Tỷ lệ các mẫu nước được lấy từ các trạm cấp nước tập trung không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm tới 84,85%, trong đó chủ yếu là chỉ tiêu vi sinh và hóa học... Đánh giá chất lượng nước sinh
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước sạch và vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong cuộc sống hàng ngày của mỗi con người và đang trở thành vấn đề cấp thiết trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân Nước sạch và
vệ sinh môi trường liên quan đến mọi người, mọi ngành, mọi vùng miền, nhất
là sự phát triển bền vững của đất nước, [26], [34]
Hiện nay, lượng nước sạch trên thế giới không đủ cung cấp cho con người và các ảnh hưởng xấu của nó tác động đến cuộc sống ngày càng trở nên báo động Theo đánh giá của WHO, có tới 80% các bệnh đường ruột đều bắt nguồn từ nguồn nước không an toàn [31]
Theo báo cáo của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) mỗi năm có tới 1,8 triệu trẻ em trên thế giới chết vì thiếu nước sạch và điều kiện
vệ sinh kém Các bệnh chủ yếu là tiêu chảy, thương hàn, giun sán, viêm gan nguyên nhân là do nước bị nhiễm bẩn từ các chất hữu cơ và vi sinh vật Hiện nay có khoảng 1,1 tỷ người trên thế giới không có nước sạch để dùng và 2,6 tỷ người không được tiếp cận với các hệ thống vệ sinh thích hợp, chủ yếu
là người dân ở các nước đang phát triển , [32], [40]
Ở Việt Nam, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, dân số tăng nhanh cùng với sự phát triển của nhiều ngành sản xuất, môi trường nói chung
và nguồn nước nói riêng ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng Theo thống kê của Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, hàng năm trung bình có trên 200 nghìn công trình cấp nước được xây dựng, trong đó khoảng gần 2000 nhà máy nước nông thôn có khả năng cung cấp cho 70% dân số nông thôn Tuy nhiên, tình hình cung cấp nước sạch
ở nông thôn không đồng đều giữa các vùng cũng như các tỉnh và chất lượng nước chưa đảm bảo, chưa được xét nghiệm thường xuyên theo định kỳ các chỉ
Trang 2số về lý, hóa, vi sinh theo quy định của Bộ Y tế đối với nước ăn uống và sinh hoạt Hiê ̣n nay mới chỉ có 60% dân số ở nông thôn được cung cấp nước chủ yếu bằng nguồn nước giếng các loại và tình trạng ô nhiễm các nguồn nước tương đối nặng nề do sự buông lỏng trong quản lý vệ sinh môi trường và sử dụng phân tươi bón ruộng trong nông nghiệp Số người dân được tiếp cận sử dụng nước máy tập trung chưa nhiều, đặc biệt là ở miền núi, vùng cao Chất lượng nước phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt còn rất thấp [29]
Các nghiên cứu (2006) tại Viện y học lao động cho thấy tỷ lệ nhiễm bẩn nguồn nước sinh hoạt ở vùng nông thôn là khá cao, khoảng 50% số mẫu phân tích không đạt tiêu chuẩn về mặt lý học, 14% không đạt tiêu chuẩn về hóa học
và 89% không đạt tiêu chuẩn về vi sinh vật [12]
Kết quả phân tích của Bô ̣ y tế (2006) trong 251 mẫu được lấy tại Hà Nội, Hải Hưng và Vĩnh Phúc có 47 mẫu nước lấy tại nguồn và tại dụng cụ chứa đựng thì hầu hết các mẫu đều đạt tiêu chuẩn khi bơm lên chiếm tỷ lê ̣ 90,7%, nước ở các bể chứa có tới 93,62% số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về mặt vi sinh vật do nhiễm bẩn trong quá trình sử dụng và bảo quản [12]
Nguồn nước sử du ̣ng của các hô ̣ gia đình ở mô ̣t số đi ̣a phương được cung cấp từ các trạm cấp nước , còn lại đa số các hô ̣ gia đình sử dụng nguồn nước khác như giếng đào, giếng khoan Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng nguồn nước của các trạm cấp nước tập trung còn ít
Tại Bắc Kạn hiện nay có 8 trạm cung cấp nước tập trung ở 7 huyện thị, các trạm này cung cấp nước sạch có công suất sử dụng đều lớn hơn 1000m3/24 h Tỷ lệ các mẫu nước được lấy từ các trạm cấp nước tập trung không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm tới 84,85%, trong đó chủ yếu là chỉ tiêu vi sinh và hóa học
Trang 3Vậy thực trạng chất lượng nước sinh hoạt tại các trạm cấp nước tập trung của tỉnh Bắc Kạn hiện nay ra sao ? Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn cung cấp nước của các trạm cấp nước tập trung như thế nào? Làm thế nào để cải thiện chất lượng nước sinh hoạt tại các trạm cấp nước tập trung của tỉnh Bắc Kạn ? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt của trạm cấp nước tập trung và kết quả một số giải pháp can thiệp tại tỉnh Bắc Kạn „ nhằm mục tiêu sau :
1 Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt được cung cấp từ các trạm cấp nước tập trung tại tỉnh Bắc Kạn
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt của các trạm cấp nước tập trung
3 Đánh giá kết quả một số giải pháp can thiệp cải thiện chất lượng nước sinh hoạt của các trạm cấp nước tập trung
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng chất lượng nước sinh hoạt tại các trạm cấp nước tập trung
1.1.1 Vài nét sơ bộ về trạm cấp nước tập trung và các thông tư đánh giá chất lượng nước của các trạm cấp nước tập trung
Trạm cấp nước tập trung là trạm được cung cấp nước cho các hộ gia đình
có sử dụng nguồn nước trong pha ̣m vi đi ̣a bàn quản lý của tra ̣m [3]
Việc kiểm tra và xét nghiệm chất lượng nước của các t rạm cấp nước tập trung được thực hiê ̣n theo quy chuẩn Viê ̣t Nam (QCVN)
Các QCVN đánh giá chất lượng nước bao gồm quy chuẩn 01: 2009/BYT, thông tư số 04/2009/TT- BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ
y tế Ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống” Quy chuẩn này quy định mức giới hạn các chỉ tiêu chất lượng đối với nước sử dụng cho mục đích ăn uống hoặc dùng cho chế biến thực phẩm tại các cơ sở chế biến thực phẩm Quy chuẩn này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân và hộ gia đình khai thác, kinh doanh nước sinh hoạt, bao gồm cả các cơ
sở cấp nước tập trung dùng cho mục đích sinh hoạt có công suất từ 1.000
m3/ngày đêm trở lên đồng thời các trạm này cung cấp cho cụm dân cư từ 500 người sử dụng trở lên [5]
1.1.2 Tình hình cung cấp nước sinh hoạt và chất lươ ̣ng nước của các trạm cấp nước tập trung
Nước là nhu cầu căn bản nhất của con người và là trọng tâm của các mục tiêu phát triển của thiên niên kỷ Tuy nhiên, hiê ̣n nay có gần 1,1 tỷ người không được tiếp cận với nguồn cung cấp nước sạch Hệ thống quản lý nước yếu kém khiến cho việc thiếu nước sạch trở thành một trong những nguyên nhân gây nhiều bệnh tâ ̣t [16], [27],[28], [36], [39]
Trang 5Tình hình cung cấp nước sinh hoa ̣t của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung ở nhiều nơi còn là vấn đề bất câ ̣p
Theo số liệu thống kê của các tỉnh thành trên cả nước, đến cuối năm 2007
đã có 70% dân số nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh từ các công trình cấp nước tập trung và nhỏ lẻ Trong đó tỷ lệ cấp nước từ công trình tập trung tăng dần từ 1,25% năm 1992; lên 1,80% năm 1998; lên 5,88% năm 2002 và khảo sát ở 20 tỉnh đã lên 18% năm 2007 Với tình hình nguồn nước ngày càng cạn kiệt, suy thoái và ô nhiễm, chắc chắn các công trình cấp nước tập trung sẽ tăng nhanh Công trình cấp nước tập trung với công nghệ tiên tiến, quy mô liên xã đã xuất hiện ở nhiều vùng nông thôn trong những năm gần đây Viê ̣c tăng nhanh của các công trình cấp nước tập trung là cần thiết, vì những vùng dân cư tập trung đông, vùng khó khăn thiếu nguồn nước Như vâ ̣y , công trình cấp nước tập trung là giải pháp kinh tế và kỹ thuật
Tuy nhiên, khảo sát tại 4.803 công trình cấp nước tập trung ở 39 tỉnh, cho thấy có 2.025 công trình hoạt động tốt (chiếm 42%), 1.566 công trình hoạt động trung bình (chiếm 33%), 991 công trình hoạt động kém (chiếm 20,5%)
và 221 công trình không hoạt động (chiếm 4,5%) Nhiều công trình hiện nay được đánh giá đang hoạt động tốt hoặc trung bình cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố nguy cơ [20]
Nguồn nước của các trạm cấp nước tập trung phải được đánh giá theo các quy chuẩn trước khi cung cấp nước cho các hô ̣ gia đình Nhiều đi ̣a phương có các trạm cấp nước tập trung đã thực hiện theo cách đánh giá như vậy Thực hiện quy chuẩn số 02/2009/BYT kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt,Trung tâm nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (TTNS&VSMTNT) Hải Dương đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, giám sát đột xuất và xét nghiệm miễn phí chất lượng nguồn nước cho tất cả các trạm cấp nước sinh hoạt mỗi tháng một lần Trong năm
Trang 62010, Trung tâm xét nghiệm 238 mẫu nước ở các trạm cấp nước tập trung, phát hiện 66 mẫu nước chưa đạt yêu cầu, chiếm 27,7% Trung tâm còn phối hợp với Trung tâm Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn lấy mẫu xét nghiệm theo quy chuẩn của 533 mẫu nước sinh hoạt tại bể chứa của các hộ dân trên địa bàn 08 huyện Kết quả xét nghiệm cho thấy 100% số mẫu nước của công trình cấp nước tập trung đạt chất lượng theo quy chuẩn 02 của
Bộ Y tế, nguồn nước nhỏ lẻ của các hộ như giếng khoan, giếng đào, nước mưa chỉ có 294/497 (59,1% mẫu) đạt một số chỉ tiêu cơ bản của quy chuẩn 02 của Bộ Y tế Hầu hết, các mẫu không đạt quy chuẩn là do ô nhiễm vi khuẩn Coliform, Ecoli vượt quá mức cho phép Nguyên nhân là do các tra ̣m chưa xây dựng bể lọc, bể chứa, các giải pháp thu hứng, tích trữ, bảo quản chưa phù hợp Theo đánh giá của TTNS&VSMTNT tỉnh Hải Dương, trong tổng số các công trình cấp nước tập trung đang được khai thác, chỉ có khoảng 50% số công trình hoạt động có hiệu quả Nguyên nhân chủ yếu là trước đây đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ, mặt khác do nhận thức của cộng đồng dân cư về nước sạch và vệ sinh môi trường chưa được đầy đủ, cho nên thiếu sự hưởng ứng, ủng hộ và quan tâm việc tham gia sử dụng và bảo vệ công trình [7]
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy , nhiều các trạm cấp nước t ập trung hoạt động chưa hiệu quả, mô ̣t số c ác chỉ số xét nghiê ̣m hóa học, vi sinh cao hơn tiêu chuẩn cho phép Kết quả nghiên cứu của Craun và cộng sự cho thấy hàm lượng NH4 trong nướ c giếng được cung cấp cho các tra ̣m cấp nước cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần, một số trạm cấp nước có mẫu nước không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu hàm lượng sắt trong nước sau khi xử lý Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có 226 mẫu nước cung cấp cho sinh hoa ̣t từ nước giếng khoan và nước giếng đào không đa ̣t tiêu chuẩn vê ̣ sinh về chỉ số Coliform, [31], [41]
Trang 7Mă ̣t khác, theo nghiên cứu của nhiều tác giả khác cho thấy người dân sử dụng nguồn nước có các chỉ số xét nghiệm chưa đạt tiêu chuẩn vê ̣ sinh sẽ có nguy cơ mắc các bệnh về da, mắt, tiết niê ̣u [17], [27], [30], [44]
Nguồn nước cung cấp cho các địa phương nông thôn ở Việt Nam cũng như trên thế giới hiê ̣n nay chủ yếu vẫn là nước giếng khơi, giếng khoan, nước sông suối, nước ao hồ, máng lần, [37], [39], [43], [46]
Các trạm cấp nước tâ ̣p trung sử du ̣ng nguồn nước cung cấp cho các hô ̣ gia đình đều phải lấy nước từ các nguồn sông , suối hoă ̣c giếng đào, giếng khoan Song, kết quả của mô ̣t số nghiên cứu cho thấy nguồn nước đầu nguồn của cá c trạm cấp nước tập trung chủ yếu là ô nhiễm về sinh học , một số chỉ số hóa học vượt tiêu chuẩn cho phép
Kết quả nghiên cứu của T rung tâm kỹ thuâ ̣t môi trường Viê ̣n Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nguồn nước ta ̣i sông Sài Gòn có nồng đô ̣ oxy hòa tan dao đô ̣ng từ 0,7 đến 2,7 mg/l, không đa ̣t tiêu chuẩn về mă ̣t hóa học đã được dùng làm nước sử dụng sinh hoạt cho các hô ̣ gia đình; hàm lượng coliform cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 74 lần [23]
Phần lớn nguồn cung cấp nước sinh hoa ̣t cho các đô thi ̣ lớn ta ̣i thành phố Hồ Chí Minh và thi ̣ xã Biên Hòa , Thủ Đức đều được lấy nước từ sông Đồng Nai và sông Sài Gòn Nồng đô ̣ BOD5 trên sông Đồng Nai tại Hóa An , điểm lấy nước vào của nhà máy nư ớc Thủ Đức là 3 đến 6,5 mg/l, cao hơn tiêu chuẩn cho phép [21]
Tại Lạng Sơn, Trung tâm Y tế dự phòng La ̣ng Sơn năm 2010 đã phân tích
424 mẫu nướ c của nhà máy nước , các trạm cấp nước tập tr ung cho thấy có 46% mẫu nướ c không đa ̣t tiêu chuẩn vê ̣ sinh về chỉ số lý ho ̣c , hóa học, sinh học [1]
Trang 81.1.3 Tình hình cấp nước sinh hoạt của các trạm cấp nước tập trung tỉnh Bắc Kạn
Hiện nay tỉnh Bắc Kạn có 8 trạm cung cấp nước tập trung tại 7 huyện, thị
và các trạm này cung cấp nước sạch có công suất sử dụng đều lớn hơn 1000m3/ ngày đêm Nguồn nước lấy về các trạm cấp nước chủ yếu là từ các giếng khoan dọc bờ sông và nguồn nước tự chảy từ khe suối Trong đó có 3 trạm (Nà Phặc, Ngân Sơn, Chợ Đồn) nguồn nước được lấy từ khe suối đắp thành hồ sơ lắng sau đó được dẫn về bể chứa của trạm cấp nước tập trung, còn
5 trạm lấy từ nguồn nước giếng khoan được bơm lên bể tập trung của trạm Các trạm có đội ngũ cán bộ quản lý , vận hành được đào tạo tập huấn chuyên môn xử lý nước Tuy vậy, công nghệ xử lý nước của các trạm đều lạc hậu, đa
số được xây dựng cách đây hơn 10 năm, chỉ có 03 trạm được xây mới từ dự
án EU, nhưng công nghệ xử lý nước thô sơ, đơn giản Hàng năm các trạm cung cấp đều được lấy mẫu nước để kiểm tra chất lượng, tuy nhiên tỷ lệ các mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh còn rất cao
Hơn nữa, người dân ở đây được sử dụng nước máy, nước sạch còn thấp, theo số liệu tổng hợp tại trung tâm Y tế dự phòng tỉnh năm 2010 có khoảng 10% số hộ dân toàn tỉnh được sử dụng nước máy tập trung Tại các xã, thôn bản xa thị trấn người dân chủ yếu sử dụng các nguồn nước tự chảy, giếng đào, một số ít gia đình sử dụng nước giếng khoan
1.1.4 Các c hỉ số xét nghiệm đa ́ nh giá nguồn nước của các trạm cấp nước tập trung và hộ gia đình
Để đánh giá chất lượng nước sa ̣ch của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung và hô ̣ gia đình phải sử du ̣ng QCVN- 01/2009/BYT [5]
Việc kiểm tra đánh giá chất lượng nguồn nước về mặt vệ sinh là một điều cần thiết Có rất nhiều nhà khoa học và các nhà quản lý quan tâm đến các phương pháp nghiên cứu đánh giá chất lượng nguồn nước Việc lựa chọn
Trang 9phương pháp và chỉ tiêu đánh giá ngày càng được phát triển và thay đổi Nhiều vi khuẩn trước đây chỉ là tạp khuẩn nay lại là căn nguyên của các bệnh đường ruột Theo WHO, hiện nay có nhiều phương pháp tổng hợp và xác định để đánh giá chất lượng nguồn nước [26], [35], [33], [36]
Để đánh giá chất lượng nước sinh hoạt, người ta chia ra làm 3 nhóm: nhóm chỉ tiêu lý học; nhóm chỉ tiêu hóa học; nhóm chỉ tiêu sinh học [9], [18], [27], [29], [38]
1.1.4.1 Nhóm chỉ tiêu về lý học (màu, mùi, vị, độ đục, độ dẫn điện, nhiệt độ)
+ Mùi và vị: mùi vị trong nước sinh hoạt phải không được gây khó chịu
cho người sử dụng Nước có mùi vị chứng tỏ là nước bị nhiễm các chất độc hại hoặc xác động vật hoặc do các hóa chất khử trùng quá liều lượng Tiêu chuẩn là không được có mùi vị lạ Một số mùi đặc trưng như mùi tanh nồng
đó là sắt; mùi như trứng thối đó là H2S; mùi hắc đó là amoniac và clo dư [42] + Độ đục: độ đục trong nước là do các chất rắn lơ lửng, các chất hữu cơ phân rã hoặc do sản phẩm phân hủy của các động, thực vật sống trong nước gây nên Nước có độ đục cao chứng tỏ nguồn nước đó xử lý chưa đúng Độ đục làm giảm khả năng truyền ánh sáng trong nước, ảnh hưởng tới quá trình quang hợp dưới nước Các vi khuẩn gây bệnh dễ dàng xâm nhập vào các hạt chất rắn, khi đó sẽ rất khó khử trùng và nguồn nước đó sẽ nhiễm vi khuẩn liên tục Đơn vị đo độ đục là NTU (Nepheloetric Turbidity Unit) Giới hạn là NTU
< 3 Độ đục càng lớn thì có nghĩa là độ nhiễm bẩn của nước càng cao [13], [45]
+ Nhiệt độ của nước: phụ thuộc vào nguồn nuớc, nhiệt độ của nước ổn định, ít dao động Nước càng sâu nhiệt độ càng ổn định [18], [28]
1.1.4.2 Nhóm chỉ tiêu về hóa học (chất hữu cơ, NH3, NO2, NO3, pH)
+ Chất hữu cơ được sinh ra do quá trình phân hoá phức tạp, lâu dài của xác các loại động vật, thực vật và các chất thải bỏ Đây là môi trường tốt cho các
Trang 10vi sinh vật gây bệnh có thể sống nhờ vào đó Phương pháp xác định chất hữu
cơ trong nước bằng phương pháp gián tiếp, tức là sử dụng chất hoá học có giải phóng ra nhiều O2 để ô xy hoá các chất hữu cơ đó
Ý nghĩa vệ sinh: nếu hàm lượng chất hữu cơ trong nước cao chứng tỏ nước
đó đã bị nhiễm bẩn và mới bị nhiễm bẩn bởi các chất thải của người và động vật hoặc do sự thối rữa xác động vật, thực vật [17]
+ NH3: là sản phẩm phân huỷ tiếp theo của các chất hữu cơ, có Amoniac chứng tỏ là có chất hữu cơ bắt đầu phân huỷ Nếu xét nghiệm thấy NH3 mà không có chất hữu cơ thì phải xét nghiệm lại Tiêu chuẩn cho phép NH3 trong nước là ≤ 2mg/lít
Ý nghĩa vệ sinh: nếu NH3 cao hơn tiêu chuẩn cho phép chứng tỏ nước đó
đã bị nhiễm bẩn và mới bị nhiễm bẩn [13]
+ NO2 (Nitrit): là sản phẩm phân huỷ tiếp theo của NH3, nhờ các vi khuẩn hiếu khí phân giải NH3 để tạo thành NO2, tiêu chuẩn NO2 là ≤ 3 mg/l
+ NO3 (Nitrat): NO3 là một chất có mặt khá nhiều ở trong nước thiên nhiên NO3 là sản phẩm phân huỷ cuối cùng của các chất hữu cơ trong nước Nếu hàm lượng NO3 quá nhiều, quá cao ở trong nước có thể nguy hiểm với sức khoẻ đặc biệt đối với trẻ sơ sinh vì nó gây Methemoglobin làm mất khả năng vận chuyển O2 của Hemoglobin Tiêu chuẩn cho phép NO3 trong nước
là ≤ 50 mg/l
Ý nghĩa vệ sinh: khi thấy trong nước hàm lượng NO3 cao hơn tiêu chuẩn cho phép chứng tỏ nước đó đã bị nhiễm bẩn và bị nhiễm bẩn lâu ngày, ít nguy hiểm hơn
+ Độ pH: trong tự nhiên, pH của nước được điều chỉnh bởi hệ thống cân bằng carbon dioxide - Bicarbonate, carbonater Khi carbon dioxit tăng sẽ dẫn đến sự giảm pH và ngược lại Nhiệt độ cũng làm ảnh hưởng đến độ cân bằng
và độ pH Phơi nhiễm với độ pH cao sẽ dẫn đến viêm mắt, viêm da và màng
Trang 11nhầy Với những người có cơ địa nhạy cảm, có thể bị viêm dạ dầy, ruột Phơi nhiễm với pH thấp cũng cho kết quả tương tự Với pH thấp hơn 2,5 có thể gây viêm biểu mô Để đạt hiệu quả trong việc khử trùng nước pH nên nhỏ hơn 8 Kiểm soát tốt độ pH của nước góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu sự bào mòn hệ thống đường ống dẫn nước đến các hộ gia đình Kiểm soát pH không tốt có thể dẫn đến ô nhiễm nước uống và những tác động không mong muốn đến mùi, vị của nước Tiêu chuẩn pH cho phép là 6 - 8,5 [7]
1.1.4.3 Nhóm chỉ tiêu về sinh học (coliform, coliform chịu nhiệt)
Coliform và coliform chịu nhiệt, là 2 chỉ tiêu được WHO khuyến cáo sử dụng để đánh giá chất lượng nước về mặt vi sinh vật Coliform là loại vi khuẩn có khả năng lên men đường lactoza ở 370C (bao gồm E.coli, Citrobacter, Enterobacter, Klebsiella) có thể dùng như chỉ số thể hiện hiệu quả của việc xử lý nước Coliform chịu nhiệt là loại vi khuẩn chịu nhiệt, có khả năng lên men đường lactoza ở 420
C, chủ yếu là Escherichia và một số ít chủng khác như Citrobacter, Enterobacter, Klebsiella Trong nhóm này chỉ có E.coli có nguồn gốc từ phân người và các động vật máu nóng, hiếm khi thấy chúng ở trong nước tự nhiên Do vậy sự có mặt của coliform chịu nhiệt trong nước là bằng chứng rất quan trọng của sự ô nhiễm phân đối với nguồn nước Theo thông tư số 04/2009/TT - BYT, số lượng tổng số coliform cho phép là dưới 0VK/100ml nước và không được phép có coliform chịu nhiệt trong nước sinh hoạt [5]
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước tập trung
1.2.1 Tình hình nguồn cấp nước ở Việt Nam
Các tỉnh như Hải Phòng, Thái Bình, Thừa Thiên Huế vv, chủ yếu nguồn cung cấp nước từ sông, nước được bơm lên thông qua các trạm bơm và theo đường ống dẫn về bể chứa tập trung của nhà máy Thời gian cấp nước của các
Trang 12nhà máy này là 24/24h Ưu điểm của nguồn nước này là dồi dào về nước thô, tuy nhiên cũng có một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nước đó là các chất thải vào khu vực lấy nước, như chất thải các khu công nghiệp, chất thải chăn nuôi, chất thải của con người, các hóa chất bảo vệ thực vật dùng trong sản xuất nông nghiệp vv Đối với các nhà máy nước của các tỉnh được đầu tư tương đối hiện đại, hệ thống đường ống đảm bảo, có thể dẫn nước đến các hộ gia đình sử dụng trên 10 km Tuy nhiên cũng có mô ̣t số đi ̣a phương có c hất lượng xây dựng của hệ thống cấp nước tập trung ảnh hưởng lớn đến tính bền vững, chi phí vận hành bảo dưỡng và chất lượng dịch vụ Chất lượng công trình kém có thể do quy hoạch sơ sài, không cập nhật; công tác thiết kế, công nghệ lựa chọn chưa phù hợp hoặc do công tác thi công, giám sát chất lượng xây dựng kém Cũng có tình trạng hệ thống xây dựng không đồng bộ, có đầu mối nhưng thiếu mạng ống dẫn hoặc công trình đầu mối chất lượng tốt nhưng mạng đường ống chất lượng kém Đã có những công trình xây dựng xong không hoạt động được do chất lượng xây dựng không đạt yêu cầu [10]
Các hộ gia đình sử dụng nguồn nước của các trạm cấp nước tập trung còn chiếm tỷ lê ̣ thấp Kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Chánh và cộng sự tại Long An cho thấy tỷ lê ̣ hô ̣ gia đình sử du ̣ng nguồn nước của tra ̣m cấp nước là 14,6%, tại Hậu Giang là 13,9% Các ống dẫn nước từ các trạm cấp nước tới các hộ gia đình hầu hết ít được bảo dưỡng, ống cấp nước chủ yếu là ống nhựa PVC và ống ma ̣ kẽm Số mẫu nước của các hô ̣ gia đình được cấp nước từ các trạm cấp nước tập trung có hàm lượng các chất lý học , hóa học , sinh học không đa ̣t tiêu chuẩn cho phép ở Long An là 58,8%; ở Hậu Giang là 63,3% [9]
Ở các trạm cấp nước tập trung , nguồn nước được cung cấp tới các hô ̣ gia đình qua hê ̣ thống đường ống dẫn nước Tuy nhiên các đường ống dẫn nước chưa được đầu tư thỏa đáng và đồng bộ, đường ống mới không đa ̣t tiêu chuẩn,
bị rò rỉ, lắp đă ̣t không đảm bảo quy cách, các đường ống dẫ n nước đi qua hê ̣
Trang 13thống thoát nước thải Điều này đã làm cho hàm lượng các c hỉ số sinh ho ̣c trong nước của các hô ̣ gia đình không đa ̣t tiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên, các trạm cấp nước đã xử lý nước bằng cloramin B song vẫn chưa làm giảm được hàm lượng vi sinh vật trong nước sinh hoa ̣t của các hô ̣ gia đình [21]
1.2.2 Quản lý chất lượng nước của các trạm cấp nước tập trung
Trước năm 2008, ở một số trạm cấp nước tập trung tại nhiều địa phương, trong quá trình quản lý, vận hành đã bộc lộ một số hạn chế như: phương thức điều hành, quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu, không có cán bộ kỹ thuật có chuyên môn phù hợp, nguồn vốn và khả năng tài chính có hạn cho nên việc sửa chữa, bảo dưỡng chưa được đầu tư thích đáng, kịp thời, dẫn đến việc sau một số năm hoạt động, công trình xuống cấp nhanh, ảnh hưởng chất lượng nước sinh hoạt, thậm chí có trạm cấp nước phải ngừng hoạt động [4]
Kết quả điều tra các trạm cấp nước ta ̣i Hà Nô ̣i cho thấy, hiện có 208 người đang làm việc trực tiếp tại các trạm cấp nước Biên chế tổ chức của các mô hình này phổ biến trong khoảng 3- 4 người/trạm Trình độ của người vận hành trạm chủ yếu là PTTH chiếm 63,5%, trung cấp chiếm 17,3%, chưa tốt nghiệp PTTH chiếm 19,2% Trong đội ngũ cán bộ, công nhân vận hành này, phần lớn đều không có các văn bằng, chứng chỉ liên quan đến chuyên môn Mặt khác, do chưa có sự thống nhất chung của các lực lượng quản lý các trạm cấp nước sau đầu tư này, cho nên chất lượng quản lý cũng khác nhau Điều này cũng là nguyên nhân dẫn đến các trạm hoạt động không phát huy hết công suất, tỷ lệ thất thoát nước còn ở mức cao
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước
là không thường xuyên kiểm tra và nâng cao chất lượng nước Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn cho biết, các trạm cấp nước nông thôn đều có chế độ kiểm tra chất lượng nước và chế độ vệ sinh, bảo dưỡng định kỳ Các mẫu nước được chuyển đến các cơ quan y tế của các
Trang 14huyện để tiến hành xét nghiệm theo TCVN Nhưng trên thực tế, các trạm đều chưa tiến hành công tác kiểm tra đầy đủ, có trạm chỉ phân tích, xét nghiệm mẫu nước 1 lần/năm, có những trạm không tiến hành kiểm tra, ở những trạm
có tiến hành thì hầu hết chỉ kiểm tra một vài chỉ tiêu đơn giản và không theo các chỉ tiêu hiện hành của Bộ Y tế [11]
1.2.3 Tình hình nguồn cấp nước tại tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao, việc đầu tư nâng cấp thành nhà máy nước tâ ̣p trung chưa có, duy nhất chỉ có một nhà máy nước đặt tại thị xã, còn lại chỉ là trạm cấp nước tập trung, do đó quy mô và hệ thống quy trình xử lý còn đơn giản thô sơ Chủ yếu nước được lấy từ 2 nguồn chính:
- Từ nguồn nước giếng khoan: có 5 trạm lấy từ nguồn này, nước được bơm lên thông qua các máy bơm từ giếng khoan, theo đường ống dẫn về bể chứa chung của trạm, thông thường mỗi trạm có từ 2-3 máy bơm thay nhau hoạt động 24/24h Tuy nhiên nguồn nước thô vẫn thiếu do nước cạn theo mùa, mất điện không bơm được, nhu cầu sử dụng của người dân tăng nhanh không đáp ứng kịp
- Từ nguồn tự chảy: hiện có 3 trạm lấy từ nguồn này, nước được lấy từ khe suối dẫn về hồ chứa (hồ sơ lắng), sau đó dẫn về bể chứa của trạm và được xử
lý trước khi cung cấp cho người dân sử dụng Do địa hình miền núi khó khăn nên khả năng cung cấp nước cho các hộ dân bị hạn chế, khoảng cách từ trạm cấp nước đến hộ dân xa nhất là 2km Trước khi cấp nước cho các hộ dân sử dụng, các trạm đều có hệ thống xử lý nước thô, tuy nhiên không đồng đều giữa các trạm, duy chỉ có trạm cấp nước thị xã Bắc Kạn là tương đối đủ theo quy trình Đa số các trạm có bể lắng cát - thoáng tự nhiên - clo khử khuẩn, nhưng việc khử khuẩn bằng clo không được thường xuyên
Trang 151.2.4 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước của trạm cấp nước tập trung
Trong những năm gần đây nước ta cũng chiụ ảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt, ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là môi trường nước Các hoạt động xây dựng, khai thác khoáng sản đã xả thải vào dòng sông trở thành con sông chết Nạn chặt phá rừng bừa bã i đã làm cạn kiệt nguồn nước Tại các vùng nông thôn hiện nay tình trạng sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật tràn lan không kiểm soát được đã làm ô nhiễm nguồn nước Các hoạt động chất thải từ con người và động vật cũng là yếu tố nguy
cơ gây ô nhiễm nguồn nước Chất lượng nước sinh hoạt không đạt do ô nhiễm được đánh giá bằng các chỉ tiêu về lý học, hóa học và vi sinh vật có trong nước Các điều tra, đánh giá chất lượng nước ở mô ̣t số vùng nông thôn miền Bắc cho thấy ở Hà Nội, Nghệ An, Hưng Yên… là những tỉnh có hàm lượng sắt trong nước khá cao ở nước ngầm, 13,9% số mẫu có hàm lượng sắt cao trên 20mg/l, khoảng 11% nước giếng khoan nhiễm mặn trên 1000mg/l, phần lớn nằm ở vùng ven biển Hải Phòng [8]
Kết quả phân tích của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường trong số
251 mẫu nước tại Hà Nội, Hải Hưng và Vĩnh Phú (1994) do UNICEF tài trợ, cho thấy trong số 47 mẫu lấy tại nguồn và tại dụng cụ chứa đựng thì hầu hết các mẫu đều đạt tiêu chuẩn khi bơm lên, chiếm 90,7% Nhưng khi tới các bể chứa thì có tới 93,62% số mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về mặt vi sinh vật
do nhiễm bẩn trong quá trình sử dụng và bảo quản
Kết quả điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường năm
2006 cho thấy tỷ lệ nguồn nước vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh về mặt lý hóa trong nước còn cao như ô nhiễm về chỉ tiêu oxi hóa tại đồng bằng sông Hồng chiếm 49,9%; không đạt độ pH chiếm tới 51% tại vùng Tây Nguyên; tại vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thái Bình, hàm lượng sắt tổng số vượt mức
Trang 16tiêu chuẩn cho phép là 33% Kết quả các mẫu nước vi phạm tiêu chuẩn vệ sinh về mặt vi sinh vật là rất cao chiếm tới 92% chủ yếu vào các nguồn nước giếng khơi, nước mặt [8]
Theo Nguyễn Tất Hà, Nguyễn Song Hương và cộng sự, nghiên cứu về thực trạng vệ sinh môi trường và chất lượng nguồn nước ăn uống và sinh hoạt tại 3 xã ngoại thành Hải Phòng cho thấy các hộ sử dụng nguồn nước giếng khoan là 38,5%; giếng khơi là 16% và nước bề mặt là 1,6% Kết quả xét nghiệm cho thấy 100% nước giếng khơi và nước bề mặt không đạt tiêu chuẩn
vi sinh, đa số các mẫu không đạt tiêu chuẩn về chất hữu cơ, độ oxi hóa, sắt [12] Kết quả nghiên cứu về xử lý nước t ại Bắc Kạn cho thấy là tỉnh có nhiều
mỏ khai thác vàng, quặng đã ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm, tình trạng vệ sinh của các nhà tiêu, chuồng trại chăn nuôi gia súc, chất thải khác ra môi trường đã ô nhiễm nước bề mặt vùng nông thôn Theo kết quả điều tra năm
2009 tại Bắc Kạn cho thấy tỷ lệ các mẫu nướ c được lấy từ các hộ gia đình của
122 xã bị nhiễm bẩn chủ yếu là vi s inh vật, chất hữu cơ, nitrit, nitrat, amoni, oxy hóa, chiếm tỷ lê ̣ 84,85%
1.3 Giải pháp cải thiện chất lượng nguồn cung cấp nước
Theo thông tư số 15/2006/TT-BYT về vệ sinh nước, nguồn nước trước khi đưa qua hệ thống xử lý được tập trung tại bể dự trữ nước, sau đó qua hệ thống khử sắt, măngan, rồi qua bể keo tụ và lắng, sau đó đến bể lọc, trước khi đổ vào bể chứa phân phối các nơi sử dụng thì qua hệ thống khử trùng [3]
Để đảm bảo cấp nước an toàn và đáp ứng nhu cầu của người dân, Bộ Xây dựng đã ban hành quyết định số 16/2008/QĐ-BXD, ngày 31/12/2008 về quy chế đảm bảo cấp nước an toàn Trên cơ sở quy chế này từng nhà máy nước, trạm cấp nước tập trung phải xây dựng kế hoạch cấp nước an toàn cho đơn vị mình trên phạm vi toàn quốc [2]
Trang 17Một trong những yêu cầu cơ bản của kế hoạch cấp nước an toàn là kiểm soát được nguồn nước thô đầu vào của nhà máy nước, trạm cấp nước Từ khu vực cung cấp nước thô đến người dùng phải sử dụng nhiều rào chắn để kiểm soát Hầu hết các nhà máy này đều có hệ thống xử lý theo quy trình trước khi nước được cung cấp đến hộ gia đình
Mô ̣t số quy đi ̣nh cho những nơi cấp nước như:
1.3.1 Khu vực bảo vệ nguồn nước cấp
- Nguồn nước bề mặt: từ điểm lấy nước lên thượng nguồn > 200m, xuôi hạ nguồn >100m cấm xây dựng, xả thải, nước nông giang, chăn nuôi, tắm giặt…
- Nguồn nước ngầm: xung quanh giếng khoan với bán kính > 25m cấm không được xây dựng, nhà tiêu, hố phân, hố rác, chăn nuôi…
- Hồ chứa, đập nước: bờ hồ bằng phẳng, bờ hồ dốc với bán kính > 300m toàn khu vực cấm xây dựng, chăn nuôi, trồng cây ăn quả
1.3.2 Khu vực bảo vệ nhà máy, trạm cấp nước
- Trong phạm vi 30m kể từ chân tường các công trình xử lý phải xây tường rào bảo vệ bao quanh khu vực xử lý nước
- Bên trong tường rào không được xây dựng nhà ở, công trình vui chơi, sinh hoạt, vệ sinh, không bón phân cây trồng, chăn nuôi gia súc
- Khu vực bảo vệ đường ống cấp nước tối thiểu là 0,5m
1.3.4 Xét nghiệm chất lượng nước theo định kỳ
Để cảnh báo sớm những nguy cơ có thể xảy ra ảnh hưởng tới sức khỏe khách hàng
Trang 181.3.5 Hệ thống dịch vụ khách hàng
- Thường xuyên kiểm tra mạng dịch vụ cấp nước , khi có vấ n đề cần báo ngay cho nhà máy, trạm cấp nước biết
- Tự kiểm soát van khóa cụm đồng hồ
- Tuyên truyền mọi người dùng nước có ý thức bảo vệ
- Khuyến cáo uống nước đun sôi
1.3.6 Các biện pháp xử lý nước
Phương pháp khử sắt bằng cách làm thoáng: tiến hành làm thoáng, lọc đơn giản bằng cách xây gần giếng một bể lọc đơn giản và 1 bể chứa nước Đối với bể lọc ta trải xuống đáy bể 1 lớp sỏi nhỏ dày 20 - 25 cm và mô ̣t lớp cát vàng phía trên dày 60 cm, sau đó tiến hành cho nước chảy qua
Ngoài ra người ta có thể dùng CaO để khử sắt trong nước và như vậy làm cho nước có pH tăng cao
1.3.6.2 Phương pháp làm trong
- Làm trong bằng phương pháp không phèn: dùng hệ thống bể lắng giữ được 80% các hạt cặn lơ lửng Có 3 loại bể lắng: bể lắng ngang, bể lắng đứng
và bể lắng li tâm và cuối cùng là bể lọc
- Làm trong nước bằng phương pháp có phèn:
Mục đích: làm cho các hạt lơ lửng qui tụ lại thành những đám hoặc những mảng lớn có trọng lượng tăng lên chúng sẽ lắng xuống đáy làm cho nước trở nên trong
Loại phèn thường dùng là:
Trang 19Phèn sắt: Dạng dung dịch có màu nâu sẫm, trong đó có chứa 42% FeCl3 hoặc FeSO4 H2O, FeCl3 5 H2O
Phèn nhôm: Al2 (SO4)3 18 H2O
Phèn chua Al2 (SO4)3 K2SO4
Loại phèn này khi sử dụng được pha thành dung dịch 10% để làm trong nước, muốn biết lượng phèn cần thiết để làm trong mô ̣t thể tích nước nhất định, phải tiến hành làm test alumin
Cơ chế: trong nước có các hạt lơ lửng mang điện tích cùng dấu như SiO2-, chúng xô đẩy nhau không lắng xuống được Khi cho phèn vào sẽ phân
ly thành Al+++, những điện tích này sẽ thu hút các hạt cặn lơ lửng tạo thành khối có trọng lượng cao hơn và lắng xuống dưới
1.3.6.3 Phương pháp khử khuẩn
Trong nguồn nước có thể có nhiều loại vi khuẩn đặc biệt là các loại vi khuẩn gây bệnh, do đó phải khử trùng nước trước khi đưa nước vào phục vụ cho ăn uống và cho sinh hoạt
- Khử trùng bằng phương pháp hóa học: dùng Cloramin B trong đó có
20 - 25% clo hoạt tính, (pha thành dịch 1%)
Tiến hành định lượng clo cần thiết cho một nguồn nước, các nguồn nước khác nhau có số lượng vi khuẩn khác nhau và lượng cloramin cũng khác nhau Do vậy, trước khi khử khuẩn cho bất kỳ một nguồn nước nào người ta phải làm test clo để biết được hàm lượng hoá chất cần thiết đủ để tiệt khuẩn, biết rằng thời gian tối thiểu để hoá chất tiếp xúc với nước là 30 phút
Cơ chế: Khi cho clo vào nước nó tăng thế năng oxy hoá tế bào vi khuẩn theo phản ứng sau:
Cl2 + H2O ––––> HClO + HCl
(acide hypochloro)
HclO –––> HCl + O* (ôxy tự do)
Trang 20Mặt khác Clo còn tác dụng trực tiếp lên thành phần nguyên sinh chất của
tế bào vi khuẩn làm đồng hoá protein của tế bào vi khuẩn Tiêu chuẩn clo dư trong nước sinh hoa ̣t là 0,3 - 0,5 mg/lít
- Khử khuẩn bằng phương pháp lí học: thông thường người ta dùng các phương pháp sau:
Nhiệt độ: đun sôi nước tới 1000
- Khử khuẩn bằng phương pháp sinh học: sử dụng một số thực khuẩn thể
để tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh có trong nước
Tóm la ̣i, thực tra ̣ng chất lượng nước sinh hoa ̣t của các trạm cấp nước tập trung còn nhiều bất cập Các trạm cấp nước tập trung chưa xử lý nước theo đúng quy trình thường quy từ khử sắt , làm trong, khử khuẩn nước Mô ̣t số chỉ số xét nghiệm về chỉ tiêu sinh học cao hơn tiêu chuẩn Như vâ ̣y, viê ̣c áp du ̣ng các phương pháp can thiê ̣p để nâng cao chất lượng nước cho các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung là cần thiết
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1.1 Môi trường nước
Nguồn nước của các trạm cấp nước tập trung và hộ gia đình theo 3 nhóm chỉ tiêu:
- Lý học trong nước
- Hóa học trong nước
- Sinh học trong nước
* Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
- Nguồn cung cấp nước cho các hộ gia đình ≥ 1000 m3/24h
- Các hộ gia đình có sử dụng nguồn nước của trạm cấp nước tập trung, nguồn nước từ vòi chảy, không qua hệ thống chứa nước nào khác
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho hộ gia đình < 1000 m3/24 h
- Các hộ gia đình sử dụng nguồn nước khác: nước bể, nước giếng, nước mưa…
2.1.1.2 Con người
- Cán bộ của các trạm cấp nước tập trung tại thị xã Bắc Kạn, Na Rì, Nà Phặc, Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
- Người dân sử dụng nguồn nước của trạm cấp nước tập trung
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Trạm cấp nước tập trung, bao gồm:
2.1.2.1 Trạm cấp nước Thị xã Bắc Kạn (đại diện khu trung tâm và phía nam của tỉnh)
Trang 22Được gọi là nhà máy nước thị xã Bắc Kạn, có công suất 4000m3
/24h Nhà máy nằm ở trung tâm thị xã Bắc Kạn, trên quả đồi ngay sát khu tỉnh ủy Bắc Kạn Nguồn nước cung cấp cho nhà máy là từ các giếng khoan được đưa lên bể tổng trước khi xử lý và được cung cấp nước sinh hoạt cho các cơ quan
và các hộ dân xung quanh thị xã Bắc Kạn
Trạm cấp nước thị xã Bắc Kạn
2.1.2.2 Trạm cấp nước Na Rì (đại diện phía đông của tỉnh): là trạm cấp
nước tập trung của huyện Na Rì cách xa tỉnh lỵ 70 km về phía đông, giáp với huyện Bình Gia tỉnh Lạng Sơn Trạm được xây dựng cách đây hơn 10 năm ở trung tâm thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì, nguồn cung cấp nước là các giếng khoan bơm lên đưa về bể tập trung và cung cấp nước sinh hoạt cho các cơ quan huyện và các hộ dân tại thị trấn Yến Lạc
Trạm cấp nước thị trấn Yến Lạc, huyện Na Rì
Trang 232.1.2.3 Trạm cấp nước Nà Phặc – huyện Ngân Sơn (đại diện phía bắc tỉnh)
Là trạm cấp nước được xây dựng năm 2008 và được đưa vào sử dụng từ tháng 03/2009, vị trí trạm cạnh đường quốc lộ 3 đường đi Cao Bằng, cách trung tâm thị trấn Nà Phặc 1km về phía nam Nguồn cung cấp là nước sông được bơm lên và dẫn về bể tập trung cung cấp nước sinh hoạt cho các cơ quan
và các hộ dân xung quanh thị trấn
Trạm cấp nước thị trấn Nà Phặc (huyện Ngân Sơn)
2.1.2.4 Trạm cấp nước Chợ Đồn (đại diện phía tây tỉnh)
Là trạm cấp nước nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Kạn, cách trung tâm tỉnh
lỵ 46 km Trạm được xây dựng năm 2008 và được đưa vào sử dụng đầu năm
2009, nguồn cung cấp nước cho trạm là nước suối, được bơm lên bể chứa từ
hồ chứa nước, sau khi xử lý được cấp cho các cơ quan và các hộ dân xung quanh thị trấn Bằng Lũng (huyện Chợ Đồn)
Trạm cấp nước Bằng lũng (huyện Chợ Đồn)
Trang 24Các trạm cấp nước được chọn vào nghiên cứu là đại diện cho các vùng sinh thái của tỉnh Bắc Kạn
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2011 Được chia làm ba giai đoạn:
Giai đoa ̣n 1: trước can thiê ̣p , từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2011 Giai đoa ̣n này điều tra thực tra ̣ng nguồn nước của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung và các hộ gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước
Giai đoa ̣n 2: can thiê ̣p, từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2011
Giai đoa ̣n 3: đánh giá sau can thiệp, tháng 10 năm 2011
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu can thiệp trước sau không đối chứng kết hợp với nghiên cứu định tính
2.2.1 Nghiên cư ́ u trước can thiê ̣p
2.2.1.1 Nghiên cư ́ u đi ̣nh lượng
2.2.1.1.1 Cơ ̃ mẫu nghiên cứu
* Cơ ̃ mẫu xét nghiê ̣m của các trạm cấp nước tập trung
Cỡ mẫu xét nghiê ̣m của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung được thể hiê ̣n qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Cỡ mẫu xét nghiê ̣m của trạm cấp nước tập trung
Trang 25* Cỡ mẫu xét nghiệm nước tại các hộ gia đình
Được tính theo công thức:
2
2 2
α/2 1
ε) X (
s Z
n [19],[20],[24]
Trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Z1-α/2: giá trị điểm Z tại mức ý nghĩa α, vớ i α = 0,05, Z1-α/2 = 1,96
s2: phương sai
X : giá trị trung bình của một nghiên cứu trước
: mức sai lệch tương đối giữa các tham số mẫu và tham số quần thể
Có rất nhiều các chỉ số đánh giá chất lượng nguồn nước về các chỉ tiêu
lý học, hóa học, sinh ho ̣c Chúng tôi d ựa vào kết quả xét nghiệm NO3 trong môi trường nước của các hộ gia đình của trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bắc Kạn năm 2010 [32] lấy làm kết quả chung cho các chỉ tiêu đánh giá Cụ thể
Trang 26* Cơ ̃ mẫu phỏng vấn hộ gia đình sử dụng nước của các trạm cấp nước
tập trung: 124 hô ̣ gia đình Mỗi hô ̣ gia đình chọn 1 người
* Cơ ̃ mẫu điều tra KAP của cán bộ trạm cấp nước tập trung
Toàn bộ cán bộ trạm cấp nướ c tâ ̣p trung của 4 huyê ̣n nghiên cứu Tổng
số 42 người
2.2.1.1.2 Chọn mẫu
* Chọn mẫu xét nghiệm nước tại các trạm cấp nước tập trung
Chọn chủ đích ở mỗi trạm cấp nước xét nghiệm mẫu nước tại nguồn
cung cấp (trước xử lý) và mẫu nước tại bể chứa của tra ̣m cấp nước (sau xử lý)
* Chọn mẫu xét nghiệm nước của các hộ gia đình
Các hộ gia đình sử dụng nguồn cung cấp nước tập trung được chọn để
xét nghiệm nước theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Cách chọn như sau:
- Lập danh sách các hộ dân được cung cấp nước từ các trạm cấp nước tập trung
Ta lập bảng gồm có các hàng ngang và cột dọc, bảng có cấu trúc ngẫu nhiên để chọn
lựa các số theo bất kỳ hướng nào Mỗi ký tự là một số, số ký tự được lấy phụ thuộc
vào kích thước của quần thể nghiên cứu, trong trường hợp này ta nghiên cứu 31 hộ
trong 100 hộ thì ta lấy 3 ký tự
- Cách chọn: xác định chiều hướng chọn, ta chọn đi theo hàng, đầu tiên ta chọn
gia đình ở hàng đầu tiên trong danh sách sau đó ta chọn tiếp cho đủ cỡ mẫu nghiên
cứu
* Chọn mẫu phỏng vấn hộ gia đình
Các hộ gia đì nh được cho ̣n vào xét nghiê ̣m nước là các hô ̣ được cho ̣n
phỏng vấn để đánh giá chất lượng nguồn nước
* Chọn mẫu cán bộ trạm cấp nước tập trung
Chọn toàn bộ cán bộ trạm cấp nước tâ ̣p trung ở 4 huyê ̣n nghiên cứu là
thị xã Bắc Ka ̣n, Na Rì, Chợ Đồn, Nà phặc tỉnh Bắc Kạn,
2.2.1.2 Nghiên cư ́ u đi ̣nh tính
Trang 27- Thảo luận nhóm với các cán bộ của các trạm cấp nước tập trung về cung cấp, xử lý nước, yếu tố ảnh hưởng của các trạm cấp nước
- Số cuộc thảo luận nhóm: 4 cuô ̣c ta ̣i 4 trạm cấp nước tập trung
2.2.2 Nghiên cứu can thiệp
2.2.2.1 Nghiên cư ́ u đi ̣nh lượng
- Cỡ mẫu xét nghiê ̣m nước ta ̣i các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung: 4 mẫu nước ở bể chứa của các trạm cấp nước
- Chọn mẫu chủ đích tại bể chứa nướ c của tra ̣m cấp nước sau khi đã xử
lý để cấp nước sinh hoạt cho các hộ gia đình
* Cơ ̃ mẫu và chọn mẫu xét nghiệm tại hộ gia đình
- Cỡ mẫu: áp dụng công thức tính cỡ mẫu kiểm định sự khác nhau giữa
: Sự khác biệt giữa hàm lượng NO3 trước và sau can thiệp là 6 mg/l α: 0,05; : 0,1 2( , ) : Tra bảng Z được 8,6
Thay vào công thức, ta tính được n = 26,73 Để tránh đối tượng bỏ cuộc, lấy 15% cỡ mẫu, n = 30,74
Chúng tôi chọn các hộ gia đình để xét nghiệm ở nghiên cứu can thiệp là
31 hộ
Trang 28- Chọn mẫu: các hộ gia đình được chọn như nhau giữa trước và sau can thiệp Mỗi hô ̣ gia đình ta ̣i đi ̣a điểm nghiên cứu được cho ̣n mẫu xét nghiê ̣m nước tại đầu nguồn của nơi cấp nước của các trạm cấp nước tập trung Tổng số mẫu xét nghiê ̣m nước ở các hô ̣ gia đình là 124 mẫu
* Cơ ̃ mẫu, chọn mẫu phỏng vấn hộ gia đình
- Cỡ mẫu phỏng vấn hô ̣ gia đình : 124 hô ̣ gia đình Mỗi hô ̣ gia đình cho ̣n
mô ̣t người
- Chọn mẫu: các hộ gia đình được chọn phỏng vấn trước can thiệp cũng được cho ̣n để phỏng vấn sau can thiê ̣p
* Cơ ̃ mẫu, chọn mẫu điều tra KAP của cán bộ trạm cấp nước
- Cỡ mẫu: 42 cán bộ trạm cấp nước ở 4 huyê ̣n nghiên cứu
- Chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ cán bộ trạm cấp nước tập trung như trước can thiê ̣p
2.2.2.2 Nghiên cư ́ u đi ̣nh tính
- Thảo luận nhóm với các cán bộ của các trạm cấp nước tập trung về các biện pháp xử lý nước , cách lấy mẫu nước xét nghiệm , bảo dưỡng đường ống, đánh giá kết quả sau can thiê ̣p, các biện pháp duy trì kết quả can thiệp
- Số cuộc thảo luâ ̣n nhóm: 4 cuô ̣c ta ̣i 4 trạm cấp nước tập trung
2.2.2.3 Nội dung can thiê ̣p
2.2.2.3.1 Tổ chư ́ c, thời gian, đi ̣a điểm thực hiê ̣n
- Tổ chứ c 4 lớp ta ̣i 4 trạm cấp nước của : thị xã Bắc Kạn , huyê ̣n Na Rì , thị trấn Nà Phă ̣c, huyê ̣n Chợ Đồn
- Thờ i gian: tháng 4 đến tháng 9 năm 2011
- Giảng viên hướ ng dẫn : cán bộ khoa Sức khỏe Môi trường , học viên chuyên khoa 2, cán bộ Sở xây dựng tỉnh Bắc Kạn
2.2.2.3.2 Nội dung can thiê ̣p
Trang 29* Hướ ng dẫn cho cán bô ̣ tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung phương pháp xử lý nước Cụ thể:
- Phương pháp khử sắt : hướ ng dẫn xây bể lo ̣c đơn giản , dưới lớp bể lo ̣c
có trải sỏi dày 20 - 25 cm và lớp cát vàng dày 60 cm, cho nước chảy qua hê ̣ thống bể lo ̣c này
- Phương pháp làm trong : hướng dẫn các h tính lượng phèn (Al2SO4)3 18H2O để làm trong một thể tích nước cần cung cấp cho hộ gia đình và cách làm trong như cho những lượng phèn tăng dần sao cho đủ lượng phèn tối thiểu để làm trong một mẫu nước vớ i thời gian tối thiểu là 4 giờ
- Phương pháp khử khuẩ n: hướng dẫn cách tính lượng Cloramin B 1%
để khử khuẩn một thể tích nước cần cung cấp cho hộ gia đình và cách khử khuẩn nước như cho những lượng Clo tăng dần sao cho đủ lượng Clo tối thiểu
để khử khuẩn một mẫu nước với thời gian tối thiểu là 30 phút
* Hướ ng dẫn cho cán bô ̣ tra ̣m cấp nước cách lấy mẫu nước xét nghiê ̣m theo đúng quy trình xét nghiê ̣m về các chỉ số lý ho ̣c, hóa học, sinh ho ̣c
* Hướ ng dẫn cho cán bô ̣ tra ̣m cấp nước cách lắp đă ̣t, bảo dưỡng đường ống dẫn nước từ tra ̣m cấp nước tới các hô ̣ gia đình
Sơ đồ nghiên cứu của đề tài được thể hiê ̣n ở hình 2.1
Trang 30TRẠM CẤP NƯỚC TẬP TRUNG
(THỊ XÃ, NA RÌ, NÀ PHẶC, CHỢ ĐỒN)
Nguồn cung cấp nước cho hộ gia đình ≥ 1000 m 3 /24h; hộ gia
đình sử dụng nước của trạm cấp nước tập trung.
- Đánh giá mẫu nước củ a trạm cấp nước (lý
học, hóa học, sinh học)
- Đánh giá mẫu nước tại hộ gia đình (lý học,
hóa học, sinh học)
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước: KAP của CB trạm cấp nước , đường ống dẫn nước…
- Thảo luận nhóm
NGHIÊN CỨU
MÔ TẢ
THỰC TRẠNG
- Xử lý nước
- Bảo dưỡng đường ống dẫn nước
(4 trạm cấp nước)
SO SÁNH TRƯỚC SAU CAN THIỆP
- Yếu ố ĺ học,hóa học, sinh học của các nguồn nước ại vòi
trung
NGHIÊN CỨU
CAN THIỆP
Trang 312.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Hàm lượng các chất trong nướ c sinh hoa ̣t của các trạm cấp nước tập trung và các hô ̣ gia đình được cấp nước từ các tra ̣m cấp nước trước can thiê ̣p, bao gồm:
+ Chỉ số lý ho ̣c: đô ̣ đu ̣c
+ Chỉ số hóa học: chất hữu cơ, NO2, NO3, sắt, clo dư, pH
+ Chỉ số sinh học: số lượng coliform tổng số, số lượng coliform chi ̣u nhiê ̣t
- Yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cấp nước của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung, bao gồm:
+ Số lượng cán bô ̣ ở các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung
+ Tỷ lệ các trạm cấp nước có xử lý nước trước khi cấp nước cho các hộ gia đình
+ Tỷ lệ các loại ống dẫn nước đang sử du ̣ng của các hộ gia đình
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nước của các trạm cấp nước tâ ̣p trung có sử du ̣ng nước ngầm : tường rào xung quanh nguồn nước ; các công trình xây dựng xung quanh trạm cấp nước ; các đường ống xung quanh tra ̣m cấp nước; gia súc, gia cầm nuôi xung quanh tra ̣m cấp nước
+ Kiến thứ c, thái độ, thực hành của cán bô ̣ tra ̣m cấp nước về xử lý nước sinh hoa ̣t
- Đánh giá kết quả sau can thiệp, bao gồm các chỉ số:
+ Hàm lượng các chất trong nướ c sinh hoa ̣t của các trạm cấp nước tập trung và các hô ̣ gia đìn h được cấp nước từ các tra ̣m cấp nước sau can thiê ̣p , bao gồm:
Chỉ số lý ho ̣c: đô ̣ đu ̣c
Chỉ số hóa học: chất hữu cơ, NO2, NO3, sắt, clo dư, pH
Trang 32Chỉ số sinh học: số lượng coliform tổng số, số lượng coliform chi ̣u nhiê ̣t + Kiến thứ c, thái độ, thực hành của cán bô ̣ tra ̣m cấp nước về xử lý nước sau can thiê ̣p
+ Đánh giá của các hô ̣ gia đình về chất lượng nước của tra ̣m cấp nước + Đánh giá của cán bô ̣ tra ̣m cấp nước về kết quả can thiê ̣p
2.2.4 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu trước và sau can thiệp được thực hiê ̣n ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Nội dung nghiên cứu
Trước can thiê ̣p Sau can thiê ̣p
1 Đánh giá mẫu nước tại nguồn cung
cấp của các trạm cấp nước tập trung
theo 3 nhóm chỉ tiêu: lý học, hóa học,
sinh học
1 Đánh giá mẫu nước tại bể chứ a nước của các trạm cấp nước tập trung theo 3 nhóm chỉ tiêu: lý học, hóa học, sinh học
2 Đánh giá mẫu nước tại bể chứ a
nước của các trạm cấp nước tập trung
theo 3 nhóm chỉ tiêu: lý học, hóa học,
sinh học
2 Đánh giá mẫu nước tại hộ gia đình sử dụng nước của trạm cấp nước tập trung theo 3 nhóm chỉ tiêu: lý học, hóa học, sinh học
3 Đánh giá mẫu nước tại hộ gia đình
sử dụng nước của trạm cấp nước tập
trung theo 3 nhóm chỉ tiêu: lý học,
hóa học, sinh học
3 Đánh giá KAP của cán bô ̣ tra ̣m cấp nước
4 Mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến
cung cấp nước và chất lượng nước của
các trạm cấp nước : KAP của cán bô ̣
trạm cấp nước , đường ống dẫn nước ,
thảo luận nhóm…
4 Đánh giá sự chấp nhâ ̣n của hô ̣ gia đình về cung cấp nước và chất lượng nguồn nước của tra ̣m cấp nước
- Đánh giá sự ch ấp nhâ ̣n của cán
bô ̣ tra ̣m cấp nước về kết quả can thiê ̣p
Trang 332.2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.5.1 Thu thâ ̣p các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nguồn nước
Các chỉ tiêu nghiên cứu về môi trường nước ở các trạm cấp nước tập trung tại tỉnh Bắc Kạn được thu thập theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường - 2002 [34]
Đánh giá môi trường nước theo thông tư số 04/2009/TT- BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế [5]
Các yếu tố môi trường nước được đo cùng mùa, cùng thời điểm giữa các trạm cấp nước tập trung và hộ gia đình
Các chỉ số xét nghiệm trong nước được phân tích bằng máy UNIVIS tại Trung tâm Y tế Dự phòng Bắc Kạn
Thu thâ ̣p các chỉ tiêu môi trường nước ở phu ̣ lu ̣c (1) và (2)
2.2.5.1.1 Xác định yếu tố lí học
* Cách lấy mẫu nước: chai thuỷ tinh nút mài loại 1 lít Thể tích lấy mẫu
5 - 7 lít Trước khi lấy mẫu cần tráng chai nhiều lần bằng chính nước đó Ghi nhãn và vận chuyển mẫu tới phòng xét nghiệm
* Xét nghiệm các chỉ số: đô ̣ đu ̣c của nước theo thường quy kỹ thuật xét nghiệm - 2002
2.2.5.1.2 Xác định yếu tố hóa học
* Cách lấy mẫu nước: chai thuỷ tinh nút mài loại 1 lít Thể tích lấy mẫu
5 - 7 lít Trước khi lấy mẫu cần tráng chai nhiều lần bằng chính nước đó Ghi nhãn và vận chuyển mẫu tới phòng xét nghiệm
* Xét nghiệm chất hữu cơ trong nước: dùng pemangaratkali (KMnO4) để ôxy hoá các chất hữu cơ có trong nước và từ đó đo lượng O2 giải phóng ra để ôxy hoá chất hữu cơ đó Cho các chất hữu cơ tác dụng với một lượng thừa KMnO4 N/50 ở nhiệt độ sôi trong 10 phút, sau đó chuẩn độ thuốc tím còn thừa bằng acid oxalic (H2C2O4) N/50 Từ lượng thuốc tím đã sử dụng, tính
Trang 34được nồng độ các chất hữu cơ có trong nước Phản ứng thực hiện trong môi trường kiềm hoặc môi trường acid
* Xét nghiệm các chỉ số: NH3, NO2, NO3, sắt, clo dư, pH theo thường quy xét nghiê ̣m
2.2.5.1.3 Xác định yếu tố sinh học
* Cách lấy mẫu nước:
- Chai thuỷ tinh nút mài thể tích 500 - 1000 ml (chai đã được rửa sạch và hấp sấy khô, phía ngoài có dán nhãn)
+ Trước khi lấy mẫu chai phải rửa sạch, súc chai bằng dung dịch Natricacbonat 1% và rửa lại bằng dung dịch acid loãng 1 %, súc tráng rửa bằng nước sạch sau đó tráng lại bằng nước cất
+ Hấp sấy khô ở nhiệt độ 1800
C trong vòng 30 phút
+ Dán nhãn lên chai (nhiệt độ nước, nhiệt độ không khí, loại nước, thời tiết lúc lấy mẫu họ tên người lấy mẫu, yêu cầu xét nghiệm những chỉ số gì, ngày giờ, tháng, năm gửi mẫu nước đi xét nghiệm)
- Cồn 900 để khử khuẩn, tăm bông
- Diêm, bút bi, bút dạ, sổ sách ghi chép, nhiệt kế 1000C
- Quang chai: bằng sắt, nhôm, đồng và có đế nặng
- Phích đá, hòm lạnh để bảo quản mẫu
Kĩ thuật lấy mẫu
- Nước máy: mở vòi cho nước chảy 2-3 phút, trước khi lấy phải tráng chai lấy mẫu 3 lần rồi mới lấy chính thức Mở nút chai lấy mẫu bằng 2 ngón nhẫn và út bàn tay phải, ngón cái và ngón trỏ cầm tăm bông tẩm cồn đốt kĩ miệng chai để tiệt khuẩn, tay trái cầm chai, lấy 9/10 chai nước sau đó khử khuẩn lại miệng chai, đóng chặt nút chai, đóng gói và bảo quản trong hòm lạnh
Trang 35- Nước bề mặt: dùng quang chai vô khuẩn, cho chai vào quang thả xuống
độ sâu 30 - 40 cm, đợi nước vào đầy chai, kéo lên đậy nút chai, đóng gói và bảo quản
+ Nếu là nước sông suối mỗi điểm cần lấy 3 vị trí 2 bờ và ở giữa, lấy cách bờ 1,5 m, khi nước cạn lấy cách đáy 30 - 50 cm, miệng chai hướng về phía dòng chảy
+ Nếu là nước hồ lấy ở 4 vị trí 4 điểm 4 góc và 1 điểm ở giữa
- Nước ngầm:
+ Nếu là nước giếng dùng quang chai vô khuẩn, lấy cách mặt nước 40
cm, nếu dùng gầu thì phải tráng đi tráng lại vài lần
+ Nếu là nước giếng khoan sâu: cách lấy mẫu như nước máy
Bảo quản, vận chuyển: mẫu nước sau khi lấy xong được chuyển về
phòng xét nghiệm
* Xét nghiệm coliform tổng số bằng phương pháp MPN: thực hiện trên môi trường canh thang lactose loãng , đóng ống 5 ml, có ống sinh hơi , canh thang lactose đă ̣c, đóng ống 10 ml, có ống sinh hơi và môi trường canh thang BGBL (Brillian Green Bile Lactose), đóng ống 5ml có ống sinh hơi
* Xét nghiệm coliform chịu nhiê ̣t bằng phương pháp MPN trên môi trường Môi trường BGBL, môi trường Endo
2.2.5.2 Thu thâ ̣p c ác chỉ số đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn cung cấp nước của các trạm cấp nước tập trung
- Phỏng vấn cán bộ trạm cấp nướ c tập trung và quan sát các yếu tố xung quanh tra ̣m cấp nước (phụ lục 3)
- Phỏng vấn cán bộ trạm cấp nước tập trung để đánh giá KAP (phụ lục 4)
và cách cho điểm KAP của cán bô ̣ tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung (phụ lục 5)
- Thảo luận nhóm với cán bộ trạm cấp nước tập trung (phụ lục 6)
Trang 362.2.5.3 Thu thâ ̣p các chỉ tiêu đánh giá kết quả các hoạt động can thiê ̣p
- Đánh giá sự chấp nhâ ̣n của hô ̣ gia đình về nguồn cung cấp nước và chất lượng nước qua phỏng vấn (phụ lục 7)
- Đánh giá sự chấp nhâ ̣n của cán bô ̣ tra ̣m cấp nước về kết quả can thiê ̣p qua phỏng vấn (phụ lục 8) và thảo luận nhóm (phụ lục 6)
2.3 Phương pháp khống chế sai số
- Đội ngũ đ iều tra viên bao gồm các cán bộ của khoa Sức khỏe cô ̣ng đồng, khoa xét nghiê ̣m, kỹ thuật viên của Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Bắc Kạn và học viên CK2 và được tập huấn trước khi điều tra
- Thực hiện các kỹ thuật lấy mẫu đo môi trường ở cùng mô ̣t thời điểm , trước khi đo, chuẩn máy chính xác, đo theo đúng thường qui kỹ thuật Đo các chỉ số môi trường như nhau ở thời điểm trước và sau can thiê ̣p
- Các số liệu điều tra được làm sa ̣ch trước khi xử lý
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu này được sự đồng ý và ủng hộ của Ban giám đốc trung tâm Y tế Dự phòng, hội đồng khoa học Sở Y tế Bắc Kạn, trung tâm y tế các huyện, thị xã và 4 trạm cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh
- Thực hiện nghiêm chỉnh, đầy đủ các quy định về Y đức của ngành y tế
- Đối tượng tự nguyện hoàn toàn trong nghiên cứu và sẵn sàng hợp tác tốt
- Trong quá trình nghiên cứu không gây ra bất kỳ một hậu quả xấu nào
- Tất cả các xét nghiệm đều được miễn phí
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng chất lượng nước sinh hoạt tại các trạm cấp nước tập trung và các hô ̣ gia đình được cấp nước từ các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung ở thời điểm trước can thiê ̣p
3.1.1 Chất lượng nước sinh hoạt tại các trạm cấp nước tập trung
GHTĐCP theo QCVN 01- 2009/BYT: 2 NTU
Nhận xét : kết quả nghiên cứu bảng 3.1 cho thấy đô ̣ đu ̣c trung bình
trong nước ta ̣i các nguồn c ung cấp nước của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung ở nguồn nước chưa xử lý và ở nước bể chứa đã qua xử lý tại thời điểm trước can thiê ̣p đều thấp hơn quy chuẩn Viê ̣t Nam 01 - 2009/BYT
Độ đục trong nước ở nguồn nước chưa xử l ý cao hơn so với nguồn nước đã qua xử lý, sự khác biê ̣t có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Kết quả so sánh giá tri ̣ cao nhất và thấp nhất của nguồn cung cấp nước
ở trạm cấp nước tập trung được thể hiện ở hình 3.1
Trang 38Nguồn nước Số lươ ̣ng Tỷ lệ %
Nhận xét: kết quả nghiên cứu bảng 3.2 cho thấy 16,66% số mẫu nước ở
nguồn nước chưa qua xử lý ở các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung cao hơn quy chuẩn Viê ̣t Nam 01: 2009/BYT ở thời điểm trước can thiê ̣p
Nguồn nước Độ đục:
NTU
Trang 39Nhận xét: kết quả nghiên cứu bảng 3.3 cho thấy pH trong nước ta ̣i các
nguồn cung cấp nước của các tra ̣m cấp nước tâ ̣p trung ở nguồn nước chưa xử
lý và ở nước bể chứa đã qua xử lý tại thời điểm trước can thiê ̣p đều th ấp hơn quy chuẩn Viê ̣t Nam 01- 2009/BYT
Giá trị pH thấp nhất và cao nhất trong nước ở nguồn nước chưa xử lý
và bể chứa tại trạm cấp nước tập trung đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép
Bảng 3.4 Nồng độ chất hữu cơ tại các nguồn cung cấp nước của các trạm cấp nước tập trung trước can thiê ̣p