1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tổ chức hoạt động của nhân viên y tế thôn bản tỉnh bắc kạn và đề xuất giải pháp đến năm 2015

77 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân viên y tế thôn, bản có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân tại chính thôn bản mình.. Ngoài các nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, thực

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI NGUYÊN

NÔNG MINH DŨNG

THỰC TRẠNG, TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN TỈNH BẮC KẠN VÀ

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhân viên y tế thôn, bản là những nhân viên y tế làm việc tại thôn, bản,

họ trực tiếp sinh sống và lao động sản xuất cùng với người dân và là “cánh

tay vươn dài” của trạm y tế xã Nhân viên y tế thôn, bản có nhiệm vụ tổ chức

thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân tại chính thôn bản mình Ngoài các nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, thực hiện các hoạt động chuyên môn, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình, sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường, họ còn phải hướng dẫn người dân trong thôn, bản trồng và sử dụng thuốc nam, quản lý và sử dụng túi

y tế thôn, bản, đồng thời thường xuyên ghi chép, báo cáo, giao ban với trạm y

tế xã cũng như học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ [10], [11] Thông qua Nhân viên y tế thôn, bản mà mọi người dân được tiếp cận với hệ thống dịch vụ y tế sớm nhất, ngược lại họ cũng là những người cung cấp, phổ biến các loại hình dịch vụ y tế đến tận người dân một cách hiệu quả nhất Qua

đó người dân được hưởng quyền lợi chăm sóc sức khoẻ thường xuyên có hiệu quả, ngay tại nhà, thuận lợi, không phải đi xa, phát hiện sớm bệnh tật, ít tốn kém, phù hợp với khả năng kinh tế của người dân Cùng với việc chăm sóc những người ốm đau bệnh tật, sơ cấp cứu, cung ứng những thuốc thông thường nhất cho người dân, y tế thôn, bản còn tổ chức truyền thông giáo dục sức khoẻ theo các chương trình mục tiêu của y tế như: Vệ sinh cá nhân, vệ sinh gia đình, vệ sinh thôn bản, phòng chống mù loà, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống sốt rét [1], [8]

Nhận thức được tầm quan trọng của Nhân viên y tế thôn, bản trong mạng lưới hệ thống y tế quốc gia, Bộ Y tế đã có chỉ thị về tổ chức mạng lưới

y tế thôn bản [11], [19], [25], theo đó mỗi thôn bản được tuyển chọn một Nhân viên y tế thôn, bản có đủ trình độ và năng lực để phục vụ chính bà con ngay tại thôn bản mình, được học tập chuyên môn nghiệp vụ

Trang 3

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi, nền kinh tế phát triển còn chậm Mặc dù dân số chỉ có 294.660 người, với 122 xã phường, 1.401 thôn bản, chủ yếu miền núi, vùng cao, vùng sâu xa, dân thưa thớt, nhưng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nói chung và hoạt động của Nhân viên y tế thôn, bản nói riêng còn gặp rất nhiều khó khăn Hiện tại mỗi thôn (bản) của tỉnh Bắc Kạn đều có một Nhân viên y tế thôn, bản đang hoạt động Họ đều đã được đào tạo chuyên môn với đa phần là Y tá sơ học 9 tháng, số ít còn lại cũng đã qua 3 tháng tập huấn [7] Đây là một đội ngũ nhân viên y tế trực tiếp tiếp cận và thực hiện công tác chăm lo chăm sóc sức khỏe cho người dân, họ là những người đầu tiên tiếp cận với bệnh nhân và đóng góp không nhỏ trong công tác phòng chống bệnh tật cũng như tư vấn, xử trí ban đầu, chữa bệnh thông thường cho người dân ngay tại thôn (bản) họ sinh sống Tuy nhiên, để thấy được thực trạng tổ chức và hoạt động của đội ngũ NVYTTB ở Bắc Kạn hiện nay ra sao? Họ đang gặp những khó khăn, thách thức nào và giải pháp nào nâng cao hiệu quả công tác quản lý, tổ chức cho đội ngũ Nhân viên y tế thôn bản để từ đó góp phần đảm bảo chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ)

Năm 1978, Hội nghị Quốc tế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu họp tại

Alma Ata đã đề ra chiến lược toàn cầu “Sức khoẻ cho mọi nhà vào năm 2000”

và xác định chăm sóc sức khoẻ ban đầu là chìa khoá để mang lại sức khoẻ cho

mọi người CSSKBĐ được định nghĩa như sau: “CSSKBĐ là những chăm sóc

thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, có thể phổ biến rộng rãi tới các cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia đầy đủ của họ với chi phí mà cộng đồng và nước đó có thể chấp nhận được để duy trì hoạt động chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ở mọi giai đoạn phát triển trên tinh thần tự nguyện, tự giác” [43] CSSKBĐ là một

hệ thống quan điểm với 7 nguyên tắc: Công bằng, Phát triển, Tự lực, Kỹ thuật phù hợp, Dự phòng thích hợp, Hoạt động liên ngành và Cộng đồng tham gia CSSKBĐ bao gồm 8 nội dung như sau:

1 Giáo dục sức khoẻ (GDSK)

2 Cải thiện điều kiện dinh dưỡng - ăn uống

3 Cung cấp nước sạch - Thanh khiết môi trường

4 Bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hoá gia đình (BVSKBMTE -KHHGĐ)

5 Tiêm chủng mở rộng (TCMR)

6 Phòng và chống bệnh dịch lưu hành

7 Khám chữa bệnh và thương tích thông thường

8 Cung cấp thuốc thiết yếu

Nội dung CSSKBĐ tại Việt Nam gồm 8 nội dung trên và bổ sung thêm 2 nội dung có tính đặc thù đó là:

- Củng cố màng lưới y tế cơ sở

- Quản lý sức khoẻ

Trang 5

Các nội dung CSSKBĐ đều được triển khai thực hiện tại cộng đồng Tuỳ theo từng nước, từng mô hình sức khoẻ và bệnh tật để chọn thứ tự ưu tiên cho thích hợp Ở Thái Lan người ta đã gắn 8 nội dung CSSKBĐ của Alma Ata vào nhu cầu cơ bản, tối thiểu về CSSK của mỗi người dân và cộng đồng [35]

Theo các nhà nghiên cứu cộng đồng trên thế giới, muốn thực hiện được CSSKBĐ cần phải có chính sách Y tế đúng đắn, phải có tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá phù hợp Trong chiến lược sức khỏe của hầu hết các nước trên thế giới, CSSKBĐ được đặt ra hàng đầu, giải quyết mọi khó khăn để đạt được mục đích Về mặt tổ chức hoạt động CSSKBĐ, trên thế giới hầu hết các nước rất chú ý quan tâm, phát triển tổ chức Y tế tuyến huyện, ở nhiều nước đây là tuyến thực hiện CSSKBĐ Trong CSSKBĐ công tác y học dự phòng được nhiều nước trên thế giới rất quan tâm, đặc biệt là các nước đang phát triển Vệ sinh môi trường (VSMT) là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong công tác y học dự phòng, vấn đề này được tuyên truyền cho nhân dân một cách sâu rộng như tuyên truyền vệ sinh cá nhân người mẹ trong việc góp phần làm giảm tỉ lệ trẻ bị tiêu chảy, rửa tay trước khi ăn phòng bệnh tiêu chảy, giáo dục cho trẻ

em tuổi học đường về thái độ, hành vi đối với vệ sinh cá nhân Trong VSMT, việc cung cấp đủ nước sạch cho sinh hoạt là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều quốc gia Thanh toán nguồn nước không vệ sinh là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia châu Phi, châu Á để làm giảm tỉ lệ chết trẻ em do bị tiêu chảy [61] Nguồn nước còn là một tiêu chuẩn đánh giá tình hình Y tế quốc gia Ngoài ra, muốn đánh giá tình trạng vệ sinh của một cộng đồng, cần phải có những tiêu chuẩn phù hợp với nó [2]

Trong CSSKBĐ thì công tác chăm sóc sức khoẻ cho các bà mẹ đặc biệt

là những bà mẹ có thai là hết sức quan trọng Người phụ nữ cần được khám thai, tiêm phòng uốn ván thường xuyên và cung cấp dinh dưỡng đầy đủ Việc phòng chống các bệnh dịch lưu hành như các bệnh nhiễm trùng, sốt rét cũng

là những vấn đề cần quan tâm [21], [61]

Trang 6

1 2 Thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn bản 1.2.1 Mô hình Nhân viên y tế thôn bản ở một số nước trên thế giới

(Trích dẫn từ [28])

Mô hình xây dựng đội ngũ nhân viên Y tế cộng đồng được chú ý ở nhiều nước Đội ngũ này sẽ đóng góp thoả đáng vào công tác CSSKBĐ ở cộng đồng Thúc đẩy sự phát triển sức khoẻ, văn hoá, xã hội ở cộng đồng Đội ngũ này hoạt động như một đầu mối quan trọng để nối liền cộng đồng với hệ thống Y tế

Ở Thái Lan đã xây dựng 2 loại nhân viên Y tế cộng đồng đó là: Thông tin viên Y tế và nhân viên Y tế tình nguyện thôn bản Thông tin viên được đào tạo bồi dưỡng kiến thức để họ có thể tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho 1 nhóm 10 - 15 hộ gia đình Cứ 10 thông tin viên Y tế có một nhân viên Y tế tình nguyện, những nhân viên Y tế này được đào tạo tốt hơn, trách nhiệm cao hơn trong việc cải thiện sức khoẻ, phòng bệnh và giải quyết một số bệnh đơn giản Thái Lan có 42.325 nhân viên Y tế tình nguyện và 434.803 thông tin viên Y tế, 95% số làng bản có đội ngũ này (trích dẫn từ[28])

Tại Nê Pan, người ta xây dựng đội ngũ nhân viên y tế thôn bản làm đầu mối quan trọng giữa các trung tâm y tế và cộng đồng Nhân viên y tế thôn bản thường sống xa Trung tâm y tế Dưới sự phân công của của trạm y tế, nhân viên này có nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người dân tại cộng đồng, không có nhiệm vụ điều trị người bệnh mà chủ yếu vận chuyển người bệnh đến Trung tâm y tế Hàng tháng nhân viên y tế đến Trung tâm y tế vài ngày để báo cáo tình hình sức khỏe của nhân dân trong cộng đồng

Mozambich đã sử dụng những người hoạt động xã hội tình nguyện ở các cộng đồng nông thôn và thành thị Họ đi đến từng nhà, từng gia đình để tuyên truyền và thực hiện một số chương trình y tế, trong đó thực hiện thành công nhất là chương trình TCMR

Trang 7

Ở Phần Lan, công tác CSSKBĐ thực hiện tại các cộng đồng thì thuộc về vai trò của các hiệp hội (Y tế và nhiều ngành khác) Hiệp hội tổ chức dân chúng thực hiện CSSKBĐ tỏ ra rất có hiệu quả Đội ngũ tình nguyện tham gia vào việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho người già, cung cấp các dịch vụ Y tế

1.2.2 Tại Việt Nam

1.2.2.1 Công tác CSSKBĐ và vai trò của mạng lưới y tế thôn bản

Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ rất nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang mà Đảng, Chính phủ và nhân dân tin tưởng giao trọng trách đó cho ngành y tế [1], [4]

Hệ thống tổ chức y tế ở nước ta được chia thành 4 tuyến: Tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã Mạng lưới y tế cơ sở được xác định bao gồm y tế tuyến huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) và y tế tuyến xã (phường, thị trấn) trong đó có y tế thôn, bản [5], [14]

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân [3] Mạng lưới y tế cơ sở đã được khôi phục và bước đầu hoạt động có hiệu quả Mục tiêu chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong giai đoạn mới đã được thể hiện rõ trong nghị quyết số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ

sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001 - 2010 “phấn đấu để mọi người dân được

hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi” [4], [6], [26] Chỉ thị số 46-

CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng về “củng cố và

hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở trong đó yếu tố nhân lực y tế có vai trò rất

Trang 8

quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế có chất lượng phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân [1]

Từ khi Cách mạng tháng 8 thành công năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sức khoẻ của nhân dân, chất lượng cuộc sống và sự phát triển của giống nòi Mạng lưới y tế cơ sở đóng một vai trò hết sức quan trọng Mười nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu đã được triển khai và thực hiện qua mạng lưới y tế cơ sở mà Nhân viên y tế thôn bản là nòng cốt Trải qua hơn nửa thế kỷ qua, trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, Đảng ta luôn lấy phòng bệnh là chủ động là trọng tâm chính nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu Chúng ta xây dựng một mạng lưới y tế rộng khắp đi kèm một loạt chính sách lớn nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân như: Quyết định 15/CP ngày 14/01/1975 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) và các văn bản tiếp theo đã xác định, y tế cơ sở có một vị trí chiến lược trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân vì y tế cơ sở là đơn vị gần dân nhất, giải quyết gần 80% khối lượng công việc phục vụ y tế tại chỗ Quyết định 58/TTg ngày 03/02/1994 và quyết định 131/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4/5/1995 quy định một số vấn đề về tổ chức y tế cơ sở Quyết định 136/2000/QĐ - TTg ngày 28/11/2000 phê duyệt chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản 2001 - 2010 Quyết định 147/2000/QĐ - TTg về chăm sóc sức khoẻ ban đầu Xây dựng mạng lưới y tế cơ sở thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu có chất lượng và thực hiện sức khoẻ cho mọi người, tiến tới thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh [55]

Xây dựng mạng lưới y tế cơ sở cùng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại cộng đồng có chất lượng hiệu quả, là hướng đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân, làm cho mọi người dân đều có điều kiện thuận lợi tiếp cận các dịch vụ y tế, nhất là vùng sâu vùng xa [13]

Trang 9

Ngày nay trong điều kiện kinh tế thị trường, khoảng cách giữa người giầu và người nghèo ngày càng xa, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị cũng còn nhiều khác nhau Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đối với vùng sâu, vùng xa, trong ngành y tế, cung cấp hỗ trợ thuốc ở các xã có chương trình 135 đã giải quyết một phần khó khăn về thuốc chữa bệnh cho nhân dân tại địa phương Đất nước đang chuyển tiếp theo công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phương tiện giao thông hiện đại giao lưu quốc tế thuận lợi, càng làm cho một số bệnh nguy hiểm dễ lây lan thành dịch bệnh lớn Do vậy công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm dịch bệnh ở y tế cơ sở là rất cần thiết, cho cả khu vực thành thị và nông thôn, tại thành thị nơi tập trung đông người đi lại thuận tiện, việc phát hiện dịch bệnh sớm, dập tắt dịch bệnh

kịp thời là rất cần thiết [16], [17], [20]

Quá trình hình thành tổ chức và hoạt động của Y tế thôn bản ở Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử phát triển đất nước được thể hiện: Trong thời kỳ

bao cấp, đội ngũ "Vệ sinh viên thôn, đội" gắn liền với hợp tác xã (HTX) và đội

sản xuất nông nghiệp Chế độ đãi ngộ của người CBYT được đảm bảo, cán bộ trạm y tế được hưởng sinh hoạt phí tính bằng thóc tương đương với cán bộ chủ chốt của xã, hợp tác xã Cán bộ y tế đội sản xuất cũng được hưởng sinh hoạt phí tương đương với đội trưởng sản xuất Giai đoạn này hoạt động YTTB có nề nếp, góp phần CSSK nhân dân Từ sau khoán 10, nhất là chuyển đổi cơ chế quản lý trong nông nghiệp, ruộng đất khoán tới hộ gia đình và người nông dân,

ai cũng lo canh tác trên mảnh đất của mình, không còn ai chăm lo cho đội ngũ YTTB Vì thế, mạng lưới y tế cơ sở không đảm bảo về chế độ đãi ngộ đã lần lượt tan rã Trước tiên là đội ngũ y tế đội sản xuất, sau là đội ngũ cán bộ trạm y

tế, nhiều trạm chỉ còn làm việc cầm chừng Việc xuống cấp của mạng lưới y tế

cơ sở làm cho sức khoẻ của nhân dân bị đe doạ Các chương trình y tế phải triển khai tới tận người dân nhưng thường đến xã là bị dừng lại, chỉ có một số

Trang 10

chương trình có kinh phí thì mới được triển khai như tiêm chủng mở rộng (TCMR), sinh đẻ kế hoạch [42], [49], [51]

Hiện tại nước ta có gần 100.000 thôn, bản thuộc 10.365 xã, phường, thị trấn Trong đó:

- Có 17.853 bản thuộc 1.870 xã vùng cao

- Có 19.061 thôn bản thuộc 2.032 xã miền núi

- Có 4.446 ấp thuộc 692 xã vùng sâu

- Có 5.232 thôn bản thuộc 575 xã vùng trung du

- Có 3.112 thôn bản thuộc 342 xã biên giới

- Có 170 thôn bản thuộc 31 xã hải đảo

Đặc biệt cả nước có 1.715 xã và 1.072 bản thuộc khu vực đặc biệt khó khăn – khu vực rất cần có NVYTTB hoạt động [5]

Bình quân ở tuyến y tế xã có số nhân viên trung bình là 4,5 người /trạm

y tế Y tế của ta có diện bao phủ rộng, nhưng sự phân bố còn chưa đồng đều, nhiều trạm y tế xã hoạt động còn yếu, chưa đi sâu, bám chắc được ở tuyến thôn bản để đáp ứng kịp thời được các nhu cầu chăm sóc và BVSK nhân dân

ở cộng đồng [7]

Cơ cấu và chất lượng của NVYTTB rất đa dạng trong đó phần lớn là cán

bộ quân dân y về nghỉ chế độ, đa số tuổi đã cao và chưa được bồi dưỡng về kiến thức y tế cộng đồng, hoạt động của họ là khám chữa bệnh thông thường tại nhà Số NVYTTB đang hoạt động phân bố không đồng đều giữa các vùng, tập trung chủ yếu ở đồng bằng, còn vùng cao, miền núi, trung du, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng căn cứ cách mạng, vùng dân tộc thiểu số là những vùng khó khăn thì có rất ít và thậm chí nhiều nơi chưa có [15], [54]

1.2.2.2 Một số nét về chăm sóc sức khoẻ cho người dân ở miền núi phía Bắc Miền núi phía Bắc, một khu vực quan trọng với 14 tỉnh khoảng 11 triệu

dân, trên 40 dân tộc anh em Đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội còn gặp nhiều khó khăn, hầu hết nằm trong danh sách xã nghèo theo quy định của Chính

Trang 11

phủ [4] Thực trạng này được phản ánh qua nghiên cứu của Đơn vị chính sách

Bộ y tế (6/1999) Ở 7 vùng sinh thái thì miền núi phía Bắc là nơi có tỷ lệ hộ nghèo đói cao nhất chiếm 32%[10] Theo kết quả của nghiên cứu thực trạng hoạt động của các Trạm y tế cơ sở ở miền núi phía Bắc (2000) cho thấy: Tỷ lệ

hộ gia đình nghèo đói 27,76%; Tỷ lệ hộ có nhà ở tạm (31,13%); Tỷ lệ phụ nữ

ở độ tuổi sinh đẻ mù chữ cao (21,99%) [42] Những tồn tại trên sẽ ảnh hưởng tình hình CSSK nhân dân ở tại khu vực này

Về Tình hình hoạt động của các trạm y tế xã ở miền núi: Đây là nơi triển khai các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho người dân nói chung và người

nghèo nói riêng Theo thống kê năm 1996, chỉ tính riêng ở vùng miền núi

phía Bắc trong tổng số 2.986 xã mới có 2.140 trạm y tế xã, thậm chí một số

xã hoàn toàn trắng Nguồn nhân lực thì chất lượng cán bộ ở trạm y tế xã còn thấp Qua điều tra ngẫu nhiên tại 8 xã trong hai tỉnh Cao Bằng và Sơn La cho thấy bình quân mỗi trạm y tế xã có xấp xỉ 3,4 cán bộ Trong 8 xã miền núi không xã nào có bác sĩ, trong khi đó ở 8 xã đồng bằng và trung du tỷ lệ bác sĩ

là 12% Một nghiên cứu ở Ninh Bình tại 30 trạm y tế xã cho thấy số cán bộ y

tế trung bình cho một trạm xá là 5,0 người [57]

Ở khu vực miền núi, lực lượng y tế tư nhân rất ít và chỉ tập trung chủ yếu

ở khu vực đô thị, trong khi đó ở khu vực đồng bằng lực lượng y tế tư nhân xấp xỉ bằng hoặc hơn số cán bộ y tế xã

Theo thống kê của [23] vùng núi phía Bắc về cán bộ y tế xã:

Chỉ số Chung cả nước (%) Miền núi phía Bắc (%)

Tỷ lệ xã chưa có trạm y tế, chưa có nữ hộ sinh và chưa có y sĩ hoặc bác

sĩ ở miền núi cao hơn so với số liệu thống kê chung cả nước [24]

Trang 12

Hiện nay cả nước vẫn còn 21 tỉnh có < 10% số xã chưa có bác sĩ, trong

đó 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và Hà Giang số xã có bác sĩ rất ít Đây lại là những tỉnh miền núi nghèo, địa bàn rộng, người dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu, rất cần có bác sĩ hơn bất cứ lúc nào [3], trước mắt đội ngũ NVYTTB là hết sức quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân tại khu vực trên

Về sử dụng dịch vụ y tế, kết quả điều tra sử dụng dịch vụ y tế ở hai tỉnh Sơn La và Cao Bằng của đơn vị CSSKBĐ cho ta thấy:

- Người dân miền núi ốm mà không được chữa bệnh nhiều gấp 4 lần người dân miền xuôi

- Người dân miền núi tự mua thuốc về chữa ở nhà không cần khám bệnh nhiều gấp 2 lần dân miền xuôi

- Người dân miền núi sử dụng trạm y tế chỉ bằng 1/4 so với dân miền xuôi

- Người dân miền núi ít đến y tế tư hơn (bằng gần 1 nửa) so với dân miền xuôi

- Tỷ lệ người dân miền núi dến phòng khám đa khoa khu vực (PKĐKKV), bệnh viện nhiều gấp 3 lần so với người dân miền xuôi

Tình hình sức khỏe và bệnh tật của người dân ở miền núi: Khu vực miền

núi phía Bắc là nơi người dân có tình trạng sức khỏe rất thấp, thể hiện qua tỷ

lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (62,20

/00), dưới 5 tuổi (84,10

/00) và tỷ lệ suy dinh dưỡng cao Tiêm chủng phòng 6 bệnh cho trẻ em còn gặp nhiều khó khăn, tỷ

lệ đạt chưa cao (51,7%) Tình trạng sức khỏe và mô hình bệnh tật của trẻ em

là tấm gương phản chiếu trung thực nhất về tình kinh tế - văn hóa - xã hội và môi trường sống Những vấn đề sức khỏe quan trọng nhất của khu vực miền núi phía Bắc là các bệnh lây truyền (sốt rét, thương hàn, lỵ, viêm màng năo, lao), những bệnh do phong tục tập quán và nguồn nước (nghiện hút, bướu cổ, suy dinh dưỡng) và các bệnh liên quan đến đẻ nhiều, đẻ dày (nạo thai, xảy

Trang 13

thai, tai biến sản khoa), dại và uốn ván sơ sinh là những nguyên nhân tử vong riêng biệt của miền núi phía Bắc [36], [37], [59]

Trong quá trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở miền núi, một cản trở rất lớn đó là trình độ học vấn nói chung của người dân còn thấp Quan niệm khám chữa bệnh theo phong tục, tập quán của người dan địa phương còn lạc hậu, ngôn ngữ bất đồng nên lực lượng NVYTTB tại chỗ là hết sức quan trọng vì họ hiểu rõ tập quán, phong tục tại địa phương và là người chuyển tải các thông tin truyền thông về chăm sóc sức khoẻ tốt nhất đến từng người dân Kèm theo đó là các tập tục lạc hậu trong nếp sống cũng như trong chữa bệnh Nhiều trường hợp mắc bệnh nặng nhưng không được đưa tới bệnh viện mà chữa bằng cúng bái Những trường hợp tử vong không được chôn cất ngay, mà để ở trong nhà nhiều ngày cũng là một tập tục có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe

Do đặc điểm về địa hình, việc cung cấp nước sinh hoạt cho dân còn rất

sơ khai Nguồn nước chủ yếu là sông, suối, hầu hết đều không đạt tiêu chuẩn

vệ sinh do có tập quán thả rông gia súc, chưa có ý thức bảo quản và xử lý chất thải của người và động vật, môi trường sống ở các thôn bản bị ô nhiễm nặng

nề Những điều đó đã làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm trùng cho cộng đồng các dân tộc miền núi [38], [48], [59]

Về chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước đối với miền núi, người nghèo tháng 2/1997 Bộ Y tế đã xây dựng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân (BVSKND) vùng núi phía Bắc trong thời gian 2000

đến 2010 và 2020, nêu rõ: " Nhà nước đảm bảo những điều kiện tối thiểu để

tất cả các xã có trạm y tế hoạt động thường xuyên, Chính quyền địa phương đảm bảo để tất cả các thôn bản đều có cán bộ y tế" [3]

Chăm sóc sức khoẻ cho vùng nghèo, người nghèo và người có thu nhập thấp là trọng tâm ưu tiên của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và công bằng trong chăm sóc sức khoẻ Đối với vùng nghèo,

Trang 14

Nghị định 135/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã xác định 1.715 xã nghèo, trong đó có 1.000 xã đặc biệt khó khăn cần có chính sách hỗ trợ Trong 1.000

xã đặc biệt khó khăn này, Nhà nước đã hỗ trợ phần kinh phí xây dựng và trang bị cho trạm y tế xã Với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, 1.715 xã nghèo sẽ được ưu tiên đầu tư để xây dựng và cung cấp đủ trang thiết bị y tế trong những năm tiếp theo [27], [57]

1.2.2.3 Chức năng nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản [7]

* Chức năng Nhân viên y tế thôn, bản, buôn, ấp (gọi chung là y tế thôn

bản) là nhân viên y tế tại thôn bản, có chức năng chăm sóc sức khoẻ nhân dân

trong thôn bản

* Nhiệm vụ

1 Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng:

- Thực hiện tuyên truyền, phổ biến kiến thức bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm;

- Hướng dẫn các biện pháp chăm sóc sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh tại cộng đồng;

- Tuyên truyền, giáo dục nhân dân về phòng chống HIV/AIDS;

- Vận động, cung cấp thông tin, tư vấn về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình tại cộng đồng

2 Tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng:

- Phát hiện, tham gia giám sát và báo cáo tình hình dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, bệnh xã hội, bệnh truyền qua thực phẩm, ngộ độc thực phẩm tại thôn, bản;

- Tham gia giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt; các công trình vệ sinh hộ gia đình, nơi công cộng trên địa bàn phụ trách;

- Tham gia công tác giám sát việc thực hiện an toàn thực phẩm trên địa bàn phụ trách;

Trang 15

- Tham gia triển khai thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh, nâng cao sức khỏe cộng đồng, xây dựng làng văn hóa sức khỏe

3 Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em và kế hoạch hoá gia đình:

- Vận động khám thai, đăng ký quản lý thai nghén, hỗ trợ đẻ thường, xử trí đẻ rơi khi sản phụ không kịp đến cơ sở y tế;

- Theo dõi, hướng dẫn chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà trong 6 tuần đầu sau đẻ;

- Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản về theo dõi, chăm sóc sức khoẻ trẻ

em và phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi;

- Hướng dẫn thực hiện kế hoạch hoá gia đình, cung cấp và hướng dẫn sử dụng bao cao su, viên thuốc uống tránh thai theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế

4 Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường:

- Thực hiện sơ cứu ban đầu các cấp cứu và tai nạn;

- Thực hiện chăm sóc một số bệnh thông thường tại cộng đồng;

- Hướng dẫn chăm sóc người mắc bệnh xã hội, bệnh không lây nhiễm tại nhà

5 Tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn, bản

6 Vận động, hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại gia đình để phòng và chữa một số chứng, bệnh thông thường

7 Tham gia giao ban định kỳ với trạm y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là trạm y tế xã); tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế cấp trên tổ chức và tự học tập để nâng cao trình

độ

8 Quản lý và sử dụng hiệu quả Túi y tế thôn, bản

9 Thực hiện ghi chép, báo cáo kịp thời, đầy đủ theo quy định

Nhiệm vụ chức năng cơ bản của nhân viên y tế thôn bản: Nhiệm vụ hàng đầu cơ bản nhất là tuyên truyền và giáo dục sức khoẻ: Thực hiện tuyên truyền các kiến thức bảo vệ sức khoẻ và an toàn cộng đồng như: Chương trình tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, phòng chống suy dinh dưỡng, làm mẹ an toàn,

Trang 16

nuôi con bằng sữa mẹ, tiêm chủng mở rộng, Hướng dẫn các biện pháp chăm sóc sức khoẻ thông thường như: Đau đầu, đau mắt, đau lưng, đau khớp, tiêu chảy, suy dinh dưỡng

Hướng dẫn thực hiện vệ sinh phòng bệnh: Hướng dẫn vệ sinh thực phẩm

và dinh dưỡng hợp lý Hướng dẫn vệ sinh 3 sạch (ở sạch, ăn sạch, uống sạch),

4 diệt (diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chuột, diệt bọ chét), sử dụng nguồn nước sạch

và nhà tiêu hợp vệ sinh Thực hiện các hoạt động tiêm chủng và phòng dịch Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình: Vận động khám thai định kỳ, đăng ký thai nghén và chăm sóc trước, trong và sau khi đẻ Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản để theo dõi sức khoẻ trẻ em Vận động thực hiện kế hoạch hoá gia đình, cung cấp bao cao su, thuốc tránh thai, dinh dưỡng cho bà mẹ và con, cân trẻ định kỳ, đỡ đẻ thường tại nhà

Sơ cứu ban đầu, chăm sóc bệnh thông thường: Sơ cứu ban đầu các cấp cứu và tai nạn như: Gẫy xương, bỏng, ngừng tim, ngừng thở, rắn cắn, đuối nước, điện giật, say nắng say nóng Chăm sóc một số bệnh thường gặp: Đau đầu, đau mắt, đau lưng, đau khớp, tiêu chảy, bệnh hô hấp, phát hiện một số bệnh thông thường

Tham gia, thực hiện các chương trình y tế: Hướng dẫn về phòng chống bệnh sốt rét, bệnh lao, HIV/AIDS, hỗ trợ tiêm chủng mở rộng, phòng chống

mù loà, phòng chống dịch bệnh, phòng chống suy dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình sức khoẻ tâm thần [25]

*Chế độ phụ cấp, phương tiện và phương thức làm việc

1) Nhân viên y tế thôn, bản được hưởng chế độ phụ cấp hàng tháng theo quy định hiện hành của Nhà nước và trợ cấp thêm hàng tháng (nếu có) từ các

nguồn kinh phí hợp pháp khác do cấp có thẩm quyền quy định

2) Mỗi nhân viên y tế thôn, bản được trang bị một Túi y tế thôn, bản; danh mục bao gồm các thiết bị y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định

Trang 17

3) Nhân viên y tế thôn, bản hoạt động theo chế độ không chuyên trách tại thôn, bản; có trách nhiệm chủ động bố trí, sắp xếp thời gian để bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Thông tư này và theo sự phân công của Trưởng Trạm y tế xã

*Mối quan hệ công tác

1) Nhân viên y tế thôn, bản chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp và hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật của Trạm y tế xã

2) Nhân viên y tế thôn, bản chịu sự quản lý, giám sát về hoạt động của

Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng thôn, bản

3) Nhân viên y tế thôn, bản có mối quan hệ phối hợp với các tổ chức quần chúng, đoàn thể tại thôn, bản [25]

1.2.2.4 Quá trình đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ NVYTTB ở Việt Nam

Học viên là người của thôn, bản được nhân dân tiến cử, họ là những người có uy tín trong thôn Bản thân họ tình nguyện đi học để trở về phục vụ sức khoẻ nhân dân với tiêu chí trình độ học vấn cao nhất thôn Mặc dù đã lấy trình độ học vấn cao nhất trong thôn nhưng có tới 1/3 số thôn có trình độ học vấn tiểu học hoặc chỉ biết đọc, biết viết khó khăn tuổi đời từ 18 đến 35 tuổi,

có đủ sức khoẻ

Nội dung và quá trình đào tạo y tế thôn bản: Do nhu cầu đào tạo nhanh

để có đội ngũ thôn bản hoạt động hỗ trợ cho y tế cơ sở Nên thời gian đào tạo ban đầu là 03 tháng (12 tuần), chương trình đào tạo được nhiều Trường Trung học Y tế tham gia biên soạn đến cuối năm 2001 chương trình đào tạo được

Bộ y tế biên soạn và thống nhất, số giờ được thực hiện như sau: Học lý thuyết: 112 tiết, học thực hành: 164 tiết, thực tế cộng đồng: 28 tiết, tổng cộng là: 304 tiết (Chương trình đào tạo nhân viên y tế thôn bản) [11]

Từ năm 1999 đến 2001 với điều kiện thiếu giáo viên, thiếu cơ sở vật chất, tài liệu chưa thống nhất việc tổ chức các lớp đào tạo tại huyện cho thấy Giáo viên ở đây kiêm chức, trình độ sư phạm hạn chế, trong khi đó phải đảm

Trang 18

bảo nhiệm vụ chuyên môn của mình do đó các giờ giảng kém chất lượng, học viên ít được kèm cặp và chỉ bảo đến nơi đến chốn, quá trình đào tạo còn bỏ qua nhiều quy trình thực hành, thực tế cơ sở, đồng thời với những hạn chế trên lại còn do trình độ học vấn của học viên chênh lệch nhau khá lớn , nhận thức chênh lệch do vậy ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giờ giảng, chất lượng đào tạo chính vì vậy khi thực hành tại cơ sở họ đã không thực hiện được một số nhiệm vụ và chức năng yêu cầu như: Tổ chức truyền thông, hướng dẫn người dân thực hiện các chương trình y tế, sử dụng và bảo quản túi thuốc, đỡ đẻ

Từ năm 2002 đến nay do đội ngũ giảng viên được đào tạo liên tục về nghiệp vụ chuyên môn, phương pháp sư phạm giảng dạy tích cực với số giờ học tập phù hợp, cân đối giữa lý thuyết và thực hành, với thực tế tại cơ sở, học viên được cầm tay chỉ việc cụ thể hơn Do vậy chất lượng đào tạo tốt hơn nên học viên thực hiện sẽ vững vàng hơn rất nhiều Song vì thời gian đào tạo

có giới hạn nên chưa đáp ứng đựoc yêu cầu chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng Bởi y học ngày càng tiến lên và đổi mới trình độ nhận thức của người dân trong xã hội mới văn minh hơn sẽ đòi hỏi ở người cán bộ y tế gần dân này

có một trình độ cao hơn, giỏi hơn về nghiệp vụ chuyên môn, giúp họ, hướng dẫn họ, tư vấn cho họ các vấn đề về sức khoẻ, cách phòng tránh bệnh tật theo các phương pháp hiện đại

1.3 Những khó khăn trong công tác tổ chức và hoạt động của NVYTTB trong những năm gần đây

Trong những năm gần đây công tác đào tạo đội ngũ y tế thôn, bản gặp nhiều khó khăn và thách thức như trình độ văn hoá học sinh không đồng đều (gồm nhiều đối tượng khác nhau trong cùng 1 lớp) có những học sinh chưa đọc và viết thành thạo, có học sinh mới học hết chương trình tiểu học Do đó gây khó khăn trong quá trình giảng dạy và dẫn đến chất lượng bài giảng chưa cao Việc triệu tập học sinh rất khó khăn, đặc biệt là đào tạo lại nhân viên y tế

Trang 19

thôn bản vì kinh phí hỗ trợ quá thấp, học viên là lao động chính trong gia đình nên việc đi học xa nhà dài ngày cũng rất khó, đặc biệt khi mùa vụ diễn ra Phụ cấp cho hoạt động của nhân viên y tế thôn, bản còn thấp trước đây 40.000đồng/1 tháng, hiện nay khu vực vùng cao được 415.000 đồng/1 tháng, khu vực trung tâm 383.000 đồng/1 tháng Ngoài phụ cấp cho nhân viên y tế thôn bản còn được hưởng phụ cấp từ các chương trình như chương trình Dinh dưỡng, sức khoẻ sinh sản mỗi chương trình được hỗ trợ 20.000 đồng/1 tháng [25], [27]

Trang thiết bị hỗ trợ cho công việc hàng ngày gồm một túi y tế bản theo qui định của Bộ Y tế

Nhân viên y tế thôn bản hoạt động dưới sự giám sát trực tiếp của trưởng thôn và trạm y tế xã Trưởng thôn giám sát việc thực hiện các nhiệm

vụ của nhân viên y tế thôn bản, nhắc nhở họ công việc hàng ngày, đảm bảo phuc vụ các nhu cầu tối thiểu của nhân dân trong khuôn khổ năng lực của mình Các trưởng thôn còn hỗ trợ nhân viên y tế thôn bản về mặt chính quyền, đặc biệt trong công tác truyền thông, tập trung người dân Trạm y tế xã giám sát và hỗ trợ về nặt chuyên môn, tổ chức giao ban hang tháng với nhân viên y tế thôn bản và hỗ trợ y tế thôn bản về mặt chuyên môn dưới hình thức cầm tay chỉ việc Có sự liên quan chặt chẽ giứa các họat động hỗ trợ của trạm

y tế xã với hiệu quả hoạt động của các nhân viên y tế thôn bản Tại những nơi trạm y tế tích cực hỗ trợ nhân viên y tế thôn bản thì việc hoạt động của y tế bản rất hiệu quả

1.4 Một số giải pháp phát triển y tế thôn bản

1.4.1 Thế giới

Tham gia cộng đồng để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu là một giải pháp có tính chiến lược trong CSSKBĐ nói chung và phát triển đội ngũ NVYTTB nói riêng Trên thế giới, sự tham gia của cộng đồng vào việc thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu được Tarimo-E, Giám đốc khu vực của Tổ

Trang 20

chức Y tế Thế giới mô tả như sau: CSSKBĐ bắt đầu bằng sự tham gia của mỗi cá nhân và gia đình Những hành động vì sức khoẻ để thực hiện lối sống lành mạnh, phòng và chống các bệnh đặc thù, phát hiện và xử lý các bệnh khi dịch xẩy ra, sử dụng các dịch vụ Y tế thích hợp sẵn có Mỗi thành viên của cộng đồng đều có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động thích hợp, nhằm củng cố và phát triển Y tế địa phương, giáo dục cộng đồng về các vấn đề Y tế quan trọng, học hỏi cách làm việc khoa học, cách thức thu thập các số liệu về

Y tế, tham gia đánh giá các nhu cầu về vấn đề chăm sóc sức khoẻ Tham gia cộng đồng là sự cần thiết để thực hiện CSSKBĐ như việc chăm sóc sức khoẻ, phòng bệnh, phục vụ người ốm, sử dụng các dịch vụ Y tế Khía cạnh của TGCĐ rất đa dạng trong các môi trường khác nhau Trong khi CSSKBĐ là mục tiêu của chiến lược quốc gia thì việc thực hiện để quyết định cho sức khoẻ của mình lại tuỳ thuộc vào từng gia đình, cộng đồng Việc tham gia cộng đồng để thực hiện CSSKBĐ đã được Hirosi Nakarima, Tổng giám đốc

Tổ chức Y tế Thế giới nhấn mạnh: Cần tạo ra những liên minh mới nhằm thúc đẩy hoạt động CSSKBĐ Chúng ta phải xây dựng cho được những liên minh với ngành thông tin đại chúng, các thầy cô giáo, các tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng, các giới kinh doanh, những người lao động và các nghiệp đoàn [54]

Sự tham gia của cộng đồng thể hiện trong các chiến dịch tiêm chủng Braxin tổ chức 2 ngày tiêm chủng chống bại liệt đầu tiên trong toàn quốc với

30 vạn người tình nguyện tham gia giúp cơ quan Y tế tiêm chủng cho 18 triệu trẻ em Ở Bôlivia hàng ngàn giáo viên đã thiết lập ngay trong các trường học các trung tâm điều trị hoặc hướng dẫn bù nước khi trẻ bị tiêu chảy cho các phụ huynh và học sinh Ở Thổ Nhĩ Kỳ, hơn 7 vạn giáo viên đã giúp vận động cha mẹ đưa con đi tiêm chủng trong chiến dịch toàn quốc 1985 Ở Xênêgan

và Siri, hàng ngàn học sinh đã vận động cha mẹ đưa trẻ nhỏ đi tiêm chủng trong các chiến dịch [46]

Trang 21

Trong tham gia cộng đồng, vai trò của NVYTCĐ rất quan trọng Những nhân viên này làm việc hoàn toàn tình nguyện, họ là những thầy cô giáo, linh mục, bà xơ, nhà hảo tâm thậm chí là nhân viên cảnh sát, binh lính Họ được bồi dưỡng những kiến thức Y tế cơ bản, sơ đẳng để có thể giúp đỡ những người ốm đau ở cộng đồng hay góp phần tham gia vào các chương trình CSSKBĐ

1.4.2 Việt Nam

1.4.2.1 Giải pháp xã hội hoá trong công tác tổ chức và hoạt động của NVYTTB

Xã hội hóa cần được hiểu là sự phối hợp hành động một cách có kế

hoạch của mọi lực lượng xã hội theo một định hướng, một chiến lược quốc gia để giải quyết một vấn đề của xã hội Bản chất của quá trình xã hội hoá công tác CSSKND là một quá trình gồm 2 mặt:

- Mặt thứ nhất: Xác định đúng trách nhiệm của nhà nước bao gồm nhiều cấp, nhiều ngành trong đó ngành y tế làm nòng cốt

- Mặt thứ hai: Tăng cường trách nhiệm của xã hội, cộng đồng và mỗi người dân

Với cách hiểu như vậy thì xã hội hoá CSSKND không có nghĩa là giảm bớt trách nhiệm của Nhà nước, của ngành y tế và các ngành có liên quan Xã hội hoá CSSKND cũng không có nghĩa là chỉ dựa vào sự bao cấp hoàn toàn của Nhà nước

Xã hội hoá CSSKND có nghĩa là sự phối hợp hành động của toàn xã hội vì sức khoẻ nhân dân trong đó trách nhiệm trước hết thuộc về các nhà lãnh đạo cộng đồng, còn sự tham gia tích cực, chủ động của cộng đồng, của mỗi người dân là yếu tố quyết định bảo đảm tính bền vững và sự thành công của quá trình này [9], [12]

Trang 22

1.4.2.2 Thực hiện các hoạt động xã hội hóa của NVYTTB

Để thực hiện xã hội hoá công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chúng ta phải giải quyết được 3 nội dung chính sau:

- Phải làm cho cộng đồng hiểu để cộng đồng tham gia CSSK

- Cộng đồng phải được hưởng các quyền lợi về CSSK

- Phải huy động được sự đóng góp của cộng đồng cho các hoạt động CSSK

Trong tuyên ngôn Alma Ata của Tổ chức Y tế Thế giới có ghi rõ "Sức

khoẻ được định nghĩa là một trạng thái thoải mái toàn diện của con người về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không đơn thuần chỉ là một trạng thái không có bệnh tật" [35] Sức khoẻ là một sản phẩm được tạo ra trên một cơ

thể không bệnh tật, sống hài hoà với môi trường tự nhiên và xã hội quanh mình Do vậy, vấn đề sức khoẻ của con người là một vấn đề xã hội nên cần phải được giải quyết bằng các giải pháp xã hội, nói một cách khác cần phải xã hội hoá công tác CSSKND

- Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997 về phương hướng

và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục - y tế - văn hoá cũng nêu rõ:

"Xã hội hoá các hoạt động giáo dục - y tế - văn hoá là cuộc vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội nhằm từng bước nâng cao hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân"

- Trong điều 3 chương I của Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/9/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt

động trong lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao, đã ghi: "Nhà nước

khuyễn khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân dân vào trong các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định của pháp luật"

Việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng Đây không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn

Trang 23

là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng và Chính quyền của các đoàn thể quần chúng và tổ chức xã hội Vì vậy thực hiện xã hội công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế thời đại Nội dung xã hội hoá công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ con người là động viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng

và tư cách cá nhân, trên cả 2 mặt hoạt động và đóng góp [40]

Các Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X khẳng định, các vấn đề chính sách

xã hội đều phải giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức

xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội

Cùng với sự phối hợp liên ngành, công tác CSBVSKND phải được hỗ trợ bằng sự huy động các lực lượng của cộng đồng cùng tham gia

Xã hội hoá công tác CSSKND cần phải được coi là một tư tưởng chiến

lược có tính lâu dài, toàn diện, là một giải pháp xã hội có tính liên ngành cao nhằm huy động các lực lượng xã hội Tham gia một cách tích cực để giải quyết một vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược con người

Trong Điều 1 của luật BVSKND đã chỉ ra "Bảo vệ sức khoẻ là sự nghiệp

của toàn dân, tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của Pháp luật về BVSKND để giữ gìn SKND, để giữ gìn sức khoẻ cho mình và cho mọi người"

Việc chăm sóc sức khoẻ ban đầu phải được xã hội hoá, tức là làm cho toàn xã hội thông hiểu và tham gia thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu Từng người dân, từng gia đình, từng đoàn thể, từng cộng đồng có trách nhiệm đóng góp nhân, tài, vật lực cùng với nhà nước chăm lo sức khoẻ cho mỗi người và cho cả cộng đồng Cần huy động xã hội để đa dạng hoá công tác CSSK, phát huy tự lực trên cơ sở phát triển năng lực nội sinh

Trang 24

Xã hội hoá công tác CSSKND là một yêu cầu bức thiết để thực hiện chiến

lược "Sức khoẻ cho mọi người đến năm 2020" Cuộc vận động xã hội rộng lớn

nay đòi hỏi sự nổ lực cộng tác và hợp tác của các thành viên xã hội, tất cả các cấp

Thực hiện xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân là cần thiết không những đối với nước ta mà còn phù hợp với xu thế thời đại Chúng ta hiểu rằng, xã hội hoá không phải là ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, song cũng cần nhận rõ trong quá trình xã hội hoá công tác CSSKND thì trách nhiệm của Nhà nước, của ngành y tế không phải là giảm nhẹ mà trái lại càng to lớn hơn, nặng nề hơn rất nhiều

Vì thế, chúng ta phải giải quyết tốt cả hai mặt: Trách nhiệm của ngành y

tế đối với toàn xã hội và trách nhiệm của xã hội, của từng cộng đồng, của từng gia đình và của từng người dân đối với sự nghiệp CSSKND [12]

1.5 Tổ chức và hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh Bắc Kạn hiện nay

1.5.1 Chủ trương xây dựng đội ngũ

Đảng và nhà nước ta đã thực sự quan tâm đến công tác chăm sóc sức khoẻ người dân đặc biệt là vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn bởi sức khoẻ là vốn quí của con người, con người có sức khoẻ thì lao động mới có năng xuất cao, mới tạo ra được nhiều của cải vật chất cho xã hội Chính vì vậy: Thực hiện chủ trương của Bộ Y tế đến hết năm 2000, 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động [12]

Đến năm 2003 tất cả thôn bản đều có nhân viên y tế, đến năm 2005 ít nhất 30% nhân viên y tế thôn bản có trình độ sơ cấp trở lên (Nghị quyết số: 10-NQ/TU ngày 08/10/2002 của Tỉnh uỷ Bắc Kạn về công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân)

Tính đến nay 100% thôn bản tỉnh Bắc Kạn đã có NVYTTB, trong đó trình độ sơ học đạt 82,7%

Trang 25

Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Bắc Kan

Trang 26

1.5.2 Thực trạng và hiệu quả hoạt động của mạng lưới NVYTTB

Hoạt động y tế của tỉnh Bắc Kạn bao gồm một hệ thống từ tỉnh đến tận thôn bản Bắc Kạn có 122 xã tương đương có 122 Trạm y tế xã, thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân và có đội ngũ y tế thôn bản, là y tế cơ sở gần sát nhất với người dân, là mạng lưới cộng tác viên giúp cho y tế cơ sở triển khai các chương trình y tế, vệ sinh phòng dịch và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân Tính đến hết tháng 12/2010 có 1401 nhân viên y tế thôn, bản đang hoạt động Đội ngũ y tế thôn bản là người sống

và làm việc cùng với dân, là cánh tay vươn dài của y tế cơ sở, có nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân Thông qua y tế thôn bản mọi người dân được tiếp cận với hệ thống y tế sớm nhất, ngược lại hệ thống y tế gần sát dân nhất, hiểu cặn kẽ đến từng người dân trong thôn bản cũng là đội ngũ cán

bộ y tế này Qua đó người dân được hưởng quyền lợi chăm sóc sức khoẻ thường xuyên có hiệu quả ngay tại nhà thuận lợi, không phải đi xa, phát hiện sớm, ít tốn kém, phù hợp với khả năng kinh tế của người dân Bên cạnh đó nhân viên y tế thôn bản còn tuyên truyền vận động nhân dân tham gia và thực hiện các chương trình y tế ở thôn, bản dưới sự chỉ dẫn của Trạm y tế xã, trong

đó có 10 chương trình cấp Quốc gia như: Phòng chống sốt rét, thiếu hụt Iốt, Tiêm chủng mở rộng, phòng chống lao, phòng chống phong, sức khoẻ tâm thần, phòng chống sốt xuất huyết 09 chương trình cấp Bộ là: Vì chất lượng

vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống giun sán, phòng chống mù loà, sức khoẻ răng miệng, phục hồi chức năng, phòng chống thảm hoạ, phòng chống tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, phòng chống bệnh dại Không chỉ tham gia nghiệp vụ chuyên môn Y tế bản còn tham gia các phong trào khác tại cộng đồng, các tổ chức, các hội tại thôn và xã như: Hội phụ nữ, Thanh niên, hội làm vườn, hội thả cá và còn là các lao động chính trụ cột trong gia đình

Trang 27

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhân viên y tế thôn, bản

- Lãnh đạo trung tâm y tế 03 huyện

- Lãnh đạo Đảng ủy, ủy ban và các ban ngành của xã

- Lý do chọn các địa điểm: 3 huyện trên đại diện cho 3 khu vực chính của tỉnh là: Huyện Ba Bể (2 xã vùng cao), Huyện Bạch Thông (2 xa vùng trung), Thị xã Bắc Kạn (2 xã vùng thấp)

- Một số đặc điểm của khu vực nghiên cứu :

+ Huyện Ba Bể: Nằm ở phía tây bắc tỉnh Bắc Kạn, phía bắc và đông bắc giáp huyện Bảo Lạc và Nguyên Bình của tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp huyện

Na Hang (Tuyên Quang), tây nam là huyện Chợ Đồn, phía nam là huyện Bạch Thông và Ngân Sơn ở phía đông Có 16 đơn vị hành chính gồm một thị trấn và 15 xã Là nơi sinh sống của các dân tộc Tày, Kinh, Dao, Nùng, Hoa… Kinh tế chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi nhỏ, đơn lẻ từng hộ, chưa phát triển thành quy mô tập trung, sản xuất hàng hóa

+ Huyện Bạch Thông: Cách thị xã tỉnh lỵ khoảng 18 km, có 17 đơn vị hành chính gồm một thị trấn và 16 xã: Là nơi sinh sống của các dân tộc Tày, Kinh, Dao, Nùng, Hoa… Họ yếu là trồng trọt, chăn nuôi nhỏ, đơn lẻ, vừa làm ruộng, vừa tham gia buôn bán nhỏ, mặt bằng dân trí chưa cao

Trang 28

+ Thị xã Bắc Kạn: Là tỉnh lỵ của Bắc Kạn nên thị xã Bắc Kạn, là trung tâm văn hóa chính trị và thương mại của tỉnh Thị xã Bắc Kạn có 60% chiều dài đường liên thôn được trải nhựa hoặc bê tông, 80% số hộ và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn được dùng nước sạch, 100% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia Thị xã có 8 đơn vị hành chính gồm 4 phường và 4 xã

2.1.3 Thời gian thực hiện: Từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2011

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang kết hợp định tính

với định lượng

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng

* Chọn mẫu NVYTTB

Chọn chủ đích toàn bộ NVYTB tại các xã đã lựa chọn trên

* Cỡ mẫu với người dân (phụ nữ):

- Cỡ mẫu: Chọn phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 20 – 49 để đánh giá tác

động của hoạt động YTTB

Áp dụng công thức cỡ mẫu cho điều tra cắt ngang trong nghiên cứu mô

tả để tính:

2

2 2 / 1

.

d

q p z

n   

Trong đó:

n: cỡ mẫu nghiên cứu cần có

p= 0,5 là tỷ lệ người dân đánh giá tốt về hoạt động nhân viên y tế thôn bản trong nghiên cứu của Vũ Văn Tiến ở Hòa Bình 2008 [60]

d: độ chính xác mong muốn ở mức 95%, chọn d = 0,05

Z1 - α/2 là hệ số tin cậy (= 1,96)

Ta tính được:

Trang 29

n = (1,96)2 2

) 05 , 0 (

5 , 0 5 ,

+ Lấy ngẫu nhiên một phụ nữ theo số thứ tự i nào đó từ danh sách một

xã rồi cộng với hệ số k ta sẽ có một khoảng danh sách phụ nữ nhất định nằm trong khoàng (i + k)

+ Từ khoảng danh sách đó chọn ngẫu nhiên lấy một phụ nữ vào mẫu rồi lần lượt cộng k để chọn các phụ nữ tiếp theo cho đến hết danh sách của 6 xã + Số phụ nữ của các xã đã được lựa chọn chính là 400 mẫu nghiên cứu cần có

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu định tính

- 01 cuộc thảo luận nhóm với 15 phụ nữ đại diện cho người dân ở độ tuổi

sinh đẻ có chồng, có con < 5 tuổi ở xã Quảng Khê của huyện Ba Bể

- 01 cuộc thảo luận nhóm với 15 lãnh đạo cộng đồng ở xã Đôn Phong huyện Bạch Thông

- 01 cuộc thảo luận nhóm với 15 CBYT đại diện cho TTYT huyện và 2 TYT xã của thị xã Bắc Kan

Trang 30

- Trình độ chuyên môn (thời gian đào tạo): Chưa đào tạo; 3 tháng; 6 tháng; 9 tháng; 12 tháng

- Vị trí trong gia đình: Trụ cột, không trụ cột

- Tham gia các vụ khác: Đảng, chính quyền, đoàn thể

- Thu nhập bình quân trong gia đình (VN đồng/người/năm)

- Gia đình nghèo: Không nghèo; Cận nghèo; Nghèo

- Phương tiện truyền thông: Đài, ti vi, sách báo, không có

- Chế độ phụ cấp: Phù hợp, thấp, cần tăng lên, để nguyên

- Nội dung đào tao: phù hợp, chưa phù hợp

- Nhu cầu đào tạo: cần được đào tạo thêm, không cần đào tạo

- Khoảng cách từ nhà đến trạm xá (km)

- Thời gian đi bộ đến trạm (phút)

- Diện tích thôn bản mình quản lý (m2)

- Số dân bản mình quản lý (người)

- Số ngày làm việc trung bình/tháng

* Các chỉ số về tổ chức hoạt động của NVYTTB

- Truyền thông giáo dục sức khỏe

- Vệ sinh phòng bệnh

- Chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Chăm sóc bệnh thông thường

- Thực hiện các chương trình y tế quốc gia

- Sử dụng công trình vệ sinh: Hố tiêu, giếng nước, chuồng gia súc, nhà tắm vệ sinh hay không vệ sinh

2.2.5 Định nghĩa biến số và phương pháp đánh giá:

- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

Trang 31

- Năng lực hoạt đông của NVYTTB được đánh giá là tốt khi thực hiện được 9 nhiệm vụ, khá khi thực hiện được 7 đến 8 nhiệm vụ và trung bình khi thực hiện được 5 đến 6 nhiệm vụ

2.2.6 Phương pháp thu thập số liệu:

- Phỏng vấn trực tiếp các NVYTTB và phụ nữ theo phiếu mẫu in sẵn

- Quan sát thực trạng vệ sinh môi trường và các kết quả hoạt động của NVYTTB qua sổ sách và thực tế

- Phỏng vấn sâu các cán bộ lãnh đạo của Trung tâm y tế huyện, Trạm y tế xã, lãnh đạo xã, thôn, bản theo các yêu cầu về tổ chức, hoạt động, những mặt làm được, mặt hạn chế và những khó khăn, giải pháp khắc phục…

2.3 Phương pháp xử lý số liệu:

Số liệu được xử lý thống kê trên máy tính theo phần mềm: EPI – INFO 6.04 và SPSS 13.0

2.4 Phương pháp khống chế sai số

- Thiết kế phiếu điều tra chi tiết

- Tiến hành điều tra thử, điều chỉnh phiếu cho phù hợp

- Đội ngũ điều tra viên được tập huấn trước khi tiến hành điều tra

- Các số liệu cập nhật và được xử lý làm sạch tại cộng đồng

2.5 Đạo đức nghiên cứu:

- Nghiên cứu này được sự đồng ý của ủy ban nhân dân, trạm y tế xã và nhân dân địa phương

- Các thông tin nhạy cảm về bệnh tật của cá nhân, người cung cấp được giữ bí mật theo qui định

- Thông tin thu được đều có sự hợp tác của các cá nhân và hộ gia đình, những trường hợp từ chối thì không ép buộc

Trang 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng tổ chức, hoạt động của đội ngũ nhân viên y tế thôn bản tỉnh Bắc Kạn năm 2011

Bảng 3.1 Thông tin cá nhân của nhân viên y tế thôn bản

Thông tin chung n =69 Tỷ lệ (%)

Trang 33

Điều kiện kinh tế gia đình:

- 62,3% là trụ cột trong gia đinh 52,2% NVYTTB kiêm nhiệm thêm

công tác đoàn thể và 53,6% gia đình họ thuộc diện nghèo

Trang 34

Bảng 3.2 Thông tin về trình độ đào tạo và khả năng làm việc của NVYTTB

Thông tin chung n Tỷ lệ (%)

Số dân được TB phụ trách 244 ± 15,6 người

Ngày làm việc trung bình trong 1

Nhận xét:

- 88,4% NVYTTB được qua đào tạo chương trình Y tá sơ học Nhân

viên Y tế thôn bản ở vùng sâu vùng xa địa bàn rộng đường đi lại khó khăn

Trang 35

3.1.1 Thực hiện nhiệm vụ truyền thông giáo dục sức khỏe

Bảng 3.3 Đánh giá của người dân về hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của NVYTTB

Thời gian thực hiện truyền thông

Nhận xét: 72,9% người dân cho rằng 2 - 3 tháng NVYTTB mới thăm

hộ gia đình 1 lần và 23,3% cho rằng tháng 1 NVYTTB thăm họ 1 lần 23,3%

Trang 36

55% người dân cho rằng 2-3 tháng NVYTTB mới tổ chức truyền thông 1 lần

và 20,7% cho rằng 1 tháng truyền thông 1 lần 77,6% cho rằng hoạt động truyền thông được lồng ghép với các hoạt động khác và 19,5% tổ chức độc lập 100% người dân đánh giá hoạt động truyền thông của NVYTTB đạt khá

giỏi, trong đó khá chiếm 85,2%

Bảng 3.4 Tự đánh giá của Nhân viên YTTB về nhiệm vụ truyền thông giáo dục sức khoẻ

Thời gian thực hiện, quan

tâm của người dân Số lượng (n=69) Tỷ lệ (%)

Nhận xét:

- 72,5% NVYTTB tự cho rằng 2 - 3 tháng mới tổ chức truyền thông

một lần; có đến 10,1% tự nhận là 6 tháng mới tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe một lần

- 84,0% NVYTTB cho rằng người dân đều quan tâm và chú ý lắng nghe

Trang 37

Bảng 3.5 Đánh giá của cán bộ trạm y tế xã về nhiệm vụ Truyền thông giáo dục sức khoẻ của NVYTTB

Thời gian làm truyền thông Số lƣợng (n=24) Tỷ lệ (%)

Trang 38

3.1.2 Nhiệm vụ hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch

Bảng 3.6 Đánh giá của người dân về Nhân viên Y tế thôn bản hướng dẫn thực hiện VSPB

- 75,7% - 100% người dân được Nhân viên Y tế thôn bản hướng dẫn tất

cả các nội dung trong nhiệm vụ hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh

- Được người dân luôn ủng hộ và làm theo 95,7%

Ngày đăng: 19/03/2021, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm