Vai trò của người điều dưỡng Lực lượng Điều dưỡng viên kể cả Hộ sinh giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN BỘ Y TẾ
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN BỘ Y TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi
thực hiện là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
Trang 4Cảm ơn Lãnh đạo Sở Y tế, Lãnh đạo Bệnh viện và toàn thể cán bộ, viên chức, lao động Bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thu thập số liệu tại Bệnh viện đa khoa Lương Tài
để thực hiện Luận văn
Cảm ơn các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên lớp Chuyên khoa II Y tế công cộng trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, đã chia sẻ những thông tin, kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và trao đổi những kinh nghiệm trong quá trình hoàn thành Luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 09 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Phạm Văn Vũ
Trang 5WHO Tổ chức y tế Thế giới
Trang 6Danh mục các bảng
Danh mục sơ đồ, biểu đồ, hình
iv
vi vii
1.5 Những nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam 18
1.7 Tổng quan chính sách Nhà nước và của Bộ Y tế liên quan đến
nguồn nhân lực y tế và công tác tổ chức hoạt động chăm sóc NB 30
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
2.5 Đạo Đức trong nghiên cứu
38
40
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.2.Thực trạng tổ chức chăm sóc người bệnh tại bệnh viện
42
46
Trang 73.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức chăm sóc người
Chương 4 BÀN LUẬN
4.1 Tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh tại BVĐK Lương Tài
4.2 Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh
4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức chăm sóc người
bệnh tại đa khoa huyện Lương Tài
4.4 Một số giải pháp thực hiện tổ chức chăm sóc người bệnh tại
KHUYẾN NGHỊ
89
91 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Định mức biên chế của BVĐK hạng III tuyến huyện 9
Bảng 3.2 Đặc điểm của người bệnh/gia đình NB tham gia nghiên cứu 45 Bảng 3.3 Phân bố tỷ lệ NVYT chăm sóc người bệnh tại các khoa 46 Bảng 3.4 Hoạt động của phòng Điều dưỡng bệnh viện 47 Bảng 3.5 Tổ chức các bộ phận của phòng Điều dưỡng 48 Bảng 3.6 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của Trưởng phòng Điều dưỡng 49 Bảng 3.7 Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của Điều dưỡng trưởng khoa 51
Bảng 3.9 Đánh giá buồng bệnh tại khoa, phòng
Bảng 3.10 Đánh giá hoạt động của điều dưỡng về chăm sóc người bệnh
53
54 Bảng 3.11 Đánh giá quy trình chăm sóc người bệnh của điều dưỡng 55 Bảng 3.12 Đánh giá chất lượng phục vụ của NVYT về chăm sóc 57 Bảng 3.13 Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu tư vấn, giáo dục sức khỏe 59 Bảng 3.14 Nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu chăm sóc về tinh thần 60 Bảng 3.15 Đối tượng hướng dẫn NB cách tự chăm sóc, phòng bệnh 61 Bảng 3.16 Nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chăm sóc vệ sinh cá nhân hàng ngày 63 Bảng 3.17 Đối tượng đáp ứng nhu cầu vệ sinh cá nhân của người bệnh 64 Bảng 3.18 Nhu cầu và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của người bệnh 65 Bảng 3.19 Kết quả đáp ứng nhu cầu được chăm sóc về dinh dưỡng 65 Bảng 3.20 Nhu cầu và đáp ứng nhu cầu chăm sóc phục hồi chức năng 66 Bảng 3.21 Đáp ứng nhu cầu sử dụng thuốc và theo dõi sau khi sử dụng thuốc 67 Bảng 3.22 Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh về công khai thuốc 67 Bảng 3.23 Đánh giá sự tự tin trong công việc của NVYT 68
Bảng 3.25 Yếu tố Trang thiết bị làm việc
Bảng 3.26 Yếu tố sự phối hợp với đồng nghiệp
69
69
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố độ tuổi của NVYT tham gia nghiên cứu 43 Biểu đồ 3.2 Phân bố mức thu nhập bình quân/tháng của đối tượng NC 43 Biểu đồ 3.3 Phân bố thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu 44 Biểu đồ 3.4 Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh về việc phổ biến
nội quy
58
Biểu đồ 3.5 Mức độ hài lòng của người bệnh về hướng dẫn vệ sinh, ăn
uống hàng ngày của NVYT
58
Biểu đồ 3.6 Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh về giải thích bệnh
và những vấn đề liên quan
60
Biểu đồ 3.7 Đối tượng đáp ứng nhu cầu tư vấn, GDSK cho người bệnh 61
Biểu đồ 3.9 Đánh giá mức độ hài lòng của NB về thái độ của NVYT 68 Biểu đồ 3.10 Yếu tố Môi trường làm việc, Trang thiết bị và sự phối hợp 70
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội và mức sống ngày càng cao, mô hình bệnh tật cũng như nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho con người càng trở nên đa dạng và đòi hỏi phải nâng cao về chất lượng Theo học thuyết về chăm sóc của Leiminger “không có sự chữa bệnh nào mà không có chăm sóc, nhưng chăm sóc có thể diễn ra mà không có điều trị” [52] Chăm sóc đóng một vai trò quan trọng trong quá trình điều trị và phục hồi sức khỏe của người bệnh (NB)
Thế giới đã nghiên cứu và trải qua nhiều cách tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh (CSNB): Tổ chức chăm sóc theo ca bệnh; Theo công việc; Chăm sóc ban đầu; CSNB theo nhóm và theo đội Thành phần hoạt động chăm sóc của thế giới gồm: Điều dưỡng; Bác sĩ; Nhà tâm lý; Nhân viên xã hội; Kỹ thuật viên phục hồi chức năng (PHCN); Người nhà người bệnh và NB, trong đó điều dưỡng chịu trách nhiệm chính Khi tổ chức chăm sóc tốt thì hoạt động CSNB hiệu quả hơn vì có
sự phối hợp của nhiều thành phần [34]
Ở nước ta, từ năm 1993 đến nay, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo
về CSNB nhằm nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh Gần đây nhất là Thông
tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 Hướng dẫn công tác ĐD về CSNB trong bệnh viện (BV) đã nêu rõ: NB là trung tâm chăm sóc nên phải chăm sóc toàn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn; Mỗi khoa trong BV cần lựa chọn một mô hình chăm sóc cho phù hợp [16] Để NB được chăm sóc toàn diện, mọi nhân viên y tế (NVYT) phải tham gia CSNB Đặc biệt, cần có sự tổ chức hoạt động
và phối hợp chặt chẽ của bác sĩ (BS), ĐD, NB và người nhà NB
Tuy nhiên, vừa qua một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa quan tâm đúng mức các điều kiện phục vụ người bệnh và nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh, còn có các ý kiến của người bệnh, cộng đồng và cơ quan truyền thông về giá dịch vụ y tế và chất lượng dịch vụ y tế chưa tương xứng Một số nghiên cứu ở Việt Nam cũng đã cho thấy người bệnh chưa thật sự hài lòng với chất lượng chăm sóc sức khỏe tại các bệnh viện công lập ở mức từ 66,1 % đến 84,3 % đối với NB điều trị nội trú [23]
Trang 11Chăm sóc tốt sẽ đáp ứng sự hài lòng của người bệnh, đây chính là tài sản vô hình của bệnh viện, nó tỷ lệ thuận với sự phát triển và tăng trưởng của bệnh viện Ngược lại bệnh viện tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh không tốt sẽ bị nghèo dần vì: Mất người bệnh tiềm năng, uy tín suy giảm và khiếu kiện gia tăng
Trong báo cáo của Ngành y tế Bắc Ninh năm 2013 còn một bộ phận NVYT
có thái độ chưa tốt với NB và người nhà NB, một số không nhỏ NB bị tai biến trong khi nằm viện liên quan đến theo dõi, chăm sóc hậu quả xử trí không kịp thời dẫn đến chất lượng khám chữa bệnh chưa được như mong đợi [5] Vì vậy, tiến hành một nghiên cứu thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc NB tại bệnh viện tuyến huyện để rút kinh nghiệm là điều cần thiết
Để có cái nhìn tổng thể về thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh của Bệnh viện huyện đồng thời có biện pháp khắc phục để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trong thời kỳ mới
Câu hỏi nghiên cứu của chúng tôi là: Thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh của bệnh viện huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh năm 2014 như thế nào? Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động chăm sóc của Bệnh viện huyện? Giải pháp để khắc phục những khó khăn, tồn tại, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chăm sóc người bệnh của bệnh viện huyện Lương Tài?
Chính vì những lý do đó mà chúng tôi xây dựng đề tài " Thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh tại bệnh viện huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2014, đề xuất giải pháp thực hiện đến năm 2020”.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2014
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2014 và đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác tổ chức chăm sóc người bệnh nội trú tại bệnh viện đến năm 2020
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Bệnh viện
1.1.1 Khái niệm bệnh viện
Bệnh viện được xem như bộ mặt của Ngành Y tế Vì theo thói quen, khi nói tới Ngành Y tế thì nơi hình dung ra đầu tiên là bệnh viện [45] Sự quan tâm, sự đánh giá của xã hội đối với Ngành Y tế trước hết là đối với công tác bệnh viện [26] Trong các chức năng của bệnh viện, chức năng khám bệnh, chữa bệnh được xem là chức năng quan trọng nhất
Bệnh viện là một cơ sở y tế trong khu vực dân cư bao gồm giường bệnh, đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị cơ sở hạ tầng
để phục vụ người bệnh Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động:
- Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp
vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
- Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc…
- Bệnh viện là một tổ chức động bao gồm đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong [34]
1.1.2 Bệnh viện đa khoa huyện
Bệnh viện đa khoa huyện (kể cả phòng khám đa khoa khu vực) là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Y tế, chịu sự quản lý toàn diện của Giám đốc Sở Y tế, chịu sự quản lý Nhà nước của UBND huyện và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, kỹ thuật của các BVĐK và chuyên khoa tuyến tỉnh BVĐK huyện là đơn vị có tư cách pháp nhân, có trụ sở, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước BVĐK huyện do Giám đốc lãnh đạo, giúp việc Giám đốc có từ 01-02 Phó Giám đốc BVĐK huyện gồm các phòng chuyên môn, các khoa lâm sàng và cận lâm sàng Tuỳ theo nhu cầu tình hình thực tế, số giường được phân bổ cho từng huyện mà tổ chức các khoa, phòng như: Phòng kế hoạch nghiệp vụ, phòng Điều dưỡng, phòng
Trang 13Tài chính kế toán, phòng Hành chính quản trị, Phòng khám đa khoa khu vực(PKĐKKV), Ngoại - Sản, Nội - Y học cổ truyền dân tộc, Nhi - Hồi sức cấp cứu, khoa khám bệnh, Lây, Cận lâm sàng (Xét nghiệm, X quang, Dược vật tư y tế…) [7]
1.1.3 Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện huyện
(3) Nghiên cứu khoa học về y học
(4) Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật
- Kế hoạch hoạt động của các khoa, phòng
- Đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện quy chế Bệnh viện
- Tổ chức chỉ đạo công tác nghiệm vụ chuyên môn Bệnh viện [14]
b Phòng Điều dưỡng
Phòng Y tá (điều dưỡng) của Bệnh viện là phòng nghiệp vụ chịu sự lãnh đạo
Trang 14trực tiếp của Giám đốc Bệnh viện là chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tổ chức, điều hành và giám sát công tác chăm sóc người bệnh toàn diện [14]
c Phòng Tổ chức - Hành chính, quản trị
Phòng tổ chức cán bộ là phòng nghiệp vụ, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về tổ chức thực hiện công tác tổ chức cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ của bệnh viện
d Phòng Tài chính - Kế toán
Phòng tài chính kế toán của bệnh viện là phòng nghiệp vụ chịu sự lãnh đạo trực tiếp của giám đốc bệnh viện và chịu trách nhiệm trước giám đốc về toàn bộ hoạt động tài chính kế toán của bệnh viện
đ Khoa Khám bệnh - Cấp cứu
Là khoa lâm sàng khám kê đơn điều trị cho người bệnh và điều trị bệnh nhân cấp cứu và đón bệnh nhân vào điều trị nội trú các khoa
e Khoa Nội Tổng hợp (Nội, Nhi, Đông y, Lây)
Là khoa lâm sàng hệ nội, thực hiện các phương pháp không phẫu thuật để chữa bệnh
g Khoa Ngoại tổng hợp (Ngoại, Phụ sản, 3 chuyên khoa)
Thực hiện chức năng nhiệm vụ của khoa lâm sàng làm công tác điều trị, phẫu thuật, thủ thuật, chăm sóc bệnh nhân điều trị nội trú
h Khoa Dược
Lập kế hoạch, cung cấp và bảo đảm số lượng, chất lượng thuốc thông thường
và thuốc chuyên khoa, hoá chất, vật dụng y tế tiêu hao: bông, băng, cồn gạc cho điều trị nội trú và ngoại trú đáp ứng yêu cầu điều trị hợp lí
i Khoa Cận lâm sàng
Khoa xét nghiệm là cơ sở thực hiện các kĩ thuật xét nghiệm về huyết học, hoá sinh, vi sinh, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán bệnh và theo dõi kết quả điều trị
Khoa chẩn đoán hình ảnh là cơ sở thực hiện các kĩ thuật tạo ảnh y học để chẩn đoán bệnh và theo dõi kết quả điều trị, bằng các thiết bị X-quang, siêu âm, cộng hưởng từ…
Trang 151.2 Về nguồn lực của y tế cơ sở
1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực: Có nhiều quan niệm về nguồn nhân lực Theo tổ chức Liên
hiệp quốc: "Nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội" Theo quan niệm của kinh tế học hiện đại, nguồn nhân lực là một trong năm nguồn lực cơ bản (5M) của phát triển xã hội Các nguồn lực đó là: Nguồn lực con người (Man power resources), nguồn lực quản lý (Managerment resources), nguồn lực cơ sở vật chất (Material resources), nguồn lực về tiền bạc (Money resources), nguồn lực khoa học công nghệ (Managerment of Science and Technology resources) [29]
Nhân lực y tế: Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao
gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ
sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế
tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ thôn/bản) [29]
Số lượng nhân lực y tế tiếp tục được cải thiện Số y sĩ, bác sĩ trên 1 vạn dân tiếp tục tăng lên và đạt 13,4 vào năm 2011, riêng số bác sĩ trên 1 vạn dân tăng từ 7,33 năm 2011 lên 7,46 năm 2012 (đạt mục tiêu đề ra cho năm 2012 trong kế hoạch
5 năm) Số dược sĩ đại học trên 1 vạn dân năm 2011 đạt 1,92 (vượt mục tiêu đề ra cho năm 2015 trong kế hoạch là 1,8/vạn dân); số lượng điều dưỡng trên 1 vạn dân cũng tăng (đạt 10,02 năm 2011) [12] Số lượng cán bộ y tế ở tuyến cơ sở tăng lên là một kết quả đáng ghi nhận So với năm 2010, số lượng nhân lực y tế tuyến xã năm
2011 tăng thêm 3549 cán bộ (trong đó có 346 bác sĩ) và tuyến huyện tăng thêm
6878 cán bộ (trong đó có 585 bác sĩ) Năm 2012, tỷ lệ TYT xã có bác sĩ đạt 76,0%,
Trang 16tăng lên 6 điểm phần trăm so với năm 2010; tỷ lệ TYT xã có y sĩ sản nhi, hộ sinh đạt 93,4% (giảm xuống nên không đạt kế hoạch đề ra) Số thôn, bản, ấp thuộc xã, thị trấn có nhân viên y tế hoạt động được duy trì ở mức trên 96% từ năm 2009 đến
2012, nhưng do sự suy giảm tỷ lệ tổ dân phố khu vực thành thị có nhân viên y tế hoạt động nên tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố có nhân viên y tế hoạt động chỉ đạt 81,2% Nhân lực y tế làm việc ở tuyến huyện- xã là 56% , trong khi dân số nông thôn chiếm trên 70% dân số toàn quốc [12]
1.2.2 Cơ sở vật chất trang thiết bị
Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg ngày 02/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ
Về việc phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ
và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008-2010 Tổng vốn đầu tư xây dựng cho các bệnh viện huyện và bệnh viện khu vực là 17.000 tỷ đồng, trong đó bệnh viện huyện Lương Tài được đầu tư 183 tỷ đồng để xây dựng và cải tạo đến nay công trình đã cơ bản hoàn thành với 02 khu nhà 3 tầng và 01 nhà 5 tầng, 01 khu nhà
kỹ thuật 03 tầng Số tiền đầu tư cho mua sắm trang thiết bị là 56 tỷ đồng theo danh mục kèm theo Quyết định số 3333/QĐ-BYT của Bộ Y tế: Về việc ban hành danh mục trang thiết bị y tế thiết yếu phục vụ triển khai Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008- 2010 [35]
1.2.3 Về Tài chính
Theo WHO, mức chi cho y tế phụ thuộc vào gói dịch vụ được bảo đảm theo nhu cầu của người dân và điều kiện của từng quốc gia Chi y tế bình quân đầu người của Việt Nam năm 2011 đạt 95 USD [11], tương đương với In-đô-nê-xia và Phi-líp-pin (95 USD), thấp hơn so với Thái Lan (202 USD) [51], nhưng cao hơn mức khuyến nghị của WHO cho các nước thu nhập thấp là trên 60 USD/người/năm vào năm 2015, để thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và bảo đảm tiếp cận các dịch vụ
y tế thiết yếu, bao gồm cả các can thiệp đối với các bệnh không lây [24]
Theo Tài khoản y tế quốc gia năm 2010, chi NSNN cho y tế chiếm 26% tổng chi toàn xã hội cho y tế [11] Tổng NSNN cho y tế giai đoạn 2008–2013 tăng qua
Trang 17các năm với tốc độ tăng bình quân 34,2%, cao hơn tốc độ tăng bình quân tổng chi thường xuyên NSNN cùng kỳ (20%) [10] Trong những năm gần đây, ngoài khoản chi cho hoạt động thường xuyên của ngành y tế, NSNN cho y tế tăng lên đáng kể do được bố trí kinh phí bảo đảm để thực hiện các chương trình hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần mua thẻ BHYT cho các đối tượng theo Luật BHYT, bao gồm người nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, học sinh sinh viên Bên cạnh nguồn NSNN chi thường xuyên cho y tế, nguồn kinh phí đầu tư từ nguồn trái phiếu chính phủ để triển khai một loạt các đề án đầu
tư, nâng cấp mạng lưới y tế địa phương theo các Quyết định 225, 47, 930 của Thủ tướng Chính phủ cũng làm tăng tổng kinh phí từ NSNN cho y tế Tuy nhiên, tốc độ gia tăng chi NSNN cho y tế trong ba năm gần đây sụt giảm rõ rệt do ảnh hưởng chung từ những khó khăn kinh tế vĩ mô và chính sách thắt chặt tài khóa theo Nghị quyết 11/2011 của Chính phủ [16] Năm 2012, tốc độ gia tăng chi NSNN cho y tế giảm mạnh so với năm 2011 và tiếp tục giảm theo Dự toán năm 2013 [11]
Bộ Y tế xây dựng/hoàn thiện các Đề án tăng cường y tế cơ sở, Đề án nâng cao chất lượng KCB… làm cơ sở vận động bố trí NSNN để bảo đảm thực hiện các định hướng ưu tiên của ngành y tế hướng tới mục tiêu bao phủ CSSK toàn dân
Tỉnh Bắc Ninh chi cho cơ sở khám chữa bệnh tuyến huyện năm 2013 là 34 triệu đồng/giường bệnh, năm 2014 là 36 triệu đồng/giường bệnh [5]
Kinh phí NSNH chỉ chi lương cho cán bộ y tế bệnh viện được 7 tháng còn lấy từ nguồn thu viện phí chi bù lương và các chi khác Chính vì thế kinh phí phục
vụ cho công tác chăm sóc người bệnh như mua trang thiết bị, vật tư còn hạn hẹp
1.2.4 Định mức biên chế của BVĐK hạng III tuyến huyện [6]
- Đơn vị tính: người/giường bệnh
Trang 18Bảng 1.1 Định mức biên chế của BVĐK hạng III tuyến huyện
B Cơ cấu chuyên môn
1 Bác sĩ/chức danh chuyên môn y tế khác (Điều
dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên)
1/3 - 1/3,5
3 Dược sĩ Đại học/Dượcsĩ trung học 1/2 - 1/2,5
1.2.5 Thực trạng nguồn nhân lực y tế tại tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội khoảng 30 Km Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh: Bắc Giang ở phía Bắc, Hải Dương ở phía Đông Nam, Hưng Yên ở phía Nam và thủ đô Hà Nội ở phía Tây Diện tích tự nhiên 822,71 km2, dân số hiện nay là 1.116.117 người, mật độ dân số 1.356 người/km2 Tỉnh Bắc Ninh hiện nay có 6 huyện (Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài), 01 thị xã (Từ Sơn), 01 thành phố trực thuộc tỉnh (Thành phố Bắc Ninh) với 126 xã, phường, thị trấn Hệ thống bộ máy ngành Y tế Bắc Ninh có
Trang 1934 đơn vị trực thuộc Sở Y tế bao gồm các bệnh viện, trung tâm y tế và các trung tâm dân số các huyện, thị xã, thành phố Bắc Ninh hiện có 01 bệnh viện đa khoa tỉnh, 05 bệnh viện chuyên khoa tỉnh và 07 bệnh viện đa khoa huyện, thị xã; có 2.090 giường bệnh đạt tỷ lệ 19,7 giường/vạn dân Theo thống kê của Sở Y tế Bắc Ninh toàn ngành hiện có 3607 công chức, viên chức lao động, trong đó 710 bác sỹ, 46 dược sỹ đại học, đạt tỷ lệ 6,7 bác sỹ/vạn dân; ngoài ra còn có đội ngũ 868 nhân viên
y tế thôn, khu phố và 1796 cộng tác viên Dân số - KHHGĐ [5]
1.3 Hoạt động chăm sóc
1.3.1 Nhu cầu cơ bản con người
Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ, gốc Nga Năm 1943 bắt đầu nghiên cứu lý thuyết thang bậc nhu cầu Đầu tiên ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc, đến năm 1970 chia thành 7 bậc, sau này các nhà kinh tế học hiện đại giới thiệu thuyết của ông thường là 5 bậc Theo ông, hành vi con người phụ thuộc vào các động cơ bên trong, động cơ bên trong được hình thành từ những nhu cầu của con người
Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao Theo tầm quan trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:
- Nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh học: là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của
Trang 20Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp Nhu cầu cấp thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an ninh/an toàn Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người
- Nhu cầu về quyền sở hữu và tình cảm (được yêu thương)
- Nhu cầu về an toàn và an ninh
- Nhu cầu về thể chất và sinh lý
1.3.2 Nhu cầu cơ bản trong hoạt động chăm sóc người bệnh
- Nhu cầu về thể chất và sinh lý: Là nền tảng của hệ thống phân cấp nhu cầu,
và được ưu tiên hàng đầu Nhu cầu thể chất bao gồm: oxy, thức ăn, nước uống, bài tiết, vận động, ngủ, nghỉ ngơi Các nhu cầu này cần được đáp ứng tối thiểu để duy trì sự sống Ðáp ứng nhu cầu thể chất là một phần quan trọng trong kế hoạch chăm
Trang 21sóc cho trẻ em, người già, người có khuyết tật và người ốm Bởi vì, những nhóm
người này cần sự hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu cho chính họ
- Nhu cầu an toàn và được bảo vệ: Được xếp ưu tiên sau nhu cầu thể chất bao
hàm cả an toàn về tính mạng và an toàn về tinh thần An toàn về tính mạng nghĩa là bảo vệ cho người ta tránh được các nguy cơ đe dọa cuộc sống và an toàn về tinh thần là tránh được mọi sự sợ hãi, lo lắng Người bệnh khi vào bệnh viện có sự đòi hỏi rất cao về nhu cầu an toàn và bảo vệ vì cuộc sống, tính mạng của họ phụ thuộc vào CBYT.Ðể giúp bảo vệ NB khỏi bị nguy hiểm, người điều dưỡng phải biết rõ tính chất, đặc điểm của bệnh nhân và nhận biết rõ bất kỳ những tai biến nào có thể xảy đến cho bệnh nhân, và nếu có biến chứng xảy ra, người điều dưỡng có thể xử trí
một cách thông minh
- Nhu cầu tình cảm và quan hệ: Mọi người đều có nhu cầu tình cảm quan hệ
bạn bè, hàng xóm, gia đình và xã hội Các nhu cầu này được xếp vào nhu cầu ở mức cao Nó bao hàm sự trao - nhận tình cảm và cảm giác là thành viên của gia đình, đoàn thể, xã hội Người không được đáp ứng về tình cảm, không có mối quan hệ bạn bè, xã hội có cảm giác buồn tẻ và cô lập Người điều dưỡng cần xem xét nhu
cầu này của bệnh nhân khi lập kế hoạch chăm sóc
- Nhu cầu được tôn trọng: Sự tôn trọng tạo cho con người lòng tự tin và tính
độc lập Khi sự tôn trọng không được đáp ứng người ta tin rằng họ không được người khác chấp nhận nên sinh ra cảm giác cô độc và tự ty Ðiều dưỡng đáp ứng nhu cầu này của người bệnh bằng thái độ thân mật, niềm nở và chú ý lắng nghe ý
kiến của người bệnh
- Nhu cầu tự hoàn thiện: Là mức cao nhất trong hệ thống phân loại nhu cầu
của Maslow và Maslow đánh giá rằng chỉ 1% dân số trưởng thành đã từng đạt đến mức độ tự hoàn thiện Nhu cầu tự hoàn thiện diễn ra trong suốt đời, nó chỉ xuất hiện khi các nhu cầu dưới nó được đáp ứng trong những chừng mực nhất định Các nhu cầu cơ bản càng được đáp ứng thì càng tạo ra động lực sáng tạo và tự hoàn thiện ở mỗi cá thể Người điều dưỡng cần biết đánh giá đúng những nhu cầu, kinh nghiệm, kiến thức và thẩm mỹ của người bệnh để từ đó có sự quan tâm và lập kế hoạch chăm sóc thích hợp
Trang 22- Theo Virginia Henderson thì thành phần chăm sóc người bệnh cơ bản gồm
14 yếu tố:
● Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp
● Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng
● Giúp đỡ bệnh nhân trong sự bài tiết
● Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện
● Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi
● Giúp bệnh nhân mặc và thay quần áo
● Giúp bệnh nhân duy trì thân nhiệt
● Giúp bệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày
● Giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện
● Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp
● Giúp bệnh nhân thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng
● Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người
vô dụng
● Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí
● Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học
1.4 Điều dưỡng và công tác chăm sóc người bệnh
1.4.1 Khái niệm về điều dưỡng
Điều dưỡng viên là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, theo dõi bệnh nhân và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân Theo một định nghĩa khác thì Điều dưỡng viên là những người có nền tảng khoa học cơ bản về điều dưỡng, đáp ứng các tiêu chuẩn về chăm sóc bệnh nhân tùy theo
sự giáo dục và sự hoàn thiện lâm sàng
Ở Việt Nam, trước đây người điều dưỡng được gọi là Y tá, có nghĩa là người phụ tá của người thầy thuốc Ngày nay, điều dưỡng đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế do đó người làm công tác điều dưỡng được gọi là điều dưỡng viên Người điều dưỡng hiện có nhiều cấp bậc, trình độ và đã được qui định
Trang 23rất cụ thể và chi tiết trong hệ thống ngạch bậc công chức theo các văn bản quy định của Bộ Nội vụ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.4.2 Vai trò của người điều dưỡng
Lực lượng Điều dưỡng viên (kể cả Hộ sinh) giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu với mục tiêu chẩn đoán, điều trị, chăm sóc các nhu cầu thiết yếu của người dân trong việc nâng cao sức khỏe, duy trì, phục hồi và
dự phòng bệnh tật ở ba tuyến: tuyến đầu, tuyến sau, và tuyến cuối kết hợp với các chuyên ngành khác trong toán chăm sóc sức khỏe
Tại các nước phát triển Anh, Mỹ, Canada, cũng như các nước đang phát triển như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Điều dưỡng viên đã được nâng cao vai trò trong việc quản lý các cơ sở y tế ban đầu, bệnh viện, toán chăm sóc sức khỏe, tham gia khám và điều trị - chăm sóc các bệnh cấp và mãn tính theo chuyên ngành của điều dưỡng và có mặt trong hầu hết các lãnh vực khác và là nghề đang được kính trọng nhất hiện nay Riêng tại Việt Nam thì tình hình không khả quan và còn nhiều tồn tại, mặc dù trình độ đào tạo và phạm vi thực hành của điều dưỡng Việt Nam hiện nay đã có nhiều thay đổi, song trong nhận thức chung về vai trò của người điều dưỡng chưa được cập nhật phù hợp với thực tế
1.4.3 Sự liên quan giữa nhu cầu và nguyên tắc điều dưỡng
Nguyên tắc điều dưỡng xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu người bệnh Người khỏe mạnh tự đáp ứng được các nhu cầu của họ Khi bị bệnh tật, ốm yếu người bệnh không tự đáp ứng được nhu cầu hàng ngày cho chính mình nên cần sự
hỗ trợ của người điều dưỡng Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân dẫn đến sự ra đời của ngành y tế và cán bộ y tế
Nhu cầu của con người vừa có tính đồng nhất vừa có tính duy nhất nên điều dưỡng cần có kế hoạch chăm sóc riêng biệt cho từng bệnh nhân Nhu cầu con người tuy cơ bản giống nhau nhưng mức độ và tầm quan trọng đối với từng nhu cầu ở từng người có khác nhau Hơn nữa, trong cùng một con người nhu cầu này có thể mạnh hơn nhu cầu khác và thay đổi mức ưu tiên theo từng giai đoạn của cuộc sống, người điều dưỡng cần nhận biết được các nhu cầu ưu tiên của người bệnh để lập kế hoạch chăm sóc thích hợp
Trang 24Nhu cầu giống nhau nhưng cách đáp ứng có thể khác nhau để thích hợp với từng cá thể Việc chăm sóc người bệnh cần hướng tới từng cá thể, tùy từng trường hợp từng hoàn cảnh sao cho phù hợp
Sự tham gia của người bệnh vào quá trình chăm sóc: Chăm sóc xuất phát từ nhu cầu của người bệnh, thông thường người bệnh hiểu rõ nhu cầu của họ, trừ trường hợp bệnh nhân hôn mê, tâm thần nên khi lập kế hoạch chăm sóc điều dưỡng cần tham khảo ý kiến bệnh nhân và gia đình bệnh nhân để tạo cho họ tham gia tích cực vào quá trình điều trị, chăm sóc, phục hồi sức khỏe cho chính họ [37]
Ðiều dưỡng cần tạo ra môi trường chăm sóc thích hợp để người bệnh được thoải mái, mau chóng lành bệnh hoặc nếu chết thì “Chết được thanh thản, nhẹ nhàng”
1.4.4 Khái niệm về CSNB trong bệnh viện
CSNB trong bệnh viện bao gồm sự hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi NB, nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ và nghỉ, chăm sóc tâm lý, hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường BV cho NB [26]
1.4.5 Khái niệm CSNB toàn diện
Theo quan điểm của người cung cấp dịch vụ y tế CSNB toàn diện là: Dịch vụ y
tế tổng hợp được thực hiện một cách đồng bộ bởi bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng và mọi nhân viện y tế trong bệnh viện và sự tham gia của NB
Theo quan điểm của người bệnh CSNB toàn diện được hiểu là: Sự chăm sóc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh hàng ngày về thể chất, tinh thần và xã hội
CSNB toàn diện là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng CSNB, là mục tiêu phấn đấu của các bệnh viện Khái niệm này cũng khắc phục nhận thức chưa đầy đủ của một số người cho rằng CSNB toàn diện chỉ là nhiệm vụ của phòng điều dưỡng và của các ĐD, đồng thời khái niệm này đưa ra một quan niệm mới về vai trò của NB trong việc tham gia các quyết định về điều trị và chăm sóc cho chính họ Trước đây việc điều trị cho NB hầu như chỉ do người thầy thuốc quyết định, NB chấp nhận tất cả những quyết định của thầy thuốc trong việc điều trị cho họ và vì thế, họ phó thác tính mạng cho thầy thuốc Ngày nay, người ta khuyến khích và trao quyền cho NB đưa ra các
Trang 25quyết định điều trị và chăm sóc cho chính họ, trên cơ sở được giải thích đầy đủ với lời khuyên của BS và ĐD Có sự tham gia của NB trong nhóm chăm sóc là rất quan trọng
và có ý nghĩa trong việc chữa bệnh Khái niệm trên làm rõ trách nhiệm thực hiện CSNB toàn diện đối với mọi NVYT trong BV [52]
1.4.6 Khái niệm NB là trung tâm chăm sóc
Theo Viện Y học Mỹ (IOM), chăm sóc lấy người bệnh là trung tâm là một trong sáu mục tiêu cơ bản của hệ thống chăm sóc sức khỏe của Mỹ IMO định nghĩa: Chăm sóc lấy NB là trung tâm là sự chăm sóc được thiết lập bởi quan hệ hợp tác giữa những người hành nghề, NB và gia đình NB để đảm bảo các đáp ứng dựa trên các giá trị về nhu cầu, mong đợi và sở thích của NB, đồng thời NB được hướng dẫn, hỗ trợ để đưa ra quyết định và tham gia vào việc chăm sóc của riêng mình [47]
1.4.7 Khái niệm về phân cấp chăm sóc [50]
- Người bệnh cần chăm sóc cấp I là người bệnh nặng, nguy kịch, hôn mê, suy
hô hấp, suy tuần hoàn, phải nằm bất động và yêu cầu có sự theo dõi, chăm sóc toàn diện và liên tục
- Người bệnh cần chăm sóc cấp II là người bệnh có những khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện các hoạt động hằng ngày và cần sự theo dõi, hỗ trợ
- Người bệnh cần chăm sóc cấp III là người bệnh tự thực hiện được các hoạt động hằng ngày và cần sự hướng dẫn chăm sóc
1.4.8 Các mô hình phân công CSNB
Theo Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện thì chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [16] Hiện nay tại Việt Nam nhiều
mô hình chăm sóc người bệnh được triển khai và áp dụng
1.4.8.1 Mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính
Một điều dưỡng viên hoặc một hộ sinh viên chịu trách nhiệm chính trong việc nhận định, lập kế hoạch chăm sóc, tổ chức thực hiện có sự trợ giúp của các
Trang 26điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên khác và theo dõi đánh giá cho một số người bệnh trong quá trình nằm viện [26]
1.4.8.2.Mô hình chăm sóc theo nhóm
Nhóm có từ 2-3 điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên chịu trách nhiệm chăm sóc một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh [26]
1.4.8.3.Mô hình chăm sóc toàn diện theo đội
Mô hình chăm sóc theo đội: Đội gồm bác sĩ, điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên và người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh khác chịu trách nhiệm điều trị, chăm sóc cho một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh
Từ 1998, với sự giúp đỡ của chuyên gia Thụy Điển, Bệnh viện Việt Nam Thụy Điển Uông Bí đã thí điểm triển khai mô hình chăm sóc toàn diện theo đội tại Khoa Ngoại Thay vì chỉ có điều dưỡng, mỗi đội này có các thành phần: Bác sĩ, điều dưỡng, học sinh, sinh viên thực tập, kỹ thuật viên phục hồi chức năng, hộ lý, người nhà bệnh nhân và bệnh nhân cùng tham gia Các thành viên trong đội phối hợp chặt chẽ với nhau, thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình bệnh nhân Vào đầu giờ thăm bệnh buổi sáng, Đội đến trực tiếp các giường bệnh được phân công quản lý Tại đây, đội nghe điều dưỡng báo cáo tình trạng, sức khoẻ của bệnh nhân, hoạt động chăm sóc người bệnh; bác sĩ kiểm tra lại sức khoẻ người bệnh Sau đó, các thành viên trong đội; trong đó, cả bệnh nhân và người nhà bệnh nhân cùng thảo luận, kiểm điểm tình hình chăm sóc, điều trị cho người bệnh, thái độ, ứng xử của các thành viên trong đội đối với bệnh nhân; đồng thời, phác thảo kế hoạch chăm sóc trong ngày, phân công cụ thể công việc của các thành viên Nhờ đó, cán bộ nhân viên trong Khoa bám sát được bệnh tình của người bệnh, hoạt động chăm sóc bệnh nhân được giám sát tốt Bản thân bác sĩ không chỉ làm công tác điều trị như trước đây mà còn tham gia trực tiếp vào triển khai dự thảo kế hoạch chăm sóc bệnh nhân trong ngày sao cho hiệu quả nhất, bởi hơn ai hết, họ là người hiểu rõ hơn cả tình trạng bệnh tật của người bệnh [52]
-1.4.8.4 Mô hình lấy người bệnh làm trung tâm
Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, công tác chăm sóc người bệnh toàn diện được thực hiện theo mô hình lấy người bệnh, buồng bệnh làm trung tâm với sự
Trang 27tham gia của các lực lượng liên quan (bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý, dược ) Nội dung chăm sóc toàn diện bao gồm về chăm sóc y tế (chữa bệnh); thể chất (ăn mặc, ở, vệ sinh); tinh thần (phong cách giao tiếp, thời gian tiếp xúc người bệnh) Nhờ đó, góp phần áp dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ về chẩn đoán, điều trị và chăm sóc người bệnh và từng bước thực hiện kỹ thuật chăm sóc người bệnh chuyên sâu [42]
Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, công tác chăm sóc toàn diện người bệnh cũng thực hiện theo mô hình lấy người bệnh làm trung tâm với sự tham gia tích cực của các bộ phận từ lâm sàng, cận lâm sàng cũng như vệ sinh, dinh dưỡng người bệnh và người nhà người bệnh Trên cơ sở những nhu cầu chính đáng của người bệnh để tổ chức thực hiện đáp ứng nhu cầu đó Cán bộ y tế thường xuyên giao tiếp, giải thích tường tận, động viên an ủi, trao đổi với người bệnh và người nhà người bệnh với các hình thức "ba không": không nặng lời, không thờ ơ, không từ chối; "ba công đoạn": "xin phép", xin lỗi, cảm ơn [42]
1.4.8.5 Mô hình phân chăm sóc theo công việc
Mô hình này được áp dụng trong các trường hợp cấp cứu thảm họa hoặc ở chuyên khoa sâu đòi hỏi điều dưỡng chuyên khoa thực hiện kỹ thuật chăm sóc đặc biệt trên người bệnh
1.4.8.6 Mô hình chăm sóc theo ca
Bệnh viện tổ chức cho điều dưỡng viên, hộ sinh viên làm việc theo ca tại các khoa, đặc biệt là ở các khoa Cấp cứu, khoa Hồi sức tích cực, khoa Phẫu thuật, khoa Sản và khoa Sơ sinh Mỗi ca làm việc áp dụng mô hình phân công chăm sóc phù hợp với đặc điểm chuyên môn của từng khoa [34]
1.5 Những nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam
1.5.1 Trên Thế giới
Walter J Flynn, Robert L Mathis, John H Jackson (2007)[50]nghiên cứu các vấn đề: Bản chất và các thách thức trong quản lý nguồn nhân lực y tế; năng lực, cơ cấu và tiêu chuẩn nhân lực y tế; quản lý chiến lược nguồn nhân lực y tế; các nhân tố pháp lý tác động đến nguồn nhân lực y tế; thiết kế và phân tích công việc; tuyển dụng và lựa chọn nhân sự; đào tạo và phát triển nhân lực y tế; quản lý theo kết quả thực thi trong ngành y tế; chế độ đãi ngộ đối với nhân lực y tế Các vấn đề trên được
Trang 28trình bày như những gợi ý về nguyên tắc đối với việc quản trị nguồn nhân lực trong
lĩnh vực y tế [64]
Nghiên cứu của Wipada Kunaviktikul và cộng sự (2005) [64] tại Thái Lan đã đưa ra 9 chỉ số để đánh giá chất lượng chăm sóc của điều dưỡng đó là: tỷ lệ điều dưỡng và tỷ lệ chuyên môn của điều dưỡng, số giờ làm việc của điều dưỡng, số bệnh nhân chăm sóc/ngày với tổng số bệnh nhân nhập viện, tỷ lệ những người bệnh nhập viện bị loét do tỳ đè, do nằm lâu sau khi nhập viện 72 giờ với tổng số bệnh hân ra viện cùng thời điểm, sự hài lòng của điều dưỡng với công việc, với các mối quan hệ với đồng nghiệp, cơ hội thăng tiến, sự an toàn, thu nhập; tỷ lệ nhiễm trùng các ống sode tiểu sau khi nhập viện 48 giờ so với tổng số người bệnh ra viện cùng thời điểm; sự hài lòng của người bệnh với việc GDSK cho họ, sự hài lòng của người bệnh với kiểm soát đau, sự hài lòng của người bệnh với các chăm sóc điều dưỡng bao gồm: thể chất, tinh thần, cảm xúc, sự riêng tư, sự tham gia của người bệnh vào
việc ra quyết định chăm sóc
Tác giả Bekele Chaka (2005) [50] nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 3 bệnh viện công Tikur Anbessa, Saint Paul và Zewditu Memorial tại Addis Ababa, Ethiopia năm 2005 về đánh giá công tác chăm sóc điều dưỡng thông qua mức độ hài lòng của 631 người bệnh Kết quả cho thấy: tỷ lệ người bệnh hài lòng với khả năng chuyên môn của người điều dưỡng đạt 70% nhưng tỷ lệ người bệnh hài lòng với lượng thông tin nhận được từ điều dưỡng về tình trạng bệnh tật, cách thức điều trị cho họ chỉ đạt 40% Nhu cầu cải thiện mối quan hệ cá nhân giữa điều dưỡng với
người bệnh đã được khuyến cáo
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 9688 điều dưỡng và 5766 người bệnh của Ming You và cộng sự [63], đánh giá một cách toàn diện nguồn lực điều dưỡng tại
Li-181 bệnh viện ở Trung Quốc và mối quan hệ giữa nguồn lực điều dưỡng với chất lượng CSNB Kết quả cho thấy có 38% điều dưỡng Trung Quốc đã làm việc quá sức và 45% không hài lòng với nghề nghiệp của mình Gia tăng tỷ lệ điều dưỡng đánh giá môi trường làm việc và chất lượng chăm sóc tại bệnh viện của họ làm việc
ở mức thấp hoặc trung bình (tương ứng 29% và 61%) và mức độ an toàn người bệnh ở các bệnh viện thấp (36%) Tăng tỷ lệ người bệnh/điều dưỡng có mối liên
Trang 29quan với chất lượng chăm sóc thấp và tăng tỷ lệ chất lượng chăm sóc thấp và trung bình (OR = 1.05) Có mối liên quan giữa tăng tỷ lệ cử nhân điều dưỡng với kết quả
điều trị tốt hơn
1.5.2 Tại Việt Nam
Trước năm 2000 công tác nghiên cứu khoa học đối với điều dưỡng cũng như nghiên cứu về lĩnh vực hoạt động của điều dưỡng còn rất mới, rất ít nhưng từ năm
2002 đến nay công tác NCKH về điều dưỡng của Hội điều dưỡng dã được quan tâm đẩy mạnh, nhiều cơ sở y tế và Hội điều dưỡng các tỉnh đã triển khai nhiều đề tài NCKH, góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành điều dưỡng Tuy nhiên hoạt động NCKH còn nhiều tồn tại và hạn chế: lực lượng điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên tham gia NCKH chưa nhiều; trình độ năng lực của điều dưỡng còn nhiều hạn chế, nhiều điều dưỡng còn thiếu lý luận và kinh nghiệm trong NCKH Điều này dẫn đến số lượng đề tài NCKH còn hạn chế, thiếu chặt chẽ về phương pháp nghiên cứu
Tác giả Trần Quang Huy và cộng sự (2009) [52] Đánh giá các đề tài NCKH điều dưỡng thực hiện tại Việt Nam giai đoạn 2004-2009 kết luận NCKH trong lĩnh vực điều dưỡng đã có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng; một số đề tài có chất lượng tốt, có tính khoa học và thực tiễn cao, có ý nghĩa với công tác thực hành, phát triển nghề điều dưỡng; một số đề tài còn có một số hạn chế đó là việc phân bổ các lĩnh vực nghiên cứu chưa đồng đều, rất ít đề tài được thực hiện ở tuyến huyện;
số lượng hộ sinh và kỹ thuật viên tham gia NCKH ít; các đề tài NCKH chủ yếu là nghiên cứu mô tả; một số đề tài chưa đạt yêu cầu theo cá tiêu chí đánh giá
Tác giả Dương Thị Bình Minh (2012) [26] tiến hành nghiên cứu tại một số khoa lâm sàng tại bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô năm 2012 Nghiên cứu mô tả thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác CSNB của điều dưỡng viên Kết quả cho thấy ĐDV của bệnh viện đã hoàn thành tương đối tốt 4 trong 5 nhiệm vụ được đánh giá đều đạt > 90% Tuy nhiên, kết quả thực hiện công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK lại khá thấp (đạt 66,2%) Một số hoạt động chăm sóc có tỷ lệ không nhỏ điều dưỡng chưa thực hiện tốt đó là: còn 8,1% người CSNB cho người bệnh ăn qua Sode và 46,2% trường hợp điều dưỡng không
Trang 30tham gia hỗ trợ về sinh cá nhân cho người bệnh Một số yếu tố ảnh hưởng là thiếu nhân lực; tỷ lệ điều dưỡng có trình độ đại học và cao đẳng thấp, sự quá tải công việc của điều dưỡng, hạn chế của công tác kiểm tra, giám sát, sự phối hợp giữa bác sỹ
và điều dưỡng chưa tốt Nghiên cứu cũng tiến hành quan sát công việc của điều dưỡng viên cả trong và ngoài giờ hành chính và nhận thấy không có sự khác biệt về
sự tuân thủ quy trình điều dưỡng giữa 2 thời điểm
Tác giả Nguyễn Thị Ly và cộng sự (2007)[23] đánh giá chất lượng chăm sóc người bệnh toàn diện tại một số cơ sở y tế tỉnh Hải Dương Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp phương pháp định tính Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh hài lòng với sự chăm sóc của điều dưỡng từ 70-100% Tuy nhiên khi thực hiện mô hình chăm sóc toàn diện ở một số bệnh viện việc khảo sát còn gặp nhiều khó khăn như: việc lập kế hoạch chăm sóc của điều dưỡng trưởng mới chỉ đạt 65,51%, điều dưỡng viên còn thiếu nguồn lực trong công tác chăm sóc như người bệnh, như tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương trang thiết bị chăm trong sóc người bệnh đạt 20,45% so với quy định; nhân lực bác sỹ/điều dưỡng thiếu đạt tỷ lệ 1/1,6; trong khi đó so với TT 08 tỷ lệ này là 1/3-3,5
Tác giả Nguyễn Thị Điều và cộng sự (2007) [42] thực trạng và một số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh toàn diện tại Viện Chấn thương - Chỉnh hình Quân đội, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ tháng 4/2006 đến tháng 6/2007 Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang
có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp Kết quả nghiên cứu cho thấy về nhân lực điều dưỡng nữ chiếm tỷ lệ cao (71,5%); trong đó tập trung nhiều ở độ < 30 tuổi và thâm niên công tác < 5 năm (62,8%); công tác chăm sóc toàn diện đã được triển khai sâu rộng và đạt được kết quả khả quan (người bệnh được chăm sóc toàn diện), tuy nhiên
có sự khác biệt về các mặt chăm sóc như: tư vấn chế độ ăn uống, giáo dục sức khỏe, phòng bệnh và chế độ luyện tập được thực hiện đạt tỷ lệ (<90%)
Tác giả Phạm Anh Tuấn (2011) [46] Đánh giá hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí năm 2011 Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng Kết quả nghiên cứu cho thấy đây là bệnh viện đầu tiên áp dụng mô hình chăm sóc người
Trang 31bệnh theo đội; hiện bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí đã có 33 đội chăm sóc người bệnh tại 15 khoa lâm sàng thuộc khối Nội, Ngoại, Sản, Nhi, khối chuyên khoa lẻ và khoa Truyền nhiễm; tỷ lệ nhân viên y tế/giường bệnh và tỷ lệ bác sỹ/điều dưỡng còn thấp; thiếu nhân lực gây sự quá tải công việc nên một số nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên thực hiện còn hạn chế; tỷ lệ người bệnh và người nhà người bệnh rất hài lòng trong thời gian điều trị tại bệnh viện cao; tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ người bệnh và người nhà người bệnh không biết tên điều dưỡng viên chăm sóc cho mình còn cao
Đặng Tiến Khang (2013) [32] mô tả thực trạng nhân lực và một số yếu tố liên quan đến thu hút và duy trì nguồn nhân lực tại bệnh viện Bưu Điện Nghiên cứu
áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu thứ cấp kết hợp phương pháp định tính Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thiếu hụt về nhân lực bệnh viện theo quy định tại TT08 và tình trạng quá tải bệnh nhân Nghiên cứu cũng phân tích tìm ra một số yếu tố liên quan đến hoạt động thu hút và duy trì nguồn nhân lực: Tuyển dụng, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng, môi trường làm việc tốt, khen thưởng kịp thời, đánh giá năng lực của nhân viên, bổ nhiệm cán bộ
Các nghiên cứu trên cho thấy yếu tố quan trọng để tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh liên quan đến sự thiếu hụt nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực không hợp lý Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các các yếu tố người quản lý đóng vai trò quan trọng đối với tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là ngành y tế Bắc Ninh hiện chưa có nghiên cứu nào về các yếu tố liên quan đến tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh tại các bệnh viện, để từ đó có chính sách phù hợp nhằm thu hút, duy trì đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh của cán bộ y tế vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài
Huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh là một huyện nằm ở phía Đông - Nam của tỉnh Bắc Ninh là huyện thuần nông, nằm cách trung tâm hành chính của tỉnh Bắc Ninh khoảng 35 Km Sông Thái Bình là ranh giới tự nhiên chảy qua phía Đông của huyện và ngăn cách huyện Lương Tài với huyện Chí Linh và huyện Nam Sách, tỉnh
Trang 32Hải Dương Phía Nam huyện Lương Tài tiếp giáp với huyện Cẩm Giàng của tỉnh Hải Dương Phía Tây tiếp giáp với huyện Thuận Thành Phía Bắc tiếp giáp với huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Huyện Lương Tài hiện nay có 14 đơn vị hành chính gồm 01 thị trấn và 13 xã, với dân số năm 2013 là 112.000 người [54]
Bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài được xây dựng và thành lập từ năm
1960, với chức năng nhiệm vụ chủ yếu là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong huyện Hiện nay bệnh viện có 101 cán bộ viên chức và người lao động, trong đó có 17 bác sỹ (Thạc sĩ, bác sĩ CKI: 06); Điều dưỡng: 27 (Cử nhân Điều dưỡng: 04); Hộ sinh: 10 (Cử nhân Hộ sinh: 01) Bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện ngày càng tăng, năm 2011 bệnh viện tiếp nhận 81.863 lượt người đến khám bệnh, 5.124 lượt bệnh nhân điều trị nội trú và 1.600 lượt bệnh nhân điều trị ngoại trú, phẫu thuật cho 645 bệnh nhân , năm 2012 bệnh viện tiếp nhận 87.682 lượt người đến khám bệnh, 5.476 lượt bệnh nhân điều trị nội trú và 1.900 lượt bệnh nhân điều trị ngoại trú, phẫu thuật cho 779 bệnh nhân; năm 2013 bệnh viện tiếp nhận 91.516 lượt người đến khám bệnh, 5.540 lượt bệnh nhân điều trị nội trú và 3.384 lượt bệnh nhân điều trị ngoại trú, phẫu thuật cho 766 bệnh nhân [3], [4]
1.6.1 Cơ cấu tổ chức của bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài
- Tổng biên chế được giao năm 2014 [3]
+ Biên chế: 104
+ Hợp đồng theo Nghị định 68: 13
- Tổng số biên chế thực hiện đến 31/12/2013: 101
Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài (phụ lục 1)
1.6.2.Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn năm 2013, 2014 (phụ lục
3, 4) [3], [5]
1.6.3 Hoạt độngCSNB tại bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài
1.6.3.1 Chức năng nhiệm vụ phòng Điều dưỡng bệnh viện Lương Tài
- Lập kế hoạch công tác chăm sóc điều dưỡng trong bệnh viện để trình Giám đốc bệnh viện phê duyệt
- Tổ chức thực hiện công tác chăm sóc người bệnh toàn diện theo quy định
Trang 33- Đầu mối xây dựng các quy trình kỹ thuật chuyên môn chăm sóc người bệnh phù hợp với đặc điểm của bệnh viện, của từng chuyên khoa để trình Hội đồng Điều dưỡng xem xét và Giám đốc bệnh viện phê duyệt
- Đôn đốc, kiểm tra điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, hộ lý và y công thực hiện đúng các quy trình, kỹ thuật chuyên môn
- Phối hợp với các khoa, bộ phận liên quan lập dự trù mua sắm dụng cụ, vật
tư tiêu hao cho công tác chăm sóc điều dưỡng và phục vụ người bệnh Giám sát chất lượng dụng cụ, vật tư tiêu hao y tế Giám sát, quản lý việc sử dụng, bảo quản theo quy định
- Phối hợp với phòng Tổ chức cán bộ trong việc xây dựng kế hoạch tuyển dụng, bố trí và điều động điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, hộ lý và y công
- Phối hợp với khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn thực hiện kiểm tra công tác vệ sinh, kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện
- Phối hợp với phòng Kế hoạch tổng hợp - Vật tư - Trang thiết bị thực hiện đào tạo nâng cao trình độ cho điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, hộ lý và
y công Tham gia tổ chức, chỉ đạo hướng dẫn thực hành cho học viên và tham gia kiểm tra tay nghề cho điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, hộ lý và y công trước khi tuyển dụng
- Tham gia công tác nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến
- Định kỳ sơ kết, tổng kết và báo cáo công tác chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Giám đốc bệnh viện phân công [5]
1.6.3.2 Nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh
Trang 34Người bệnh, người nhà người bệnh được giải đáp kịp thời những băn khoăn, thắc mắc trong quá trình điều trị và chăm sóc
Bảo đảm an ninh, an toàn và yên tĩnh, tránh ảnh hưởng đến tâm lý và tinh thần của người bệnh
- Chăm sóc vệ sinh cá nhân
Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh hằng ngày gồm vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể, hỗ trợ đại tiện, tiểu tiện và thay đổi đồ vải
Trách nhiệm chăm sóc vệ sinh cá nhân:
+ Người bệnh cần chăm sóc cấp I do điều dưỡng viên, hộ sinh viên và hộ lý thực hiện
+ Người bệnh cần chăm sóc cấp II và cấp III tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của điều dưỡng viên, hộ sinh viên và được hỗ trợ chăm sóc khi cần thiết
Người bệnh được hỗ trợ ăn uống khi cần thiết Đối với người bệnh có chỉ định ăn qua ống thông phải do điều dưỡng viên, hộ sinh viên trực tiếp thực hiện
- Chăm sóc phục hồi chức năng
Trang 35Người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn, hỗ trợ luyện tập
và phục hồi chức năng sớm để đề phòng các biến chứng và phục hồi các chức năng của cơ thể
Phối hợp khoa lâm sàng và khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng để đánh giá, tư vấn, hướng dẫn và thực hiện luyện tập, phục hồi chức năng cho người bệnh
- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật
Người bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện chuẩn bị trước phẫu thuật, thủ thuật theo yêu cầu của chuyên khoa và của bác
- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh
Khi dùng thuốc cho người bệnh, điều dưỡng viên, hộ sinh viên phải:
+ Dùng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ điều trị
+ Chuẩn bị đủ và phù hợp các phương tiện cho người bệnh dùng thuốc; khi dùng thuốc qua đường tiêm phải chuẩn bị sẵn sàng hộp thuốc cấp cứu và phác đồ chống sốc, chuẩn bị đúng và đủ dung môi theo quy định của nhà sản xuất
+ Kiểm tra thuốc (tên thuốc, nồng độ/hàm lượng, liều dùng một lần, số lần dùng thuốc trong 24 giờ, khoảng cách giữa các lần dùng thuốc, thời điểm dùng thuốc và đường dùng thuốc so với y lệnh) Kiểm tra hạn sử dụng và chất lượng của
Trang 36thuốc bằng cảm quan: màu sắc, mùi, sự nguyên vẹn của viên thuốc, ống hoặc lọ thuốc
+ Hướng dẫn, giải thích cho người bệnh tuân thủ điều trị
+ Thực hiện 5 đúng khi dùng thuốc cho người bệnh: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng đường dùng, đúng thời gian dùng thuốc
+ Bảo đảm người bệnh uống thuốc ngay tại giường bệnh trước sự chứng kiến của điều dưỡng viên, hộ sinh viên
+ Theo dõi, phát hiện các tác dụng không mong muốn của thuốc, tai biến sau dùng thuốc và báo cáo kịp thời cho bác sĩ điều trị
+ Ghi hoặc đánh dấu thuốc đã dùng cho người bệnh và thực hiện các hình thức công khai thuốc phù hợp theo quy định của bệnh viện
+ Phối hợp giữa các bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên trong dùng thuốc nhằm tăng hiệu quả điều trị bằng thuốc và hạn chế sai sót trong chỉ định và sử dụng thuốc cho người bệnh
- Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong
+ Người bệnh ở giai đoạn hấp hối được bố trí buồng bệnh thích hợp, thuận tiện cho việc chăm sóc, điều trị tránh ảnh hưởng đến người bệnh khác
+ Thông báo và giải thích với người nhà người bệnh về tình trạng bệnh của người bệnh và tạo điều kiện để người nhà người bệnh ở bên cạnh người bệnh
+ Động viên, an ủi người bệnh và người nhà người bệnh
+ Khi người bệnh tử vong, điều dưỡng viên hoặc hộ sinh viên phối hợp với
hộ lý thực hiện vệ sinh tử thi và thực hiện các thủ tục cần thiết như quản lý tư trang của người bệnh tử vong, bàn giao tử thi cho nhân viên nhà đại thể
- Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng
+ Bệnh viện có các quy định, quy trình kỹ thuật điều dưỡng phù hợp, cập nhật trên cơ sở các quy định, hướng dẫn của Bộ Y tế
+ Điều dưỡng viên, hộ sinh viên phải tuân thủ quy trình kỹ thuật chuyên môn, kỹ thuật vô khuẩn
+ Điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện các biện pháp phòng ngừa, theo dõi phát hiện và báo cáo kịp thời các tai biến cho bác sĩ điều trị để xử trí kịp thời
Trang 37+ Dụng cụ y tế dùng trong các kỹ thuật, thủ thuật xâm lấn phải bảo đảm vô khuẩn và được xử lý theo Điều 2 và Điều 3 của Thông tư số 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của Bộ Y tế về Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các quy định khác về kiểm soát nhiễm khuẩn
- Theo dõi, đánh giá người bệnh
+ Người bệnh đến khám bệnh được điều dưỡng viên, hộ sinh viên khoa Khám bệnh đánh giá ban đầu để sắp xếp khám bệnh theo mức độ ưu tiên và theo thứ tự
+ Điều dưỡng viên, hộ sinh viên phối hợp với bác sĩ điều trị để đánh giá, phân cấp chăm sóc và thực hiện chăm sóc, theo dõi phù hợp cho từng người bệnh
+ Người bệnh cần chăm sóc cấp I được bác sĩ điều trị, điều dưỡng viên, hộ sinh viên nhận định nhu cầu chăm sóc để thực hiện những can thiệp chăm sóc phù hợp
+ Bệnh viện có quy định cụ thể về theo dõi, ghi kết quả theo dõi dấu hiệu sinh tồn và các can thiệp điều dưỡng phù hợp với tính chất chuyên môn và yêu cầu của từng chuyên khoa
+ Người bệnh được đánh giá và theo dõi diễn biến bệnh, nếu phát hiện người bệnh có dấu hiệu bất thường, điều dưỡng viên, hộ sinh viên và kỹ thuật viên phải có ngay hành động xử trí phù hợp trong phạm vi hoạt động chuyên môn và báo cáo cho bác sĩ điều trị để xử trí kịp thời
- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh
+ Bệnh viện xây dựng và thực hiện những quy định cụ thể về an toàn cho người bệnh phù hợp với mô hình bệnh tật của từng chuyên khoa
+ Điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, bảo đảm an toàn, tránh nhầm lẫn cho người bệnh trong việc dùng thuốc, phẫu thuật và thủ thuật
+ Bệnh viện thiết lập hệ thống thu thập và báo cáo các sự cố, nhầm lẫn, sai sót chuyên môn kỹ thuật tại các khoa và toàn bệnh viện Định kỳ phân tích, báo cáo
Trang 38các sự cố, sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc và có biện pháp phòng ngừa hiệu quả
- Ghi chép hồ sơ bệnh án
+ Tài liệu chăm sóc người bệnh trong hồ sơ bệnh án gồm: phiếu theo dõi chức năng sống, phiếu điều dưỡng và một số biểu mẫu khác theo Quyết định số 4069/QĐ-BYT ngày 28/9/2001 về việc ban hành mẫu hồ sơ bệnh án của Bộ Y tế và theo tính chất chuyên khoa do bệnh viện quy định
+ Tài liệu chăm sóc người bệnh trong hồ sơ bệnh án phải bảo đảm các yêu cầu sau:
Ghi các thông tin về người bệnh chính xác và khách quan
Thống nhất thông tin về công tác chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên,
hộ sinh viên và của bác sĩ điều trị Những khác biệt trong nhận định, theo dõi và đánh giá tình trạng người bệnh phải được kịp thời trao đổi và thống nhất giữa những người trực tiếp chăm sóc, điều trị người bệnh;
Ghi đầy đủ, kịp thời diễn biến bệnh và các can thiệp điều dưỡng
+ Hồ sơ bệnh án phải được lưu trữ theo quy định tại Khoản 3 Điều 59 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh
1.6.3.3 Mô hình chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Lương Tài
Hiện nay bệnh viện đa khoa huyện Lương Tài áp dụng mô hình chăm sóc theo nhóm Mô hình nay được áp dụng từ năm 1999 đến nay trong đó một nhóm gồm 2 - 3 điều dưỡng có trình độ chuyên môn khác nhau được phân công chăm sóc một nhóm người bệnh trong thời gian nằm điều trị tại khoa Nhóm do một cử nhân điều dưỡng hoặc cao đẳng điều dưỡng làm nhóm trưởng Nhóm trưởng có nhiệm vụ lập kế hoạch chăm sóc cho tất cả các người bệnh trong nhóm được yêu cầu chăm sóc và hướng dẫn các điều dưỡng trong nhóm thực hiện công tác chăm sóc người bệnh Mô hình này có ưu điểm là người bệnh được chăm sóc liên tục bởi một nhóm điều dưỡng nhưng ít có sự phối hợp của bác sỹ và các điều dưỡng trong nhóm khác hoặc với nhân viên y tế khác [4]
Trang 391.7 Chính sách của Nhà Nước và Bộ Y tế liên quan đến nguồn nhân lực
y tế và công tác tổ chức hoạt động chăm sóc người bệnh
- Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 của Bộ Y tế về việc Ban hành quy chế bệnh viện
- Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày 05/6/2007 của Bộ Y
tế và Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế Nhà nước
- Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
- Chỉ thị 05/2012/CT-BYT ngày 10/9/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh
- Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ quy định về
vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập
- Nghị định số 56/2011/NĐ-CP ngày 04/7/ 2011 của Chính phủ Quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghềđối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở
y tế công lập
1.8 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu
- Kỹ thuật viên, hộ sinh trong nghiên cứu của chúng tôi được quy về là Điều dưỡng
- Xã hội hóa y tế được hiểu như sự huy động cộng đồng, xã hội và người dân cùng tham gia công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Hoặc xã hội hóa y
tế nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân [49]
Dựa tổng quan tài liệu chúng tôi xây dựng khung lý thuyết như sau:
Trang 40Các đặc điểm của người bệnh:
- Đặc điểm về bệnh lý
- Đặc điểm về xã hội: tuổi, giới, nghề nghiệp, học vấn, BHYT
Đầu ra:
- Khả năng thực hiện nhiệm vụ
- Chất lượng nhiệm vụ
- Sự hài lòng của người bệnh
Chính sách, quy định:
- Chỉ tiêu giường bệnh
- Quan hệ đồng nghiệp
- Áp lực công việc
- Huấn luyện đào tạo