1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu nhu cầu phục hồi chức năng của ng¬ười khuyết tật và kết quả chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại hai xã của huyện tiên du

107 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN Dương Quang Tỉnh NGHIÊN CỨU NHU CẦU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN

Dương Quang Tỉnh

NGHIÊN CỨU NHU CẦU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI HAI XÃ CỦA HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH

LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II

THÁI NGUYÊN, NĂM 2011

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC THÁI NGUYÊN

Dương Quang Tỉnh

NGHIÊN CỨU NHU CẦU PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI HAI XÃ CỦA HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH

CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: 62 72 76

LUẬN ÁN BÁC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Cao Minh Châu

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Cao Minh Châu, người thầy đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức, phương pháp luận quí báu và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài Xin trân trọng cảm ơn các Thày, Cô giáo đã giảng dạy, giúp đỡ và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quí báu trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành bản luận án của tôi được tốt hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Bộ môn Y tế công cộng Trường đại học Y - Dược Thái Nguyên, Trung tâm

y tế huyện Tiên Du, UBND và trạm y tế 2 xã: Lạc Vệ, Việt Đoàn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Y tế Bắc Ninh, Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng tỉnh Bắc Ninh đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và công tác

Tôi xin trân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, tạo môi trường tốt cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn

Tác giả luận án

Dương Quang Tỉnh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Dương Quang Tỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Trang Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 0

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình người khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật 3

1.2 Hoạt động của chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 17 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả 29

2.3 Địa điểm nghiên cứu 33

2.4 Thời gian nghiên cứu 33

2.5 Xử lý số liệu 33

2.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 38

3.2 Nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật 44

3.3 Kết quả chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại 2 xã Việt Đoàn và Lạc Vệ sau 01 năm thực hiện 51

Trang 6

Chương 4 BÀN LUẬN 58 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 58 4.2 Nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật 62 4.3 Kết quả chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại 2 xã Việt Đoàn và Lạc Vệ sau 01 năm thực hiện 66 KẾT LUẬN 68 KHUYẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHCNNKT Phục hồi chức năng người khuyết tật

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng Tên bảng Trang

3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới 38

3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 39

3.3: Phân bố người khuyết tật theo nguyên nhân 40

3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo loại khuyết tật 41

3.5: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo kinh tế gia đình 42

3.6: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số lượng khuyết tật 43

3.7: Nhu cầu PHCN của người khuyết tật phân bố theo giới 44

3.8: Nhu cầu PHCN của NKT phân bố theo tuổi 45

3.9: Nhu cầu PHCN của NKT phân bố theo loại khuyết tật 46

3.10: Phân bố nhu cầu PHCN theo mục đích của người khuyết tật 47

3.11: Nhu cầu PHCN của NKT theo từng mục đích trong hòa nhập 48

3.12: Nhu cầu PHCN của NKT phân bố theo từng mục đích trong sinh hoạt 49 3.13: Nhu cầu PHCN của người khuyết tật phân bố theo từng mục đích trong giao tiếp 50

3.14: Kết quả công tác tập huấn CTV phục hồi chức năng 51

3.15: Kết quả huấn luyện NKT và người nhà NKT của CTV phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 52

3.16: Kết quả sản xuất dụng cụ trợ giúp của người dân và cán bộ y tế xã 53

3.17: Kết quả luyện tập PHCN của đối tượng nghiên cứu 54

3.18: Kết quả phục hồi chức năng cho người khuyết tật Sau 01 năm thực hiện chương trình 55

3.19: Liên quan giữa kết quả luyện tập PHCN với giới của đối tượng

nghiên cứu 56

Trang 9

Bảng Tên bảng Trang

3.20: Liên quan giữa kết quả luyện tập PHCN với tuổi của đối tượng

nghiên cứu 563.21 Liên quan giữa kết quả luyện tập PHCN với kinh tế gia đình của người khuyết tật 573.22 Niềm tin của bản thân và gia đình của người khuyết tật 57

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang

3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới 38

3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 39

3.3: Phân bố khuyết tật theo nguyên nhân 40

3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo loại khuyết tật 41

3.5: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo kinh tế gia đình 42

3.6: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số lượng khuyết tật 43

3.7: Nhu cầu PHCN của NKT phân bố theo giới 44

3.8: Phân bố nhu cầu PHCN của người khuyết tật theo tuổi 45

3.9: Phân bố nhu cầu PHCN của NKT theo loại khuyết tật 46

3.10: Phân bố nhu cầu PHCN theo mục đích của NKT 47

3.11: Nhu cầu PHCN của NKT phân bố theo từng mục đích trong hòa nhập cộng đồng 48

3.12: Nhu cầu PHCN của người khuyết tật phân bố theo từng mục đích trong sinh hoạt 49

3.13: Nhu cầu PHCN của người khuyết tật phân bố theo từng mục đích trong giao tiếp 50

3.14 Kết quả công tác tập huấn cộng tác viên 51

3.15: Kết quả huấn luyện NKT và người nhà NKT của CTV phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 52

3.16: Kết quả sản xuất dụng cụ trợ giúp của người dân và cán bộ y tế xã 53

3.17: Kết quả luyện tập PHCN của đối tượng nghiên cứu 54

3.18: Kết quả PHCN cho NKT sau 01 năm thực hiện chương trình 55

Trang 11

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), trên thế giới vào năm 1996 có khoảng

500 triệu người khuyết tật (NKT) do các nguyên nhân khác nhau, trong đó có

140 triệu là trẻ em, chủ yếu tại các nước đang phát triển Tỷ lệ khuyết tật hiện nay chiếm 10% dân số và hàng năm tăng tăng thêm 1,63%, trong đó 3% có nhu cầu phục hồi chức năng [38]

Ở Việt Nam, hiện nay có khoảng trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm tỷ

lệ 6,4% dân số [12] Theo số liệu của Uỷ ban Bảo vệ Chăm sóc trẻ em Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 1995 có 215.485 trẻ bị khuyết tật, chiếm 0,8% tổng số trẻ em, theo một nghiên cứu tại Thái Bình thì

có 11,3% số con của các gia đình cựu chiến binh có dị tật bẩm sinh [4]

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới khuyết tật và người khuyết tật đều giống nhau ở chỗ họ phải chịu nhiều thiệt thòi do khuyết tật gây nên: Trẻ em khuyết tật thường bị suy dinh dưỡng, nhiễm trùng và tỷ lệ tử vong cao, ít có khả năng tới trường Người lớn khuyết tật không có khả năng, hoặc giảm khả năng lao động, ít có cơ hội tìm việc làm và thường có thu nhập thấp, tỷ lệ mắc các bệnh hiểm nghèo rất cao Ngoài ra những người khuyết tật không có đời sống xã hội, tinh thần như những người khác, họ ít có cơ may xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, ít có cơ hội thảo luận và quyết định những vấn đề của cộng đồng, thậm chí ở một số nơi, họ bị miệt thị và phân biệt đối xử [22] Chính vì vậy phục hồi chức năng cho người khuyết tật, giúp họ khắc phục tật nguyền,

tự chăm sóc được bản thân mình, giảm một phần gánh nặng cho gia đình và

xã hội, giúp họ hòa nhập cộng đồng là việc làm cần thiết

Tại hội nghị Almata, WHO đã đề xuất chiến lược “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” nhằm mục tiêu chăm sóc người khuyết tật một cách toàn diện với kỹ thuật thích ứng, giá thành thích hợp tại nơi người khuyết tật sinh

Trang 12

2

sống với bất cứ thời gian nào mà họ có thể Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy 90% người khuyết tật có thể phục hồi tại cộng đồng và gia đình Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một mô hình có nhiều ưu điểm: Người khuyết tật được phục hồi chức năng (PHCN) ngay tại gia đình, không phải đến các cơ sở

y tế, có thể huy động được nhiều người tại gia đình, cộng đồng tham gia phục hồi chức năng cho người khuyết tật, tiết kiệm được nguồn lực và người khuyết tật tránh được mặc cảm

Tại Việt Nam, từ năm 1987, dưới sự điều hành của Ban chủ nhiệm Chương trình phục hồi chức năng Trung ương, Dự án phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã được triển khai tại 46 tỉnh/thành phố, với 215 huyện, trên 2.412 xã [4] Qua báo cáo đánh giá của Ban chủ nhiệm chương trình trung ương và Ban chủ nhiệm chương trình tỉnh, bước đầu chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) đã thu được những kết quả khả quan [5] Tại Bắc Ninh, Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được triển khai tại 85 xã, phường, thị trấn thuộc một số huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tại huyện Tiên Du chương trình được triển khai thực hiện tại 8

xã trong đó có Việt Đoàn và Lạc Vệ [39] Để giúp các cấp chính quyền và ngành y tế trong công tác điều hành quản lý và thực hiện chương trình chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại Bắc Ninh đạt hiệu quả

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật và kết quả chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại hai xã của huyện Tiên Du” nhằm mục tiêu:

1 Xác định nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật tại 2

xã Lạc Vệ và Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2009

2 Đánh giá kết quả chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng sau 1 năm thực hiện tại 2 xã Lạc Vệ và Việt Đoàn huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tình hình người khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan

1.1.1.1 Khái niệm, phân loại, nguyên nhân và hậu quả của khuyết tật

*Khái niệm về khuyết tật

Bất kỳ một bệnh nào cũng diễn biến theo một quá trình nhất định, có những bệnh có thể tự khỏi hoặc khỏi hoàn toàn nếu được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, có những bệnh có thể dẫn đến tử vong, có những bệnh có hay không được điều trị đều để lại di chứng và sau đó gây nên khuyết tật Quá trình này được WHO gọi là quá trình khuyết tật Khuyết tật diễn biến theo một quá trình nhất định, gồm 3 mức độ: khiếm khuyết, giảm chức năng và khuyết tật [7]

Khiếm khuyết (impairment): là tình trạng mất mát hoặc bất bình thường

về tâm lý, sinh lý, cấu trúc giải phẫu chức năng của cơ thể

Giảm chức năng (disability): là tình trạng hạn chế chức năng do khiếm khuyết làm mất khả năng thực hiện một hoạt động hoặc các chức năng mà người bình thường có thể thực hiện được

Khuyết tật (handicap): do khiếm khuyết và giảm chức năng gây nên làm ngăn cản việc thực hiện vai trò của mình trong xã hội, không có cuộc sống

độc lập, không hoà nhập trong cộng đồng

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ

thể hoặc chức năng biểu hiện dưới các tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt và học tập gặp nhiều khó khăn [12], [18]

Trang 14

4

*Phân loại khuyết tật

Có nhiều cách phân loại khuyết tật, nhưng nhìn chung những cách này đều tương đối Bởi vì, một đứa trẻ bị khuyết tật bẩm sinh, do bại não thì đồng thời có nhiều khó khăn về vận động, trí tuệ và thể chất Tuy nhiên, để cộng đồng dễ nhận biết và tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật chấp nhận tình trạng của mình, Việt Nam có sử dụng phân loại khuyết tật của Tổ chức y

tế thế giới gồm 7 nhóm khuyết tật khác nhau [12]

- Khó khăn về vận động: bao gồm các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật về hệ vận động; bẩm sinh hay mắc phải và có hoặc không kèm theo các dạng khuyết tật khác

- Khó khăn về nghe, nói: bao gồm các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật về nghe hoặc cả nghe và nói; bẩm sinh hay mắc phải, có hoặc không kèm theo các dạng khuyết tật khác

- Khó khăn về học: bao gồm các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật về trí tuệ dẫn đến khó khăn về học; bẩm sinh hay mắc phải, có hoặc không kèm theo các dạng khuyết tật khác

- Khó khăn về nhìn: bao gồm các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật

về mắt; bẩm sinh hay mắc phải, các chấn thương mắt, có hoặc không kèm theo các dạng khuyết tật khác

- Mất cảm giác: bao gồm cả các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật liên quan đến bệnh phong

- Động kinh: bao gồm các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật liên quan đến bệnh động kinh; bẩm sinh hay mắc phải, có hoặc không kèm theo các dạng khuyết tật khác

- Hành vi xa lạ: bao gồm các khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật liên quan đến bệnh tâm thần

Trang 15

5

* Nguyên nhân khuyết tật

Nguyên nhân khuyết tật rất đa dạng, sự đa dạng đó là kết quả của những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và sự cung cấp các dịch vụ khác nhau

Phân tích nguyên nhân khuyết tật có thể tìm cách phòng, chống khuyết tật

trong tương lai Nguyên nhân khuyết tật bao gồm:

- Do bẩm sinh, do ốm đau, do tuổi già, do tai nạn

- Do chiến tranh và các nguyên nhân khác

- Do bản thân khuyết tật tạo ra các khuyết tật khác

- Thái độ sai lệch của xã hội với khuyết tật

- Do nền y học chưa có màng lưới phục hồi chức năng tốt, y học quá lạc

hậu hoặc quá tiến triển [5], [12]

*Hậu quả của khuyết tật

Đối với xã hội: bản thân người khuyết tật không tham gia vào quá trình sản xuất trong xã hội Xã hội phải chi một số vốn nhất định để giúp đỡ người khuyết tật Thái độ xã hội đối với người khuyết tật sai trái, thường không chú

ý đến nhu cầu của người khuyết tật và không đánh giá đúng vai trò của họ

Đối với gia đình: Người khuyết tật không được tham gia các hoạt động

trong gia đình Đồng thời, gia đình không những không có thu nhập của người khuyết tật mà còn phải tốn thời gian và tiền của để chăm sóc nuôi dưỡng họ Những người khuyết tật thường bị xã hội dèm pha và kém thân thiện

Đối với người khuyết tật: 90% trẻ em khuyết tật chết dưới 20 tuổi Tỷ lệ

người khuyết tật mắc bệnh hiểm nghèo rất cao Họ thường bị thất học và ít có

cơ hội được học nghề Một nghiên cứu ở Thái Bình cho thấy: có 7,3% người khuyết tật mù chữ, 27,8% trẻ em khuyết tật chưa được đi học; 35,7% có trình

độ cấp 1 (tiểu học) và 49,7% có trình độ cấp 2 (trung học cơ sở) Người khuyết tật thường có tỷ lệ thất nghiệp cao (34,8%) và thu nhập thấp, gia đình

họ thường trở nên nghèo hơn (59,4%) Bản thân người tàn khuyết tật không

Trang 16

6

có cơ hội lập gia đình và bị xã hội coi thường, bị xa lánh, tách biệt và đối xử bất bình đẳng, vì vậy, họ luôn có nhu cầu được luyện tập, học tập và được hoà nhập với cộng đồng như những người khác [6]

1.1.1.2 Nhu cầu phục hồi chức năng

1.1.1.2.1 Phục hồi chức năng

*Khái niệm: Các phương pháp chữa bệnh như xoa bóp, khí công, dưỡng

sinh đã có từ thời Hypocrate và được ghi lại trong các sách y học cổ Dần về sau, những tiến bộ của khoa học đã thúc đẩy sự phát triển đi theo các hướng chuyên ngành sâu Theo từng giai đoạn phát triển của y học, người ta quan niệm phục hồi chức năng là bước thứ ba của y học hiện đại, đó là:

- Bước 1 Y học điều trị: có nhiệm vụ giải quyết chữa trị cho người bệnh

- Bước 2 Y học dự phòng: đánh dấu sự chuyển biến mới thay vì chỉ thụ động điều trị đã tiến lên một bước là dự phòng

- Bước 3 Y học phục hồi: Đây là một quan niệm mới được hình thành rõ rệt từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), lần thứ hai (1940 - 1945) sau khi đã để lại hàng triệu người tàn phế do vết thương chiến tranh Các nhà nghiên cứu về ngoại khoa, chấn thương, chỉnh hình, các nhà xoa bóp, vận

động, các nhà hoạt động xã hội đã nghiên cứu sử dụng các biện pháp vật lý‎ trị

liệu, trong đó có vận động trị liệu là cơ bản Dần dần, sự tiến bộ của y học hiện đại đã cứu sống được nhiều người bệnh, nhưng những người được cứu sống, họ sẽ sống ra sao nếu như họ không sinh hoạt độc lập, mất khả năng lao động, phải sớm phụ thuộc Để giải quyết tình trạng đó, chuyên ngành phục

hồi chức năng (Rehabilitation) được hình thành và phát triển

Phục hồi chức năng được hiểu là “áp dụng các vấn đề y học, xã hội,

hướng nghiệp, giáo dục nhằm hạn chế ảnh hưởng của khiếm khuyết, giảm chức năng do khuyết tật, tạo điều kiện cho người khuyết tật hội nhập, tái hội nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia vào các hoạt động trong cộng

Trang 17

7

đồng” Hay nói cách khác, là “sự khôi phục đầy đủ nhất những cái bị mất đi

do bệnh tật, tổn hại hoặc khuyết tật bẩm sinh” Sự phục hồi của cá nhân liên

quan rất nhiều đến sinh thái môi trường và các mối quan hệ trong xã hội [15] Phục hồi chức năng cho người khuyết tật không phải chỉ là công tác y tế

đơn thuần mà nó còn có ‎ nghĩa nhân đạo, kinh tế, xã hội, nhân lực và pháp lý

sâu sắc Mục đích của phục hồi chức năng gồm có [9]

- Hoàn lại một cách tối đa thể chất, tinh thần và nghề nghiệp

- Ngăn ngừa tổn thương thứ phát

- Tăng cường tối đa khả năng còn lại của họ để giảm hậu quả của khuyết tật của bản thân, gia đình và xã hội

- Thay đổi tích cực nhận thức, thái độ và hành vi của xã hội, các thành viên trong gia đình và chính bản thân người khuyết tật, coi người khuyết tật cũng là một thành viên bình đẳng trong cộng đồng

- Cải thiện các điều kiện nhà ở, trường học, giao thông để người khuyết tật có thể tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội Người khuyết tật không phải lúc nào cũng làm được những việc mà người bình thường có thể làm hoặc không làm theo cách của người bình thường được

- Động viên được toàn xã hội nhận thức được việc phòng ngừa khuyết tật là công việc chung của cộng đồng, xã hội và tích cực tham gia vào hoạt động này Khuynh hướng trước đây cho rằng, quá trình phục hồi chức năng cho người khuyết tật chỉ được bắt đầu khi một hoặc nhiều bộ phận trong cơ thể đã

bị mất chức năng hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn Ngày nay, quan điểm về phục hồi chức năng cho người bệnh được xác định kể từ khi chưa bị bệnh

Người ta gọi đó là “phục hồi dự phòng”

Có nhiều hình thức phục hồi chức năng khác nhau, trong thực tế có các

hình thức phục hồi chức năng cơ bản sau đây [12]:

Trang 18

8

*Các hình thức phục hồi chức năng

- Phục hồi chức năng tại các trung tâm

Đây là hình thức phục hồi chức năng đã được áp dụng từ lâu, để chỉ tình trạng một khi hầu hết hoặc tất cả mọi dịch vụ phục hồi chức năng đều được tập trung tại viện hoặc tại trại dành cho người khuyết tật Phục hồi chức năng tại trung tâm có nhiều thuận tiện về điều kiện cán bộ kỹ thuật, cơ sở vật chất

và trang thiết bị, có thể phục hồi được những trường hợp khó và nặng Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi chi phí cao, trong khi số lượng người được phục hồi không nhiều và gây rất nhiều bất tiện cho bản thân người khuyết tật và gia đình họ một khi họ phải sống xa nhà Điều này làm cho người khuyết tật được phục hồi khó chấp nhận các trung tâm

- Phục hồi chức năng ngoài trung tâm

Đây là hình thức đưa cán bộ phục hồi chức năng cùng phương tiện xuống cộng đồng hay là phục hồi chức năng ngoài viện Với hình thức này, số lượng người khuyết tật được phục hồi chức năng có thể tăng lên chút ít và khắc phục được nhiều khó khăn cho bản thân và gia đình người khuyết tật Tuy vậy, chi phí cho phục hồi chức năng ngoài trung tâm rất lớn và khó có thể đảm bảo được đủ nhân lực và trang bị Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng khắc phục được những khó khăn này

- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

Cộng đồng: Là những người sống và sinh hoạt với nhau tại một địa phương (bản làng, thôn xóm, xã, huyện, tỉnh và quốc gia )

Phục hồi chức năng: Bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội, giáo dục và kỹ thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động giảm chức năng và khuyết tật, bảo đảm cho người khuyết tật (do hậu quả của ốm đau và tai nạn, tật bẩm sinh, cao tuổi ) hội nhâp và tái hội nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng, tham gia vào các hoạt động xã hội Phục hồi chức năng không phải là phương

Trang 19

9

pháp chữa khỏi bệnh mà là một ngành khoa học làm cho người khuyết tật thích ứng hoàn cảnh khuyết tật tối đa, làm cho xã hội ý thức được tránh nhiệm của mình đối với người khuyết tật có cuộc sống tự lập tối đa trong hoàn cảnh tật nguyền của mình [12]

Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Năm 1994, Tổ chức Y tế Thế giới và Liên đoàn Lao động Quốc tế đã thống nhất định nghĩa: “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là chiến lược phát triển của cộng đồng về PHCN, bình đẳng về cơ hội hội nhập xã hội của mọi NKT Triển khai phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng thuộc về trách nhiệm của cộng đồng, bản thân người khuyết tật và gia đình của họ thông qua các dịch vụ y tế, giáo dục, hướng nghiệp và xã hội” [18]

Phân bố hệ thống phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Nhiệm vụ phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được phân bố cho nhiều nguồn nhân lực ở các tuyến khác nhau, đòi hỏi sự điều hành của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ Trong đó: Tuyến huyện có nhiệm vụ khám với mục đích là xác định chẩn đoán người khuyết tật, từ đó có thể điều trị, như phẫu thuật điều trị co rút Giáo dục trẻ khuyết tật, như: cung cấp giáo viên Đồng thời, thực hiện các nhiệm vụ hướng nghiệp, như: giám định khả năng làm việc và hướng nghiệp và cung cấp các dụng cụ chỉnh hình đơn giản và các dụng cụ thích ứng khác cho người khuyết tật Tuyến tỉnh khám và điều trị y học cho những trường hợp khó khăn hơn và những trường hợp không tiến bộ tại cộng đồng hoặc tuyến huyện, đồng thời tiến hành giáo dục đặc biệt và giáo dục hướng nghiệp, như: đánh giá toàn diện và cung cấp các dụng cụ phục hồi chức năng tiêu chuẩn Tuyến Trung ương có nhiệm vụ chẩn đoán y học toàn diện, điều trị các trường hợp đặc biệt, ít gặp; đồng thời phục hồi chức năng toàn diện và tập huấn ở các viện, các trường tổng hợp

Trang 20

10

Các hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng: Hướng dẫn cho cán bộ địa phương về theo dõi phục hồi chức năng trong việc triển khai Chương trình CBR, hướng dẫn cho ban điều hành trong việc quản l‎ý‎ Chương trình Hướng dẫn cho người khuyết tật, trong việc giúp đỡ người khuyết tật có thể làm được gì cho chính bản thân họ và cho người khác tại cộng đồng Hướng dẫn cho giáo viên phổ thông để dạy cho lớp có trẻ khuyết tật

1.1.1.2.2 Nhu cầu phục hồi chức năng

*Khái niệm: Nhu cầu phục hồi chức năng là những nhu cầu cơ bản và

chung nhất cho mọi người khuyết tật, nhằm cải thiện tình trạng khuyết tật, giúp họ có thể tự thực hiện vai trò của mình để tồn tại trong cộng đồng như những người khác cùng tuổi, giới tính, hoàn cảnh [7]

*Mục tiêu của phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là giúp cho

người khuyết tật hoà nhập xã hội, nghĩa là, khuyến khích họ tham gia tối đa vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Mục tiêu này đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của con người được Maslow đưa ra 5 mức độ từ thấp đến cao, như sau: [23]

Trang 21

11

Hình 1.1 Những nhu cầu cơ bản của con người

Nhu cầu về khả năng nhận thức của bản thân: nhận thức được khả năng của mình để đóng góp cho xã hội và biết sống một cách hữu ích cho xã hội Nhu cầu được tôn trọng và quan tâm của xã hội: được mọi người trong

xã hội tôn trọng, quan tâm để mưu sinh và giải trí

Nhu cầu xã hội: nhu cầu được trở thành một thành viên của cộng đồng, được yêu thương, có tình cảm, được tham gia các hoạt động của cộng đồng và xã hội Nhu cầu an toàn: nhu cầu thiết yếu để che chở, bảo vệ: quần áo, nhà ở Nhu cầu về sinh lý, tồn tại là nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày

để con người tồn tại, như: ăn uống, nghỉ ngơi, vệ sinh, di chuyển, giao tiếp, có việc làm, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng [23]

Nh cầu về sinh lý, tồn tại

Nhu cầu về khả năng nhận thức của bản thân

Nhu cầu được tôn trọng quan tâm của xã hội

Nhu cầu về sinh lý, tồn tại

V Nhận thức được khả

năng của bản thân, biết sống hữu ích và đóng góp cho xã hội

II Được che chở, bảo

vệ, có quần áo, nhà ở

I Nhu cầu thiết

yếu để ăn uống nghỉ ngơi

Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn

Trang 22

12

*Nhu cầu phục hồi chức năng của ngưòi khuyết tật

Từ cơ sở 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người đã được Maslow khái quát, qua nghiên cứu nhiều năm, ở nhiều nước trên thế giới và cụ thể ở Việt Nam, năm 1988, Trần Trọng Hải và Padmani Mendis đã đưa ra 23 nhu cầu nhằm xác định nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật, như sau:

Nhu cầu 1: Tự ăn uống

Nhu cầu 2: Tự làm vệ sinh

Nhu cầu 3: Đại tiểu tiện

Nhu cầu 4: Mặc quần áo

Nhu cầu 5: Hiểu câu nói

Nhu cầu 6: Thể hiện ý muốn

Nhu cầu 7: Hiểu được điệu bộ dấu hiệu của người khác

Nhu cầu 8: Ra hiệu để người khác biết được ý muốn của mình

Nhu cầu 9: Đọc môi

Nhu cầu 10: Nói

Nhu cầu 11: Ngồi

Nhu cầu 12: Đứng

Nhu cầu 13: Di chuyển được trong nhà

Nhu cầu 14: Di chuyển được trong làng

Nhu cầu 15: Đi bộ được ít nhất 10 bước

Nhu cầu 16: Đau các nơi

Nhu cầu 17: Trẻ bú sữa mẹ và lớn bình thường

Nhu cầu 18: Chơi đùa

Nhu cầu 19: Đi học

Nhu cầu 20: Tham gia hoạt động trong gia đình

Nhu cầu 21: Tham gia hoạt động cộng đồng

Nhu cầu 22: Làm việc nội trợ

Nhu cầu 23: Làm việc và thu nhập

Trang 23

13

*Bậc thang đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật

Việc đánh giá nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật là một kỹ năng quan trọng, một khâu không thể thiếu trong việc nghiên cứu về người khuyết tật Phương pháp lượng giá 23 nhu cầu theo cách cho điểm 0; 1 và 2, như sau:

- Số 0: Người khuyết tật tự làm hoàn toàn, không có nhu cầu PHCN

- Số 1: Người khuyết tật làm được khi có sự giúp đỡ, có nhu cầu PHCN

- Số 2: Người khuyết tật hoàn toàn phụ thuộc, có nhu cầu PHCN

Dựa theo phương pháp này, các nhà nghiên cứu có thể điều tra, đánh giá nhu cầu của người khuyết tật trong cộng đồng và triển khai thực hiện kế hoạch phục hồi chức năng cho người khuyết tật [23]

1.1.2 Tình hình người khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng

1.1.2.1 Tình hình người khuyết tật và nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật trên thế giới

1.1.2.1.1 Tình hình người khuyết tật trên thế giới

Trên thế giới có khoảng 600 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 10% dân số thế giới [39], trong đó, có 140 triệu trẻ em khuyết tật; trên 340 triệu người khuyết tật ở các nước đang phát triển và hơn 98% người khuyết tật bị lãng quên [18] Riêng khu vực tây Thái Bình Dương có 100 triệu người khuyết tật, trong số họ có 75% chưa có sự chăm sóc y tế và xã hội Theo thống kê của Tổ chức unicef về số trẻ em khuyết tật ở Bắc Mỹ là 6 triệu, Châu

Âu là 11 triệu, Châu Mỹ La tinh là 13 triệu, Châu Phi là 18 triệu và Châu Á là

Trang 24

14

Tỷ lệ của một số dạng khuyết tật ở các nước đang phát triển cao hơn ở các nước công nghiệp Các yếu tố dẫn đến tử vong của người khuyết tật là các bệnh nhiễm trùng và ỉa chảy ở một vài nước đang phát triển hầu hết trẻ em sinh ra bị khuyết tật hoặc mắc phải trong năm đầu thường không sống đến 20 tuổi Tương tự, những người lớn bị khuyết tật cũng không thể sống lâu được

Do hậu quả như vậy, nên tỷ lệ khuyết tật ở các nước đang phát triển thấp hơn

ở các nước công nghiệp [23]

1.1.2.1.2 Nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật trên thế giới

Một số nước đang phát triển hầu như không có phục hồi chức năng Một

số nước khác phục hồi chức năng dựa vào bệnh viện chỉ phục vụ cho một số ít người khuyết tật Đây là hình thức phục hồi chức năng thụ động, người khuyết tật sống trong các bệnh viện không có cơ hội tham gia vào các Chương trình phục hồi chức năng chủ động Ước tính có khoảng 2 đến 3% người khuyết tật cần phải được phục hồi chức năng Tuy nhiên, ngày nay phục vụ y tế và các hoạt động cộng đồng ở các nước phát triển được cải thiện, tỷ lệ sống của người khuyết tật tăng lên (tăng tuổi thọ), vì vậy, tuy mong muốn giảm tỷ lệ người khuyết tật, nhưng thực tế tỷ lệ người khuyết tật tăng lên

1.1.2.2 Tình hình và nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật tại Việt Nam

1.1.2.2.1 Tình hình người khuyết tật ở Việt Nam

Nước ta trải qua nhiều năm chiến tranh, nghèo đói dẫn đến tỷ lệ dân bị khuyết tật tương đối cao Theo kết quả điều tra Quốc gia năm 2001 - 2002 có 13% các hộ có người khuyết tật Tỷ lệ người bị khuyết tật là 2,9%, tương đương với 2,2 triệu người khuyết tật, trong đó, khuyết tật vận động chiếm tỷ

lệ cao nhất (0,8%), sau đó là đến khuyết tật về nhìn chiếm 0,7% [6] Theo báo cáo của Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, tính đến năm 2004 Việt Nam có trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6,4% dân số, trong đó người khuyết tật ở độ tuổi lao động chiếm 69% [24]

Trang 25

15

Người khuyết tật ở Việt Nam có khoảng 25 đến 30% là do bẩm sinh đối với cả nam lẫn nữ Bệnh tật là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến khuyết tật cả nam và nữ Tuy nhiên, do vai trò của nam giới trong chiến tranh và tính chất nguy hiểm của công việc do nam giới đảm đương, nên tỷ lệ nam giới bị khuyết tật do chiến tranh và do tai nạn cao hơn nữ giới Ngược lại, tỷ lệ nữ giới bị khuyết tật do ốm đau hoặc vì già cao hơn nam giới

Đối với tai nạn, tỷ lệ khuyết tật do tai nạn tăng theo mức độ sống có thể một phần do những người có mức sống khá hơn tham gia giao thông nhiều hơn và có nguy cơ bị tai nạn cao hơn Ốm đau dẫn đến khuyết tật vẫn chiếm một tỷ lệ cao nhất đối với hầu hết các nhóm trừ người nghèo (do các tật bẩm sinh cao hơn và là tỷ lệ tương đối trong số người khuyết tật ốm đau có thể là nguyên nhân khuyết tật dễ phòng tránh nhất, do vậy ngành y tế cần có các giải pháp tác động để giảm tỷ lệ khuyết tật ở nước ta

Ở Việt Nam, theo điều tra 72.020 người dân thuộc tỉnh Hà Tây, thấy rằng: số người khuyết tật trên 15 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao (94,73%) so với người khuyết tật từ dưới 15 tuổi (5,27%) [10] Một nghiên cứu trên 17.311 người dân tại các tỉnh miền núi phía Bắc, thì tỷ lệ người khuyết tật ở hai độ tuổi trên đây chênh lệch không đáng kể, người khuyết tật từ dưới 15 tuổi chiếm 44,32% và người khuyết tật trên 15 tuổi chiếm 55,68% [18]

Mức sống có thể ảnh hưởng tới nguy cơ của khuyết tật, nhưng khuyết tật cũng ảnh hưởng tới nguy cơ của mức sống Kết quả điều tra y tế Quốc gia cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật do bẩm sinh cao nhất ở hộ nghèo Điều này có thể do một phần của môi trường sống, điều kiện khi mang thai của bà mẹ nghèo nhưng cũng có thể do gia đình có người bị khuyết tật sẽ là gánh nặng tài chính dẫn đến giảm mức sống Tỷ lệ người khuyết tật do chiến tranh không liên quan đến mức sống vì có thể do sự hỗ trợ của Nhà nước đối với những người này [24]

Trang 26

16

1.1.2.2.2 Nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật ở Việt Nam

*Nhu cầu phục hồi chức năng chung

Ở nước ta do trải qua nhiều năm chiến tranh, kinh tế chậm phát triển, tỷ

lệ người khuyết tật ở mức cao (5 đến 6%) tương đương trên 4 triệu người khuyết tật [3] Người khuyết tật có nhu cầu cần PHCN gần 40% [7], một nghiên cứu về người khuyết tật ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng cho thấy, tỷ lệ người khuyết tật có nhu cầu PHCN là 47,22% [16] Khoảng 30,2% người khuyết tật cần các phương tiện trợ giúp và 13,4% người khuyết tật cần được giúp đỡ sinh hoạt hàng ngày [7] Người khuyết tật nặng đến mức không thể tự ăn uống hoặc đi vệ sinh được chiếm khoảng 13% người khuyết tật Người khuyết tật ở thành thị và nông thôn cần phương tiện trợ giúp để khắc phục khuyết tật chiếm khoảng 30%, tuy nhiên, tỷ lệ các phương tiện đã được trợ giúp cho người khuyết tật ở thành thị (39,7%) cao hơn ở nông thôn (19,6%)

Theo báo cáo của 46 tỉnh đã triển khai chương trình PHCN dựa vào cộng đồng, tỷ lệ người khuyết tật có nhu cầu phục hồi chức năng chiếm 38,5% tổng

số người khuyết tật Trong đó, khó khăn về vận động chiếm vị trí hàng đầu (36,6% đến 46,6%); khó khăn về nhìn (17,8%); tiếp theo là khó khăn về nghe, nói (15,4% đến 22%) Nhóm hành vi xa lạ và động kinh chiếm tỷ lệ thấp [4]

*Nhu cầu PHCN của người khuyết tật theo nhóm tuổi và giới tính

Trẻ em khuyết tật chiếm gần 1% dân số và khoảng 3% số trẻ em, trong

đó, có 31% trẻ em khuyết tật nặng, 69% là khuyết tật vừa và nhẹ Tỷ lệ trẻ em khuyết tật có nhu cầu phục hồi chức năng là 68,9% và tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi từ 11 đến 15 tuổi (50,6%) [50] Tỷ lệ trẻ em khuyết tật ở vùng trung du Bắc bộ có nhu cầu phục hồi chức năng là 70% [4] Như vậy, tỷ lệ trẻ

em khuyết tật thấp hơn ở người lớn, nhưng số trẻ có nhu cầu PHCN lại cao (tỷ

lệ người khuyết tật có nhu cầu PHCN chung là 40%)

Trang 27

17

Theo điều tra y tế Quốc gia năm 2001 – 2002, số trẻ em khuyết tật trong

độ tuổi từ 0 đến 4 tuổi có nhu cầu cần được PHCN chiếm cao nhất, cụ thể : số trẻ có nhu cầu các phương tiện trợ giúp là 40,6%, cần được giúp đỡ sinh hoạt hàng ngày chiếm 51,4% Người khuyết tật từ 60 tuổi trở lên, có nhu cầu trợ giúp hàng ngày là 20,4% và cần các phương tiện trợ giúp 36,5% [7]

*Nhu cầu đi học và có việc làm của người khuyết tật

Do có những khiếm khuyết và giảm chức năng hoạt động nhất định, người khuyết tật bị hạn chế trong việc hoà nhập với cộng đồng Theo báo cáo điều tra Quốc gia năm 2001 - 2002 có 27,8% trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 18 tuổi là chưa bao giờ đi học Một nghiên cứu trẻ em khuyết tật ở Thái Bình cho thấy, trẻ

em khuyết tật có nhu cầu đi học chiếm tỷ lệ cao (59,3%) Người khuyết tật có nhu cầu học thêm về kiến thức và các kỹ năng là 88,1% Người khuyết tật, trong

độ tuổi lao động, không đi làm trong 12 tháng trước điều tra là 34,8% [13]

+ Các nhu cầu khác của người khuyết tật

Đối với trẻ em khuyết tật có nhu cầu hội nhập xã hội chiếm tỷ lệ cao (66,7%), tiếp theo là nhu cầu về giao tiếp (40,7%) và nhu cầu vận động (29,0%) [13] Theo kết quả nghiên cứu về tình trạng khuyết tật bẩm sinh của con các cựu chiến binh tại tỉnh Thái Bình, thấy trẻ em khuyết tật có nhu cầu cao nhất là hội nhập xã hội (74,0%), sau đến là nhu cầu về giao tiếp (69,7%), nhu cầu về vận động (41,5%) về nhu cầu về sinh hoạt (31,6%) [24]

1.2 Hoạt động của chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

1.2.1 Lịch sử của chương trình CBR trên thế giới

Năm 1976 tổ chức y tế thế giới đã đưa ra Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Năm 1978, vấn đề này được nêu trong hội nghị bàn

về chăm sóc sức khoẻ ban đầu và sức khoẻ cho mọi người đến năm 2000 Hội nghị được cộng đồng thế giới chấp thuận và Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được lồng ghép chặt chẽ trong Chương trình mạng lưới

Trang 28

Năm 1981, Liên hợp quốc phát động năm quốc tế về người khuyết tật, khởi đầu về sự quan tâm đến vấn đề người khuyết tật của cộng đồng quốc tế Năm 1982, Chương trình thế giới hành động vì người khuyết tật đã tuyên bố thập kỷ đầu tiên người khuyết tật (1983 - 1992) Mục tiêu của thập kỷ người khuyết tật nhằm phòng ngừa các nguyên nhân gây khuyết tật, phục hồi chức năng, sự tham gia tối đa và sự bình đẳng tối đa của người khuyết tật

Qua nhiều thập kỷ triển khai và nghiên cứu về PHCN dựa vào cộng đồng trên thế giới đã chứng minh đây là một hình thức PHCN rất có hiệu quả, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của các nước đang phát triển [ 18 ]

Tại Châu Á, năm 1992 đã có 33 nước tham gia và tuyên bố giai đoạn

1993 - 2002 là thập kỷ người khuyết tật Châu Á và Thái Bình Dương, đồng thời triển khai nhiều Chương trình nhằm cải thiện chất lượng sống của người khuyết tật, trong đó phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được chọn là một biện pháp phù hợp để giải quyết vấn đề người khuyết tật

Đến nay, Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhiều bài học kinh nghiệm thu nhận được từ việc triển khai Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng

ở các nước đang phát triển, ở Châu Phi, Châu Á, Ấn Độ, Nam Mỹ chất lượng cuộc sống của người khuyết tật được cải thiện rõ rệt và cộng đồng ngày càng tích cực tham gia vào Chương trình nhằm giúp đỡ người khuyết tật [18]

Trang 29

19

1.2.2 Hoạt động của Chương trình CBR ở Việt Nam

1.2.2.1 Các văn bản liên quan

Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23/HĐBT ngày 24/1/1991

Thông tư số 12/BYT-KT ngày 18/11/1993 của Bộ Y tế hướng dẫn xây dựng và phát triển công tác phục hồi chức năng

Quyết định số 1178/QĐ-BYT ngày 12/6/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế vềviệc phê duyệt dự án phát triển chuyên ngành PHCN đến năm 2000

Quyết định số1895/QĐ-BYT ngày 19/9/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Quy chế bệnh viện, tổ chức hoạt động khoa PHCN trong các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa

Pháp lệnh người khuyết tật được uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 30/7/1998

Nghị định số 55/1999/NĐ-CP ngày 10/7/1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh người khuyết tật

Quyết định 963/QĐ-BYT ngày 02/4/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành bản quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của bệnh viện điều dưỡng và PHCN thuộc sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Thông tư số 10/1999/KT-BYT ngày 09/6/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của bệnh viện điều dưỡng -PHCN các bộ ngành quản lý

Văn bản 826/YT-KH ngày 26/10/2000 của Bộ trưởng Bộ y tế về kế hoạch chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, phương hướng phát triển chuyên ngành phục hồi chức năng giai đoạn 2001 - 2005

Quyết định số 35/2001/QĐ-KTg ngày19/3/2001 của Thủ Tướng Chính phủ “Về việc phê duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001- 2010”

Trang 30

20

Công văn số 882/YT-ĐTr ngày 04 tháng 02 năm 2002 của Bộ Y tế gửi

uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc về việc tăng cường xây dựng

và phát triển công tác phục hồi chức năng

Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 102/2002/QĐ-BYT ngày 14/01/2002 về việc ban hành danh mục các dịch vụ kỹ thuật Phục hồi chức năng và các bệnh, nhóm bệnh điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh, bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng được Bảo hiểm xã hội thanh toán Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 177/2002/QĐ-BYT ngày 21/1/2002

về việc ban hành khung giá các dịch vụ kỹ thuật Phục hồi chức năng và ngày điều trị của các bệnh, nhóm bệnh điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh, Bệnh viện Điều dưỡng và PHCN được Bảo hiểm Y tế thanh toán

Quyết định của bộ trưởng Bộ Y tế số 370/2002/QĐ-BYT ngày 07/2/2002 về việc ban hành chuẩn quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2001 - 2010

1.2.2.2 Kết quả hoạt động của Chương trình CBR ở Việt Nam

+ Các giai đoạn của của Chương trình

- Từ trước năm 1987: Ở Việt Nam chưa có số liệu điều tra cơ bản về người khuyết tật, tuy nhiên số lượng người khuyết tật do hậu quả của chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn nghề nghiệp, bệnh dịch khá cao Mặt khác, ước tính khoảng 80% người khuyết tật sống tại cộng đồng không có cơ hội tiếp cận các dịch vụ PHCN Phục hồi chức năng chủ yếu dựa vào các khoa PHCN của các bệnh viện Trung ương, các Trung tâm PHCN và chỉ có dưới 5% tổng số người khuyết tật được hưởng dịch vụ PHCN này [11] Đội ngũ cán bộ PHCN tại cộng đồng còn thiếu hụt: tuyến tỉnh có khoảng 5-10%, tuyến huyện có khoảng 1% và tuyến xã là 0% [11] Để giải quyết vấn đề người khuyết tật tại cộng đồng, Hội đồng Bộ trưởng đã có văn bản số 405/VP ngày

17 tháng 02 năm 1987 cho phép Bộ Y tế triển khai Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật của Việt Nam

Trang 31

21

- Giai đoạn 1 (1987 - 1992): Chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được triển khai lần đầu tiên tại tỉnh Tiền Giang (1987) và sau đó Hải Dương (1988), Vĩnh Phúc (1999) Sau 3 năm triển khai, Ban chủ nhiệm Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng, thuộc Bộ Y tế, được thành lập và đã xây dựng một mô hình triển khai PHCN dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

- Giai đoạn 2 (1993 – 1997): Thực hiện thông tư của Bộ Y tế về PHCN dựa vào cộng đồng (Thông tư số 12/BYT-KT ngày 18 tháng 11 năm 1993) Giai đoạn này được triển khai rầm rộ Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng tại nhiều tỉnh, thành phố, tuy nhiên, đó cũng vẫn chỉ là triển khai điểm ở một số huyện, xã của một số tỉnh, thành Phương thức triển khai tuy đa dạng nhưng vẫn sử dụng mô hình PHCN dựa vào cộng đồng do Bộ Y tế hướng dẫn Trong giai đoạn này, Pháp lệnh về người khuyết tật của Quốc hội (1997) đã đánh dấu một bước quan trọng trong lịch sử của người khuyết tật Việt Nam

- Giai đoạn 3 (1998 - 2004): Thực hiện pháp lệnh về người khuyết tật Trong giai đoạn này, PHCN dựa vào cộng đồng được triển khai thêm ở một số tỉnh, thành bằng nguồn kinh phí của Bộ Y tế, của địa phương và nguồn kinh phí của các tổ chức phi chính phủ Phương thức triển khai tuy đa dạng nhưng vẫn sử dụng mô hình PHCN dựa vào cộng đồng do Bộ Y tế hướng dẫn [5]

*Nội dung Chương trình CBR

- Phát hiện thương tật ở trẻ em, người lớn có khó khăn về nghe, nói, nhìn, vận động, người bị động kinh, người chậm phát triển tinh thần, người có hành vi xa lạ, người mất cảm giác tay, chân và người có thương tật khác Nội dung này do cán bộ y tế đội, y sỹ ở xã hoặc cán bộ khác tham gia Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng thực hiện tại nhà người có khuyết tật

- Tăng cường sự phát triển tối đa ở trẻ em trước khi đi học qua sự kích thích sớm trong khi chơi đùa Nội dung này được thực hiện tại nhà do chính người trong gia đình thực hiện

Trang 32

22

- Hướng dẫn về giao tiếp cho người khuyết tật về nghe, nói Nội dung này được thực hiện tại nhà và do người trong gia đình thực hiện

- Hướng dẫn những sinh hoạt hàng ngày, như : ăn, mặc, vệ sinh cá nhân

và các công việc nội trợ Nội dung này được thực hiện tại nhà và do người trong gia đình thực hiện

- Hướng dẫn và vận động sản xuất ra những phương tiện cần thiết giúp

đỡ cộng đồng Nội dung do người trong gia đình thực hiện tại nhà

- Học tập do giáo viên địa phương thực hiện tại trường làng

- Hoà nhập xã hội được thực hiện tại cộng đồng do Uỷ ban nhân dân, các đoàn thể, gia đình, y tế, cộng đồng và bản thân người khuyết tật thực hiện

- Tìm việc làm và tăng thu nhập Nội dung này được thực hiện tại nhà, cộng đồng, trạm y tế, bệnh viện huyện, tỉnh do Uỷ ban nhân dân, các đoàn thể, gia đình, y tế, cộng đồng và bản thân người khuyết tật thực hiện

- Hệ thống tham vấn chuyên môn, bao gồm: khám và tham vấn về sức khoẻ, phân loại người khuyết tật theo chuyên khoa để khám và sử dụng các

kỹ thuật PHCN phù hợp với từng đối tượng Nội dung này được thực hiện tại trạm y tế, bệnh viện huyện, tỉnh do cán bộ y tế và bản thân người khuyết tật thực hiện

- Lưu trữ hồ sơ y tế: do cán bộ tham gia Chương trình thực hiện

- Báo cáo: do cán bộ tham gia Chương trình thực hiện

- Theo dõi: do cán bộ tham gia Chương trình thực hiện

- Lượng giá: do cán bộ tham gia Chương trình thực hiện

- Tái lập Chương trình: do cán bộ tham gia Chương trình thực hiện

*Kết quả của Chương trình CBR đã đạt được [5]

Ở Việt Nam, với sự giúp đỡ của Uỷ ban cứu trợ nhi đồng Thuỵ Điển, từ

năm 1987 dự án phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã được triển khai tại tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương…đến nay, Chương trình PHCN dựa

Trang 33

- Các cơ sở PHCN ở nước ta đã phát triển nhanh chóng trong 17 năm qua Số khoa PHCN tại bệnh viện trung ương đã tăng từ 9 lên 25; số khoa PHCN của bệnh viện tỉnh tăng từ 20 cơ sở lên 58; 9/9 trường đại học y có bộ môn PHCN và đặc biệt là sự phát triển về PHCN của trung tâm y tế huyện và nâng cấp trạm y tế xã tăng lên [4]

- Chuyển đổi mạng lưới điều dưỡng thụ động sang hoạt động chủ động tích cực, lấy phục hồi chức năng làm nội dung chính Sự chuyển đổi đã được thực hiện ở tất cả các tỉnh và thành phố, các bộ, ngành, tiến tới đã hình thành

hệ thống bệnh viện Điều dưỡng và phục hồi chức năng (hiện nay cả nước có trên 40 bệnh viện Điều dưỡng - PHCN của các tỉnh thành phố, bộ ngành)

- Đưa chương trình giảng dạy môn học Phục hồi chức năng vào trong các trường trung học, Đại học y Trên cơ sở đó, bộ môn Phục hồi chức năng của các trường đã được củng cố, xây dựng (hiện nay tất cả các tỉnh, thành phố đều có tổ, bộ môn phục hồi chức năng trong các trường trung học y tế)

- Xây dựng mạng lưới CBR, lồng ghép trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu, phát hiện sớm người khuyết tật để phục hồi và đưa họ trở lại với cuộc sống cộng đồng Từ năm 1987, khi Việt Nam bắt đầu tham gia Chương trình CBR mới có 2 tỉnh, thành phố triển khai, đến nay đã có 46 tỉnh thành tham gia Chương trình; từ 2 huyện năm 1987, đến nay đã có 128 huyện tham gia; đặc biệt từ 6 xã tham gia, đến năm 2004 đã có 2162 xã tham gia Chương trình CBR [4] Bước đầu hình thành trong các trường hệ thống các bộ

Trang 34

24

môn tập huấn kỹ thuật viên Vật lý trị liệu trung học, cử nhân đại học, cử nhân cao đẳng, bác sỹ chuyên khoa I, chuyên khoa II, thạc sỹ, tiến sỹ về phục hồi chức năng Đến năm 2004, toàn quốc có 698 cán bộ PHCN tuyến tỉnh, trong

đó, có 31% là bác sỹ, 2% cử nhân vật lý‎ trị liệu, 67% là kỹ thuật viên vật lý‎ trị liệu và 1% kỹ thuật viên chỉnh hình Trong số các bác sỹ PHCN, có 28% được tập huấn sau đại học về PHCN Cán bộ PHCN dựa vào cộng đồng đã được tập huấn về triển khai chương trình, trong đó cán bộ CBR tuyến tỉnh được tập huấn chiếm 21%, cấp xã chiếm 49% và cộng tác viên chiếm 30% [11] Ban điều hành Chương trình CBR các cấp được thành lập, cụ thể, ở các tỉnh đã triển khai Chương trình CBR, thì ở cấp tỉnh có 85,6% số tỉnh đã thành lập, 82,4% thành lập Ban điều hành cấp huyện và 85,3% có thành lập Ban điều hành cấp xã [4] Hoạt động của Ban điều hành Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng ở các cấp rất toàn diện, như lập kế hoạch hoạt động (>90%), triển khai hoạt động trên 90%, giám sát (>80%) và điều phối Chương trình [4]

- Chất lượng cuộc sống của NKT bước đầu đã được cải thiện:

Chương trình CBR đã hỗ trợ nhiều mặt cho NKT, cụ thể: 64% người lớn khuyết tật và 71% trẻ em khuyết tật được hưởng các dịch vụ hỗ trợ từ Chương trình CBR Tỷ lệ NKT hội nhập là 45%; người khuyết tật có công ăn việc làm là 12%, trong đó, 54% NKT được nhận hỗ trợ việc làm và 24% người khuyết tật được vay vốn sản xuất, kinh doanh; sức khoẻ của người khuyết tật được cải thiện hơn trước (54,4%) [18]

Theo báo cáo của các tỉnh cho thấy kết quả thực hiện chương trình CBR đạt được như sau: Tại tỉnh Bình Dương tỷ lệ người PHCN có kết quả là 67,4%; NKT hội nhập là 36,3%, tự sinh hoạt được là 20,2% và sinh hoạt được một phần là 43,45% [4]; trẻ em khuyết tật được đi học chiếm 38%, trong đó có 34% trẻ khuyết tật đi học được miễn học phí, 7% được cấp kinh phí hỗ trợ Tại tỉnh Bến Tre có 26% trẻ em khuyết tật được đến trường, người khuyết tật được khám

Trang 35

25

và chữa bệnh đoois với người lớn là 56,5%, trẻ em là 73,6%; từ 37,9% đến 43,2% người khuyết tật được tập luyện về vận động, 34,6% người lớn khuyết tật và 18,6% trẻ em khuyết tật được cấp thuốc điều trị, đồng thời người khuyết tật còn được phẫu thuật từ 6,7% đến 12,2% [4]

- Thay đổi nhận thức của người khuyết tật: Sự hiểu biết của bản thân NKT

và các hộ gia đình về CBR được cải thiện, cụ thể có 94,5% NKT hiểu Chương trình CBR đã thực hiện nhiều hoạt động cho NKT Người khuyết tật đã hiểu được nguyên nhân gây khuyết tật và tham gia các cuộc gặp mặt của địa phương với gia đình NKT (34,4%) [18] Hầu hết người lớn khuyết tật và (97,5%) trẻ đều thích hoạt động của CBR và 56,8% đến 59,% NKT thích được hướng dẫn luyện tập tại nhà

- Động viên sự tham gia của cộng đồng vào Chương trình CBR: Hầu hết các thành viên (93 - 96%) của Hội Phụ nữ, hội Chữ thập đỏ, Ban DSGĐTE đều tham gia vào hoạt động CBR Có 85% thành viên các tổ chức này tham gia hỗ trợ trẻ em khuyết tật đi học, 69,4% thành viên Hội Phụ nữ tham gia hướng dẫn luyện tập tại nhà cho NKT

- Tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế: Về kinh phí trong giai đoạn 1993 - 1997, hầu hết kinh phí của Chương trình CBR là do các tổ chức nước ngoài tài trợ (71,2%), kinh phí của địa phương cấp chỉ chiếm dưới một phần tư so với thực tế Đến giai đoạn 1998 - 2004 kinh phí chủ yếu là từ địa phương cung cấp (99,4%), nguồn kinh phí từ nước ngoài chiếm 0,5% [18]

Về chuyên môn Chương trình CBR đã được sự giúp đỡ tích cực của các giảng viên quốc tế trong các chương trình tập huấn gồm: Tập huấn cơ bản chiếm 40%

ở cấp tỉnh là giáo viên quốc tế, 35% ở cấp huyện; tập huấn nâng cao, giảng

viên quốc tế chiếm 10% ở tuyến tỉnh và huyện; tập huấn về quản l‎ý điều hành,

giảng viên quốc tế chiếm 40% ở tuyến tỉnh và 25% ở tuyến huyện [18]

Trang 36

26

- Cung cấp các dụng cụ thích ứng để hỗ trợ NKT: Các địa phương đã sản xuất các dụng cụ đáp ứng được 36,7% đối với người lớn khuyết tật và 35,2% trẻ em khuyết tật, trong đó có 84,4% đến 85% người khuyết tật được hướng dẫn cách sử dụng dụng cụ [32]

- Chính sách về người khuyết tật đã được điều chỉnh: Người khuyết tật được quan tâm chăm sóc và phục hồi chức năng đầy đủ và toàn diện hơn Nhà nước và các bộ, ngành đã ban hành Luật về người khuyết tật, các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật về người khuyết tật, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện chương trình CBR

1.2.2.3 Kết quả hoạt động của chương trình CBR ở tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh đồng bằng thuộc vùng châu thổ sông Hồng, được tái lập

từ năm 1997có diện tích 822,71km2

, dân số hơn 1.030.000 người, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, giao thông thuận lợi, có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời đậm đà bản sắc dân tộc, điều kiện kinh tế của tỉnh Bắc Ninh có nhiều thuận lợi, cơ sở và kết cấu hạ tầng từng bước được củng cố và phát triển, trình độ dân trí ở mức ngang các tỉnh trong khu vực Về y tế, sau 12 năm tái lập tỉnh, cùng với sự phát triển chung của y

tế cả nước, y tế Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu đáng kể: mạng lưới y

tế cơ sở được củng cố, các cơ sở khám chữa bệnh được phát triển về cơ sở hạ tầng và được đầu tư trang thiết bị, đảm bảo đủ thuốc thiết yếu, đội ngũ cán bộ

y tế các tuyến được tăng cường, nhiều kỹ thuật mới được triển khai Vì vậy chất lượng các dịch vụ y tế ngày càng được cải thiện, bước đầu đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân trong tỉnh

Tuy nhiên về tổng thể sự phát triển của y tế Bắc Ninh còn những hạn chế, công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh còn gặp nhiều khó khăn, vệ sinh

Trang 37

27

môi trường, nước sạch cho sinh hoạt, vệ sinh an toàn thực phẩm, suy dinh dưỡng còn những thách thức lớn ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân [37]

Hệ thống tổ chức từ năm 2008 thực hiện Nghị định 13, Nghị định 14, thông tư 03/2008/KTLB-BYT-BNV, thông tư 05/2008/KT-BYT, hệ thống y

tế tỉnh Bắc Ninh gồm:

Đơn vị quản lý nhà nước: Sở Y tế gồm Ban lãnh đạo, thanh tra y tế, văn phòng sở và 4 phòng chuyên môn nghiệp vụ: Phòng tổ chức cán bộ, Phòng kế hoạch tài chính, Phòng nghiệp vụ y, Phòng nghiệp vụ Dược và các hội đồng

tư vấn: Hội đồng thuốc, Hội đồng y dược tư nhân, Hội đồng khoa học

Các đơn vị sự nghiệp: mạng lưới y tế gồm 32 đơn vị trực thuộc sở

Hệ khám chữa bệnh: y tế công vẫn là chủ đạo, tuyến tỉnh: có 8 đơn vị, gồm 7 đơn vị có gường bệnh là 1 bệnh viện đa khoa tỉnh, 5 bệnh viện chuyên khoa (y học cổ truyền, điều dưỡng phục hồi chức năng, phong - da liễu, tâm thần, Lao - bệnh phổi), 1 trung tâm có gường bệnh là trung tâm phòng chống bệnh Mắt và 1 trung tâm vận chuyển cấp cứu 115 Tuyến huyện: với 7 BV đa khoa tuyến huyện, thị xã

Hệ dự phòng và phòng chống các bệnh xã hội: chỉ có y tế công thực hiện,

y tế tư tham gia không đáng kể Tuyến tỉnh có 7 đơn vị chuyên môn gồm: Trung tâm YTDP tỉnh, Trung tâm chăm sóc sức khoẻ sinh sản, Trung tâm kiểm nghiệm, Chi cục vệ sinh an toàn thực phẩm, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm KTGDSK, Trung tâm bảo vệ sức khoẻ lao động, môi trường, giám định y khoa Tuyến huyện có 8 KTYT huyện, thành phố, thị xã quản lý 126 trạm y tế xã, phường, thị trấn và mạng lưới y tế thôn [39]

Chương trình CBR ở tỉnh Bắc Ninh được triển khai từ tháng 5/1997 tại một số huyện, thị xã, ban đầu thực hiện chỉ đạo điểm từ 1 - 2 xã Đến tháng 5/2002 Chương trình được triển khai lồng ghép với công tác xây dựng chuẩn Quốc gia về y tế xã của Bộ Y tế, chương trình có sự điều hành của liên ngành

Trang 38

28

trong tỉnh, sự phối hợp của cán bộ y tế, giáo viên, cán bộ phụ nữ và nhân viên hội chữ thập đỏ, cộng tác viên y tế Tuy nhiên việc duy trì tính bền vững của chương trình còn hạn chế, việc nhân rộng chương trình còn chậm Nguyên nhân chủ yếu của tồn tại trên dây là do kinh phí chi cho chương trình còn hạn chế, chưa huy động được các ngành, các cấp tích cực trong chỉ đạo và điều hành mà chủ yếu là ngành y tế triển khai thực hiện, tại huyện Tiên Du chương trình được triển khai thực hiện tại 8 xã trong đó có Việt Đoàn và Lạc Vệ

Trang 39

29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Người khuyết tật; cán bộ y tế; cộng tác viên

- Gia đình người khuyết tật (người chăm sóc chính)

Tại 2 xã Lạc Vệ, Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, có phân tích

Nghiên cứu được chia thành 2 giai đoạn

- Giai đoạn 1: Điều tra xác định nhu cầu phục hồi chức năng của người khuyết tật, sau đó triển khai chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu

- Giai đoạn 2: Đánh giá kết quả chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu sau 01 năm thực hiện

Mục tiêu chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng năm 2010 gồm: Tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế xã, đội ngũ cộng tác viên chương trình PHCN dựa vào cộng đồng (19 cán bộ y tế xã, 25 cán bộ y tế thôn) Tuyên truyền, vận động người khuyết tật và người nhà người khuyết tật tham gia thực hiện chương trình Tập huấn kiến thức cho NKT và gia đình NKT, hướng dẫn người khuyết tật và người nhà người khuyết tật biết cách tập luyện PHCN cho người khuyết tật tại nhà theo nhóm khuyết tật, hướng dẫn NKT và gia đình NKT biết cách tạo và sử dụng một số dụng cụ, phươngtiện tập luyện đơn giản (100% NKT được CTV hướng dẫn, ít nhất mỗi NKT được CTV luyện tập 04 lần Ít nhất mỗi NKT có 01 người nhà được CTV hướng dẫn )

Trang 40

30

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1 Mẫu 1: Điều tra xác định tình hình người khuyết tật và nhu cầu phục

hồi chức năng của người khuyết tật

+ Cỡ mẫu: Áp dụng công thức n = [ 2

2 /

Trong đó: P là tỷ lệ người khuyết tật: Hiện nay chưa có nghiên cứu nào

xác định tỷ lệ người khuyết tật tại tỉnh Bắc Ninh, theo báo cáo của Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, tính đến năm 2004 Việt Nam có trên 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6,4% dân số Chúng tôi giả định tỷ lệ người khuyết tật tại tỉnh Bắc Ninh tương tự như tỷ lệ người khuyết tật của cả nước, như vậy p = 0,064 Với độ tin cậy 95% thì giá trị Z1-/2 là 1,96 Sai số e: Tự ước lượng 0,03

Thay các giá trị trên vào công thức chúng tôi tính được cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là: n = 1,962 2

03 , 0

) 029 , 0 1 ( 029 ,

- Chọn xã: Sử dụng phượng pháp bốc thăm ngẫu nhiên, chúng tôi chọn được 02 xã là Lạc Vệ và Việt Đoàn

- Chọn đối tượng nghiên cứu: Theo kết quả điều tra, nắm đối tượng người khuyết tật của Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng, số người khuyết tật tại 2 xã Lạc Vệ, Việt Đoàn (huyện Tiên Du) là 386 người, so với cỡ mẫu cần cho nghiên cứu, số lượng người khuyết tật tại 2 xã nghiên cứu không quá lớn, do vậy trong nghiên cứu này chúng tôi chọn toàn bộ người khuyết tật tại 2 xã Lạc Vệ, Việt Đoàn vào mẫu nghiên cứu

Ngày đăng: 19/03/2021, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w