Người Thái đã biết vào rừng lấy lá cây thuốc đun nước uống, để cầm máu, để chữa trị một số bệnh mãn tính như các bệnh đường tiêu hoá, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da...hơn nữa người Thá
Trang 1HOÀNG VĂN HẢI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN NGƯỜI THÁI NGHĨA
LỘ TỈNH YÊN BÁI ĐẾN CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU,
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA II
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN
HOÀNG VĂN HẢI
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA PHONG TỤC TẬP QUÁN NGƯỜI THÁI NGHĨA
LỘ TỈNH YÊN BÁI ĐẾN CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi thu thập là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận án đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên 20/2/2012
Hoàng Văn Hải
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư Tiến sỹ Đàm Khải Hoàn Phó Trưởng khoa Y tế cộng cộng - Trường đại học Y Dược Thái Nguyên – Người thày đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Khoa Y tế cộng cộng, Khoa sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy cho tôi trong hai năm học qua
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc Sở Y tế Yên Bái, Trung tâm y tế huyện Văn Chấn, Trung tâm y tế thị xã Nghĩa Lộ cùng toàn thể anh chị em trong Trung tâm y tế đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn tất cả các bạn bè đồng nghiệp gần xa, đặc biệt tôi cảm
ơn vợ, các con tôi và gia đình hai bên nội ngoại đã tạo mọi điều kiện về tinh thần cũng như vật chất và động viên tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận án này
Học viên
Hoàng Văn Hải
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CSSK Chăm sóc sức khỏe
2 CSSKBĐ Chăm sóc sức khỏe ban đầu
3 CSSKND Chăm sóc sức khỏe nhân dân
4 CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
5 DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
12 MNPB Miền núi phía Bắc
13 NVYTTB Nhân viên Y tế thôn bản
14 PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực
16 TT- GDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe
18 VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 6MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu 3
1.1.1 Giới thiệu về chăm sóc sức khoẻ ban đầu 3
1.1.2 Tình hình CSSKBĐ trên thế giới 6
1.1.3 Tình hình thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Việt Nam 8
1.2 Các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội nói chung và phong tục tập quán của người Thái nói riêng ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc sức khỏe ban đầu 20
1.2.1 Các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội nói chung ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc sức khỏe ban đầu 20
1.2.2 Phong tục tập quán của dân tộc Thái 23
1.3 Các biện pháp gìn giữ, phát huy những phong tục tập quán 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng 28
2.2 Địa điểm 28
2.2.1 Thị xã Nghĩa Lộ 28
2.2.2 Xã Nghĩa An 29
2.2.3 Xã Hạnh Sơn 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 30
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 30
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 37
2.3.5 Tổ chức nghiên cứu 37
2.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.3.7 Phương pháp khống chế sai số 38
2.3.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 38
Trang 7Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thực trạng CSSKBĐ cho người Thái ở các xã nghiên cứu 39
3.1.1 Kết quả đánh giá thể lực học sinh người Thái ở các điểm điều tra 39
3.1.2 Kết quả điều tra hộ gia đình về CSSKBĐ 43
3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế văn hóa, xã hội, y tế và phong tục tập quán đến sức khỏe bệnh tật của người Thái 54
3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế văn hóa, xã hội, y tế đến sức khỏe bệnh tật của người Thái 54
3.2.2 Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến sức khỏe bệnh tật của người Thái 64
3.3 Một số giải pháp gìn giữ và phát huy những phong tục tập quán có lợi để chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Người Thái 67
C ƣơng 4 BÀN LUẬN 74
4.1 Thực trạng công tác CSSKBĐ đối với người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái năm 2011 74
4.2 Ảnh hưởng của một số phong tục tập quán đến sức khỏe bệnh tật của người Thái 85
KẾT LUẬN 92
KHUYẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở các vùng (trên 1000 trẻ
đẻ ra sống), 2005-2009 9
Bảng 1.2: Tỷ lệ suy dinh dưỡng theo vùng (%), 2005-2009 10
Bảng 3.1 Kết quả cân đo của học sinh tiểu học người Thái 39
Bảng 3.2 Kết quả cân đo học sinh trung học cơ sở 40
Bảng 3.4 Mối liên quan giữa các yếu tố với tình trạng SDD thể nhẹ cân của trẻ <5 tuổi ở trẻ em 41
Bảng 3.5 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 43
Bảng 3.6 Phân bố hộ gia đình theo điều kiện kinh tế văn hóa 44
Bảng 3.7 Tình hình các công trình vệ sinh của các hộ gia đình 45
Bảng 3.8 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ người Thái 47
Bảng 3.9 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em người Thái 48
Bảng 3.10 Tình hình thực hiện chương trình DS-KHHGĐ 49
Bảng 3.11 Tình hình bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình 51
Bảng 3.12 Tình hình sử dụng các dịch vụ y tế 52
Bảng 3.13 Mức độ hài lòng và lý do không sử dụng KCB tại TYT xã 53
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế, xã hội với bệnh tật 2 tuần qua 54
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa các công trình vệ sinh với bệnh tật 2 tuần qua 55
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội với việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã 56
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa các yếu tố với việc khám thai đầy đủ 57
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội với việc đẻ tại nhà của các bà mẹ người Thái 58
Trang 9Bảng 3.19 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội với
việc cho trẻ bú sau đẻ 59Bảng 3.20 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội với
việc cho trẻ ăn sam chưa đúng 60Bảng 3.21 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội với
việc cai sữa sớm 61Bảng 3.22 Mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội với
việc áp dụng BPTT của các cặp vợ chồng người Thái 61
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ <5 tuổi chung ở người Thái 41
Biểu đồ 3.2 Tình hình các công trình vệ sinh của các hộ gia đình người Thái ở 2 xã điều tra 46
Biểu đồ 3.3 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ người Thái 47
Biểu đồ 3.4 Tình hình chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em người Thái 49
Biểu đồ 3.5 Tình hình thực hiện chương trình DS-KHHGĐ của các cặp vợ chồng người Thái 50
Biểu đồ 3.6 Tình hình bệnh tật trong 2 tuần qua ở các hộ gia đình 51
Biểu đồ 3.7 Tình hình sử dụng các dịch vụ y tế 52
Biểu đồ 3.8 Mức độ hài lòng và lý do không sử dụng KCB tại TYT xã 54
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu vực miền núi phía Bắc và vùng Tây Bắc là nơi tập trung sinh sống của đồng bào người dân tộc Thái, đây được coi là cái nôi của người Thái Văn hoá Thái gắn liền với văn hoá lúa nước như người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ [38], [50], [58] Trong cuộc sống vất vả, khó khăn, người Thái đã tự biết cách chăm sóc sức khoẻ cho mình và cộng đồng nhờ vào những kinh nghiệm xa xưa của các cha ông để lại Những bài thuốc, những cây thuốc quí đã được giữ gìn và phát huy cho đến ngày ngày nay Người Thái đã biết vào rừng lấy
lá cây thuốc đun nước uống, để cầm máu, để chữa trị một số bệnh mãn tính như các bệnh đường tiêu hoá, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da hơn nữa người Thái biết đến các cơ sở Y tế để được khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau [51], [54],
Từ nhiều đời xưa người dân tộc Thái đã duy trì và phát triển những nét văn hoá riêng nhằm tô đẹp cho cuộc sống của mình, đó là những phong tục tập quán, những thói quen tốt trong cộng đồng đã giúp họ có niềm tin trong cuộc sống và có lợi cho sức khoẻ, nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng không nhỏ tới việc chăm sóc sức khỏe trong cộng đồng cũng như đối với dòng tộc của dân tộc Thái như phong tục cúng ma [3], khi trong nhà có người ốm đau, phụ nữ mới sinh con hoặc không đưa người ốm đến trạm Y tế khám và điều trị mà tự ý lấy cây thuốc, mua thuốc về điều trị đến khi bệnh nặng, nguy kịch rồi mới đưa đến các cơ sở Y tế khi đó tỷ lệ tử vong rất cao[56]
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của cả nước Hiện nay, Yên Bái có 30 dân tộc cùng sinh sống Người Thái có khoảng 71.000 người chiếm 8,1% dân số tỉnh Yên Bái và tập trung sinh sống chủ yếu ở 2 huyện phía tây của tỉnh là huyện Văn Chấn và thị xã Nghĩa lộ từ rất nhiều đời nay Những năm gần đây, sức khỏe của cộng đồng Người Thái Nghĩa Lộ đã
Trang 12và đang dần được cải thiện do có sự quan tâm của Ngành Y tế cũng như các cấp Đảng, chính quyền, các Ban ngành đoàn thể về công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu như thực hiện các chương trình Y tế mục tiêu quốc gia, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, tuyên truyền giáo dục sức khỏe đến tận các thôn bản xong do trình độ hiểu biết người Thái còn hạn chế, một số phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại, mạng lưới các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe còn mỏng, cán bộ Y tế xã, thôn bản trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, kinh tế chậm phát triển đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu của người Thái nơi đây: tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh còn thấp, kỹ năng chăm sóc sức khỏe trẻ em của bà mẹ còn hạn chế, công tác phòng chống dịch bệnh chưa được người Thái quan tâm [18], [48] Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu là góp phần chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng, bên cạnh đó sẽ gìn giữ, phát huy những phong tục tập quán có lợi và dần xoá bỏ những phong tục, tập quán có hại cho sức khoẻ để từng bước nâng cao chất lượng các hoạt động chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe ban đầu cho nhân dân, cho người Thái nói chung và người Thái thị xã Nghĩa Lộ nói riêng Chính vì thế mà chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài "Ng iên cứu t ực trạng và ản ưởng của p ong tục tập quán
người Thái Ng ĩa Lộ tỉn Yên Bái n c ăm sóc sức k ỏe ban ầu và ề xuất
một số giải p áp"
Mục tiêu ng iên cứu
1) Đánh giá thực trạng một số nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với người Thái ở thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái năm 2011
2) Đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng và phong tục, tập quán của người Thái thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái
3 Đề xuất các giải pháp gìn giữ, phát huy những phong tục tập quán có lợi và từng bước loại bỏ tập quán có hại để chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người Thái ngày càng tốt hơn
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Tìn ìn t ực iện c ăm sóc sức k oẻ ban ầu
1.1.1 Giới thiệu về chăm sóc sức khoẻ ban đầu
Năm 1978, hội nghị Quốc tế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ)
họp tại Alma Ata đã đề ra chiến lược toàn cầu ―Sức khoẻ cho mọi người đến
năm 2000’’ và xác định CSSKBĐ là chìa khoá để mang lại sức khoẻ cho mọi
người CSSKBĐ được định nghĩa như sau: “ CSSKBĐ là những chăm sóc
thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và được chấp nhận về mặt xã hội, có thể phổ biến rộng rãi tới các cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia đầy đủ của họ với chi phí mà cộng động và nước đó có thể chấp nhận được để duy trì hoạt động chăm sóc sức khoẻ ở mọi giai đoạn phát triển trên tinh thần tự nguyện, tự giác’’[36]
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu đã trở thành một chính sách then chốt của
Tổ chức Y tế thế giới từ năm 1978 với chương trình ―Sức khoẻ cho mọi người
đến năm 2000’’ nhằm cải thiện sức khoẻ toàn cầu, đặc biệt đối với nhân dân
các nước nghèo Năm 1998, Tổ chức Y tế thế giới đã đổi thành chính sách và
chương trình ―Sức khoẻ của mọi người trong thế kỷ 21”trong đó đã khẳng
định tiếp tục phát triển CSSKBĐ [11]
CSSKBĐ là một hệ thống quan điểm với 7 nguyên tắc:
Mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ cho mọi người, chú ý những người khó khăn, người nghèo
Chăm sóc sức khoẻ nhân dân phản ánh và phát triển theo điều kiện kinh tế và đặc điểm văn hoá, xã hội, chính trị đất nước
Có sự tham gia của cộng đồng và từng cá nhân Phát huy sức lực tối
đa
Trang 14 Sử dụng công nghệ thích hợp, dựa trên các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thu được
Có sự kết hợp liên ngành các hệ thống hỗ trợ để chăm sóc sức khoẻ toàn diện cho mọi người
Chăm sóc khoẻ nhằm vào những vấn đề sức khoẻ chính trong cộng đồng để nâng cao sức khoẻ, phòng chữa bệnh và phục hồi chức năng
Dựa vào cán bộ y tế và cán bộ các ngành có liên quan cùng làm việc với nhau
Tám nội dung cốt yếu của CSSKBĐ được nêu ra năm 1978 là:
1 Giáo dục sức khoẻ (GDSK)
2 Cải thiện điều kiện dinh dưỡng- ăn uống
3 Cung cấp nước sạch – Thanh khiết môi trường
4 Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em - Kế hoạch hoá gia đình (CSSKBM&TE-KHHGĐ)
5 Tiêm chủng mở rộng
6 Phòng và chống bệnh dịch lưu hành
7 Khám, chữa bệnh và thương tích thông thường
8 Cung cấp thuốc thiết yếu
Để CSSKBĐ thực hiện có hiệu quả, Hội nghị Alma Ata còn rút ra được những nguyên tắc của chăm sóc sức khoẻ ban đầu có những đặc điểm sau đây: Toàn diện, lồng ghép và liên tục thiếu một trong các yếu tố này CSSKBĐ sẽ kém hiệu quả Để có được một trong những đặc điểm trên thì tổ chức CSSKBĐ phải gần dân, thường trực và đa khoa
Việt Nam chấp nhận 8 điểm trên và bổ sung thêm 2 nội dung có tính đặc thù đó là:
Củng cố mạng lưới y tế cơ sở
Quản lý sức khoẻ [11], [36]
Trang 15Các nội dung CSSKBĐ đều được triển khai thực hiện tại cộng đồng Tuỳ theo từng nước, từng mô hình sức khoẻ và bệnh tật để chọn thứ tự ưu tiên cho thích hợp Ở Thái Lan người ta đã gắn 8 nội dung CSSKBĐ của Alma Ata vào nhu cầu cơ bản, tối thiểu về chăm sóc sức khoẻ của mỗi người dân và cộng đồng Đối với Việt Nam, ngành Y tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ ngay từ những năm đầu của thập kỷ 50, quan điểm y tế đã thể hiện một cách khá toàn diện về những vấn đề cơ bản trong quan niệm CSSKBĐ Năm 1993, tại kỳ họp thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII đã có quyết định
về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của công tác CSSKBĐ và củng cố
y tế cơ sở [15] Ngày 20/6/1996, chính phủ đã ban hành nghị định 37/ CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong
giai đoạn năm 1996 đến năm 2000 và 2020, có viết: ―CSSKBĐ là một công
tác trọng yếu để đạt các mục tiêu quản lý tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, tăng cường sức khoẻ và năng lực, tăng tuổi thọ, tạo điều kiện để mọi người dân đều được hưởng một cách công bằng những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ” [6]
Như vậy, củng cố và hoàn thiện Y tế cơ sở có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng trong hệ thống y tế nhà nước, góp phần quyết định sự thành công của CSSKBĐ Đây là tuyến gần dân nhất, sát với đối tượng đông đảo nhất mà ngành y tế được phục vụ Cán bộ y tế cơ sở phát hiện những vấn đề sức khoẻ sớm nhất, giải quyết được 80% khối lượng phục vụ y tế tại chỗ, là nơi thể hiện công bằng trong CSSKBĐ rõ nhất, nơi trực tiếp thực hiện kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về y tế, là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế tham gia phát triển kinh tế và ổn định chính trị - xã hội ở cơ sở [15], [16]
Trang 16Theo ước tính của Ngân hàng thế giới, Việt Nam có đến 28 triệu người nghèo (trong tổng số hơn 86 triệu dân trên cả nước), không có đủ khả năng chi trả các khoản viện phí, nhưng lại chưa nghèo đến mức được giảm, miễn phí, trong đó 90% người nghèo sống ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng
xa là những vùng kinh tế chậm phát triển Phần lớn người nghèo chỉ có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở gần nhất, chất lượng thấp và giá cả phù hợp [9], [10]
Do vậy đầu tư cho phát triển và nâng cao chất lượng phục vụ của y tế
cơ sở và thực hiện CSSKBĐ là thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân, yếu tố quan trọng để ổn định chính trị- xã hội [1]
1.1.2 Tình hình CSSKBĐ trên thế giới
Theo các nhà nghiên cứu cộng đồng trên thế giới, muốn thực hiện được CSSKBĐ cần phải có chính sách y tế đúng đắn, phải có tiêu chuẩn và chỉ số đánh giá phù hợp Hầu hết các nước trên thế giới trong chiến lược sức khoẻ của họ, CSSKBĐ được đặt ra hàng đầu, giải quyết mọi khó khăn để đạt được mục đích Về mặt tổ chức hoạt động CSSKBĐ trên thế giới hầu hết các nước rất chú ý quan tâm, phát triển tổ chức y tế tuyến huyện, ở nhiều nước đây là tuyến thực hiện CSSBĐ Trong CSSKBĐ công tác y học dự phòng không chỉ
có nước ta mà có nhiều nước trên thế giới rất quan tâm, đặc biệt là các nước đang phát triển Công tác y học dự phòng, vệ sinh môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu, vấn đề này được tuyên truyền cho nhân dân một cách sâu rộng như tuyên truyền vệ sinh cá nhân người mẹ trong việc góp phần làm giảm tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy, giáo dục cho trẻ em tuổi học đường về hành vi thái
độ đối với vệ sinh cá nhân Trong vệ sinh môi trường, việc cung cấp đủ nước sạch trong sinh hoạt là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều quốc gia Thanh toán nguồn nước không vệ sinh là mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia Châu Phi,
Trang 17Châu Á để làm giảm tỷ lệ chết trẻ em do bị tiêu chảy Nguồn nước còn là một tiêu chuẩn đánh giá tình hình y tế quốc gia Ngoài ra, muốn đánh giá tình trạng vệ sinh của một cộng đồng, cần phải có những tiêu chuẩn phù hợp với
nó Trong CSSKBĐ thì công tác chăm sóc sức khoẻ cho các bà mẹ đặc biệt các bà mẹ có thai là hết sức quan trọng Người phụ nữ cần được khám thai, tiêm phòng uốn ván thường xuyên và cung cấp dinh dưỡng đầy đủ Việc phòng chống các dịch bệnh lưu hành như các bệnh nhiễm trùng, sốt rét cũng
là những vấn đề cần quan tâm [64], [65]
Các thống kê cho thấy công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) cho người dân đã và đang được quan tâm của Tổ chức Y tế thế giới, nếu làm tốt công tác này sẽ nâng cao được sức khỏe cho những người dân bị thiệt thòi nhất là ở phụ nữ Tuy nhiên vẫn còn nhiều nguy cơ tai biến về sản khoa ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ trẻ em, năm 2000 hội nghị Narobi về an toàn sinh
đẻ cho thấy có khoảng 485.000 bà mẹ chết hàng năm liên quan đến thai nghén, tập trung nhiều ở các nước đang phát triển, các nước nghèo [23] Tỷ lệ này đối với các nước Đông Nam Á là 700/100.000, Băng Đa Lét là 600/100.000, Trung Quốc là 200/100.000, Việt Nam khoảng 110-130/100.000 Nghiên cứu của Kazuo Unemura bà mẹ bị tử vong đã giảm từ 110/100.000 năm 1996 xuống còn 100/100.000 năm 1997, ước tính hàng năm
có từ 2200 - 2800 bà mẹ tử vong, tức là mỗi ngày có 7 bà mẹ bị chết liên quan đến sinh đẻ và thai nghén Nguy cơ tử vong mẹ ở các nước phát triển thấp hơn
100 lần so với các nước nghèo ở Châu Phi, Châu Á như ở các nước Bắc Âu là 10/100.000, ở Úc, Nhật, Mỹ là 20-30/100.000 Hiện nay Việt Nam vẫn được xếp là một trong những quốc gia có thu nhập thấp trên Thế giới Kinh tế eo hẹp, khả năng cung cấp dinh dưỡng không đủ, lao động lại quá nặng nhọc, vất
vả, vấn đề mang thai, sinh đẻ quá dày, quá nhiều đã làm cho người phụ nữ ốm đau và tử vong nhiều hơn nam giới trong lứa tuổi sinh sản [11] Về tỷ suất
Trang 18chết mẹ: Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, các nguyên nhân gây tử
vong bà mẹ như sau: 20% các nguyên nhân gián tiếp, 22% là do băng huyết, 15% do nhiễm khuẩn, 9% do sản giật, 8% do đẻ khó, 13% do nạo phá thai không an toàn, 8% do các nguyên nhân khác [64], [65]
1.1.3 Tình hình thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Việt Nam
Ngày 20/06/1996, Chính phủ đã ban hành nghị định 37/CP về định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong giai
đoạn năm 1996 đến năm 2000 và 2020, có viết: ―CSSKBĐ là một công tác
trọng yếu để đạt được các mục tiêu quản lý tỷ lệ mắc bệnh, giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe và thể lực, tăng tuổi thọ, tạo điều kiện để mọi người dân đều được hưởng một cách công bằng những dịch
vụ CSSK” [4]
1.1.3.1 Một số kết quả chỉ số sức khỏe Quốc gia hiện nay
1) Tuổi thọ trung bình Cùng với mức chết giảm, tuổi thọ trung bình
của người ViệtNam đã tăng lên Sau 10 năm, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 3,7 tuổi từ 69,1 tuổi lên 72,8 tuổi (nam đạt 70,2 tuổi, nữ đạt 75,6 tuổi) So với mục tiêu đề ra trong Chiến lược bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân đến năm 2010 là 72 tuổi, Việt Nam đã hoàn thành vượt chỉ tiêu So với một số nước trong khu vực, tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã đạt mức tương đương và cao hơn Thái Lan (72 tuổi), Phi-líp-pin (70 tuổi) Một trong những lý do làm tuổi thọ người Việt Nam tăng là do thành công của các chương trình y tế quốc gia, mở rộng mạng lưới y tế cơ sở, áp dụng thành công
và phổ biến các phương pháp điều trị hiện đại Tuy tuổi thọ trung bình tăng,
nhưng chất lượng dân số còn hạn chế Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước có chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình Số năm trung bình sống khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và xếp thứ 116/182 nước trên thế giới
vào năm 2009 [9]
Trang 19Bảng 1.1: Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở các vùng
so với các vùng có điều kiện kinh tế xã hội phát triển hơn (Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng)
Trang 203) Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi Mức chênh lệch giữa các
vùng miền cũng được thể hiện ở tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Mặc
dù có sự cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2005-2009 nhưng Tây Nguyên, Tây
Bắc vẫn là các vùng có tỷ lệ suy dưỡng dưỡng trẻ em cao nhất
Nguồn: Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2009 [49]
Phân tích nguyên nhân của sự khác biệt về tỷ lệ suy dinh dưỡng ở các vùng miền, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng: yếu tố kinh tế xã hội của mỗi vùng
là nguyên nhân chính của sự khác biệt trên Mặt khác, trẻ bị suy dinh dưỡng thường mắc các bệnh nhiễm trùng, chỉ trong những nạn đói thì suy dinh dưỡng mới là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong Một nguyên nhân khác cũng cần được đề cập đến là tỷ lệ SDD liên quan đến kiến thức nuôi con của các bà
mẹ, làm thế nào chuyển tải được các thông tin về phòng chống suy dinh dưỡng đến với đồng bào DTTS đang là vấn đề nan giải, cần được xem xét
Trang 21nghiêm túc để tìm giải pháp phù hợp như truyền thông trực tiếp nhóm nhỏ, câu lạc bộ, truyền hình, truyền thanh phát tiếng dân tộc, dùng chữ dân tộc
4) Tỷ lệ tử vong mẹ Thể hiện sự khác biệt lớn về tình trạng sức khỏe giữa
các vùng, miền, dân tộc Theo kết quả của chương trình “Giảm tử vong mẹ và
tử vong sơ sinh” được triển khai năm 2009 tại 14 tỉnh miền núi, trong đó tại 10
tỉnh vùng núi phía Bắc và 4 tỉnh Tây Nguyên cho thấy: vấn đề sức khỏe bà mẹ
và trẻ sơ sinh đã được cải thiện Tính chung tại 14 điểm điều tra, nguy cơ tử vong mẹ là 1/521 thấp hơn so với điều tra của Bộ Y tế năm 2000 – 2001 (1/334) Điều này có nghĩa cứ 521 phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ (15-49) thì
sẽ có 1 trường hợp tử vong mẹ Tuy nhiên, nếu phân tích theo từng địa phương
sẽ có sự khác biệt, nguy cơ tử vong mẹ cao nhất ở Điện Biên, cứ 148 phụ nữ vào tuổi 15-49 thì có 1 tử vong mẹ; sau đó đến Lai Châu 218; Gia Lai là 271, các tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Lào Cai dao động ở mức trên 300 và thấp nhất là Lạng Sơn, chỉ có 1/3.567 phụ nữ trong độ tuổi 15-49 Tỷ lệ chênh lệnh này cũng phản ánh sự thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe sinh sản có liên quan đến việc tăng tử vong mẹ Số trường hợp tử vong cao nhất thường gặp ở những
bà mẹ mù chữ, không có nghề nghiệp và sống trong tình trạng nghèo đói, thu nhập thấp đặc biệt những phụ nữ là người dân tộc có nguy cơ tử vong cao hơn hẳn so với phụ nữ là người dân tộc Kinh Người Kinh luôn nhận thức được nguy hiểm có thể xảy ra khi mang thai và điều đó được thể hiện qua câu tục
ngữ ―Người chửa cửa mả” Người Tày cũng có câu tục ngữ ― Thắc lục thắc cộ
mậy‖ (Mang con- mang hòm trong bụng) Tuy vậy, hầu hết người dân tộc thiểu
số cho rằng việc chửa đẻ là những sự kiện tự nhiên và một số nơi, khi phụ nữ sinh con, họ sinh tại nhà và không cần có sự can thiệp của nhân viên y tế Các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra các nguy cơ làm tăng tử vong mẹ như: phụ nữ lớn tuổi (trên 44 tuổi), đẻ nhiều lần (trên 3 lần) sẽ có tỷ lệ tử vong mẹ cao gấp 4 lần nhóm sinh 1-2 con, các bà mẹ càng nhiều con thì những lần đẻ sau càng có
Trang 22nguy cơ phải can thiệp bằng phẫu thuật so với những lần trước Tập quán sinh con tại nhà hay khoảng cách quá xa và mất nhiều thời gian vận chuyển sản phụ
đi cấp cứu trước khi tử vong cũng là những nguy cơ dẫn đến tử vong mẹ 100% phụ nữ ở Sìn Hồ - Lai Châu đẻ tại nhà và không đi khám thai, sự thiếu chăm sóc của y tế là mối đe dọa tính mạng lớn nhất đối với phụ nữ trong khi sinh Vì trong thời gian này, những tai biến bất thường có thể xuất hiện đe dọa tính mạng người phụ nữ Điều đáng quan tâm là các nguyên nhân chính gây tử vong
mẹ như xuất huyết, nhiễm khuẩn, sản giật, phá thai không an toàn là hoàn toàn
có thể phòng tránh được Do vậy, việc tăng cường cơ hội cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người ở các vùng sâu vùng xa kịp thời tiếp cận được với các dịch vụ y tế chất lượng cao chắc chắn sẽ góp phần làm giảm đáng kể tỷ
lệ tử vong mẹ [12], [13]
1.1.3.2 Tình hình thực hiện CSSKBĐ ở miền núi phía Bắc
1.1.3.2.1 Một vài nét về miền núi phía bắc
Miền núi phía Bắc Việt Nam bao gồm 15 tỉnh, trong đó 4 tỉnh thuộc vùng Tây Bắc và 11 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên chiếm 30% diện tích cả nước Đây là khu vực mà hộ nghèo chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước MNPB là nơi tập trung các tỉnh nghèo nhất nước Năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Tây Bắc còn tới 45%, còn vùng Đông Bắc là 23%; tỷ lệ nghèo toàn vùng là 25,5% Trong số 61 huyện nghèo của cả nước thì miền núi phía Bắc có tới 35 huyện [45] Đời sống dân cư nông thôn khu vực miền núi phía Bắc gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng bởi điều kiện địa hình và thời tiết; cơ sở
hạ tầng kém phát triển; dân trí và chất lượng nguồn nhân lực yếu (85% lao động chưa qua đào tạo, 12% dân số không biết chữ, riêng Lai Châu con số này
là 40%); tập quán sản xuất lạc khậu, ý thức tự vươn lên thoát nghèo của một bộ phận dân cư còn nhiều hạn chế Các phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc, nó không những ảnh hưởng đến phát triển
Trang 23kinh tế xã hội mà nó còn ảnh hưởng đến công tác chăm sóc sức khoẻ của nhân dân nơi đây [10] Trong điều kiện khó khăn đó, nông thôn miền núi phía Bắc, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Thái chưa tìm được hướng đi bền vững để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống hộ gia đình Những năm vừa qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số chính sách hỗ trợ đầu tư ưu đãi nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc như Chương trình 135, 186, 120, 159, 134… Bên cạnh đó vùng cũng nhận được những khoản đầu tư không nhỏ từ các tổ chức quốc tế như WB, ADB, FAO Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2005 - 2010 đạt 10,33%/năm (tốc độ tăng trưởng bình quân cả nước trong cùng giai đoạn là 7,46%), thu nhập bình quân đầu người trong vùng có nhiều cải thiện Tuy nhiên, những chương trình, dự án đã triển khai thường mang tính đầu tư và hỗ trợ Nguy cơ tái nghèo của một bộ phân dân cư rất cao [4], [5] Câu hỏi về giải pháp phát triển bền vững khu vực miền núi phía Bắc còn nhiều điều trăn trở
Tại hội nghị ―Hướng tới tăng trưởng và giảm nghèo bền vững khu vực miền núi
phía Bắc‖ do Ủy ban Dân tộc phối hợp với Ngân hàng phát triển châu Á
(ADB) tổ chức năm 2006, các nhà khoa học và nhà quản lý đều nhấn mạnh việc đổi mới công tác xóa đói giảm nghèo, hướng dẫn đồng bào ứng dụng khoa học kỹ thuật và đặc biệt là tạo những điều kiện thuận lợi về thị trường tiêu thụ sản phẩm cho người dân, giúp đồng bào chuyển dần sang sản xuất hàng hóa [16] Ngày 5/8/2008, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số
26-NQ/TW về Nông nghiệp, Nông thôn, Nông dân Nghị quyết nêu rõ: ―Tập
trung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện đồng bộ chiến lược về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo Đặc biệt quan tâm tới miền núi phía Bắc Nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số…‖ [12] Việc tập trung quan tâm tới
miền núi phía Bắc chính là một trong những nội dung trong chiến lược phát triển nông thôn theo vùng trong tiến trình đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Việt Nam
Trang 241.1.3.2.2 Tình hình thực hiện CSSKBĐ ở Việt Nam và miền núi phía Bắc Trong những năm qua được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo, kết hợp những nỗ lực phấn đấu của cán bộ y tế cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước, ngành y tế đã mang lại những thành tựu to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân nhân Ngày nay, công tác CSSKBĐ đã được thực hiện trong toàn quốc Trong quá trình thực hiện đã gặp không ít khó khăn vì chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức, đời sống xã hội của đất nước chưa ổn định Tuy nhiên nó đã có những đóng góp to lớn trong việc CSSK cho nhân dân
* Đẩy mạnh hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ (TT-GDSK): là
rất cần thiết và là cách tiếp cận có hiệu quả cho công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng bởi lẽ TT-GDSK giúp cho các cá nhân, cộng đồng có khả năng tự chăm sóc, nâng cao và giải quyết vấn đề sức khoẻ cho cá nhân gia đình và cộng đồng Hoạt động TT-GDSK phải là hoạt động đi đầu cho tất cả các hoạt động y tế, chăm sóc sức khoẻ khác Nghị quyết 46/NQ-TW của Bộ chính trị
về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ của nhân dân trong tình hình mới, một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu là nâng cao hiệu quả Thông tin - Giáo dục - Truyền thông Trong chương trình hành động của Chính Phủ thực hiện Nghị Quyết 46, thì nhiệm vụ đầu tiên được đề cập tới là tăng cường công tác TT – GDSK [1] Nhận thức được tầm quan trọng của TT-GDSK, hệ thống truyền thông giáo dục sức khoẻ đã được hình thành ở Việt Nam từ những năm 1990 Tuy nhiên, các nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khoẻ ở nước ta còn ít, vẫn là vấn đề mới mẻ Các chiến lược và chính sách đẩy mạnh TT-GDSK còn chưa đầy đủ Kết quả các hoạt động TT-GDSK thay đổi hành vi vẫn chưa thực sự có hiệu quả, vấn đề quản lý các hoạt động truyền thông chưa được chú trọng đúng mức Tìm hiểu các cơ sở lý luận
và mô hình về TT-GDSK là cần thiết để làm cơ sở cho việc phát triển xây
Trang 25dựng những mô hình TT-GDSK phù hợp, đặc biệt là cách huy động nguồn lực sẵn có tại cộng đồng, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động TT-GDSK thay đổi hành vi tại khu vực này đang là nhu cầu cấp thiết
* Vệ sinh môi trường: Là một nội dung rất quan trọng của CSSKBĐ §iều
tra Y tế Quốc gia cho phép đánh giá tình trạng môi trường sống hiện nay ở nước ta
- Nước sạch: Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 được Thủ tướng phê duyệt vào năm 2000 Trong đó có thêm mục tiêu là tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/người/ngày, sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã Mục tiêu đến năm
2010, 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh số lượng 60 lít/người/ngày, 70% gia đình và dân cư nông thôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh
và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân Đối với thành thị, mục tiêu đến 2005, 80%
dân thành thị sử dụng nước sạch Bộ Y tế cũng có vai trò tham gia tuyên
truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhu cầu dùng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh, nâng cao sự hiểu biết của người dân về vệ sinh và mối liên quan giữa cấp nước- vệ sinh với sức khoẻ và sự phát triển xã hội Đồng thời Bộ Y tế có trách nhiệm xử lý các trường hợp bị bệnh liên quan đến nước không sạch, môi trường sống không vệ sinh [8]
- Tình hình sử dụng hố xí hợp vệ sinh của hộ gia đình Phân người và gia
súc là yếu tố truyền nhiễm chủ yếu của nhiều bệnh nhiễm trùng, ký sinh trùng đặc biệt là các bệnh đường ruột Sử dụng các loại hố xí đơn giản, hố xí không hợp vệ sinh hoặc không có hố xí gây ô nhiễm môi trường tạo nguy cơ mắc bệnh hệ tiêu hoá như tiêu chảy, lỵ trực khuẩn, tả, thương hàn, viêm gan A, giun, sán, Các bệnh này góp phần gây suy dinh dưỡng và thiếu máu do thiếu
Trang 26sắt, làm kém sự phát triển hoặc tử vong ở trẻ em và làm giảm sức khoẻ cho người lớn cũng như cộng đồng dân cư Người chết bởi những bệnh liên quan
đến tiêu chảy chủ yếu là trẻ em
Theo định nghĩa quốc tế, hố xí hợp vệ sinh bao gồm hố xí nối với cống thoát, có bể phốt, thấm dội nước, hố xí một ngăn hoặc hai ngăn hoặc hố xí đơn giản được cải tiến Còn hố xí không hợp vệ sinh là xô được đổ hàng ngày, hố xí chung hoặc công cộng, hố xí lộ thiên Theo định nghĩa hiện nay của nước ta, hố xí hợp vệ sinh bao gồm các loại: hố xí tự hoại, bán tự hoại và
hố xí hai ngăn [2], [3] Theo kết quả của các cuộc điều tra tỷ lệ hộ sử dụng loại hố xí hợp vệ sinh đã tăng lên rõ rệt từ 16% năm 1992 - 93 lên trên 30% năm 2001-02, nhưng tỷ lệ này vẫn chưa cao Cho đến nay người dân vẫn sử dụng hố xí đơn giản một ngăn là chủ yếu (32%) Tỷ lệ người không có hố xí
đã giảm đi từ 26% xuống còn 13% cũng như tỷ lệ sử dụng hố xí khác cũng giảm đi Xu hướng này rất thuận lợi để bảo đảm vệ sinh, nhưng vẫn còn tỷ lệ rất cao sử dụng hố xí đơn giản và 13% hộ chưa có hố xí Tỷ lệ người sử dụng
hố xí chung đã giảm đi từ 10,8% năm 1992-93 xuống còn 8% năm 1997-98, nhưng lại tăng lên đến 14,4% năm 2001-02 Dân tộc Kinh vẫn có tỷ lệ cao sử dụng hố xí đơn giản, nhưng tỷ lệ sử dụng hố xí tự hoại đang tăng lên Tỷ lệ dân tộc Kinh không có hố xí chỉ dưới 10% Nhưng đối với dân tộc thiểu số, tỷ
lệ sử dụng hố xí hợp vệ sinh chỉ dưới 10%, trong khi từ 30 đến 55% không có
hố xí tùy nhóm dân tộc Dân tộc ở miền Nam, nơi có tỷ lệ người sử dụng nguồn nước sông để ăn uống, có tỷ lệ sử dụng hố xí đổ ra ao/sông/kênh/rạch cao nhất Có khoảng 25% người dân tộc ở miền Nam sử dụng chung hố xí, tỷ
lệ này ở dân tộc Kinh là 15% [8]
Nước ta vẫn là nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp để sinh sống Phân người là nguồn phân bón quan trọng cho nông nghiệp Tuy nhiên, để sử dụng phân người an toàn, tránh truyền các bệnh như viêm gan B, giun, sán,… phân
Trang 27cần phải ủ một thời gian để vi khuẩn và giun sán chết trước khi sử dụng Theo kết quả điều tra, vẫn có khoảng 11,6% các hộ ở nông thôn sử dụng phân tươi (chưa ủ) để bón cho cây Có sự khác nhau về tỷ lệ hộ gia đình sử dụng phân tươi trong nông nghiệp theo trình độ học vấn, theo vùng và theo mức sống ở người có trình độ học vấn thấp, tỷ lệ này cao hơn người có trình độ học vấn cao Hiện tượng sử dụng phân tươi cao ở đồng bằng so với ven biển hay miền núi và cao ở mức sống trung bình so với hộ nghèo hoặc giàu Đặc biệt các hộ nông thôn ở Đồng Bằng Sông Cửu Long sử dụng phân tươi bón cây rất cao (34,3%) tiếp theo là Đồng Bằng Sông Hông (7,7%), Đông Bắc (6,8%) và thấp nhất ở vùng Nam Trung Bộ chỉ (0,3%) [8]
* Tình hình bệnh tật: Mô hình bệnh tật ở nước ta vẫn là mô hình của
những nước nghèo chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn và suy dinh dưỡng Nổi bật
là sốt rét, nhiễm khuẩn hô hấp cấp (NKHHC) và tiêu chảy Vùng núi tỷ lệ mắc và chết cao do 3 bệnh sốt rét, NKHHC, tiêu chảy thêm vào là bệnh bướu
cổ với hậu quả là tỷ lệ đần độn cao [5], [14], [17], [32] Thực trạng này phù hợp với tình hình chung của cả nước Căn nguyên của những vấn đề này là do đời sống nghèo, sự phát triển kinh tế văn hoá còn thấp, vệ sinh môi trường thấp kém, ngoài ra còn do tập quán vệ sinh lạc hậu
* Tình hình sử dụng các dịch vụ y tế: Kể từ khi các chương trình
CSSKBĐ được triển khai đến nay, việc sử dụng các dịch vụ y tế rất phong phú Có rất nhiều loại hình để phục vụ nhu cầu cuộc sống sức khoẻ Người dân có thể tự do lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện của mình và có hiệu quả nhất Theo đơn vị chính sách- Bộ y tế, nghiên cứu ở 7 vùng sinh thái thấy
tỷ lệ hộ gia đình có sử dụng dịch vụ y tế ở xã trung bình/tháng là 23,5 % Chỉ
số sử dụng còn ở mức thấp và trung bình theo từng vùng (dao động từ 9,0 đến
41 %) Mua thuốc về tự chữa là cách sử trí đứng hàng đầu của các hộ gia đình khi có người ốm đau (45,2%- 46,6%), khám chửa bệnh ở y tế tư nhân là cách
Trang 28lựa chọn đứng hàng tiếp theo (17,6%- 18,9%) và khám chữa bệnh tại trạm y
tế là sự lựa chọn đứng hàng thứ 3 (12,9% - 14,2%) Lý do chính người dân lựa chọn khám chữa bệnh tại Trạm y tế xã là gần nhà (27,2%), chuyên môn tốt (25,1%) và quen biết (21,1%) Đối với y tế tư nhân lý do chính là quen biết (26,8%), chuyên môn tốt (24,2%), gần nhà (18,3%) Còn đối với Bệnh viện có 2 lý do chủ yếu là chuyên môn tốt (43,3%) và bệnh nặng (20,6%) [8]
* Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em: Trong những năm gần đây công tác
chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ trẻ em đã thực hiện tương đối tốt Đặc biệt chương trình tiêm chủng mở rộng đã thu được kết quả rất tốt trong việc phòng
6 bệnh truyền nhiễm ở trẻ em Làm giảm tỷ lệ tử vong do 6 bệnh hay gặp và hạn chế được những di chứng tàn phế do bệnh Hầu hết trẻ em dưới 1 tuổi đã được tiêm chủng (94,7%) Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đủ 6 loại vacxin trong chương trình tiêm chủng mở rộng đạt 79,4% [41], [42] Do làm tốt công tác quản lý thai nghén nên đã giảm đáng kể tỷ lệ tai biến sản khoa và tình trạng suy dinh dưỡng bào thai, 80,6 % số phụ nữ có thai đã được khám thai Số phụ
nữ được khám thai từ 2 lần trở lên chiếm tỷ lệ 40,3 %, 75 % bà mẹ có thai được tiêm phòng uốn ván Tỷ lệ tiêm phòng uốn ván mũi 2 là 58 % Tỷ lệ trẻ
có cân nặng khi sinh < 2500g là 8,8 % [24], [34]
* Công tác khám, chữa bệnh ban đầu: Theo báo cáo của Bộ y tế 2005
hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam mạng lưới y tế cơ sở hoạt động rất tích cực về cả y tế dự phòng và điều trị, trong tổng số lượt người dân tiếp cận ngoại trú trạm y tế, gần 40% lượt người liên quan đến tiêm chủng hoặc y tế dự phòng, trên 40% liên quan đến điều trị bệnh của người 6 tuổi trở lên, gần 15% liên quan đến chăm sóc thai sản và điều trị trẻ em dưới 6 tuổi bao gồm phục hồi chức năng, kiểm tra sức khỏe và những dịch vụ khác Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của Nhà nước thì y tế huyện, xã là nơi đầu tiên người dân có thể tiếp cận khi ốm đau Trong nhiều năm qua công tác
Trang 29khám, chữa bệnh ở tuyến huyện, xã được thực hiện khá tốt, giải quyết một phần gánh nặng cho tuyến trên và đã đem lại hiệu quả cao trong việc đẩy lùi bệnh tật, xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, đồng thời mạng lưới y tế tuyến huyện, xã cũng tạo điều kiện giảm chi phí khi ốm đau, đặc biệt là đối với người nghèo Các trạm y tế xã cũng đã chuyển hướng hoạt động, ngoài công tác khám chữa bệnh tại trạm còn chăm sóc sức khỏe tại gia đình Song mạng lưới này còn hạn chế cả về số lượng, chất lượng cán bộ, cơ sở vật chất, và giá
cả dịch vụ Mặt khác, điều kiện kinh tế-xã hội ngày một phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân tăng lên, một bộ phận có thu nhập cao hơn sẵn sàng đến những cơ sở có kỹ thuật cao ở tuyến trên để khám và chữa bệnh, gây nên tình trạng quá tải ở tuyến trên và làm giảm hiệu quả hoạt động của y
tế cơ sở [11]
* Công tác y tế dự phòng Chăm sóc sức khỏe ban đầu bao gồm cả chữa
và phòng bệnh Trong các loại cơ sở y tế tham gia chăm sóc sức khỏe ban đầu, trạm y tế đóng vai trò quan trọng nhất trong công tác y tế dự phòng Bên cạnh đó là hoạt động y tế trường học và nha học đường, chương trình kết hợp Quân Dân y cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác y tế dự phòng, phát hiện sớm các bệnh tật trong học đường và công tác dự phòng ở vùng sâu, vùng xa Hàng năm, trạm y tế ngoài khám chữa bệnh, khám thai, đỡ đẻ, có dành tỷ lệ lớn thời gian cho việc thực hiện nhiều chương trình y tế có tính
chất y tế dự phòng Nhân viên y tế thôn bản có vai trò chủ yếu liên quan đến
công tác y tế dự phòng Tỷ lệ thôn, bản có nhân viên y tế rất cao Trong nhân viên y tế thôn, bản có cả những người có chuyên môn khá về y tế và có những người mới được đào tạo Hoạt động của họ tập trung vào những công việc tuyên truyền, theo dõi sức khỏe trẻ em suy dinh dưỡng, vận động TCMR và theo dõi tình hình bệnh tật của dân Nhân viên y tế thôn, bản cũng có tham gia
sơ cứu, khám chữa bệnh và khám thai, đỡ đẻ
Trang 301.2 Các u tố kin t văn óa xã ội nói c ung và p ong tục tập quán của người T ái nói riêng ản ưởng n k t quả c ăm sóc sức k ỏe ban ầu
1.2.1 Các yếu tố kinh tế văn hóa xã hội nói chung ảnh hưởng đến kết quả chăm sóc sức khỏe ban đầu
* Kinh tế: Kinh tế khó khăn ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động chăm
sóc sức khoẻ Thông thường càng nghèo càng hạn chế đến với cơ sở y tế, người nghèo có xu hướng tự chữa hoặc giảm chi phí bằng cách đến dịch vụ chăm sóc sức khoẻ gần nhà, không đến cơ sở y tế chất lượng cao nhưng thu phí cao Ngược lại người giàu dễ dàng quyết định khám chữa bệnh kể cả ở nơi
xa nhất, nhưng có chất lượng nhất
* Trình độ học vấn: Trình độ học vấn có nhiều ảnh hưởng đến hành vi
chăm sóc sức khoẻ của họ Tỷ lệ mù chữ, biết đọc, biết viết nói chung khá cao chiếm 31,6 % Nơi có tỷ lệ này cao nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long (49,9 %), trong đó có 13,9 % mù chữ, 30,0 % biết đọc biết viết Cộng đồng có học vấn cao hơn là khu vực đồng bằng sông Hồng (68,4 %), chủ yếu có trình
độ trung học cơ sở trở lên Các cộng đồng dân cư vùng Đông Nam bộ, miền núi phía Bắc, Tây nguyên có tỷ lệ học vấn thấp khá cao, tỷ lệ mù chữ, không biết đọc biết viết tương ứng là: 32,8 %; 29,8%; 29,2 % [8] Trình độ học vấn của người mẹ liên quan chặt chẽ đến tỷ xuất chết của trẻ em < 5 tuổi Một nghiên cứu ở Đồng bằng sông Hồng đã đưa ra kết quả và nhận xét như sau: Nếu người mẹ mù chữ, tỷ xuất chết trẻ em là 71,6 ‰ Nếu người mẹ biết đọc biết viết, tỷ xuất chết trẻ em là 52,84 ‰ Nếu người mẹ có trình độ học vấn tiểu học thì tỷ xuất chết trẻ em là 44,93 ‰ Người mẹ càng có trình độ học vấn càng cao thì tỷ xuất chết trẻ em càng thấp, điều này có liên quan chặt chẽ đến CSSKBĐ [8]
* Tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ: Là khả năng người sử dụng khi
cần có thể sử dụng tại nơi cung cấp dịch vụ.Tiếp cận bao hàm cả sự đánh giá,
Trang 31cách nhìn nhận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trong tầm suy nghĩ của người dân
về loại dịch vụ này qua các yếu tố không gian, thời gian, chi phí và chất lượng dịch vụ Tiếp cận của cộng đồng với cơ sở cung cấp chăm sóc sức khoẻ phụ thuộc nhiều yếu tố:
- Khoảng cách : Là quãng đường đi được tính bằng km hoặc thời gian đi mất từ nhà đến cơ sở y tế, tiếp cận dễ hay khó còn phụ thuộc vào đường xá tốt hay xấu , phương tiện đi lại Nếu đường tốt, phương tiện xe máy,được coi là dễ tiếp cận Khoảng cách không phải là yếu tố quyết định trong trường hợp bệnh hiểm nghèo Nếu trên địa bàn có những cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chất lượng như nhau thì khoảng cách là yếu tố được ưu tiên lựa chọn Nguyễn Thu Hiền năm 2000 nghiên cứu ở huyện Bắc Hà Lao Cai cho thấy khoảng cách của người dân đến tram y tế trung bình là ±3,45km Tỷ lệ trung bình 1 CBYT đảm nhận đi cơ sở đến với người dân là 10,45 km2 [7], [37]
- Yếu tố dịch vụ y tế: Không kể thu phí đắt, rẻ mà đề cập đến thuận tiện giờ giấc, thời gian mở cửa, thường trực, thái độ cư sử của CBYT đối với bệnh nhân, tính sãn sàng của các dịch vụ mà người dân cần và chất lượng dịch vụ theo yêu cầu của bệnh nhân
- Niềm tin sức khoẻ: Là thái độ, giá trị, kiến thức của người dân có được
về sức khoẻ, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ mà chúng có thể ảnh hưởng đến việc nhận ra thực trạng sức khoẻ và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
* Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức sức khoẻ: Là sự thể hiện đến hay không
đến cơ sở y tế với mục đích nhất định, có thể chia sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ theo loại dịch vụ, vị trí, mục đích và thời gian sử dụng
- Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khoẻ được sử dụng: Trạm y tế, Bệnh viện, hiệu thuốc, thầy thuốc tư
- Vị trí: Địa điểm sử dụng dịch vụ (trong và ngoài bệnh viện, nhà thuốc, nhà bệnh nhân )
Trang 32- Mục đích sử dụng: Điều trị, dự phòng và dưỡng sinh
Thời gian sử dụng được biểu thị bằng chỉ số có sử dụng hay không, số lần sử dụng một dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cụ thể trong khoảng thời gian nhất định [7]
* Các loại hình sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân:
- Tự điều trị: Người dân sử dụng các cây thuốc thông thường trong vườn nhà hoặc mua thuốc ở các hiệu thuốc về tự điều trị, đây là loại hình được sử dụngcho bệnh nhẹ và thông thường hay gặp tại cộng đồng
- Thầy thuốc tư nhân: Người dân sử dụng loại dịch vụ này bởi họ tin vào trình độ chuyên môn của thầy thuốc tư mà đa số là Bác sỹ, thuốc đủ về cả chất lượng và chủng loại, thái độ phục vụ tận tình chu đáo, người dân nghèo
có thể chịu tiền trong một thời gian dài, thầy thuốc tư sẵn sàng phục vụ tại nhà bất cứ lúc nào
- Bệnh viện: Thường khi bệnh nặng, điều trị tư không khỏi hoặc có nhu cầu sử dụng dịch vụ kỹ thuật y tế hiện đại
- Trạm y tế: Hầu hết người dân đến đây để đẻ và nhận dịch vụ phòng bệnh như tiêm chủng, uống vitamin A
Như vậy, tình trạng sức khoẻ hay bệnh tật là nguyên nhân trực tiếp và quan trọng nhất dẫn đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Người bệnh hoặc gia đình họ nhìn nhận tình trạng sức khoẻ thực tế của bản thân họ, đánh giá dựa trên kinh nghiệm có được về các biểu hiện bệnh, sự lo lắng về tình trạng sức khoẻ, cân nhắc đi đến quyết định có cần can thiệp y tế hay không Mặt khác, do kết luận về chuyên môn CBYT có thể dẫn đến thúc đẩy người dân sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ [54]
* Sự hài lòng của người sử dụng: Là biểu thị thái độ của người đã tiếp
xúc và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ đối với hệ thống y tế đó Sự hài lòng có thể đánh giá bởi chính bệnh nhân ở tại một cơ sở y tế cụ thể hoặc là ý
Trang 33kiến chung của người dân đối với việc thực thi của hệ thống y tế Phạm vi biểu lộ sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ có thể là về thái độ của nhân viên y tế, chất lượng chăm sóc, tính thuận tiện, mức chi phí, môi trường nơi cung cấp dịch vụ, hiệu quả của việc điều trị
* Khó khăn của người dân khi đến dịch vụ chăm sóc sức khoẻ:
- Trạm y tế: Hầu như thiếu thuốc, trang thiết bị y tế, trình độ chuyên môn của CBYT cũng hạn chế
- Bệnh viện: Rất khó khăn khi khi chuyển viện, giá viện phí cao, nhất là người dân nông thôn hoặc người nghèo, mặt khác tiền viện phí phải trả ngay nên đó là một gánh nặng đối với họ
- Y tế tư nhân: Giá dịch vụ cao và không ổn định, các quy định về an toàn, hợp lý về thuốc không được đảm bảo và tình trạng lạm dụng thuốc tăng nhanh do chạy theo lợi nhuận [37]
Việc quyết định lựa chọn loại hình dịch vụ nào để CSSK cho mình là tuỳ thuộc vào khả năng chi trả, khả năng này bị ảnh hưởng bởi mức thu nhập của người sử dụng và giá dịch vụ từ phía người cung cấp dịch vụ
1.2.2 Phong tục tập quán của dân tộc Thái
1.2.2.1 Một số phong tục tập quán của người Thái nói chung
Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, người Thái có số dân là 1.328.725 người, chiếm 1,74 % dân số cả nước, chủ yếu cư trú và sinh sống tập trung ở miền núi phía Bắc tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Sơn
La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An (số lượng người Thái tại 8 tỉnh này chiếm 97,6 % tổng số người Thái ở Việt Nam) Trong đó tại Sơn La có 482.485 người (54,8 % dân số), Lai Châu cũ (nay là Lai Châu và Điện Biên)
có 206.001 người (35,1 %), Yên Bái 41.000 người (chiếm 6,1% ) Nhóm Thái Trắng (Táy Đón hay Táy Khao) cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện tỉnh Sơn La (Quỳnh Nhai, Bắc Yên, Phù Yên) Ở Đà Bắc thuộc
Trang 34tỉnh Hòa Bình, có nhóm tự nhận là Táy Đón, được gọi là Thổ [49] Ở xã Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, có một số Thái Trắng chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Tày Ở Sapa, Bắc Hà, nhiều nhóm Thái Trắng đã Tày hóa Người Thái Trắng đã có mặt dọc hữu ngạn sông Hồng và tỉnh Lai Châu, Điện Biên từ thế kỷ 13 và làm chủ Mường Lay (địa bàn chính là huyện Mường Chà ngày nay) thế kỷ 14, một bộ phận di cư xuống Đà Bắc và Thanh Hóa thế kỷ 15 Có thuyết cho rằng họ là con cháu người Bạch Y ở Trung Quốc Nhóm Thái Đen (Tày Đăm) cư trú ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên Các nhóm Tày Thanh (Man Thanh), Tày Mười, Tày Khăng ở miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An cũng mới từ mạn Tây Bắc chuyển xuống cách đây vài
ba trăm năm và bị ảnh hưởng bởi văn hóa và nhân chủng của cư dân địa phương và Lào Nhóm Tày Thanh từ Mường Thanh (Điện Biên) đi từ Lào vào Thanh Hóa và tới Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm, nhóm này gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng văn hóa Lào Nhóm Thái Đỏ, gồm nhiều nhóm khác nhau cư trú chủ yếu ở một số huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình) …[43], [44], [51], [59],
Người Thái là một dân tộc có trình độ kinh tế, văn hoá tương đối phát triển Tập quán của người Thái là sống trong những trong những căn nhà sàn, tập trung thành những làng bản đông đúc ở những thung lũng hoặc ven sông Làm ruộng và nương rẫy là nghề nghiệp chính của người dân tộc Thái
1.2.2.2 Một số phong tục tập quán của người dân tộc Thái ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Trong những năm qua, khu vực miền núi phía bắc đã được sự quan tâm rất nhiều của Đảng và nhà nước về công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân Có nhiều chương trình, dự án đã được đầu tư, hỗ trợ cho ngành Y tế để phục vụ
và nâng cao sức khoẻ nhân dân đặc biệt đối với các đối tượng bị thiệt thòi như những người dân ở các xã vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số… Công
Trang 35tác Y tế dự phòng cũng như công tác khám chữa bệnh đã được tăng cường, cơ
sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ Y tế đã cấp đến các trạm Y tế xã Công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ đã được chuyển tải đến tận các thôn bản, các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ đến gần dân hơn, các phong tục tập quán lạc hậu đã và đang dần được xoá bỏ, thay thế bởi những phong tục tập quán tốt mang đậm nét văn hoá người Việt có lợi cho sức khoẻ Nhiều năm qua trên địa bàn khu vực miền núi phía bắc nói chung và khu vực người Thái nói riêng không có dịch bệnh xảy ra, công tác Y tế được quản lý từ tỉnh đến các xã, thị trấn Người dân tộc Thái đã có niềm tin đối với các hoạt động Y tế, các thói quen xấu có hại cho sức khoẻ như nuôi nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn, không có hố xí hợp vệ sinh, không sử dụng nguồn nước sạch … đã dần được thay thế Người dân tộc Thái đã biết hái lượn những cây thuốc quí, những bài thuốc hay để đưa vào chữa bệnh, kết hợp giữa đông y và tây y trong chẩn đoán và điều trị Số người đến trạm Y tế khám và điều trị ngày càng tăng, quản lý sức khoẻ tại trạm Y tế Bên cạnh đó vẫn còn nhiều vùng, khu vực cũng như một số hộ gia đình, người dân chưa chấp hành tốt các chủ trương,
kế hoạch của ngành Y tế trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân, vẫn còn tồn tại cúng ma trong nhà khi có người ốm hoặc có các vấn đề về sức khỏe Cúng ma không khỏi thì mới đưa người ốm đến trạm Y tế, nhiều trường hợp đến muộn
và không cứu được Nhiều hộ gia đình trong nhà có người đau ốm thì đều tự
đi mua thuốc về điều trị, một số trường hợp đã xảy ra những tai biến sử dụng thuốc rất đáng tiếc Hơn 40% số hộ gia đình còn chưa xây dựng nhà vệ sinh, chăn thả gia súc, gia cầm dưới gầm sàn…[10], [12], [13]
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ phụ nữ người dân tộc không khám thai 48,5% trong khi đó số tương ứng với phụ nữ người Kinh là 22,2%,
sự khác biệt về tỷ lệ khám thai chịu tác động của một số yếu tố như khả năng tiếp cận dịch vụ y tế, chất lượng dịch vụ y tế, trình độ học vấn của người mẹ
Trang 36Nghiên cứu cho thấy phụ nữ Việt Nam đi khám thai đủ 3 lần chỉ đạt 54,5%, tập trung ở nhóm bà mẹ có trình độ học vấn cao Còn nhóm những bà mẹ không đi học không những tỷ lệ không đi khám thai cao mà trong số đi khám thai thì khám đủ 3 lần cũng rất thấp Trình độ học vấn của người mẹ cũng là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến việc tiêm phòng uốn ván Số không tiêm phòng uốn ván ở phụ nữ không đi học rất cao 56,8% sau đó giảm rõ rệt còn 8,7% ở nhóm đã tốt nghiệp phổ thông trung học Bà mẹ người Kinh đi tiêm phòng và tiêm nhiều lần hơn so với phụ nữ các dân tộc khác, chỉ có 31,5% trường hợp sinh của bà mẹ người Kinh không đi tiêm phòng, trong khi tỷ lệ này của bà
mẹ các dân tộc lên tới 40,8% Tỷ lệ tiêm 2 mũi phòng uốn ván trở lên của phụ
nữ dân tộc Kinh đạt tới 51,4%, số tương ứng của phụ nữ dân tộc khác chỉ có 37,6% Một số nghiên cứu cho thấy trình độ học vấn của người mẹ cũng đã ảnh hưởng nhiều đến quyết định địa điểm sinh con, học vấn của mẹ càng cao thì tỷ lệ sinh con ở nhà càng giảm Bà mẹ không đi học sinh con tại nhà chiếm 68,2% trong khi đó tỷ lệ này giảm dần ở bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn, nhóm phụ nữ học hết PTTH sinh con tại nhà chỉ còn 10,7% So sánh giữa các vùng của đất nước thì phụ nữ vùng núi, vùng sâu vùng xa sinh con tại nhiều hơn và đặc biệt là vùng dân tộc ít người, chỉ có 31,5% trẻ được sinh ra tại các
cơ sở y tế, còn lại 68,5% được sinh ra tại nhà [11], [60], [61]
Hiện nay người Thái, đặc biệt là người Thái sống ở vùng sâu vùng xa còn tồn tại một số tập quán chưa tốt cho sức khỏe như sau:
* Nhà ở: Người Thái ở nhà sàn, có 2 tập quán cần quan tâm đó là nuôi,
nhốt gia súc gầm sàn rất mất vệ sinh và đun bếp trong nhà sàn tất cả đều gây ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới đường hô hấp Tuy nhiên nhà sàn người Thái thường mái cao hơn, nhà rộng, không ngăn buồng, nhiều cửa số nên trong nhà thường sáng hơn, vệ sinh hơn
Trang 37* Vệ sinh: Người Thái ít nuôi gia súc thả rông, nhưng cũng có tập quán
phóng uế bừa bãi Làng bản Thái cũng chật chội, đường xá nhiều phân gia súc trong khi nguồn nước ăn nhiều nơi dùng nước suối, nước khe không vệ sinh ảnh hưởng tới việc phát triển bệnh đường tiêu hóa
* Cúng bái chữa bệnh: Người Thái có cúng bái chữa bệnh nhưng ít hơn
so với một số dân tộc khác
* Sinh đẻ và nuôi con: Tập quán đẻ nhiều vẫn còn tồn tại ở các làng bản
người Thái vùng cao, vùng sâu Tập quán nuôi con của người người Thái cũng thường trái với chương trình nuôi con bằng sữa mẹ như đẻ ra chưa cho
bú ngay, ăn sam sớm và cai sữa sớm [25], [26]
1.3 Các biện p áp gìn gi , p át u n ng p ong tục tập quán
Trong những năm gần đây, người dân tộc Thái đã biết duy trì, bảo tồn và phát triển những nét văn hoá riêng nhằm tô đẹp cho cuộc sống của mình, đó là những phong tục tập quán, những thói quen tốt trong cộng đồng đã giúp họ có niềm tin trong cuộc sống và có lợi cho sức khoẻ, những cây thuốc quí, những bài thuốc hay, cách điều trị bệnh tật của riêng mình đã được lưu truyền từ đời này qua đời khác Những phong tục, tập quán có lợi cho sức khỏe đã được các
tổ chức xã hội, Đảng, chính quyền, ngành Y tế khuyến khích sử dụng và phát triển đồng thời nhân rộng ra các địa phương khác Ngành Y tế đã đưa nhiều các phương pháp khám chữa bệnh bằng cây thuốc nam của Người Thái được nghiên cứu và tổ chức các hội thảo, hội nghị để đánh giá hiệu quả sử dụng như: dùng cây thuốc vào điều trị các bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, bệnh ngoài
da, bệnh tim mạch, chữa rắn cắn, chữa gẫy xương [25], [28], [29] Chính vì vậy, một số phương pháp điều trị bệnh của Người Thái đã được áp dụng vào công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Ngoài ra nhiều phong tục tập quán khác có lợi cho sức khỏe cũng đã được duy trì và phát triển trong cộng đồng người Thái ở Nghĩa Lộ nói riêng và người Thái nói chung Vấn đề bảo tồn văn hóa Thái đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm
Trang 38* Tiêu chuẩn loại trừ: Không phải là hộ người Thái gốc trong xã và các
hộ gia đình không có con nhỏ dưới 5 tuổi
o Già làng, trưởng họ người Thái
o Lãnh đạo cộng đồng (Xã, thôn bản)
o CBYT đang công tác tại TYT xã
o Các loại sổ sách, tài liệu liên quan đến CSSKBĐ và phong tục tập quán người Thái lưu giữ ở địa phương
2.2 Địa iểm
2.2.1 Thị xã Nghĩa Lộ
Thị xã Nghĩa Lộ nằm trong vùng đất cổ thuộc cấu tạo địa chất Indonixit với hệ thống kiến tạo địa máng mang đậm nét của vùng Tây Bắc Việt Nam Nằm ở trung tâm vùng lòng chảo Mường Lò rộng lớn, thị xã có địa hình tương đối bằng phẳng, theo hướng nghiêng từ Tây sang Đông, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình 250m so với mặt biển, xung quanh là những dãy núi cao bao bọc Vị trí địa lý và địa hình đó đã tạo ra cho Nghĩa Lộ các yếu tố khí hậu mang đặc trưng của tiểu vùng khí hậu Tây Bắc, trong năm có 4 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình của cả năm là 22,50C, trong đó tháng trung bình cao nhất là 27,40
C, trung bình tháng thấp nhất là 16,40C Là địa phương có số giờ nắng cả năm hơn 1700 giờ, cao hơn các nơi khác trong tỉnh Lượng bức xạ
Trang 39nhiệt luôn dương tạo ra các sinh khối lớn thuận tiện cho sự phát triển của cây lúa và các loại cây hoa quả có hạt như nhãn, vải Theo tổng điều tra dân số
2009, Thị xã Nghĩa Lộ có 28.048 người, trong đó nam: 13976 ( 49,3%), nữ:
14423 ( 50,7%) Tỷ lệ dân số là người dân tộc Thái: 48,3% Thị xã nghĩa Lộ
có 07 xã phường và 100 thôn - bản, tổ dân phố Thị xã Nghĩa Lộ đang phấn đấu trở thành thị xã văn hoá trong đó có cả những nét văn hoá về sức khoẻ như xây dựng làng văn hoá sức khoẻ, bảo vệ môi trường, không nuôi nhốt gia xúc gần nhà, người ốm đưa đến bệnh viện để khám chữa bệnh không tự ý mua thuốc về nhà điều trị Sức khỏe nhân dân thực sự được quan tâm
2.2.2 Xã Nghĩa An
Thuộc thị xã Nghĩa Lộ có dân số là 4213 người, 628 hộ, trong đó có
342 hộ đang nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi, 402 hộ có người già trên 60 tuổi Cơ cấu dân tộc có tới hơn 90% người dân tộc Thái, chủ yếu là người Thái gốc cư trú ở đây từ rất lâu đời Người Thái xã Nghĩa An có nhiều phong tục tập quán gắn với những nét văn hoá về chăm sóc sức khỏe được lưu truyền từ lâu Nghề nghiệp chính của người Thái Nghĩa An gắn liền với phát triển cây lúa nước ngoài ra còn biết buôn bán, phát triển kinh tế gia đình , bên cạnh đó người dân còn rất quan tâm công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ được triển khai thường xuyên đến các thôn bản, các phong tục tập quán lạc hậu có hại cho sức khoẻ đang dần được thay thế bằng những phong tục tập quán có lợi cho sức khoẻ Nhiều năm nay sức khoẻ của người dân nơi đây đã được và đang dần cải thiện
2.2.3 Xã Hạnh Sơn
Là xã vùng sâu của Thị xã Nghĩa Lộ, có 5.379 nhân khẩu, 705 hộ, trong
đó có 350 hộ có trẻ em dưới 5 tuổi, 467 hộ có người già trên 60 tuổi người dân nơi đây chủ yếu là người Thái gốc đến sinh sống ở đây từ rất lâu đời Nghề nghiệp chính của người dân là phát triển nông nghiệp, kinh tế gia đình
Trang 40còn chậm phát triển, thu nhập bình quân đầu người trên năm là 4,5 triệu đồng/người/năm Giao thông đi lại còn khó khăn, sự tiếp cận của người dân với môi trường xã hội bên ngoài còn hạn chế Một số phong tục lạc hậu còn tồn tại như không đi khám chữa bệnh, tự mua thuốc về nhà chữa bệnh, hoặc cúng ma, phụ nữ ít được học hành mà chủ yếu ở nhà làm ruộng, nuôi con…
2.3 P ƣơng p áp ng iên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
o Điều tra cắt ngang, có phân tích
o Kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu
* Phương pháp chọn mẫu điều tra hộ gia đình:
o Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng được tính theo công thức: