MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trước cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những bước tiến nhảy vọt, mỗi quốc gia đều đặt việc bồi dưỡng nhân tài lên trên hết để phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Việt Nam luôn coi trọng giáo dục là “quốc sách hàng đầu”, là con đường chính để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách, chúng tôi cho rằng, ngay từ bậc tiểu học, nhà trường cần quan tâm trang bị tri thức, kỹ năng, thái độ cho người học, đảm bảo tính cân đối giữa dạy chữ và dạy người, đặc biệt là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đặc biệt là kỹ năng đuối nước, giúp các em có những kỹ năng để sống an toàn, khỏe mạnh, thành công và hiệu quả. Thực tiễn giáo dục ở các trường Tiểu học trong cả nước nói chung và ở tỉnh Quảng Bình nói riêng cho thấy một số em còn khá nhút nhát, chưa có kỹ năng thích ứng, kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt kỹ năng về đuối nước còn chưa nắm vững, một số em còn thiếu kỹ năng đuối nước dẫn đến những vụ việc thương tâm xảy ra trên địa bàn vừa qua, đặc biệt là hè 2019 Quảng Bình đã xuất hiện các vụ đuối nước thương tâm cho các gia đình. Hiện nay đuối nước là một vấn đề đáng quan tâm, nó đã cướp đi tính mạng nhiều người. Nạn nhân chủ yếu lại nằm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng, những học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường. Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 6400 người bị đuối nước, trong đó hơn 80% là trẻ em và trẻ vị thành niên. Trung bình, mỗi năm nước ta có khoảng 3.500 trẻ bị chết đuối, nghĩa là có khoảng 9 trẻ tử vong do đuối nước mỗi ngày. Ở địa phương Quảng Bình cũng là một vùng có rất nhiều sông, suối, thác nước. Địa bàn các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa lòng sông chảy xiết. Mặt khác, Quảng Trạch là những vùng thấp trũng hay bị ngập lũ vào mùa mưa, cho nên hàng năm không ít người dân bị đuối nước, đặc biệt các em học sinh. Đứng trước thực tế đó đòi hỏi một giáo viên tương lại như em phải trăn trở, tìm tòi, đưa ra những biện pháp để giúp các học sinh thuộc tỉnh Quảng Bình nói riêng và người dân nói chung phải có hiểu biết và ý thức hơn trong việc an toàn trong mùa lũ, tham gia luyện tập bơi lội để nâng cao sức khỏe, cải thiện vóc dáng, thể trạng và đặc biệt là tự bảo vệ mình tránh nguy cơ của tai nạn đuối nước. Hình thành cho mọi người có kiến thức, kĩ năng về việc phòng tránh đuối nước cũng như cách cứu đuối. Xuất phát từ những nhận thức trên em đã đưa ra các biện pháp về kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh trong các tiết học Tự Nhiên và Xã Hội. Với những lý do trên em xin đưa ra đề tài nghiên cứu: “Giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học trường tiểu học Liên Sơn - xã Mai Hóa - huyện Tuyên Hóa thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội” 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và tìm hiểu thực trạng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu những cơ cở lí luận, cơ sở thực tiễn, những thận lợi và khó khăn của việc rèn kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh. - Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến học sinh thiếu kỹ năng phòng chống đuối nước ở học sinh. - Đưa ra một số biện pháp rèn kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. - Tiến hành dạy thực nghiệm để thể hiện tính khả thi của đề tài. 4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu - Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3. 4.2. Khách thể nghiên cứu - Do khả năng và thời gian có hạn chế nên em chỉ tiến hành điều tra, khảo sát giáo viên và học sinh trường tiểu học Liên Sơn - xã Mai Hóa – huyện Tuyên Hóa – tỉnh Quảng Bình. 5. Giả thiết khoa học Nhận thấy kỹ năng phòng chống đuối nước là một trong những kỹ năng quan trọng của học sinh nhất là học sinh vùng miền xuôi. Tuy việc giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học đã được chú trọng nhưng còn thờ ơ, hiệu quả của nó chưa có. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên : do nhận thức của giáo viên, do nội dung chương trình lòng ghép không phù hợp, do sử dụng phương pháp chưa hợp lí, hình thức tổ chức dạy học chưa phù hợp... Nên em giả định rằng, nếu phát hiện đúng thực trạng về việc giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên - Xã hội và đề xuất những biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước một cách khoa học để khắc phục thực trạng hiện nay thì hiệu quả giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước trong nhà trường Tiểu học nói chung và thông qua dạy học môn TNXH nói riêng đồng thời góp phần quan trọng cho học sinh có những kỹ năng đuối nước tốt để bảo vệ bản thân và bạn bè, tránh những rủi ro xấu về đuối nước. 6. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này em sử dụng hai nhóm phương pháp: - Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: + Mục đích khi sử dụng nhóm phương pháp này là nhằm thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu, các công trình khoa học có liên quan làm cơ sở lí luận cho khóa luận. + Phương pháp chủ yếu: phương pháp đọc tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp hóa và khái quát hóa. - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: + Phương pháp quan sát: Quan sát các giờ dạy TNXH ở Trường Tiểu học Liên Sơn nhằm nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm. Qua quan sát một số kỹ năng ở trường của các em. Sau đó phân tích, đánh giá thực trạng về kỹ năng về đuối nước của học sinh. + Phương pháp điều tra: Tìm hiểu nội dung sách giáo khoa, tìm hiểu về mức độ hiểu biết về kỹ năng phòng chống đuối nước của học sinh. + Phương pháp trò chuyện: Trao đổi với GV và HS của trường Tiểu học Liên Sơn để tìm hiểu thực trạng về kỹ năng phòng chống đuối nước của học sinh. + Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm để khẳng định tính khả thi của đề tài. + Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết, đánh giá kết quả của đề tài và những mặt còn hạn chế, rút kinh nghiệm. + Phương pháp nghiên cứu toán học: Sử dụng thống kê để xử lí thông tin, số liệu thu được. 7. Đóng góp của đề tài Đề tài nghiên cứu thành công là tài liệu tham khảo cho các giáo viên các trường Tiểu học và sinh viên khoa Sư phạm Trường Đại học Quảng Bình trong quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. 8. Cấu trúc đề tài Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo nội dung chính của khóa luận được chia làm ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và một số vấn đề về giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học. Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3.
Trang 1NHỮNG TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG KHÓA LUẬN ST
Trang 2MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT DÙNG TRONG KHÓA LUẬN 1
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Khách thể nghiên cứu 8
5 Giả thiết khoa học 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Đóng góp của đề tài 9
8 Cấu trúc đề tài 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 10
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Cơ sở lý luận 13
1.2.2 Cơ sở pháp lý 14
1.3 Các khái niệm 15
1.3.1 Khái niệm kỹ năng 15
1.3.2 Khái niện kỹ năng phòng chống đuối nước 30
1.4 Một số vấn đề về giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học 33
1.4.1 Các nguyên tắc giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước 33
1.4.2 Các con đường giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước 33
1.4.4 Nhà trường Tiểu học với vấn đề giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 39
Trang 32.1 Đặc điểm nội dung và chương trình môn Tự nhiên - Xã hội ở Tiểu học 39
2.1.1 Mục tiêu của chương trình môn Tự nhiên - Xã hội 39
2.1.2 Cấu trúc nội dung chương trình môn Tự nhiên - Xã hội lớp 1,2,3 40
2.1.3 Ý nghĩa thực tiễn của việc giáo dục phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội 41
2.1.4 Chương trình môn tự nhiên xã hội lớp 3 với việc giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học 42
2.2 Thực trạng vấn đề giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học 42
2.2.1 Mục đích khảo sát 42
2.2.2 Đối tượng khảo sát 42
2.2.3 Thời gian khảo sát 42
2.2.4 Nội dung khảo sát 42
2.2.5 Kết quả khảo sát 43
2.3 Nguyên nhân của thực trạng giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học 43
2.3.1 Nhận thức về tai nạn đuối nước của trẻ em còn thấp 43
2.3.2 Thiếu sự giám sát đầy đủ của người lớn 44
2.3.3 Thiếu kỹ năng bơi lội 44
2.3.4 Môi trường sống không an toàn 44
2.3.5 Phương tiện vận tải đường thủy không bảo đảm yêu cầu 44
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN TỰ NHIỆN – XÃ HỘI 45
3.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý 45
3.2 Nâng cao trình độ hiểu biết và năng lực giáo dục của mỗi giáo viên 46
3.3 Đầu tư kinh phí cho các hoạt động giáo dục 46
3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục ở Tiểu học 46
3.5 Giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học trong dạy học môn tự nhiên xã hội 47
3.5.1 Lựa chọn các biện pháp trong dạy học để giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học 47
3.5.1.1 Phương pháp quan sát 47
Trang 43.5.1.2 Phương pháp thảo luận nhóm 48
3.5.1.3 Phương pháp đóng vai 50
3.5.2 Tạo môi trường thuận lợi để giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh 53
3.5.3 Thiết kế bài tập thực hành KNPCĐN trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội để rèn luyện KNPCĐN cho học sinh 56
3.5.4 Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả môn Tự nhiên và Xã hội gắn với đánh giá KNPCĐN của học sinh 57
3.6 Thực nghiệm sư phạm 59
3.6.1 Mục đích thực nghiệm 59
3.6.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 59
3.6.2.1 Đối tượng thực nghiệm 59
3.6.2.2 Địa bàn thực nghiệm 59
3.6.2.3 Thời gian thực nghiệm 59
3.6.3 Tiến trình thực nghiệm 59
3.6.3.1 Nội dung thực nghiệm 59
3.6.3.2 Phương pháp thực nghiệm 60
3.6.4 Kết quả thực nghiệm 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
1 Kết luận 61
2 Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trước cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với những bước tiến nhảyvọt, mỗi quốc gia đều đặt việc bồi dưỡng nhân tài lên trên hết để phục vụ côngcuộc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam luôn coi trọng giáo dục là
“quốc sách hàng đầu”, là con đường chính để thực hiện quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách,chúng tôi cho rằng, ngay từ bậc tiểu học, nhà trường cần quan tâm trang bị trithức, kỹ năng, thái độ cho người học, đảm bảo tính cân đối giữa dạy chữ và dạyngười, đặc biệt là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đặc biệt là kỹ năng đuốinước, giúp các em có những kỹ năng để sống an toàn, khỏe mạnh, thành công vàhiệu quả
Thực tiễn giáo dục ở các trường Tiểu học trong cả nước nói chung và ở tỉnhQuảng Bình nói riêng cho thấy một số em còn khá nhút nhát, chưa có kỹ năngthích ứng, kỹ năng giải quyết vấn đề, đặc biệt kỹ năng về đuối nước còn chưanắm vững, một số em còn thiếu kỹ năng đuối nước dẫn đến những vụ việcthương tâm xảy ra trên địa bàn vừa qua, đặc biệt là hè 2019 Quảng Bình đã xuấthiện các vụ đuối nước thương tâm cho các gia đình
Hiện nay đuối nước là một vấn đề đáng quan tâm, nó đã cướp đi tínhmạng nhiều người Nạn nhân chủ yếu lại nằm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng,những học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trung bình mỗi năm cả nước có khoảng 6400 người bịđuối nước, trong đó hơn 80% là trẻ em và trẻ vị thành niên Trung bình, mỗinăm nước ta có khoảng 3.500 trẻ bị chết đuối, nghĩa là có khoảng 9 trẻ tử vong
do đuối nước mỗi ngày
Ở địa phương Quảng Bình cũng là một vùng có rất nhiều sông, suối, thácnước Địa bàn các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa lòng sông chảy xiết Mặt khác,Quảng Trạch là những vùng thấp trũng hay bị ngập lũ vào mùa mưa, cho nênhàng năm không ít người dân bị đuối nước, đặc biệt các em học sinh Đứngtrước thực tế đó đòi hỏi một giáo viên tương lại như em phải trăn trở, tìm tòi,
Trang 6đưa ra những biện pháp để giúp các học sinh thuộc tỉnh Quảng Bình nói riêng vàngười dân nói chung phải có hiểu biết và ý thức hơn trong việc an toàn trongmùa lũ, tham gia luyện tập bơi lội để nâng cao sức khỏe, cải thiện vóc dáng, thểtrạng và đặc biệt là tự bảo vệ mình tránh nguy cơ của tai nạn đuối nước Hìnhthành cho mọi người có kiến thức, kĩ năng về việc phòng tránh đuối nước cũngnhư cách cứu đuối.
Xuất phát từ những nhận thức trên em đã đưa ra các biện pháp về kỹ năngphòng chống đuối nước cho học sinh trong các tiết học Tự Nhiên và Xã Hội
Với những lý do trên em xin đưa ra đề tài nghiên cứu: “Giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học trường tiểu học Liên Sơn - xã Mai Hóa - huyện Tuyên Hóa thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và tìm hiểu thựctrạng giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểuhọc thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội từ đó đề xuất một số biện phápnhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước chohọc sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những cơ cở lí luận, cơ sở thực tiễn, những thận lợi và khó khăncủa việc rèn kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh
- Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến học sinh thiếu kỹ năngphòng chống đuối nước ở học sinh
- Đưa ra một số biện pháp rèn kỹ năng phòng chống đuối nước cho họcsinh tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
- Tiến hành dạy thực nghiệm để thể hiện tính khả thi của đề tài
4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểuhọc thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
Trang 74.2 Khách thể nghiên cứu
- Do khả năng và thời gian có hạn chế nên em chỉ tiến hành điều tra, khảosát giáo viên và học sinh trường tiểu học Liên Sơn - xã Mai Hóa – huyện TuyênHóa – tỉnh Quảng Bình
5 Giả thiết khoa học
Nhận thấy kỹ năng phòng chống đuối nước là một trong những kỹ năngquan trọng của học sinh nhất là học sinh vùng miền xuôi Tuy việc giáo dục kỹnăng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học đã được chú trọng nhưngcòn thờ ơ, hiệu quả của nó chưa có Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạngnói trên : do nhận thức của giáo viên, do nội dung chương trình lòng ghép khôngphù hợp, do sử dụng phương pháp chưa hợp lí, hình thức tổ chức dạy học chưaphù hợp Nên em giả định rằng, nếu phát hiện đúng thực trạng về việc giáo dục
kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh Tiểu học thông qua dạy học môn
Tự nhiên - Xã hội và đề xuất những biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng phòngchống đuối nước một cách khoa học để khắc phục thực trạng hiện nay thì hiệuquả giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước trong nhà trường Tiểu học nóichung và thông qua dạy học môn TNXH nói riêng đồng thời góp phần quantrọng cho học sinh có những kỹ năng đuối nước tốt để bảo vệ bản thân và bạn
bè, tránh những rủi ro xấu về đuối nước
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này em sử dụng hai nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận:
+ Mục đích khi sử dụng nhóm phương pháp này là nhằm thu thập thông tinkhoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu, các công trình khoa học cóliên quan làm cơ sở lí luận cho khóa luận
+ Phương pháp chủ yếu: phương pháp đọc tài liệu, phương pháp phân tích,phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp hóa và khái quát hóa
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát:
Trang 8Quan sát các giờ dạy TNXH ở Trường Tiểu học Liên Sơn nhằm nhận xét,đánh giá, rút kinh nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm.
Qua quan sát một số kỹ năng ở trường của các em Sau đó phân tích, đánhgiá thực trạng về kỹ năng về đuối nước của học sinh
+ Phương pháp điều tra: Tìm hiểu nội dung sách giáo khoa, tìm hiểu vềmức độ hiểu biết về kỹ năng phòng chống đuối nước của học sinh
+ Phương pháp trò chuyện: Trao đổi với GV và HS của trường Tiểu họcLiên Sơn để tìm hiểu thực trạng về kỹ năng phòng chống đuối nước của họcsinh
+ Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm để khẳng địnhtính khả thi của đề tài
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Tổng kết, đánh giá kết quả của đềtài và những mặt còn hạn chế, rút kinh nghiệm
+ Phương pháp nghiên cứu toán học: Sử dụng thống kê để xử lí thông tin,
số liệu thu được
7 Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu thành công là tài liệu tham khảo cho các giáo viên cáctrường Tiểu học và sinh viên khoa Sư phạm Trường Đại học Quảng Bình trongquá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu
Chương 3: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng chống đuối nước chohọc sinh Tiểu học thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Đuối nước, một tai nạn rất thường gặp trong cộng đồng dân cư, nhất là nơinhiều ao hồ, sông ngòi hay các bãi tắm biển Tuy nhiên, vấn đề y tế công cộngnày vẫn thường bị thờ ơ Thông tin đuối nước được tổng hợp chưa được thốngnhất ở tất cả các nước, nhưng theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới và Trungtâm Phòng ngừa - Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ, cùng nhiều nghiên cứu khác chobiết: Đuối nước là nguyên nhân đứng thứ 2 gây tử vong ở các trường hợp tửvong do chấn thương trong nhóm trẻ dưới 15 tuổi Trẻ dưới 5 tuổi và thanh thiếuniên giữa độ tuổi 15-24 chiếm tỷ lệ đuối nước cao nhất Tại Việt Nam, theothống kê của Cục quản lý Môi trường y tế - Bộ Y tế từ 2005-2010, cho thấy:Đuối nước là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở Việt Nam và là nguyên nhân tửvong hàng đầu ở trẻ em Các yếu tố nguy cơ làm tăng đuối nước có thể bao gồm:tuổi, giới, mức độ kỹ năng, điều kiện sức khỏe và các tác nhân như sử dụng rượu
và ma túy Điều kiện kinh tế xã hội, yếu tố địa lý, khí hậu thời tiết có thể dẫnđến việc gia tăng đuối nước Theo các tác giả Donald, Modell và nhiều tác giảkhác thì tỷ suất tử vong đuối nước đã giảm nhiều ở các nước phát triển, từ7/100.000 năm 1978 xuống còn khoảng 2/100.000 những năm 1990 Ở Úc(2011) là 1,4/100.000 Tuy nhiên, có lẽ có việc thống kê chưa được chú ý đúngmức, nên chưa phản ánh được chính xác thực trạng này ở những nước đang pháttriển Ở Mỹ, có khoảng 7.000 ca tử vong mỗi năm, với khoảng 90.000 ca đuốinước gần Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới về gánh nặng bệnh tật toàn cầuthì tỉ suất tử vong toàn thể trường hợp đuối nước ước tính vào khoảng8,4/100000 nghìn dânTử vong do tai nạn đuối nước là 1 trong 5 nguyên nhânhàng đầu tử vong ở các chấn thương không chủ định ở Mỹ và các nước, chỉđứng hàng thứ 2 sau tử vong do tai nạn giao thông ở Australia và Mỹ, nhưngnguyên nhân chủ yếu gây tử vong tập trung ở một số nhóm tuổi Những trườnghợp tử vong do đuối nước tại bể bơi hầu hết ở độ tuổi còn rất trẻ: đó là những
Trang 10trường hợp tử vong do lướt sóng là ở tuổi vị thành niên và thanh niên Nhữngtrường hợp tử vong ở biển và đại dương thường gặp ở thuyền viên và ngườiđánh cá ở nhóm tuổi trưởng thành và những trường hợp đuối nước trong bồntắm đặc biệt nguy hiểm cho trẻ 6 tháng đến 1 năm tuổi, gặp chủ yếu ở những trẻ
em ốm yếu, tật nguyền hoặc là do bị sát hại Theo thống kê của Cục quản lý Môitrường y tế - Bộ Y tế từ 2005 - 2010, cho thấy trung bình mỗi năm có 6.126trường hợp tử vong do đuối nước trên toàn quốc Tỷ suất tử vong do đuối nước
là 7,8/100.000 người năm và có xu hướng giảm trong những năm gần đây Đốivới trẻ em, mối năm có trung bình 3.516 trường hợp tử vong, tương đươngkhoảng 10 trường hợp trẻ em tử vong do đuối nước mỗi ngày Thống kê chothấy, Thanh Hóa là địa phương có tổng số trường hợp tử vong do đuối nước caonhất với trung bình 365 trường hợp/năm, tiếp theo là Nghệ An (318 trường hợp/năm), Hà Nội, Đắc Lắc, Nam Định, Thái Bình, Bắc Giang, Bình Định, HảiPhòng, Quảng Nam Theo báo cáo của Ban chỉ đạo phòng, chống tai nạn,thương tích trẻ em tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (2011), trên địa bàn tỉnh tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đã xảy ra 378 vụ tai nạn, thương tích trẻ em, làm chết 36 em, trong đó
có 28 trẻ chết do đuối nước, trong số 71 ca tử vong do đuối nước, chiếm tới39,4%
Một số đặc điểm dịch tễ học đuối nước
Đặc điểm tuổi: Theo báo cáo về phòng chống thương tích ở trẻ em và báo
cáo gánh nặng bệnh tật toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đuối nướcđược xếp hạng thứ 13 trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 15tuổi, với nguy cơ cao nhất trong nhóm 1 - 4 tuổi Trong độ tuổi 15 – 44 thì đuốinước là nguyên nhân thứ 10 gây tử vong Một báo cáo của Tổ chức cứu hộHoàng gia Úc, cho thấy các nhóm tuổi có nguy cơ cao: 0 - 4, 18 – 34 và trên 55tuổi Báo cáo thống kê đuối nước không chủ định của Trung tâm kiểm soát vàphòng ngừa bệnh tật Hoa kỳ (CDC) cũng cho biết tỷ suất đuối nước cao nhất ởnhóm 1 - 4 tuổi Năm 2009, trong số trẻ 1-4 tuổi chết do chấn thương không chủđịnh thì hơn 30% là do đuối nước Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Laođộng-Thương binh và Xã hội cho biết, năm 2007 có 3.786 trẻ em và người chưa
Trang 11thành niên trong độ tuổi 0 - 19 tuổi tử vong vì đuối nước Con số này tươngđương với tỷ suất tử vong là 10,4 trường hợp/100.000 trẻ, cao gấp 3 lần tử vong
do đuối nước ở các nước phát triển, điều này phản ánh thực trạng đáng báo động
về vấn đề đuối nước ở Việt Nam Đuối nước là nguyên nhân tai nạn thương tíchgây tử vong hàng đầu (48%) ở lứa tuổi 0-19 tuổi Theo thống kê của Cục quản lýMôi trường y tế - Bộ Y tế (2005-2010): Tỷ suất tử vong chung do đuối nước ởtrẻ em là 12,2/100.000 trẻ Trong đó, tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất ởnhóm 0-4 tuổi với trung bình 22 trẻ/100.000 trẻ năm Trẻ em trong độ tuổi từ 0-
4 có tỉ lệ tử vong do đuối nước cao nhất (35,2%); tiếp theo là độ tuổi từ 5-9(24,6%) và 10-14 chiếm 24%; và thấp nhất là ở nhóm tuổi từ 15-19 chiếm16,3%
Đặc điểm giới: Thống kê tại Mỹ cho thấy có một tỷ lệ cao bất thường
những nạn nhân bị đuối nước là nam giới ở tuổi thanh thiếu niên, bao gồm cảnhững tai nạn bất ngờ hoặc do bị giết Theo báo cáo thống kê đuối nước tại Úc,
5 năm (2008-2012), cho thấy: Nam giới bị tử vong do đuối nước nhiều hơn nữgiới ở mọi lứa tuổi, nhiều nghiên cứu cho thấy: gần 80% trường hợp tử vong dođuối nước là nam giới
Đặc điểm địa lý, kinh tế - xã hội: Theo các báo cáo của Hiệp hội cứu hộ
Hoàng gia Úc thì 10-19% số trường hợp đuối nước xảy ra ở biển Tại Việt Nam:59% số trường hợp đuối nước xảy ra ở sông và suối, 28,2% ở ao, 7,7% ở biển và5,1% xảy ra trong nhà Những quốc đảo với dân số đông như Nhật Bản vàIndonesia, dễ bị nguy hiểm hơn những quốc gia lục địa lớn Có sự khác biệt lớntrong phân bố của tình trạng đuối nước theo khu vực, ở những nước có mức thunhập thấp và trung bình đuối nước cao gấp 6 lần so với các nước có thu nhậpcao Các nước có thu nhập thấp và trung bình khu vực Tây Thái Bình Dương có
tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất (13,9/100.000), tiếp theo là khu vực châuPhi (7,2/100.000) Theo thống kê tại Mỹ về mối liên quan dân tộc, chủng tộccho thấy: Năm 2000 - 2004, tỷ lệ tử vong do đuối nước không chủ định đối vớingười Mỹ gốc Phi là 1,3 lần, người Mỹ gốc Ấn là 1,8 lần so với người da trắng.Tuy nhiên trong các nhóm tuổi có thể cao hơn nhiều, ví dụ: tỷ lệ ở nhóm 5-14
Trang 12tuổi đối với người Mỹ gốc Phi là 3,2 lần, người Mỹ gốc Ấn là 2,6 lần Tỷ lệ tửvong đuối nước ở châu Mỹ, châu Phi có dấu hiệu cao hơn ở người da trắng vùngbên kia bán cầu ở tất cả lứa tuổi, sự chênh lệch lớn nhất ở lứa tuổi 5- 14 (3 lần).
Tỷ lệ đuối nước dựa trên dân số chứ không dựa trên hoạt động liên quan đếnnước, như vậy tỷ lệ chênh hơn nhiều giữa châu Phi, châu Mỹ với dân da trắnglân cận khi chúng ta so sánh như vậy
Đặc điểm sức khỏe, kỹ năng bơi, sử dụng rượu, bia Kết quả điều tra KAP
ở khách du lịch của chúng tôi (Phạm Đình Hùng, Bệnh viện Điều dưỡng-Phục hồi chức năng Trung ương) tại Sầm Sơn cho thấy: xảy ra đuối nước gặp nhiều
nhất là do bệnh lý tim mạch, huyết áp cao, uống nhiều rượu bia (97,1%), phùhợp với các nghiên cứu của các tác giả khác Không biết bơi là nguy cơ quantrọng: qua đánh giá nhanh của UNICEF vào tháng 5/2007 thì ở một số trườngtiểu học thuộc tĩnh Hà Tĩnh, chưa đến 10% học sinh có thể bơi được khoảngcách 25m Nghiên cứu cho thấy tham gia bài học bơi đúng cách, có thể giảmnguy cơ đuối nước ngay cả ở trẻ 1- 4 tuổi Nghiên cứu của chúng tôi tại SầmSơn cho thấy: Tỷ lệ khách du lịch biết bơi bị đuối nước (10,8%), ít hơn nhữngngười không biết bơi (24,2%).Tình trạng uống nhiều rượu, bia, quá đói, quá no,tình trạng bệnh tật, yếu tố thần kinh, tinh thần có ảnh hưởng đến mức độ đuốinước Trong số vị thành niên và người lớn tuổi bị chết do đuối nước, liên quancác trò giải trí dưới nước có tới 25% - 50% dùng rượu, là nguy cơ chính lên tới50% đuối nước ở trẻ nam vị thành niên Các nguyên nhân khác như: đau tim gâyngất, đau đầu làm người bị nạn không vượt lên khỏi mặt nước
1.2.Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cơ sở lý luận
Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Một năm bắt đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của đất nước” Đúng như thế,
tất cả chúng ta ai cũng phải trải qua một tuổi thơ yêu dấu
Khi đất nước còn chiến tranh, còn thiếu cơm, rách áo, chúng ta ít có điềukiện quan tâm, chăm sóc trẻ em Ngày nay, cuộc sống được nâng lên, miếngcơm manh áo không còn quá chật vật, người ta có điều kiện hơn để chăm sóc trẻ
Trang 13em, trước hết là con em mình, sau đến mọi trẻ em trong xã hội Người Việt Namchăm lo cho mình một thì chăm lo cho con cái ba bốn Chăm cho các em đượcsống trong hòa bình, được lớn lên bình yên, đời sống vật chất, đời sống tinh thầnngày một tốt hơn.
Bên cạnh việc tạo điều kiện để trẻ phát triển toàn diện cần có những biệnpháp hữu hiệu phòng chống tai nạn, thương tích cho trẻ em Trong nhữngnguyên nhân dẫn đến tử vong cho trẻ nhiều nhất hiện nay có thể kể đến là tainạn đuối nước Tai nạn đuối nước thực sự là một vấn đề gây nhiều bức xúc trongcộng đồng, nó gây ảnh hưởng đến tâm lý của mỗi gia đình và nghiêm trọng hơn
là đến sự sống còn và phát triển của trẻ em Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đếntai nạn đuối nước trẻ em: do Việt Nam có hệ thống sông ngòi ao hồ dày đặc; do
sự bất cẩn của người lớn; môi trường sống xung quanh không an toàn; do trẻkhông biết bơi, chưa được rèn luyện các kỹ năng sống
1.2.2 Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004;
- Luật Giáo dục năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LuậtGiáo dục năm 2009;
- Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sáchkhuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạynghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;
- Quyết định 234/QĐ-TTg ngày 05/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em giai đoạn 2016-2020;
- Kế hoạch liên tịch số CTHSSV-HĐĐTW-ĐCT-DSGĐTE ngày 26 tháng 4 năm 2012 của Cục Bảo vệ,chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Cục Quản lý môitrường y tế, Bộ Y tế; Cục Đường thủy nội địa, Bộ Giao thông Vận tải; Cục Cảnhsát đường thủy, Bộ Công an; Tổng Cục Thể dục thể thao, Bộ Văn hóa Thể thao
176/KHLT/BVCSTE-MT-CĐTNĐ-C68-TCTDTT-và Du lịch; Vụ Công tác học sinh sinh viên, Bộ Giáo dục 176/KHLT/BVCSTE-MT-CĐTNĐ-C68-TCTDTT-và Đào tạo; Hội đồng
Trang 14Đội Trung ương, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Ban Giađình Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Trung tâm Dân số - Gia đình - Trẻ
em, Trung ương Hội Nông dân về Kế hoạch liên tịch phòng, chống đuối nước ởtrẻ em giai đoạn 2012-2015;
- Thông tư 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính hướngdẫn Nghị định 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ;
- Công văn 664/BGDĐT-CTHSSV ngày 09/02/2010 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc triển khai công tác phòng chống đuối nước và thí điểm dạy bơitrong trường học giai đoạn 2010-2015;
- Công văn 3341/BGDĐT-CTHSSV ngày 21/5/2013 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc tăng cường công tác phòng, tránh tai nạn do đuối nước cho trẻ
em, học sinh, sinh viên;
- Công văn 1761/BGDĐT-CTHSSV ngày 21/4/2016 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền phòng tránh tai nạnthương tích và đuối nước cho trẻ em, học sinh;
- Chỉ thị 1572/CT-BGDĐT ngày 12/5/2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo vềviệc tăng cường các giải pháp phòng, chống tai nạn thương tích, đuối nước chotrẻ em, học sinh, sinh viên;
1.3.Các khái niệm
1.3.1 Khái niệm kỹ năng
1.3.1.1 Kỹ năng
Kỹ năng là một vấn đề phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau, về vấn
đề này Theo L Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: Kỹ năng là sự thựchiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cáchlựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiệnnhất định Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được vàvận dụng đưng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kếtquả Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hànhđộng mà phải vận dụng vào thực tế
Trang 15A.U.Pêtrôpxki: Kỹ năng là sự vận dụng tri thức đã có thể lựa chọn và thựchiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đặt ra.
Theo quan điểm của P.A.Ruđic: Kỹ năng là động tác mà cơ sở của nó là sựvận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hìnhthức vận động cụ thể
Theo quan điểm của K.K.Platônôp: Kỹ năng là khả năng của con ngườithực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinhnghiệm cũ
Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả trithức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện nhữngnhiệm vụ tương ứng”
Theo G.S.TSKH Thái Duy Tuyên, kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức tronghoạt động Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành,thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt racho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kỹ năng luôn luôn đượckiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằmvào một mục đích nhất định
Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: Kỹ năng là năng lựccủa con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quytrình
- Từ khái niệm trên cho thấy rằng:
+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng Tri thức ở đây baogồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động
+ Kỹ năng là sự chuyển hoá tri thức thành năng lực hành động của cá nhân.+ Kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất địnhnhằm đạt được mục đích đã đặt ra
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kỹ năng một cách chung nhất: Kỹ năng
là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựachọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt đượcmục đích đề ra
Trang 161.3.1.2 Kỹ năng sống
Có lẽ chúng ta đã nghe rất nhiều về cụm từ “kỹ năng sống” và “giáo dục kỹnăng sống cho trẻ” Nhưng bạn đã thực sự hiểu kỹ năng sống là gì chưa? Hiệnnay có khá nhiều quan niệm về kỹ năng sống Tùy từng góc nhìn khác nhau,người ta có những quan niệm về kỹ năng sống khác nhau:
Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO): Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chứcnăng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày - đó là những kỹ năng cơ bản như :
kỹ năng đọc, viết, làm tính,
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý
xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân cần có để tương tác với những người khácmột cách hiệu quả hoặc ứng phó với những vấn đề hay những thách thức củacuộc sống hàng ngày
Theo Tổ chức Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEFF): kỹ năng sống làtập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con ngườiđưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các
kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh
và có hiệu quả
- Theo thuyết hành vi: Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lí xã hội liênquan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi làmcho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và tháchthức của cuộc sống
Con người cần có những kỹ năng nhất định để sống (tồn tại và phát triển)khi xem xét nó trong mối quan hệ: Con người với chính bản thân mình; Conngười với tự nhiên và Con người với các mối quan hệ xã hội Dù nhìn từ góc độnào, các kỹ năng sống đều nhằm giúp người học chuyển dịch kiến thức từ nhữngđiều đã biết, đã nghĩ, đã học được trong sách vở, kể cả những thái độ, tư tưởng,tình cảm mới chỉ có được dưới dạng tiềm năng trong mỗi cá thể, trở thànhnhững hành động trong thực tế theo cách làm hiệu quả, mang tính chất xâydựng, nhằm giúp mỗi người có thể phát triển hài hòa, góp phần xây dựng xã hội
Trang 17lành mạnh, phát triển bền vững Kỹ năng sống không phải năng lực cá nhân bấtbiến trong mọi thời đại mà cá nhân đó sống Bởi vậy kỹ năng sống vừa mangtính cá nhân, vừa mang tính dân tộc - quốc gia, vừa mang tính xã hội toàn cầu.Tóm lại: Kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khảnăng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phótích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Như vậy, kỹ năng sống hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức,thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tínhchất xây dựng Chính vì vậy mà ngay từ giai đoạn mầm non, trẻ cần được trang
bị kỹ năng sống để định hướng phát triển một cách tốt nhất
Vậy thế nào là Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh?
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, xâydựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cựctrên sơ sở giúp HS có thái độ , kiến thức, kỹ năng, giá trị cá nhân thích hợp vớithực tế xã hội Mục tiêu cơ bản của giáo dục KNS là làm thay đổi hành vi củahọc sinh chuyển từ thói quen thụ động , có thể gây rủi ro dẫn đến những hậu quảtiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả đểnâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển xã hội bền vững.Giáo dục KNS còn mang ý nghĩa tạo nền tảng tinh thần để HS đối mặt vớicác vấn đề từ hoàn cảnh , môi trường sống cũng như phương pháp hiệu quả đểgiải quyết các vấn đề đó
Từ những phân tích về kỹ năng sống và mục tiêu của giáo dục KNS, có thể
rút ra quan niệm về giáo dục KNS như sau: “Giáo dục kỹ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học
có cả kiến thức, thái độ, kỹ năng thích hợp”.
1.3.1.3 Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục KNS nhằm giúp trẻ:
- Có kỹ năng để tự bảo vệ trước những vấn đề xã hội có nguy có ảnh hưởngtới cuộc sống khỏe mạnh và an toàn của các em (lạm dụng ma túy và các chất
Trang 18gây nghiện, quan hệ tình dục sớm và tình trạng mang thai sớm ở trẻ chưa thànhniên, nguy cơ bị lạm dụng tình dục các hoạt động băng nhóm phạm pháp, nguy
cơ lây nhiễm HIV/AIDS,,,) Giúp trẻ phòng ngừa những hành vi nguy có có hạicho sức khỏe và sự phát tiển của các em
- Làm chủ bản thân, có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước nhữngtình huống khó khăn trong giao tiếp hằng ngày của các em
- Rèn luyện cách sống có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình vàcộng đồng khi các em lớn lên trong xã hội hiện đại
- Mở ra cho trẻ những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tincũng như giúp trẻ tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề củacuộc sống
1.3.1.4 Tầm quan trọng và lợi ích của giáo dục kỹ năng sống
- Tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống
Mục tiêu 3 của Chương trình hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người
đã yêu cầu các nước phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trìnhgiáo dục KNS phù hợp Bởi ví, có kiến thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo50% sự thành công, 50% còn lại là những kỹ năng sống
Giáo dục KNS là cầu nối giúp con người biến kiến thức thành những hànhđộng cụ thể, những thói quen lành mạnh Người có kỹ năng sống là những ngườiluôn vững vàng trước khó khăn, thử thách, họ thường thành công hơn trong cuộcsống, luôn yêu đời và luôn làm chủ được cuộc sống của mình
Đối với trẻ chưa thành niên, giáo dục KNS có tầm quan trọng đặc biệt, bởi lẽ:
- Ở lứa tuổi này trẻ phát triển rất nhanh chóng về tâm sinh lí Bên cạnh sựphát triển nhanh chóng về thể chất thì óc tò mò, xu thế thích những cái mới lạ,thích được tự khẳng định mình, thích làm người lớn, dễ hành động bột phát, nhucầu giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi… cùng phát triển Do thiếu kinh nghiệmsống và suy nghĩ còn nông cạn, cảm tính nên các em có thể ứng phó không lànhmạnh trước những áp lực trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là áp lực tiêu cực
từ bạn bè và người xấu như: sa vào các tệ nạn xã hội, phạm pháp, tự vẫn, hoặc
có những hành vi bạo lực với người khác
Trang 19- Ngày nay sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực xã hôi cũng có tácđộng lớn đối với trẻ chưa thành niên Bên cạnh những mặt tích cực, thì nhữngảnh hưởng tiêu cực của các cơ chế thị trường, của sự bùng nổ thông tin, của sự
du nhập lối sống thực dụng… đã tác động mạnh mẽ đếncác em Nếu không đượctrang bị các kỹ năng sống cần thiết và có bản lĩnh vững vàng thì các em dễ trởthành nạn nhân của tình trạng lạm dụng hay bạo lực, căng thẳng, mất lòng tinmặc cảm Mất lòng tin, sự mặc cảm làm các em không muốn tìm kiếm sự giúp
đỡ tích cực của bạn bè cùng lứa tuổi hay của người lớn mà hành động theo cảmtính của mình
- Những thay đổi về kinh tế - xã hội cững ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sốnggia đình – tế bào xã hội Do đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển củatrẻ em Một số gia đình mải mê với công việc của mình không có điều kiện đểquan tâm, chăm sóc con cái một cách đầy đủ nhất là về mặt tinh thần, khiếnnhiều trẻ rơi vào tình trạng bị sao nhãng, bị bỏ rơi Ở một số gia đình thiếu sựhiểu biết, chia sẻ lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái dẫn đến những hiểu lầm, căngthẳng và trẻ tìm đến những bạn bè mà chúng cho là có thể tìm lời khuyên Một
số trẻ do gia đình khó khăn phải lang thang kiếm phụ giúp gia đình Tỉ lệ li hôngia tăng, bạo lực gia đình , bố mẹ vướng vào các tệ nạn xã hội… đã khiến nhiềutrẻ em bị bỏ rơi, bị khủng hoảng tinh thần một cách nặng nề
Do đó, việc giáo dục KNS là hết sức quan trọng để giúp trẻ rèn luyện hành
vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng , có khả năng ứng phótích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn bècùng trang lứa, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thể chất và tinhthần của các em, giúp các em biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp trong các tìnhhuống của cuộc sốn Nó giúp tăng cường khả năng tâm lí xã hội của các em, khảnăng thích ứng và giúp các em có cách thức tích cực để đối phó với những tháchthức trong cuộc sống
Như vậy, giáo dục KNS có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác giáodục Bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI mà UNESCO đưa ra thực chất cũng làtiếp cận KNS, nêu lên những vấn đề chủ chốt mà mỗi cá nhân cần được trang bị
Trang 20để có một cuộc sống tốt đẹp cả về vật chất và tinh thần, đó là: Học để biết, học
để làm, Học để làm người và Học để chung sống”
- Lợi ích của giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục KNS cho trẻ sẽ mang lại những lợi ích sau đây:
- Các chương trình giáo dục KNS cho trẻ em ngoài nhà trường góp phầngiải quyết các các vấn đề xã hội bức xúc với trẻ em theo phương pháp có sựtham gia của trẻ Nó giúp các em từng bước khôi phục lòng tự trọng, sự tintưởng ở người khác và có sự chuyển đổi tích cực về hành vi
- Giáo dục KNS giúp trẻ chưa thành niên trong và ngoài nhà trường có cáchsuy nghĩ, thái độ và hành vi thích cực, đặc biệt tăng cường kỹ năng giao tiếphiệu quả giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với ngươi lớn Đồng thời giáo dục KNS giúpcác em có kỹ năng phân tích vấn đề và tình huống, có thái độ tự khẳng định và
có quyết định đúng đắn Kỹ năng và thái độ tích cực mà trẻ hình thành được sẽ
có ý nghĩa quan trọng về sau này khi các em trở thành người lớn
Trang 21* Lợi ích về mặt văn hóa – xã hội
- Giáo dục KNS thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực và dovậy sẽ giảm bớt tệ nạn xã hội Như vậy, giáo dục KNS giúp nâng cao chất lượngcuốc sống và giảm các vấn đề xã hội
- Giáo dục KNS có giá trị đặc biệt đối với thiếu niên đang lớn lên trong một
xã hội có nền văn hóa đa dạng, nền kinh tế phát triển và thế giới là một mái nhàchung
* Lợi ích về kinh tế - chính trị
- Giáo dục KNS nhằm góp phần hình thành những phẩm chất mà các nhàkhoa học, kinh tế và chính trị trong tương lai cần có
- Giáo dục KNS giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền của thanhthiếu niên, giúp họ xác định được nghĩa vụ của mình đối với bản thân mình đốivới, gia đình và xã hội góp phần củng cố ổn định nền chính trị của quốc gia
1.3.1.5 Quan niệm giáo dục kỹ năng sống
Kỹ năng sống bao gồm ba khái niệm kỹ năng cơ bản như sau: kỹ năng nềntảng, kỹ năng tâm lí xã hội và kỹ năng giao tiếp ứng xử Trong mỗi nhóm kỹnăng nêu trên lại gồm nhiều kỹ năng khác, ví dụ như kỹ năng nhận thức, kỹnăng đương đầu với cảm xúc, kỹ năng xử lí tình huống, kỹ năng tương tác, kỹnăng làm việc theo nhóm, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng đạt mục tiêu, kỹ năngkiên định
Giáo dục KNS có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từthói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thànhnhững hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả để nâng cao chất lượngcuộc sống của cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho xã hội Đồng thờigiáo dục KNS cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm vụ giáo dục nhân cáchtoàn diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hội, theo các loại hình hoạt động của conngười, theo cả bốn trụ cột trong giáo dục thế kỉ XXI : học để biết, học để làm,học để chung sống với mọi người, học để tự khẳng định mình) Thông qua quátrình dạy học và giáo dục vừa hướng tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lí xãhội để người học có thể vượt qua những thử thách của cuộc sống, vừa phát triển
Trang 22toàn diện kiến thức, thái độ, hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thôngminh và các lĩnh vực trí tuệ xúc cảm, trí tuệ xã hội.
Theo quan niệm mới, trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môitrường sống, đồng thời cũng là tiền đề cho sự tương tác ấy Trong khi tương tácvới môi trường sống, đòi hỏi con người phải có sự tương tác với môi trường xãhội Việc cùng sống và hoạt động trong cộng đồng với nhiều người khác đòi hỏiphải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, đồng thời sự chuẩn đoán phù hợp vềhành động của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và ra quyết định vềhành động của bản thân Những yêu cầu này đòi hỏi con người phải có mộtthành tố trí tuệ khác nữa ngoài trí thông minh (IQ) và trí sáng tạo (CQ), đó là trítuệ xã hội (Social Int) Trí tuệ xã hội là dạng trí tuệ được định nghĩa là năng lựchoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác Nódiễn ra trong hoạt động cùng với người khác, với mục đích, tâm lý và tính xã hộinhất định
1.3.1.6 Sự cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Tiểu học
Tại sao phải rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ?
Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự phát triển kinh tế xã hội, của khoa học kĩ thuật
ở trình độ cao, do đó tri thức và giáo dục được đưa lên hàng đầu Yêu cầu của xãhội đối với con người ngày càng cao Con người trong xã hội hiện đại không chỉphải học để có tri thức, học để có giá trị đạo đức, thẩm mĩ, nhân văn đúng đắn,
mà phải học để có những kỹ năng sống nhất định
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại Chính
vì vậy, việc trang bị kỹ năng sống cho con người để họ có thể thích ứng với sựphát triển nhanh chóng của xã hội cũng cần được quan tâm và chú trọng ở mọicấp học Nó có quan hệ mật thiết đối với sự phát triển toàn diện của con người,
cụ thể là :
- Trong quan hệ với bản thân: Giáo dục KNS giúp con người có những kiếnthức, hành động cụ thể, lành mạnh để luôn vững vàng trước khó khăn, thử thách,làm chủ cuộc sống của bản thân
Trang 23-Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục KNS giúp HS biết quý trọng ông bà,hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi ốm đau, động viên, an
ủi khi gia đình có chuyện chẳng lành
- Trong quan hệ với xã hội: Giáo dục KNS góp phần thúc đẩy những hành
vi mang tính xã hội tích cực, giúp con người biết cách ứng xử đứng đắn với bảnthân, với cộng đồng, với môi trường tự nhiên xung quanh Do đó, góp phầngiảm bớt các vấn đề về sức khỏe, về tệ nạn xã hội, đồng thời giải quyết hài hòamối quan hệ giữa nhu cầu với quyền lợi của con người, của công dân
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại trên tất cả các lĩnh vực đã cótác động to lớn đến cuộc sống của mỗi gia đình theo cả hai chiều tích cực và tiêucực, điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của HS lứa tuổi Tiểu họcnói riêng, ở mọi bậc học nói chung Một số gia đình mải mê với công việc mà bỏ
bê, sao nhãng tới việc quan tâm, chăm sóc con cái khiến trẻ bị thiếu hụt về tinhthần; một số khác lại thiếu sự hiểu biết, chia sẻ với nhau giữa bố mẹ và con cáibuộc chúng phải tìm đến với bạn bè mà chúng cho rằng có thể tìm thấy lờikhuyên; hoặc có một số gia đình do hoàn cảnh khó khăn nên trẻ phải lang thangkiếm sống Tỉ lệ ly hôn gia tăng, bạo lực gia đình, bố mẹ vướng vào các tệ nạn
xã hội ngày càng phổ biến đã khiến nhiều trẻ bị bỏ rơi và bị khủng hoảng tinhthần
Lứa tuổi HSTH bao gồm trẻ em có độ tuổi 6-7 tuổi đến 11- 12 tuổi MỗiHSTH là một thực thể hồn nhiên với một nhân cách đang hình thành, đang pháttriển Mỗi em đều có những đặc điểm chung của lứa tuổi Tiểu học nhưng cũng
có những đặc điểm riêng, từ cá tính, từ tâm lí, trí tuệ, thể chất cho đến nhữngnhu cầu khả năng tiềm ẩn Nhà trường cần có chiến lược khơi dậy và phát triểnđầy đủ khả năng đó Theo chương trình mới, GV tập trung vào dạy cách học, HShọc cách học, cách nhận biết nhu cầu và học phương pháp tự học GV coi trọng
và khuyến khích HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tự phát hiện và giảiquyết vấn đề của bài học HS, do đó có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức: trước hếtbiết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập trên lớp, sau đó vận dụng sáng tạo
Trang 24vào việc giải quyết một cách hợp lí các tình huống diễn ra trong đời sống củabản thân, gia đình và cộng đồng theo cách riêng của mình.
Ở lứa tuổi này, hành vi của các em dễ có tính tự phát, tính cách của các emthường biểu hiện thất thường, bướng bỉnh Phần lớn các em có nhiều phẩm chấttốt như vị tha, ham hiểu biết, hiếu học, hồn nhiên, chân thật các em sống hồnnhiên, cả tin trong các mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa, với người lớn, đặcbiệt với thầy cô giáo Đến cuối bậc học các em dần chuyển sang lứa tuổi vịthành niên, vì thế tính cách có sự thay đổi lớn như có xu hướng tò mò, thíchkhám phá những điều mới lạ
Đối với sự phát triển của HSTH, những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tếthị trường, của sự bùng nổ thông tin dẫn đến sự du nhập của lối sống thực dụng,buông thả đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến các em Do đó, nếu không đượctrang bị các kỹ năng sống cần thiết để có lối sống lành mạnh, niềm tin, bản lĩnhsống vững vàng thì các em có thể bị mắc vào những cạm bẫy của lối sống tiêucực, điều đó dễ làm cho các em trở nên căng thẳng, bi quan, tự ti, mặc cảm vàhành động theo cảm tính của bản thân
Như vậy, việc giáo dục KNS có vai trò rất quan trọng đối với lứa tuổiHSTH, nhằm giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, giađình và cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực Trước sức ép của cuộc sống
và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn bè cùng trang lứa, giáo dục KNS giúp trẻbiết ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống Nó giúp tăng cườngkhả năng tâm lí xã hội của các em, giúp các em sống khỏe mạnh về thể chất, tinhthần và xã hội Nó sẽ góp phần tạo ra nền tảng cho cả tiến trình phát triển về saucủa các em
Rèn luyện KNS sẽ giúp bạn nhanh chóng hoà nhập và khẳng định vị trí củamình trong tập thể, mà xa hơn là một cộng đồng, xã hội Do đó, cho dù bạn cótài giỏi, thông minh đến đâu nhưng thiếu kỹ năng sống, bạn cũng không thể tiếpcận với môi trường xung quanh, hòa nhập cũng như khẳng định mình
Chính vì vậy, việc rèn luyện KNS cho trẻ là điều rất cần thiết Việc hìnhthành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là yếu tố quyết định đến quá
Trang 25trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ Khi xảy ra vấn đề nào
đó, nếu không được trang bị kỹ năng sống, trẻ sẽ không đủ kiến thức để xử lýcác tình huống bất ngờ Vì thế, rèn luyện KNS sẽ giúp trẻ sớm có ý thức làm chủbản thân, sống tích cực và hướng đến những điều lành mạnh cho chính mìnhcũng như xã hội
Bao giờ thì nên bắt đầu dạy cho trẻ kỹ năng sống?
Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã được học kỹ năng sống Từ lúc biếtnói, cha mẹ đã dạy cho trẻ ngôn ngữ giao tiếp như “chào ông, chào bà, ạ cô, ạchú,…” Đó chính là kỹ năng giao tiếp đầu đời mà các em được rèn luyện Lớnlên, khi trẻ đến trường đến lớp, mối quan hệ xã hội được mở rộng bởi ngoài giađình, các em còn được làm quen, tiếp xúc với bạn bè, thầy cô Đây là giai đoạn
mà trẻ cần được rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đối phó với thực tế và môitrường xung quanh Các em cần được trang bị các kỹ năng cần thiết khác nhưrèn luyện và phát triển thể chất, tự nhận thức bản thân, xác định điểm mạnh,điểm yếu của bản thân để hoàn thiện nhân cách,… hay các kỹ năng xã hội khácnhư: giao tiếp, hợp tác, làm việc nhóm,… Do đó, nếu không có sự trang bị tốt về
kỹ năng sống cho trẻ hay có sự định hướng không đúng đắn sẽ ảnh hưởng khôngnhỏ đến sự phát triển của các em
Vấn đề bộc lộ kỹ năng sống ở mỗi đứa trẻ là khác nhau tùy theo hoàn cảnh
và độ tuổi Tuy nhiên, để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, khi
ở độ tuổi quan trọng như mẫu giáo, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị bước vào lớp
1, trẻ cần được trang bị kỹ năng sống Gia đình và nhà trường cần có sự phốihợp chặt chẽ để giáo dục kỹ năng sống cơ bản cho trẻ một cách khoa học và cóchiến lược
Như vậy, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, việc trang bị cho các em HSnhững kỹ năng sống là một việc rất quan trọng và cần thiết Với mục đích xâydựng môi trường giáo dục thân thiện, giáo dục thế hệ trẻ tương lai những kiếnthức kỹ năng vững chắc để các em bước vào cấp học mới tự tin và năng độnghơn
1.3.1.7 Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học
Trang 26- Đặc điểm về sự phát triển của các quá trình nhận thức
Do có sự thay đổi về nội dung và tính chất của hoạt động chủ đạo lên nhậnthức nói chung và các quá trình nhận thức riêng lẻ đều có sự thay đổi cơ bản:
* Sự phát triển của tri giác:
- Ưu điểm: Tri giác của HSTH có sự thay đổi đáng kể, từ chỗ tri giác chungchung, đại thể ít đi vào chi tiết tới tri giác có phân tích có tổng hợp
- Hạn chế: Tính trực quan vẫn chiếm vị trí rõ nét trong quá trình tri giác, trigiác thời gian kém vẫn cứ lẫn lộn hôm qua, hôm kia, ngày mai, ngày kia, ngàyxưa…những đối tượng quá lớn hay quá nhỏ thì tri giác kém, khả năng phân tíchkhi tri giác kém nên các em hiếm khi phân biệt những hình thù giống nhau
* Sự phát triển của chú ý:
- Ưu điểm: Chú ý có chủ định đang phát triển, các em được rèn luyện phẩmchất của chú ý
- Hạn chế: Chú ý không chủ định vẫn chiếm ưu thế, các phẩm chất của chú
ý chưa phát triển mạnh, sức tập trung chú ý còn non nớt dễ bị phân tán Đặc biệt
ở lứa tuổi này các em rất mẫn cảm nên nhứng ấn tượng trực quan quá mạnhthường là kìm hãm khả năng phân tích và khái quát ở các em, khối lượng chú ývùng còn nhiều hạn chế, khả năng phân tích chú ý còn kém
* Sự phát triển tưởng tượng:
- Ưu điểm: Lứa tuổi HSTH là lứa tuổi có sự phát triển phong phú về tưởngtượng “Ở lứa tuổi này hòn đất cũng biến thành con người, đây là lứa tuổi rấtgiàu trí tưởng tượng” - Tố Hữu
Gần về cuối cấp tưởng tượng gắn với hiện thực hơn, tưởng tượng sáng tạophát triển cao hơn
Trang 27- Hạn chế: Tưởng tượng còn mang tính trực quan, cụ thể về mặt cấu tạobiểu tượng trong tưởng tượng thì chủ yếu là các em bắt chước hay lặp lại, thayđổi chút ít, chủ đề tưởng tượng còn nghèo nàn, tản mạn và ít có tổ chức.
* Sự phát triển của tư duy:
- Ưu điểm: Tư duy trừu tượng bắt đầu hình thành
- Hạn chế: Năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa còn yếu, tư duy cònmang tính xúc cảm, trẻ xúc cảm sinh động với tất cả những điều suy nghĩ
- Những đặc điểm về nhân cách nổi bật của học sinh Tiểu học
* Đời sống tình cảm:
- Đây là lứa tuổi dễ xúc cảm, xúc động và khó kiềm chế xúc cảm của mình.Các em rất dễ xúc động ở chỗ các em yêu mến thiên nhiên, động vật Các emkhó kiềm chế xúc cảm bản thân, chưa biết kiểm tra những biểu hiện bên ngoàicủa tình cảm
- Những xúc cảm của lứa tuổi này thường gắn liền với những tình huống cụthể, trực tiếp mà ở đó các em hoạt động hoặc gắn với những đặc điểm trực quan
- Tình cảm ở các em có nội dung phong phú hơn, bền vững hơn lứa tuổitrước Thể hiện ở tình cảm đạo đức, tình cảm trí tuệ và tình cảm thẩm mĩ
- Tình cảm ở lứa tuổi này còn mong manh chưa bền vững, chưa sâu sắc
* Đặc điểm về ý chí và nhân cách:
- Ý chí: Các phẩm chất ý chí đang được hình thành và phát triển, tuy nhiênnhững phẩm chất này chưa ổn định và chưa trở thành các nét tính cách Nănglực tự chủ còn yếu, đặc biệt các em thiếu kiên nhẫn, chóng chán, khó giữ trật tự
- Tính cách: Các em đang được hình thành trong mọi hoạt động học tập, laođộng, vui chơi Cụ thể ở các em hình thành những nét tính cách mới như tínhhồn nhiên, tính hay bắt chước những hành vi, cử chỉ của người lớn, tính hiếuđộng, tính trung thực và tính dũng cảm
1.3.1.8 Vai trò của môn Tự nhiên và Xã hội đối với học sinh Tiểu học
Tự nhiên - Xã hội là môn học cung cấp và trang bị cho HS những kiến thứcban đầu cơ bản về tự nhiên và xã hội trong cuộc sống hằng ngày đang diễn raxung quanh các em Giúp các em có một cách nhìn khoa học, phương pháp tiếp
Trang 28cận khoa học phù hợp trình độ các em về cuộc sống xung quanh, tránh cho HSnhững hiểu biết lan mạn, đại khái, hình thức tồn tại bên ngoài sự vật hiện tượng.Ngoài việc cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về sức khỏe, conngười, về sự vật – hiện tượng đơn giản trong tự nhiên – xã hội, bộ môn Tự nhiên
và Xã hội còn bước đầu hình thành cho các em các kỹ năng như:
- Tự chăm sóc cho bản thân, ứng xử và đưa ra các quyết định hợp lý trongđời sống để phòng tránh một số bệnh tật, tai nạn
- Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, diễn đạt những hiểu biếtcủa mình (bằng lời nói hoặc hình vẽ) về các sự vật – hiện tượng đơn giản trong
Tự nhiên – Xã hội
- Hình thành và phát triển ở HS những thái độ, hành vi như: có ý thức thựchiện các quy tắc giữ gìn vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng,yêu thiên nhiên, gia đình trường học, quê hương
Cụ thể:
1.Về kiến thức:
Giúp học sinh lĩnh hội những kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
* Con người: HS có những hiểu biết cơ bản về con người ở các phươngdiện:
+ Sinh học: sơ lược về cấu tạo, chức phận và sự hoạt động của các cơ quantrong cơ thể người và mối liên hệ giữa con người và môi trường
+ Nhân văn: Tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người, các thành quả laođộng, sáng tạo của con người, mối quan hệ giữa con người và con người tronggia đình và cộng đồng
* Sức khoẻ: Vệ sinh cá nhân, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường,phòng tránh một số bệnh tật và tai nạn, các vấn đề về sức khoẻ tinh thần
* Thế giới vật chất xung quanh:
+ Giới tự nhiên vô sinh: các vật thể, các chất
+ Giới tự nhiên hữu sinh: động vật, thực vật
Ngoài những tri thức cơ bản trên, học sinh còn được cung cấp một số vấn
đề về dân số, môi trường
Trang 292 Về kỹ năng:
Hình thành và phát triển cho HS các kỹ năng như:
- Biết phân tích, so sánh, đánh giá một số mối quan hệ đơn giản, những dấuhiệu chung và riêng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội
- Biết giữ vệ sinh cá nhân, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường, biếtphòng tránh một số bệnh tật và tai nạn
- Biết vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày
3 Về thái độ:
Hình thành và phát triển ở HS thái độ và thói quen như:
-Yêu thiên nhiên, đất nước, con người, có ý thức bảo vệ môi trường tựnhiên, môi trường sống
- Hình thành thái độ và cách ứng xử đúng đắn đối với bản thân, gia đình,cộng đồng Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân,gia đình và cộng đồng, sống hoà hợp với môi trường và cộng đồng
1.3.2 Khái niện kỹ năng phòng chống đuối nước
1.3.2.1 Đuối nước
Đuối nước (chết đuối) được định nghĩa là quá trình bị ngạt khi ở trong
chất lỏng Nó được phân loại theo kết quả sau: tử vong, các vấn đề sức khỏeđang diễn ra, và không có vấn đề về sức khỏe nào diễn ra Đuối thường là nhanhchóng và im lặng, mặc dù trước đó nó sẽ tạo ra sự căng thẳng mà dễ thấy hơntrên người bị chìm
Nói chung, trong giai đoạn đầu của quá trình đuối nước, rất ít nước đi vàophổi: một lượng nhỏ nước xâm nhập vào khí quản gây ra một cơn co thắt cơ bắp
để chặn đường hô hấp và ngăn không cho cả không khí lẫn nước đi vào khí quảncho đến khi người đó bất tỉnh Điều này có nghĩa là một người chết đuối khôngthể kêu la hoặc kêu gọi sự giúp đỡ, hoặc tìm kiếm sự chú ý, vì họ không thể có
đủ không khí Phản ứng chết đuối bản năng là tập hợp cuối cùng của phản xạ tựchủ trong 20–60 giây trước khi chìm dưới nước, và với mắt người chưa đượcđào tạo có thể trông giống như hành vi khá an toàn bình tĩnh Nhân viên cứu hộ
và những người khác được huấn luyện trong giải cứu học cách nhận ra người
Trang 30chết đuối bằng cách quan sát những chuyển động này Nếu quá trình này không
bị gián đoạn, việc mất ý thức do thiếu oxy được tiếp theo nhanh chóng bằngviệc ngừng tim Ở giai đoạn này, quá trình này vẫn có thể đảo ngược bằng cáchcứu hộ nhanh chóng và hiệu quả kèm sơ cứu Tỷ lệ sống phụ thuộc mạnh vàothời gian bị ngập
1.3.2.2 Phòng chống đuối nước
Như chúng ta đã biết hàng năm có rất nhiều tai nạn đuối nước xảy ra, cướp
đi nhiều sinh mạng Đặc biệt tỉ lệ tử vong do đuối nước ở lứa tuổi trẻ em lànhiều nhất Theo báo cáo toàn cầu của WHO tại Việt Nam mỗi năm có khoảng
6400 người tử vong do đuối nước trong đó mỗi ngày có khoảng 20 trẻ em bịđuối nước Hiện nay khi sắp bước sang mùa hè nguy cơ xảy ra tai nạn đuối nước
là rất cao Vậy đuối nước là gì, nguyên nhân dẫn đến đuối nước và cách phòngtránh ra sao? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu
Vì sao đuối nước thường dẫn đến tử vong ?
Đuối nước là tình trạng nước tràn vào đường hô hấp làm cho các cơ quan bịthiếu oxy và các chức năng sống của cơ thể ngừng hoạt động Hay nói cáchkhác: Chết đuối là tình trạng thiếu oxy do cơ thể bị chìm trong nước
- Người ta thống kê thấy có khoảng 4/5 trường hợp chết đuối mà trong phổi
có nước và 1/5 còn lại chết đuối nhưng phổi không có nước
- Sở dĩ có tình trạng chết đuối mà trong phổi không có nước là do ngườikhông biết bơi bất ngờ bị chìm trong nước, nạn nhân hoảng sợ khiến các phản
xạ bị rối loạn làm cơ thể bị chìm, phản xạ co cơ nắp thanh quản và đóng khíquản lại làm nạn nhân không thở được dẫn đến thiếu oxy não và bất tỉnh Từ chỗnắp thanh quản bị đóng nên nước cũng không vào phổi được Đó cũng được gọi
Trang 31Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến xảy ra tai nạn đuối nước ở trẻ.
Nhưng cái cốt lõi vẫn là do sự chủ quan, thiếu sự quản lý cũng như còn quá lơ làtrong việc trông nom trẻ của những người lớn trong gia đình mà ra
Thực tế cho thấy nhiều gia đình, nhất là những gia đình ở nông thôn thường
có thói quen quản lý lỏng lẻo trong việc trông nom trẻ
Ngoài giờ trẻ đến trường, nhiều cha mẹ thường để cho trẻ tự do vui chơicùng với bạn bè trong xóm Thậm chí, có cha mẹ không màng đến chuyện concái mình đang làm gì, đi đâu không cần biết, miễn sao đến giờ đi học thì trẻ đihọc đều đặn, hay đến giờ cơm thì trẻ có mặt ở nhà để ăn cơm là được Kkhôngcần biết, trẻ đang ở đâu, chơi với ai và chơi như thế nào?
Điều này rất nguy hiểm Vì đây chính là cơ hội rất thuận lợi để trẻ có dịp rủ
rê bạn bè cùng vui chơi
Một điều đáng quan tâm nữa, nhiều phụ huynh còn quá chủ quan khi để trẻ
tự vui chơi Điển hình như việc để trẻ tự ý tắm sông Rủ bạn bè đi tắm sông làhoạt động khá phổ biến của trẻ em ở vùng nông thôn Bởi, nơi đây có địa hìnhthuận lợi Vả lại, ở khu vực nông thôn còn thiếu thiết bị phục vụ cho hoạt độngvui chơi của trẻ
Ngoài giờ học, các em không biết làm gì để vui chơi Trong khi đó, ở nôngthôn có sẵn sông, rạch, suối vì thế, nhiều trẻ chọn cách rủ rê bạn bè đi tắmsông để giải trí là điều tất nhiên Trong khi đó, nhiều gia đình cho rằng trẻ đãbiết bơi thì cứ mặc cho trẻ tự do tắm bất cứ nơi nào mà không cần phải quản lý,trông coi Đến khi xảy ra sự cố thì chuyện đã quá muộn
Đối với trẻ, các em thường có xu hướng thích chơi với nước, nhất là vàothời điểm mùa khô, thời tiết nắng nóng Như chúng ta biết, với bản tính vốn cómột đứa trẻ, các em thường rất là hiếu động Khi vui chơi các em thích hànhđộng theo suy nghĩ bột phát của mình trong khi chưa nhận thức được sự an toàncho bản thân và bạn bè, vì thế tai nạn xảy ra đối với trẻ là đều không tránh khỏi
Do đó, cha mẹ, những người lớn trong gia đình cần phải nêu cao tinh thầntrách nhiệm trong công tác phòng, chống tai nạn đuối nước ở trẻ Ngoài việc