hiện đề

tài: Thực trạng tổ chức, hoạt động của Y tế Thành phố Tuyên Quang, đề xuất một số giải pháp nhằm các mục tiêu sau:

1) Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của y tế Thành phố Tuyên Quang năm 2008 - 2010

2) Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn lực của y tế Thành phố Tuyên Quang giai đoạn 2011 - 2015

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Hệ thống y tế cơ sở trên Thế giới

Trên cơ sở nguyên tắc của CSSKBĐ, các nước trên thế giới tổ chức các

mô hình Chăm sóc sức khoẻ khác nhau và hình thức hoạt động rất đa dạng tuỳ theo bối cảnh cụ thể của từng quốc gia Mô hình Bác sỹ gia đình chủ yếu ở các nước phát triển như Canada, Úc…và một số nước trong khu vực như Malaysia Singapore; mô hình y tế cơ sở chủ yếu ở các nước như Thái Lan,

Ấn Độ, Trung Quốc, Philippine, Hàn Quốc và Việt Nam (trích từ [2])

Ở Indonesia: Indonesia có 33 tỉnh, ở mỗi tỉnh được chia thành các huyện và mỗi huyện chia đơn vị hành chính thành các xã (sub-district); mỗi

xã ở Indonesia có ít nhất một bác sỹ làm trưởng trạm và dưới Trạm y tế xã cũng có 2 hoặc 3 Trạm y tế thôn do một điều dưỡng làm trưởng trạm Trạm y

tế xã thực hiện 8 chương trình y tế (trích từ [2])

Ở Philippine: Hệ thống tổ chức y tế của Philippine được chia làm 3 cấp: cấp 1, cấp 2 và cấp 3, nhiệm vụ của hệ thống y tế Philippine là đảm bảo mọi người được chăm sóc sức khỏe công bằng, chất lượng và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe với các dịch vụ sẵn có, nâng cao kiến thức cộng đồng, huy động các nguồn lực và cải thiện sức khỏe của nhân dân tốt hơn Hệ thống tổ chức y tế cấp 1 là những đơn vị sức khỏe ở vùng nông thôn; các trung tâm xét nghiệm cận lâm sàng, phòng khám bệnh về lồng ngực, đơn vị phòng chống sốt rét dưới sự điều hành của Bộ Y tế; phòng khám lao, các bệnh viện cộng đồng, các trung tâm y tế dưới sự điều hành của Uỷ ban chăm sóc sức khỏe Philippine và các cơ sở y tế khác hoạt động dưới sự điều hành của các tổ chức phi chính phủ (trích từ [2])

Ở Trung Quốc: Hệ thống Y tế ở Trung Quốc có thay đổi từ mô hình tổ chức y tế của Liên Xô cũ từ những năm 1950, với 3 cấp: tỉnh, thành phố hoặc quận và huyện Năm 1954, Bộ Y tế thành lập các Trạm y tế dự phòng với nhiệm vụ dự phòng, giám sát và quản lý các bệnh nhiễm trùng Đến cuối năm

Trang 10

1965, Trạm y tế dự phòng của Trung Quốc được tổ chức lại thành Trung tâm kiểm soát và phòng chống bệnh; Trạm y tế có ở các thôn chủ yếu thực hiện các hoạt động về hướng dẫn phòng bệnh (trích từ [2])

Ở Ấn Độ: Tuyến xã hay còn gọi là Taluka, là nơi thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu Trung tâm Y tế cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản về đa khoa, nhi khoa, sản phụ khoa cho khoảng 80.000 đến 120.000 dân và chịu trách nhiệm quản lý tuyến Taluka (trích từ [2])

1.2 Tổ chức của hệ thống y tế cơ sở theo quy định hiện nay ở Việt Nam

Trang 11

1.2.1 Phòng Y tế

Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn huyện, gồm: Y

tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, y dược học cổ truyền, thuốc phòng chữa bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn vệ sinh thực phẩm, trang thiết bị y tế, thực hiện một số nhiệm

vụ, quyền hạn theo phân cấp của ủy ban nhân dân cấp tỉnh và ủy quyền của

Sở Y tế Phòng Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Y tế Phòng Y tế thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về y tế trên địa bàn huyện theo hướng dẫn của ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tham mưu cho Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo và

tổ chức thực hiện công tác vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh môi trường và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự ủy quyền của Sở Y tế [21]

Phòng Y tế có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu

sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Y tế [21]

Phòng Y tế do Trưởng phòng lãnh đạo, giúp việc Trưởng phòng có 01 Phó trưởng phòng [21]

1.2.2 Trung tâm Y tế thành phố (TTYT huyện)

Trung tâm Y tế huyện là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế, chịu sự quản lý toàn diện của Giám đốc Sở Y tế, chịu sự quản lý Nhà nước của UBND huyện, chịu sự chỉ đạo chuyên môn của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh

và các trung tâm chuyên ngành của tỉnh, có chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về Y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phòng,

Trang 12

chống HIV/AIDS, phòng, chống bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và truyền thông giáo dục sức khoẻ trên địa bàn

Trung tâm Y tế huyện là đơn vị có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước [26]

Nhiệm vụ và quyền hạn

- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về Y tế dự phòng, phòng, chống HIV/AIDS, phòng và chống bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và truyền thông giáo dục sức khoẻ trên cơ sở kế hoạch của tỉnh và tình hình thực tế trên địa bàn huyện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn kỹ thuật về phòng chống dịch bệnh, HIV/AIDS, các bệnh xã hội, tai nạn thương tích, sức khoẻ lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ môi trường, sức khoẻ trường học, dinh dưỡng cộng đồng, an toàn vệ sinh thực phẩm, truyền thông giáo dục sức khoẻ theo phân cấp và theo quy định của pháp luật

- Hướng dẫn và giám sát chuyên môn, kỹ thuật về các hoạt động thuộc lĩnh vực mình phụ trách cho cán bộ y tế cấp xã, nhân viên y tế thôn, bản và các cán bộ khác

- Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật về lĩnh vực liên quan

- Quản lý tổ chức triển khai thực hiện các dự án thuộc chương trình mục tiêu Y tế quốc gia và các dự án khác được Sở Y tế phân công

- Thực hiện quản lý cán bộ, chế độ chính sách, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ viên chức và quản lý tài chính, tài sản của đơn vị theo quy định của pháp luật

- Thực hiện chế độ thống kê báo cáo theo quy định của pháp luật

Trang 13

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Giám đốc Sở Y tế và UBND huyện, thành phố giao

Trung tâm Y tế gồm các khoa, phòng chức năng nghiệp vụ sau: Phòng

Tổ chức - Hành chính - Kế hoạch - Tài vụ; Phòng Truyền thông giáo dục sức khoẻ; Khoa Kiểm soát dịch, bệnh xã hội, HIV/AIDS; Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm; Khoa Y tế công cộng; Khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản; Khoa Xét nghiệm [26]

Trung tâm Y tế huyện do Giám đốc lãnh đạo, giúp việc Giám đốc có từ

01 - 02 phó giám đốc [26]

Định mức biên chế của Trung tâm Y tế huyện từ 25 – 50 cán bộ Tuỳ theo dân số, đặc điểm địa lý, tuyến chuyên môn kỹ thuật, hạng các đơn vị sự nghiệp và nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh, đặc điểm kinh tế xã hội, sinh thái từng vùng và khả năng tài chính để đảm bảo đủ số lượng làm việc theo giờ hành chính và thường trực phòng, chống dịch bệnh [20]

1.2.3 Bệnh viện đa khoa huyện

Bệnh viện đa khoa huyện (kể cả phòng khám đa khoa khu vực) là đơn

vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế, chịu sự quản lý toàn diện của Giám đốc Sở Y

tế, chịu sự quản lý Nhà nước của UBND huyện và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật của các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh

Bệnh viện đa khoa huyện là đơn vị có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước [21]

Bệnh viện đa khoa huyện gồm các phòng chuyên môn, các khoa lâm sàng và cận lâm sàng Tuỳ theo nhu cầu tình hình thực tế, số giường được phân bổ cho từng huyện mà tổ chức các khoa, phòng như: Phòng kế hoạch nghiệp vụ, phòng tài chính kế toán, phòng hành chính quản trị, Phòng khám

đa khoa trung tâm, ngoại - sản, nội - y học cổ truyền dân tộc, nhi – hồi sức cấp cứu, lây, cận lâm sàng (xét nghiệm, siêu âm, X quang, dược, vật tư Y tế)

Trang 14

Bệnh viện đa khoa huyện do Giám đốc lãnh đạo, giúp việc giám đốc có

từ 01 - 02 phó giám đốc [20]

Định mức biến chế của Bệnh viện đa khoa hạng III từ 1,10 – 1,20 người/1 giường bệnh [20]

1.2.4 Trung tâm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình huyện (DS-KHHGĐ)

Trung tâm DS - KHHGĐ huyện là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tỉnh thuộc Sở Y tế, chịu sự quản lý toàn diện của Chi cục trưởng Chi cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tỉnh, chịu sự quản lý Nhà nước của UBND huyện và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật về dịch vụ KHHGĐ, truyền thông giáo dục của các Trung tâm liên quan ở cấp tỉnh Trung tâm DS - KHHGĐ huyện có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu và tài khoản riêng [23]

Định mức biên chế của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hoá gia đình huyện là 6 người [23]

1.2.5 Trạm y tế xã phường, thị trấn (Trạm y tế xã)

Trạm y tế xã là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung tâm Y tế huyện (trước đây trực thuộc Phòng Y tế huyện), chịu sự quản lý toàn diện của Giám đốc Trung tâm Y tế huyện, chịu sự quản lý Nhà nước của UBND xã và chịu

sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật của các đơn vị liên quan tuyến huyện [19] Trạm y tế do Trạm trưởng lãnh đạo, giúp việc Trạm trưởng có 01 Trạm phó Định mức biên chế của Trạm y tế xã từ 5 – 10 biên chế/1 trạm, tuỳ theo đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội, quy mô dân số và hệ số điều chỉnh [20]

Trang 15

hiện sớm các dịch bệnh và phòng chống dịch, chăm sóc sức khỏe ban đầu và

đỡ đẻ thường, cung cấp thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp KHHGĐ, tăng cường sức khỏe [33]

Bao gồm 11 nhiệm vụ cụ thể, tập trung chủ yếu vào việc thực hiện các nhiệm vụ CSSKBĐ cho nhân dân, tham gia khám chữa bệnh các bệnh thông thường, vận động nhân dân gìn giữ vệ sinh, giáo dục sức khỏe, tăng cường sức khỏe, quản lý sức khỏe, thu nhập và báo cáo các số liệu cơ bản cho Trung tâm Y tế huyện [33]

- Lập kế hoạch các mặt hoạt động, lựa chọn chương trình ưu tiên và chuyên môn y tế, trình ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn duyệt báo cáo Trung tâm Y tế huyện quận, thị xã và tổ chức triển khai thực hiện sau khi kế hoạch đã được phê duyệt

Công việc CSSK cho nhân dân tại tuyến y tế xã là rất quan trọng vì Trạm y tế xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên gần dân nhất, có khả năng phát hiện sớm nhất các bệnh dịch có khả năng lây lan đồng thời có thể sơ cấp cứu

và điều trị ban đầu cho những trường hợp mắc bệnh tại cộng đồng Đặc biệt là các Trạm y tế xã ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, người dân ít có khả năng tiếp cận với y tế tuyến huyện do khoảng cách xa, phương tiện giao thông gặp nhiều khó khăn, tổng chi phí cho một chuyến đi khám chữa bệnh tại Trung tâm Y tế huyện là khá cao Một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của Trạm y tế xã là thực hiện các hoạt động CSSKBĐ cho nhân dân [33]

1.2.6 Nhân viên y tế thôn bản

Y tế thôn bản: Là cầu nối giữa hệ thống y tế công với người dân, thực

hiện các công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe; hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh và phát hiện sớm dịch bệnh; hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý; chăm sóc sức khỏe sinh sản BMTE/KHHGĐ; sơ cứu và chăm sóc bệnh thông thường và tham gia các chương trình y tế triển khai tại thôn bản Theo quy định của Bộ

Trang 16

Y tế, mỗi thôn bản có một nhân viên y tế thôn bản Họ được đào tạo từ 6 - 9 tháng về các kiến thức và kỹ năng cơ bản về CSSKBĐ nhằm thực hiện được những chức năng và nhiệm vụ được giao

Nhiệm vụ y tế thôn bản [17]

1 Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cộng đồng

2 Tham gia các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng

3 Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình

4 Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường

5 Tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn, bản

6 Vận động hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại gia đình để phòng và chữa các bệnh thông thường

7 Tham gia giao ban định kỳ với Trạm y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Trạm y tế xã) Tham gia các khóa đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan Y tế cấp trên tổ chức và tự học để nâng cao trình độ

8 Quản lý và sử dụng hiệu quả tuyến Y tế thôn bản

9 Thực hiện ghi chép, báo cáo kịp thời theo quy định

1.3 Thực trạng nguồn nhân lực y tế cơ sở

1.3.1 Quy mô y tế cơ sở

Để hoàn thiện bộ máy tổ chức y tế cơ sở theo xu hướng chung về phân cấp chính quyền, ngày 29/9/2004 Chính phủ ban hành Nghị định 171/2004/NĐ-CP và 172/2004/NĐ-CP, ngày 12/4/2005 Liên Bộ Y tế và Bộ Nội vụ có Thông tư 11/2005/TTLT-BYT-BNV xác định mô hình tổ chức y tế mới ở tuyến huyện bao gồm Bệnh viện đa khoa huyện; Trung tâm Y tế dự phòng huyện là hai đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế; Phòng Y tế huyện thuộc UBND huyện chịu trách nhiệm quản lý các Trạm y tế xã [19] Hiện nay các địa phương đang triển khai thực hiện theo mô hình tổ chức Y tế mới ở tuyến huyện Trong thời gian chuyển đổi, các huyện đang gặp không ít khó

Trang 17

khăn Nhiều lợi thế của mô hình Trung tâm Y tế huyện bị mất đi trong mô hình mới và vẫn chưa xây dựng được cơ chế để khắc phục Ví dụ: trong mô hình cũ, có sự kết hợp chặt chẽ giữa điều trị và dự phòng, giữa tuyến huyện và tuyến xã, đến nay nhiều huyện chưa tìm được cơ chế phối hợp hiệu quả

Về Trạm y tế xã, phường: Trạm y tế là đơn vị kỹ thuật đầu tiên khám chữa bệnh cho nhân dân nằm trong hệ thống y tế Nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn và quản lý, chỉ đạo hoạt động của y tế thôn, bản Năm 2005, cả nước có 10.613 Trạm y tế xã, phường Số Trạm y tế xã, phường tiếp tục tăng lên hàng năm để bảo đảm các xã, phường mới được chia tách có cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu Từ năm 2000 đến 2005, có 342 Trạm y tế xã, phường mới được thành lập Đến 31/12/2005 tất cả các xã có cán bộ y tế và 98% các xã có cơ sở Trạm y tế [25]

Về Y tế thôn, bản: Y tế thôn, bản là cánh tay kéo dài của y tế xã để triển khai công tác truyền thông giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện các chương trình y tế quốc gia và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân tại các hộ gia đình và cộng đồng Trong quá trình đổi mới, mạng lưới y tế thôn, bản ở nhiều địa phương đã bị mất đi, do đó đời sống của họ không được bảo đảm Trong những năm gần đây, Nhà nước và Ngành Y tế đã và đang củng cố, đẩy mạnh

và phát triển mạng lưới y tế thôn, bản Nhân viên y tế thôn, bản có những nhiệm vụ cụ thể được quy định trong Quyết định số 3653/QĐ-BYT ngày 15 tháng 11 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế [17] Nhân viên y tế thôn bản chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Trạm y tế xã, của trưởng thôn, trưởng bản và có mối quan hệ phối hợp với các tổ chức quần chúng, đoàn thể tại thôn, bản Chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001–

2010 đã khẳng định lại nhu cầu về nhân viên y tế thôn, bản với mục tiêu 100% thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động cả ở thành thị và nông thôn Kết

Trang 18

quả đến 31/12/2004 cả nước đã đạt được 82,4% số thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động Hiện nay một số thôn, bản đã có nhân viên y tế hoạt động nhưng không bền vững, mặt khác tỷ lệ chưa có chuyên môn còn cao (hơn 26% chưa được đào tạo đủ 3 tháng so với tổng số NVYTTB) Hiện trạng đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng công việc và khiến họ khó đáp ứng được nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản Ngoài ra, mức phụ cấp cho y tế thôn, bản chưa thống nhất và thấp.[5]

1.3.2 Về nguồn lực

Trong nhiều năm qua, Ngành Y tế và các địa phương đã có nhiều cố gắng để tăng số lượng và chất lượng cán bộ y tế phục vụ tại tuyến xã Thứ nhất, Ngành Y tế đã đào tạo bằng nhiều hình thức như cử tuyển, chuyển giao

kỹ thuật, đào tạo mới và đào tạo lại để xây dựng đội ngũ cán bộ y tế dựa vào nguồn nhân lực tại chỗ Thứ hai là Ngành Y tế đã sắp xếp, đưa cán bộ y tế có trình độ đại học, đặc biệt là bác sỹ, về các cơ sở y tế công lập tuyến cơ sở công tác và xây dựng các chế độ cho cán bộ y tế nói chung và y tế cơ sở nói riêng Thứ ba, một số địa phương đã quan tâm và có chế độ khuyến khích, thu hút việc đưa cán bộ về cơ sở công tác (như trợ cấp ban đầu, trợ cấp lương hàng tháng ) Nhìn chung số lượng cán bộ y tế xã hàng năm đều tăng, từ năm 2000 đến năm 2005, số cán bộ y tế ở tuyến xã tăng 4.934 người, đạt từ 57,5 đến 59,7 cán bộ/100.000 dân (Bảng 1.1),k

Trang 19

Mặt khác, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế xã đã được nâng lên để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Cán bộ có trình độ chuyên môn đại học đã tăng từ 3,9% so với tổng số cán bộ y tế xã năm 1994 lên 12,8% vào năm 2004 Cũng trong giai đoạn trên, cán bộ có trình độ trung cấp và cao đẳng tăng từ 55,0% lên 70,4%, còn cán bộ trình độ chuyên môn sơ cấp giảm đáng kể từ 38,0% năm 1994 xuống còn 14,8% năm

Mặt khác, chế độ phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản chưa thống nhất, không hợp lý và còn phụ thuộc nhiều vào các địa phương (Nhà nước mới có phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản khu vực miền núi, vùng cao, hải đảo với mức 40.000đ/người/tháng, các khu vực khác do địa phương tự trả), thậm chí

Trang 20

nhiều địa phương không có phụ cấp cho nhân viên y tế thôn, bản Hiện cả nước mới có 72,3% số nhân viên y tế thôn, bản có phụ cấp

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động, 1998–2005

Nguồn: niên giám thống kê [28]

Về cơ sở vật chất: Theo Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe 2001–

2010, mục tiêu đến 2005 là 100% phòng khám đa khoa khu vực được xây kiên cố Đến năm 2001–2002, 38,4% PKĐKKV được xây kiên cố, 62,7% có điện thường xuyên, 76,9% có điện thoại, 42,4% có nước máy, giếng khoan hoặc nước mưa tại cơ sở và 61,3% có hố xí hợp vệ sinh [5]

Về Trang thiết bị và dụng cụ y tế: Bộ Y tế đã xây dựng danh mục trang thiết bị Y tế thiết yếu cho Trạm y tế theo Quyết định số 437/2002/QĐ-BYT năm 2002 Để tạo điều kiện phát huy khả năng chuyên môn cho các bác sỹ, năm 2004, theo Quyết định số 1020/2004/QĐ-BYT của Bộ Y tế, danh sách trang thiết bị (TTB) thiết yếu cho Trạm y tế có bác sỹ đã được bổ sung Các chương trình, dự án, ngân sách Nhà nước đã trang bị cho nhiều Trạm y tế những bộ trang thiết bị và dụng cụ cơ bản phục vụ cho khám chữa bệnh chung, chăm sóc sức khỏe sinh sản, và việc tiệt khuẩn Tuy nhiên, do không

có kinh phí để mua mới hoặc bổ sung, thay thế, sửa chữa nên thiết bị vẫn còn

Trang 21

thiếu, nhất là các dụng cụ chuyên khoa Việc bảo đảm có đủ TTB thiết yếu theo một danh mục ở Trạm y tế đang gặp nhiều khó khăn Để tránh lãng phí

và bảo đảm các Trạm y tế có đủ TTB theo nhu cầu thực tế, quá trình lập kế hoạch mua sắm trang thiết bị cần được lập từ từng Trạm y tế với sự hướng dẫn của tuyến trên Cần đánh giá tác động của những TTB khác nhau tới chất lượng và hiệu quả trong việc thu hút, chẩn đoán và điều trị bệnh tại tuyến xã Giám sát mức độ thực hiện chính sách về TTB phải dựa vào mức độ đạt số loại TTB so với nhu cầu, được thể hiện trong kế hoạch và theo những sự thay đổi trong mô hình sử dụng dịch vụ của dân và chất lượng phục vụ của Trạm Y tế; chứ không cứng nhắc theo một danh mục chuẩn có thể không phù hợp với điều kiện ở từng cơ sở y tế

Bảng 1.3 Trang thiết bị y tế của các Trạm y tế xã, 2002

Đủ thiết bị cho khám chữa bệnh thông thường 97,0

Đủ thiết bị lạnh (tủ lạnh, dây chuyền lạnh) 9,9

Đủ thiết bị cho chăm sóc sức khỏe sinh sản 24,7

Đủ thiết bị cho chăm sóc sức khỏe/dinh dưỡng trẻ em 86,1

Đủ thiết bị cho khám chữa bệnh bằng đông y 10,6

Đủ các loại thiết bị theo tiêu chuẩn Bộ Y tế 0,1

Nguồn: niên giám thống kê [28]

Theo danh mục TTB thiết yếu năm gần đây nhất (năm 2002), nhân viên

y tế thôn, bản nên có túi y tế với 17 loại dụng cụ và vật tư cơ bản Năm 2001–

2002 63,1% nhân viên y tế thôn bản có nhiệt kế, 56,1% có bơm, kim tiêm [28] Loại TTB cần thiết cho nhân viên y tế thôn bản phụ thuộc nhiều vào những kỹ năng phải bảo đảm, và hiện nay nhiều nhân viên y tế thôn, bản chưa được đào tạo đầy đủ để sử dụng hết những TTB trong túi y tế thiết yếu

Trang 22

Về thuốc thiết yếu tại Trạm Y tế, tỷ lệ Trạm y tế xã có quầy thuốc là 86,9%, đặc biệt khu vực Tây Nguyên chỉ khoảng 50% Các mặt hàng thuốc thiết yếu ở Trạm y tế cơ bản đủ (khoảng 74 loại) trong đó 80% là thuốc nội, 8% là thuốc đông y Đối với một số chương trình mục tiêu, như chương trình phòng chống tiêu chảy, thì tỷ lệ thuốc cung cấp cho các trạm cao nhất cũng chỉ mới đạt 95,9% số trạm có đủ thuốc chống tiêu chảy (ORS) Tỷ lệ sử dụng thuốc nam còn rất thấp (39,5%)

Bảng 1.4 Một số chỉ số về thuốc chữa bệnh tại Trạm y tế xã

Nguồn: nguồn niên giám thống kê [28]

Về chế độ chính sách cho cán bộ y tế xã, nhân viên y tế thôn bản là yếu

tố quan trọng để thu hút và khuyến khích cán bộ thực hiện tốt nhiệm vụ Từ năm 1994, theo Quyết định 58/TTg, Nhà nước đã xác định y tế xã thuộc hệ thống y tế Nhà nước và cán bộ y tế xã được chuyển từ chế độ sinh hoạt phí sang hưởng lương và được hưởng các chế độ khác như tăng lương hàng năm,

có bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế, chế độ trực, phụ cấp độc hại, chức vụ , như cán bộ Y tế trong biên chế Nhà nước Có thể nói đây là bước

Trang 23

ngoặt quan trọng trong hoạt động của y tế xã, giúp cán bộ y tế xã ổn định trong cuộc sống, tập trung cho công việc chuyên môn được nhiều hơn, chất lượng, hiệu quả công việc cao hơn Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 276 quy định chế độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ, viên chức tại các cơ sở y tế của Nhà nước Phụ cấp này ở mức từ 20% đến 30% đối với cán

bộ y tế xã, phường trực tiếp làm chuyên môn y tế, tuỳ thuộc vào địa bàn là thành phố, nông thôn hoặc miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 182/2004/QĐ-TTg về việc tính thời gian công tác để hưởng chế độ BHXH đối với cán bộ y tế xã, phường, thị trấn Sau khi thực hiện Quyết định 58/TTg, nhiều cán bộ y tế xã không được đóng BHXH Quyết định số 182/2004/QĐ-TTg khắc phục vấn đề này bằng cách truy nộp BHXH cho thời gian chưa tham gia BHXH để bảo đảm chế độ hưu cho cán bộ Y tế xã đã công tác lâu năm [30] Năm 2004, Nghị định số 204/2004/NĐ-CP được ban hành đã điều chỉnh chế độ tiền lương đối với cán

bộ, công chức Năm 2001, Quyết định số 97/2001/QĐ-TTg đã bổ sung chế độ phụ cấp đối với công chức, viên chức Ngành Y tế Năm 2003, Quyết định số 155/2003/QĐ-TTg đã sửa đổi, bổ sung một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức Ngành Y tế, trong đó có tiền trực, tiền chống dịch [20] Đối với nhân viên y tế thôn bản, theo quy định, ngân sách Nhà nước chỉ bảo đảm phụ cấp tại các xã khó khăn Các địa phương còn lại phải tự huy động tiền để trả phụ cấp Đến năm 2002, 82% nhân viên y tế thôn, bản được nhận phụ cấp, trung bình 1 tháng 35.000 đồng

Về kinh phí hoạt động của y tế xã chủ yếu là từ nguồn ngân sách nhà nước, chiếm khoảng 73% tổng thu của các Trạm Y tế Thông tư 119/2002/TTLT ngày 27/12/2002 của liên Bộ Tài chính - Y tế đã quy định mức chi cho hoạt động thường xuyên của Trạm y tế tối thiểu không dưới 10 triệu đồng/trạm/năm Ngân sách trung ương bảo đảm ngân sách của Trạm y tế

Trang 24

tại các xã thuộc Chương trình 135, trong khi các xã khác lấy ngân sách từ tỉnh, huyện hoặc xã Cho tới nay, còn nhiều địa phương chưa thực hiện được định mức này do ngân sách địa phương không cân đối được thu chi Đến nay, toàn quốc mới có khoảng 80% số Trạm y tế xã được UBND xã đầu tư ngân sách cho hoạt động y tế, cao nhất là vùng Đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung Bộ khoảng 90%, các vùng khác chỉ khoảng 60% [28]

Ngân sách của Trạm y tế chủ yếu dành cho việc trả lương và phụ cấp (68%) Chi phí thường xuyên như bông, băng, cồn, điện, nước một phần là từ ngân sách cấp trên và được ngân sách xã bổ sung Khoảng 55% các Trạm y tế

xã có mức chi ngoài lương một năm dưới mức quy định (10 triệu đồng) [28]

1.3.3 Hoạt động của y tế cơ sở

1.3.3.1 Công tác khám, chữa bệnh ban đầu

Mạng lưới y tế cơ sở hoạt động rất tích cực về cả y tế dự phòng và điều trị Trong tổng số lượt người dân tiếp cận ngoại trú Trạm Y tế, gần 40% lượt người liên quan đến tiêm chủng hoặc y tế dự phòng, trên 40% liên quan đến điều trị bệnh của người 6 tuổi trở lên, gần 15% liên quan đến chăm sóc thai sản và điều trị trẻ em dưới 6 tuổi bao gồm phục hồi chức năng, kiểm tra sức khỏe và những dịch vụ khác Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nhà nước thì y tế huyện, xã là nơi đầu tiên người dân có thể tiếp cận khi ốm đau Trong nhiều năm qua công tác khám, chữa bệnh ở tuyến huyện, xã được thực hiện khá tốt, giải quyết một phần gánh nặng cho tuyến trên và đã đem lại hiệu quả cao trong việc đẩy lùi bệnh tật, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, đồng thời mạng lưới y tế tuyến huyện, xã cũng tạo điều kiện giảm chi phí khi ốm đau, đặc biệt là đối với người nghèo Các Trạm y tế xã cũng đã chuyển hướng hoạt động, ngoài công tác khám chữa bệnh tại trạm còn chăm sóc sức khỏe tại gia đình Song mạng lưới này còn hạn chế cả về số lượng, chất lượng cán bộ,

Trang 25

cơ sở vật chất, và giá cả dịch vụ Mặt khác, điều kiện kinh tế - xã hội ngày một phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng lên, một bộ phận có thu nhập cao hơn sẵn sàng đến những cơ sở có kỹ thuật cao ở tuyến trên để khám và chữa bệnh, gây nên tình trạng quá tải ở tuyến trên và làm giảm hiệu quả hoạt động của y tế cơ sở

Hàng năm, theo kết quả kết quả điều tra về y tế giữa Bộ Y tế và Tổng cục thống kê ước tính có 20,5 triệu lượt người khám chữa bệnh ngoại trú tại các loại cơ sở y tế, người dân càng ngày càng có cơ hội lựa chọn nơi điều trị ngoại trú Ở thành thị dưới 10% tổng số lượt khám chữa bệnh ngoại trú ở Trạm y tế và phòng khám đa khoa khu vực, trong khi đó ở nông thôn đồng bằng là 20% và ở nông thôn miền núi là 35% Phòng khám tây y tư nhân chiếm tỷ lệ lớn nhất các lượt điều trị ngoại trú ở ba vùng, khoảng 53% ở thành thị và nông thôn đồng bằng và 37% ở nông thôn miền núi Ở thành thị, bệnh viện có khoảng 25% tổng số lượt điều trị ngoại trú so với 13% đến 14% ở nông thôn Tỷ lệ lượt điều trị tại cơ sở khác, chủ yếu là phòng mạch YHCT, chiếm từ 12 đến 15% tổng số lượt điều trị ngoại trú ở cả 3 vùng Điều này cho thấy tầm quan trọng của TYT đối với KCB ngoại trú ở nông thôn miền núi, tại tất cả các vùng, kể cả miền núi, nhiều người dân sử dụng phòng khám tây

y tư nhân khi có nhu cầu KCB [28]

Bệnh nhân đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh ban đầu không khác nhau nhiều về cơ cấu giới với khoảng 60% lượt điều trị ngoại trú là nữ giới Tỷ lệ lượt điều trị của người 6 –14 tuổi và từ 60 tuổi trở lên cũng tương đối giống nhau, nhưng Trạm y tế và y tế tư nhân gặp nhiều bệnh nhân nhi khoa hơn PKĐKKV và bệnh viện huyện Bệnh nhân đến cơ sở đông y tư nhân lớn tuổi hơn các loại cơ sở khác, chỉ có 13% bệnh nhân dưới 15 tuổi và 22% từ 60 tuổi trở lên so với 33% dân số dưới 15 tuổi và 8% dân số từ 60 tuổi trở lên

Trang 26

Bảng 1.5 Cơ cấu giới và tuổi của bệnh nhân điều trị ngoại trú

theo loại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu so với dân số cả nước

Giới, tuổi TYT PKKV

tế trường học và nha học đường, chương trình kết hợp Quân Dân y cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác y tế dự phòng, phát hiện sớm các bệnh tật trong học đường và công tác dự phòng ở vùng sâu, vùng xa Hàng năm, Trạm

y tế ngoài khám chữa bệnh, khám thai, đỡ đẻ, có dành tỷ lệ lớn thời gian cho việc thực hiện nhiều chương trình y tế có tính chất y tế dự phòng

Trang 27

Bảng 1.6 Tỷ lệ các Trạm y tế xã, phường thực hiện một số chương trình y tế dự phòng chủ yếu, 2001–2002

Nguồn: Niên giám thống kê [28]

Về tình hình đạt chuẩn quốc gia về y tế xã : Số xã đạt chuẩn quốc gia về

y tế xã còn thấp Đến hết năm 2006, cả nước chỉ có 45% số xã đạt chuẩn [25] Khu vực miền núi, vùng cao, vùng sâu gặp nhiều khó khăn trong việc đạt chuẩn quốc gia hơn đồng bằng Báo cáo chuyên đề về thực trạng các mục tiêu

y tế Quốc gia được tiến hành dựa vào số liệu từ 2001–2002 đã đánh giá sơ bộ

về tình hình thực hiện từng chuẩn quốc gia về y tế xã [25] Tại thời điểm đó, tình trạng đối với từng tiêu chuẩn như sau:

Chuẩn 1: Xã hội hóa chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân và công tác truyền thông giáo dục sức khỏe

Ban chăm sóc sức khỏe ban đầu được thành lập tại hầu hết các xã trong toàn quốc trừ Tây Nguyên và Đông Bắc

Chưa thực hiện được cộng đồng gây quỹ y tế ở tất cả các vùng

Trang 28

Tỷ lệ xã có loa phát thanh còn rất thấp ở miền núi phía Bắc và nông thôn miền Trung

Tỷ lệ xã có nhân viên y tế làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khỏe ở vùng Tây Bắc còn thấp

Hầu hết các thôn, bản có nhân viên y tế thôn bản hoạt động

Tỷ lệ hộ được tuyên truyền kiến thức chăm sóc trẻ em được thực hiện ở hầu hết các xã

Chuẩn 2: Vệ sinh phòng bệnh

Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch và hố xí hợp vệ sinh ở nông thôn hiện còn xa với chuẩn cho năm 2010

Chuẩn 3: Khám chữa bệnh và phục hồi chức năng

Đào tạo chuyên môn, kỹ năng cho cán bộ Trạm y tế xã và thực hiện phục hồi chức năng tại cộng đồng hiện còn xa để đạt chuẩn vào năm 2010

Chuẩn 4: Y học cổ truyền

Việc trồng cây thuốc nam hiện còn xa với chuẩn vào năm 2010, đặc biệt ở khu vực thành thị Tỷ lệ khám chữa bệnh theo phương pháp y học dân tộc cổ truyền còn rất thấp

Chuẩn 5: Chăm sóc sức khỏe trẻ em

Chăm sóc sức khỏe trẻ em đang thực hiện tốt, tiềm năng cao, đạt chuẩn trước năm 2010

Chuẩn 6: Chăm sóc sức khỏe sinh sản

Ở các vùng ven biển, đông bằng, trung du và núi thấp có thể thực hiện được chuẩn này Riêng vùng núi cao khó có thể thực hiện

Chuẩn 7: Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị

Khoảng 57% các Trạm y tế được xây kiến cố, 40% bán kiến cố Chỉ 52% có thuê bao điện thoại trực tiếp Trên 90% các cơ sở y tế có ống nghe, huyết áp kế, nhiệt kế và bơm, kim tiêm

Trang 29

Chuẩn 8: Nhân lực và chế độ chính sách

Khả năng đạt được chuẩn trước năm 2010, trừ hai chức danh là cán bộ chuyên trách về y học cổ truyền và dược sĩ, dược tá khó có thể đạt chuẩn vào năm 2010

Khó có thể đạt tiêu chuẩn về đào tạo y tế thôn bản ở hầu hết các vùng

Chuẩn 9: Kế hoạch và tài chính cho Trạm Y tế

Việc UBND xã hỗ trợ kinh phí cho Trạm y tế xã khó có thể đạt chuẩn vào năm 2010 ở các vùng Đông Bắc, Tây Bắc

Chuẩn 10: Thuốc thiết yếu và sử dụng thuốc an toàn hợp lý

Khó có thể đạt chuẩn là Trạm y tế có quầy bán thuốc; và ở vùng Tây Bắc, khó đạt chuẩn là các xã có danh mục thuốc thiết yếu

Việc đạt được 10 chuẩn quốc gia về y tế xã nhìn chung có nhiều khó khăn Một mặt do điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các vùng khác nhau nên sự tác động và tạo điều kiện, đầu tư để y tế xã đạt được 10 chuẩn cũng khác nhau Mặt khác do sự phân bố, cơ cấu cán bộ hiện tại cũng chưa hợp lý, ý thức tham gia và trách nhiệm của cộng đồng cũng còn hạn chế nên sau hơn 2 năm triển khai kết quả đạt được chưa cao, có nơi còn rất thấp

Do vậy, Nhà nước và chính quyền địa phương các cấp cần chú trọng hơn nữa đến việc đầu tư cho y tế và môi trường Ngành Y tế đang xem xét điều chỉnh các chỉ tiêu để phù hợp với tình hình hiện tại giữa các vùng, các khu vực, cần có chính sách cụ thể rõ ràng, các cấp chính quyền, đoàn thể phải thực

sự quan tâm, phối hợp với ngành y tế để thực hiện chuẩn quốc gia về y tế xã

1.4 Một số khó khăn và giải pháp cho y tế cơ sở hiện nay ở Việt Nam

Các thách thức lớn nhất cho y tế cơ sở là nhân lực y tế mà ngành Y tế Việt Nam đang phải đương đầu bao gồm thiếu về số lượng cán bộ, phân bố không đều về địa dư cũng như ngành nghề, yếu về trình độ chuyên môn Cơ

Trang 30

sở vật chất thiếu thốn, không đồng bộ Chức năng quản lý nhà nước còn chồng chéo, không phát huy tính tự chủ Lương, phụ cấp nghề nghiệp còn hạn chế, chưa đảm bảo đời sống cho CBYT, đặc biệt ở vùng núi, vùng sâu, vùng

xa Để phát triển nguồn nhân lực y tế cơ sở chúng ta cần có giải pháp và lộ trình phù hợp, gắn chính sách và hành động Quản lý nhân lực y tế đóng vai trò quan trọng chiến lược phát triển ngành Y tế nói chung và mỗi cơ sở y tế nói riêng Các định hướng và chính sách của Đảng, Nhà nước, ngành về phát triển nhân lực y tế như:

1.4.1 Các văn bản chỉ đạo quan trọng định hướng cho ngành y tế xây dựng

kế hoạch, chiến lược, chính sách y tế, trong đó có về nhân lực y tế

Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 06-CT/TW (2002) về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/5/2005 về công tác bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân trong tình hình mới Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 [14]

1.4.2 Chính sách quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về bộ máy

tổ chức và biên chế

Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập

Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ

về hớng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở Y tế Nhà nước Thông tư liên tịch số 02/2008 TTLT/BYT-BNV hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/NĐ-CP

Trang 31

1.4.3.Các chính sách quy định về thi tuyển công chức

Quyết định số 49/2005/QĐ-BYT và Quyết định số 32/2006/QĐ-BYT về việc thi tuyển viên chức Y tế

1.4.4 Các chính sách về đào tạo phát triển nguồn lực trong các cơ sở y tế

Thông tư số 09/2008/TT-BYT về việc kết hợp giữa các cơ sở đào tạo với các bệnh viện thực hành trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học

Thông tư số 06/2008/TT-BYT về hướng dẫn tuyển sinh đào tạo liên thông trình độ đại học, cao đẳng y, dược

Chỉ thị số 06/2006/CT-BYT về việc đảm bảo chất lượng đào tạo nhân lực y tế

Quyết định 1816/QĐ-BYT, ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt đề án cử cán bộ luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao trình độ cán bộ y tế tuyến dưới thông qua đào tạo tại chỗ

1.4.5 Các chính sách nhằm duy trì nguồn nhân lực tại các cơ sở y tế

Quyết định số 182/QĐ-TTg ngày 15/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ

về việc tính thời gian công tác để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán

bộ y tế xã phường, thị trấn

Thông tư liên tịch số 02/TTLT/BYT/BNVC/BTC, ngày 23/01/2006 của

Bộ Y tế, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Quyết định số 276/2005/QĐ-TTg ngày 01/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế

độ phụ cấp ưu đãi nghề đối với cán bộ, viên chức tại các cơ sở y tế Nhà nước Thông tư số 01/TT-BYT ngày 22/01/2008 của Bộ Y tế về hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng trong ngành Y tế

Nghị định số 64/2009/NĐ-CP ngày 30/7/2009 của Chính phủ về chính sách đối với cán bộ, viên chức y tế công tác ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn

Trang 32

1.5 Tình hình y tế cơ sở tỉnh Tuyên Quang

Trước năm 1990, y tế cơ sở chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, hoạt động y tế còn nhiều yếu kém Tuyến huyện, thị cơ sở vật chất xuống cấp, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ điều trị bệnh nhân Tuyến xã cơ sở nhà trạm bằng tranh, tre, nứa, lá, thiếu thuốc, thiếu trang thiết bị, trong tỉnh vẫn còn xã trắng

về y tế Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về “Một số vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân”, công tác chăm sóc sức

khoẻ nhân dân nói chung và củng cố mạng lưới y tế cơ sở nói riêng đã được tỉnh quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo trên tất cả các mặt từ đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị đến đào tạo và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ y tế cơ sở Sau hơn 10 năm nỗ lực phấn đấu, tỉnh Tuyên Quang

đã đào tạo được trên 1.000 cán bộ y tế, đào tạo lại cho 1.500 lượt cán bộ y tế huyện, xã; cán bộ y tế được hưởng lương theo ngạch bậc, nhân viên y tế thôn bản được hưởng phụ cấp theo quy định của Nhà nước Tuyên Quang đã xóa được xã trắng về y tế, bình quân trên 4 cán bộ/1 Trạm y tế, 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động [29] Đội ngũ cán bộ y tế tỉnh Tuyên Quang trong những năm qua không ngừng được củng cố, về cơ bản đủ về số lượng nhưng chất lượng còn hạn chế so với yêu cầu, thiếu bác sỹ giỏi, bác sỹ chuyên khoa,

cơ cấu chưa hợp lý, trình độ quản lý điều hành của cán bộ quản lý còn nhiều bất cập Đến năm 2010: 73 % Trạm y tế xã có bác sỹ (biên chế tại trạm là 06 cán bộ), 100% cán bộ y tế xã có trình độ từ trung cấp trở lên

Tuyên Quang có Kế hoạch số 30/KH-TU, ngày 18/02/2003 về “Củng cố

và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở” của tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2001 -

2010 Trong đã xây dựng mục tiêu cụ thể đến năm 2010 để đạt chiến lược CSSKND do ngành Y tế đề ra [55]

Từ năm 2006, Trung tâm Y tế các huyện của tỉnh Tuyên Quang lần lượt chia tách thành 3 đơn vị Sau khi chia tách Trung tâm Y tế, hầu hết Ban giám

Trang 33

đốc về Bệnh viện, cơ sở vật chất do Bệnh viện đa khoa quản lý, phụ trách các khoa phòng đa số ở lại bệnh viện cho nên bệnh viện ít bị xáo trộn hơn cả và đi vào hoạt động tương đối thuận lợi Phòng Y tế với số cán bộ từ 3 - 5 người, nơi làm việc tùy thuộc vào khả năng đáp ứng của từng huyện, phần lớn làm việc tại UBND huyện Trung tâm Y tế dự phòng huyện với số lượng từ 25 -

30 cán bộ, chủ yếu là cán bộ đội vệ sinh phòng dịch, đội bảo vệ sức khỏe bà

mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình, đội phòng chống bệnh xã hội Số lượng bác sỹ ở các Trung tâm Y tế rất ít, bình quân mỗi Trung tâm Y tế huyện thị có

4 bác sỹ, cá biệt có 1 Trung tâm Y tế huyện chỉ có duy nhất 2 bác sỹ làm giám đốc và phó giám đốc, cán bộ quản lý khác và nhân viên đều không có trình độ đại học Trạm y tế xã được chia tách cùng với Phòng Y tế, do Phòng Y tế quản lý, đến quý IV năm 2008, Trạm y tế được bàn giao về Trung tâm Y tế quản lý theo Quyết định của UBND tỉnh Tuyên Quang

Mạng lưới y tế cơ sở của tỉnh Tuyên Quang nói chung và của thành phố Tuyên Quang nói riêng trong 02 năm gần đây từ khi chuyển về ngành quản lý

đã nhận được sự quan tâm của cấp ủy chính quyền địa phương và các ban ngành đoàn thể trong thành phố; đặc biệt có sự quan tâm chỉ đạo của Sở Y tế

và các Trung tâm, Bệnh viện trong tỉnh Hệ thống y tế tại cơ sở không ngừng được củng cố về mọi mặt cụ thể như: Đã đào tạo và đào tạo lại cho 132 Trạm trưởng Trạm y tế về công tác quản lý, chuyên môn và đào tạo lại cho các cán

bộ công tác tại Trạm Y tế, đào tạo 50 nhân viên y tế thôn bản trình độ 3 tháng, biên chế cán bộ tại các Trạm y tế đã đủ theo quy định 06 cán bộ/trạm, trang thiết bị được cung cấp tương đối đầy đủ cho các Trạm y tế hoạt động, cơ sở nhà làm việc được sửa chữa nâng cấp 4/13 trạm Tuy nhiên theo tiêu chí mới

về chuẩn quốc gia về y tế xã, phường thì y tế cơ sở còn nhiều thiếu thốn từ cơ

sở vật chất, trang thiết bị, cơ cấu cán bộ

Trang 34

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cán bộ Phòng Tổ chức và Phòng KHTC Sở Y tế tỉnh Tuyên Quang

- Cán bộ lãnh đạo Phòng Y tế Thành phố Tuyên Quang

- Cán bộ lãnh đạo TTYT Thành phố Tuyên Quang

- Cán bộ Trung tâm DS - KHHGD Thành phố Tuyên Quang

- Cán bộ Trạm y tế xã thuộc Thành phố Tuyên Quang

- Sổ sách, báo cáo lưu về nguồn lực và hoạt động của các đơn vị y tế tuyến thµnh phè năm 2008 - 2010; các văn bản về tổ chức bộ máy, hoạt động của y tế tuyến huyện, xã của Trung ương, tỉnh Tuyên Quang và Thành phố Tuyên Quang

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến 12 năm 2011

- Địa điểm: tại Thành phố Tuyên Quang

Thành phố Tuyên Quang là một huyện lỵ thuộc tỉnh Tuyên Quang, tổng diện tích đất tự nhiên của toàn thành phố là 90,75 km2

Hiện nay Thành phố

có 13 đơn vị hành chính, trong đó có 07 phường và 06 xã (trước tháng 12 năm

2008 có 07 đơn vị Từ 01 tháng 01 năm 2009 UBND tỉnh Tuyên Quang trình Chính phủ sát nhập 05 xã thuộc huyện Yên Sơn về Thành phố) Dân số của toàn thành phố tính đến 31/12/2010 là 99.641 người với 22 dân tộc, 26.557

hộ Dân tộc Kinh chiếm đa số: 80.677 người, chiếm 80,96%, Dân tộc Tày 4.113 người (chiếm 4,12%), dân tộc Nùng 860 người (chiếm 0,86%), còn lại

là các dân tộc khác Mật độ dân số trung bình 1.098 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,95% Đường giao thông đến các xã, phường thuận lợi, 100% số xã, phường trong thành phố đã có điện lưới Quốc gia, sóng điện

Trang 35

thoại di động đã phủ các xã, phường Thµnh phè đã đạt phổ cập giáo dục TiÓu häc, Trung học cơ sở Tuy nhiên, kinh tế phát triển không đồng đều giữa các vùng, tỷ lệ hộ đói nghèo theo chuẩn đói nghèo mới còn khá cao chiếm 20,8% tổng số hộ trong toàn thµnh phè; trình độ dân trí ở các xã còn thấp Tốc độ tăng trưởng bình quân: 6,5% Thu nhập bình quân đầu người: 11 triệu đồng/năm

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng

và định tính, hồi cứu số liệu năm 2008 – 2010

2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

- Cỡ mẫu cho định lượng: điều tra thực trạng hoạt động Y tế Thành phố Chúng tôi chọn toàn bộ cán bộ của Phòng Y tế, TTYT, Trung tâm Dân

số - KHHGD và Trạm y tế tuyến xã thuộc Thành phố Tuyên Quang

- Cỡ mẫu cho định tính: Thảo luận nhóm với 13 cán bộ y tế: Sở Y tế 02 người, Phòng Y tế huyện 02 người, Trung tâm Y tế huyện 02 người, Trung tâm

DS - KHHGĐ huyện 02 người, Trạm trưởng Trạm y tế xã 05 người

Các cuộc thảo luận nhóm nhỏ nhằm phân tích các khía cạnh về thực trạng, bất cập và xây dựng kế hoạch chiến lược

- Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích

2.3.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu:

* Nhân lực y tế Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010

+ Nhân lực y tế chung toàn Thành phố

Trang 36

- Tỷ lệ bác sỹ/CB chuyên ngành y có trình độ trung cấp

- Tỷ lệ cán bộ y tế trong biên chế/10.000 dân

+ Nhân lực y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước

+ Nhân lực Trung tâm y tế thành phố thực hiện chức năng phòng bệnh

- Nhân lực y tế thực hiện chức năng phòng bệnh

- Số cộng tác viên dân số/ tổng số thôn, bản

Trang 37

- Tỷ lệ cán bộ và cộng tác viên làm công tác dân số/10.000 dân

+ Nhân lực y tế tuyến xã Thành phố Tuyên Quang

- Số cán bộ trong biên chế y tế tuyến xã

- Tổng số nhân viên y tế thôn bản/ tổng số thôn, bản

* Thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ hoạt động của các đơn vị y tế Thành phố 3 năm 2008 - 2010

- Tình hình cơ sở vật chất của các đơn vị y tế

- Trang thiết bị của Phòng Y tế

- Trang thiết bị của Trung tâm Y tế

- Trang thiết bị của Trung tâm DS-KHHGĐ

- Nhà trạm của y tế tuyến xã

- Trang thiết bị của y tế tuyến xã

* Tài chính Trung tâm Y tế Thành phố Tuyên Quang

- Phân bổ kinh phí cho các đơn vị y tế Thành phố Tuyên Quang

* Kết quả hoạt động của hệ thống y tế Thành phố Tuyên Quang 3 năm 2008 - 2010

- Công tác quản lý Nhà nước

- Tình hình dịch bệnh tại Thành phố Tuyên Quang

- Kết quả chương trình tiêm chủng mở rộng

- Kết quả chương trình phòng chống sốt rét

- Kết quả chương trình phòng chống bướu cổ

- Kết quả chương trình phòng chống HIV/AIDS và cai nghiện ma tuý

- Kết quả chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm

- Kết quả chương trình sức khoẻ môi trường

- Kết quả hoạt động khám chữa bệnh của các Trạm y tế xã

- Kết quả một số chỉ tiêu về dân số

- Kết quả một số chỉ tiêu về KHHGĐ

Trang 38

* Nhóm chỉ số về các yếu tố ảnh hưởng đến nhân lực của Trạm y tế xã tại tỉnh Tuyên Quang

- Tình hình dịch chuyển nhân lực Trạm y tế qua các năm từ 2008-2010

- Thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc, chế độ đãi ngộ, thu nhập thấp, cơ hội học tập, điều kiện kinh tế văn hóa xã hội, xa gia đình

- Năng lực quản lý của trưởng Trạm y tế

- Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế

- Trình độ quản lý nhà nước

- Đào tạo, tập huấn

- Chế độ lương, điều kiện sống

- Năng lực cán bộ y tế thông qua chỉ số sức khỏe

- Số cán bộ y tế làm trái chuyên môn đào tạo (y sỹ làm dược sỹ, y sỹ đa khoa làm y sỹ YHCT, nha khoa, nữ hộ sinh )

- Trạm y tế có cơ cấu đảm bảo quy định: Theo Quyết định BYT ngày 22/9/2011 của Bộ Y tế về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về y

3447/QĐ-tế xã giai đoạn 2011-2020

2.3.4 Định nghĩa khái niệm

- Tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động (thôn, bản, ấp, tổ dân phố, làng gọi chung là thôn, bản): Là số thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động tính trên 100 thôn, bản của một khu vực tại thời điểm báo cáo

- Trung bình cán bộ y tế/1 Trạm y tế xã

+ Đủ cán bộ y tế theo định mức biên chế: Thực hiện theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 của Bộ Y tế - Bộ Nội vụ Biên chế tối thiểu của 1 Trạm y tế xã là 5 biên chế

+ Đối với xã miền núi, hải đảo trên 5.000 dân: Tăng 1.000 dân thì tăng thêm 1 biên chế; tối đa không quá 10 biên chế/trạm

Trang 39

+ Đối với xã đồng bằng, trung du trên 6.000 dân: Tăng 1.500 đến 2.000 dân thì tăng thêm 1 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm

+ Đối với Trạm y tế phường, thị trấn trên 8.000 dân: Tăng 2.000 đến 3.000 dân thì tăng thêm 1 biên chế cho trạm; tối đa không quá 10 biên chế/1 trạm

+ Các phường, thị trấn và những xã có các cơ sở khám, chữa bệnh đóng trên địa bàn: bố trí tối đa 5 biên chế/1 trạm

+ Hệ số điều chỉnh theo vùng địa lý: Vùng đồng bằng và trung du: hệ

số 1; miền núi, vùng sâu,xa vùng đồng bằng sông Hồng: hệ số 1,2; vùng cao, hải đảo: hệ số 1,3

+ Cơ cấu nhân lực có đủ 5 nhóm chức danh chuyên môn: i) bác sỹ; ii) y

sỹ (đa khoa/YDCT/sản nhi); iii) hộ sinh trung cấp; iv) điều dưỡng trung cấp; v) dược sỹ trung cấp (đối với miền núi có thể là dược sỹ sơ cấp, có thể chuyên trách hoặc kiêm nhiệm)

- Tỷ lệ cán bộ y tế xã trong biên chế/ 10.000 dân

- Trạm y tế cơ sở: Tổ chức y tế cơ sở trên địa bàn xã, phường, thị trấn (gọi chung là Trạm y tế cơ sở) là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nước, có nhiệm vụ thực hiện các dịch

vụ kỹ thuật chăm sóc sức khỏe ban đầu, phát hiện dịch sớm và phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu và đỡ đẻ thông thường cung ứng thuốc thiết yếu, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, tăng cường sức khỏe

- Nhân lực y tế tuyến xã theo trình độ chuyên môn: Là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế tại thời điểm báo cáo phân theo trình độ chuyên môn (sau đại học, đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp )

Trang 40

Đối với các cơ sở y tế nhà nước bao gồm biên chế và hợp đồng phân theo trình độ chuyên môn, theo dân số

+ Tỷ lệ Bác sỹ trên 10000 dân: Là số bác sỹ có trình độ đại học trở lên hiện đang công tác trong lĩnh vực y tế phục vụ cho 10000 dân của một khu vực trong thời điểm báo cáo

+ Tỷ lệ Dược sỹ đại học trên 10000 dân: Dược sỹ phục vụ dân là số dược sỹ có trình độ đại học trở lên tính trên 10000 dân hoặc một dược sỹ đại học phục vụ bao nhiêu dân

- Tỷ lệ Trạm y tế xã có điều dưỡng viên trung cấp (xã, phường, thị trấn gọi chung là xã): Là số Trạm y tế có điều dưỡng viên trung cấp tính trên 13 Trạm y tế xã tại thời điểm báo cáo

- Tỷ lệ Trạm y tế xã có y sỹ y học cổ truyền (xã, phường, thị trấn gọi chung là xã): Là số Trạm y tế có y sỹ y học cổ truyền tính trên 13 Trạm y tế

xã tại thời điểm báo cáo

- Tỷ lệ Trạm y tế xã đảm bảo cơ cấu cán bộ theo quy định: Là số Trạm y

tế đạt được tiêu chuẩn mục B chuẩn VIII về nhân lực theo 10 chuẩn quốc gia

về y tế xã tính trên 13 Trạm y tế xã tại thời điểm báo cáo (theo 10 chuẩn quốc gia về y tế xã tại Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 7 tháng 2 năm 2002)

- Thực trạng cơ cấu cán bộ các tại các Trạm y tế xã: đủ, thiếu, kiêm nhiệm

Ngày đăng: 19/03/2021, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w