Nền văn minh Ai Cập được hình thành và phát triển ngay từ thời kỳ đầu tiên.Lúc này mọi yếu tố như chữ viết, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, khoa học Ai Cập đãphát triển và hoàn thiện.. Tuy
Trang 1BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Trang 2M C ỤC L C ỤC
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA MỸ THUẬT 7
1.1 Khái niệm Mỹ thuật 7
1.2 Giới thiệu sơ lược khái quát lịch sử mỹ thuật thế giới 8
1.2.1 Giai đoạn từ 1100 TCN đến thế kỷ XVII 8
1.2.2 Giai đoạn từ thế kỷ XVII đến XIX 17
1.2.3 Thế kỷ XX đến nay 21
1.3 Giới thiệu khái quát lịch sử mỹ thuật Việt Nam 30
1.3.1 Mỹ thuật thời kỳ Phong kiến dân tộc độc lập 30
1.3.2 Mỹ thuật Việt nam từ 1885 đến 1945 40
1.3.3 Mỹ thuật Việt nam từ 1945 đến nay 45
1.4 Các loại hình trong mỹ thuật 55
1.4.1 Hội họa 55
1.4.2 Đồ họa 56
1.4.3 Điêu khắc 57
1.4.4 Các loại hình nghệ thuật đương đại 58
CHƯƠNG 2 KÝ HỌA VÀ CÁCH ĐIỆU 60
2.1 Ký họa 60
2.1.1 Khái niệm 60
2.1.2 Phương pháp ký họa 65
2.1.3 Ký họa động vật 72
2.2 Cách điệu 81
2.2.1 Khái niệm 81
2.2.2 Phương pháp cách điệu 83
2.2.3 Bài tập cách điệu 86
CHƯƠNG 3 TRANG TRÍ 90
3.1 Khái niệm và vai trò của trang trí 90
3.2 Bố cục trong trang trí 94
3.2.1 Một số nguyên tắc về bố cục trong trang trí 94
3.2.2 Các yêu cầu chung khi xây dựng bố cục trong trang trí 95
3.2.3 Các hình thức bố cục cơ bản 96
3.3 Họa tiết trang trí 100
3.4 Màu sắc trong trang trí 101
3.4.1 Một số hoà sắc cơ bản trong trang trí 101
3.4.2 Lưu ý khi sử dụng màu sắc trong trang trí 103
3.5 Phương pháp tiến hành một bài trang trí cơ bản 103
PTIT
Trang 33.5 Bài tập trang trí 107
3.5 1 Trang trí hình chữ nhật 107
3.5.2 Trang trí hình tròn 107
3.5.3 Trang trí đường diềm 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PTIT
Trang 4MỤC LỤC ẢNH
Hình 1-1 Xã hội nguyên thủy - ảnh minh hoạ 7
Hình 1-2 Các bích hoạ của Ai Cập Cổ Đại 9
Hình 1-3 Các tác phẩm gốm Hy Lạp cổ đại 11
Hình 1-4 Các hiệp sĩ đen và Vua Massile - tác phẩm thời trung cổ 13
Hình 1-5 Các tác phẩm mỹ thuật thời trung cổ 14
Hình 1-6 Tác phẩm bữa ăn cuối cùng (1495- 1498) của Leonardo Da Vinci 15
Hình 1-7 Tác phẩm nàng Monalisa (trái) và Đức mẹ Litta (phải) của tác giả Leonardo Da Vinci 16
Hình 1-8 Tác phẩm "chúa tạo ra Adam" của tác giả Michelangelo 16
Hình 1-9 tác phẩm điêu khắc tượng David (trái) và Pietta (phải) của Michelanggelo 17
Hình 1-10 Trường học Athen - tác giả Raphael Santi 17
Hình 1-11 Tác phẩm "Sự chiêm bái của các vị vua" tác giả Peter paul Rubens 18
Hình 1-12.Francisco de Goya - 1814 19
Hình 1-13 Bức tranh "Ấn tượng mặt trời mọc" - Monet 20
Hình 1-14 Tác phẩm Dã Thú "Điệu nhảy" - Matisse 22
Hình 1-15 Tác phẩm Lập thể "Những cô gái D Avigon" – Picasso 23
Hình 1-16 Juan Gris, tĩnh vật trái cây và Mandolin, 1919, tranh dầu trên vải bố 24
Hình 1-17 tác phẩm trừ tượng "Bố cục 8" - Kandinsky 26
Hình 1-18.Sự dai dẳng của thời gian - Dali 27
Hình 1-19 Tác phẩm Marilyn Diptych (1962) của nghệ sĩ Andy Warhol 29
Hình 1-20 Triển lãm nghệ thuật tối giản tại Anh 30
Hình 1-21 Chùa một cột (Phải) 31
Hình 1-22 Tượng hổ - Lăng Trần Thủ Độ (Phải) 32
Hình 1-23.Tượng quan âm nghì tay nghì mắt - Chùa Bút tháp 33
Hình 1-24 Đình Đình Bảng 34
Hình 1-25 Tượng ở chùa tây phương 35
Hình 1-26 Tượng Thánh Trấn Vũ ở đền Cư Linh 36
Hình 1-27 Cố đô Huế 37
Hình 1-28.Bên ngoài lăng Khải Định 38
Hình 1-29.Bên trong lăng Khải Định 39
Hình 1-30 Các tác phẩm của Tô Ngọc Vân : (Thiếu nữ bên hoa huệ (trái), Thuyền trên song hương Phải) 43
Hình 1-31 Các tác phẩm của Trần Văn Cẩn: (Em thúy (trái), Gội đầu (phải) 44
Hình 1-32.Chơi ô ăn quan và tác phẩm Bữa cơm mùa gặt - Nguyễn Phan Chánh 44
Hình 1-33 Trong vườn - Nguyễn Gia Trí 45
Hình 1-34.Giặc đốt làng tôi - Nguyễn Sáng 46
Hình 1-35 Bộ Đội nghỉ chân bên đồi - Tô Ngọc Vân 47
Hình 1-36 Nhớ một chiều tây bắc - Phan Kế An 47
Hình 1-37 Tát nước đồng chiêm - Trần Văn Cẩn 48
Hình 1-38 Kết nạp đảng ở điện biên phủ - Nguyễn Sáng 50
Hình 1-39 Công nhân cơ khí - Nguyễn Đỗ Cung 51
Hình 1-40 Các tác phẩm phố - Bùi Xuân Phái 53
Hình 1-41 Váy Cưới - Trương Tân 54
Hình 1-42 Tác phẩm sắp đặt và trình diễn của Hà Thị Hồng Ngân trong triển lãm phập phồng 55
Hình 1-43 Người đàn bà kỳ cục - Quintin Massys 55
Hình 1-44 Chân dung tự họa với cái tai bị cắt - Van Gogh 56
Hình 1-45.: tác phẩm của Andrew “Android" Jones - nguồn sưu tầm Designs.vn 57
Hình 1-46 Tác phẩm điêu khắc của patriciia Piccinini 57
Hình 1-47.Tác phẩm “đài phun nước" và tác giả 58
Hình 1-48 Tác phẩm trình diễn tại siêu thị của tác giả Trung Quốc 59
PTIT
Trang 5Hình 2-1 Một số tác phẩm ký họa nhanh 60
Hình 2-2 Một số hình mẫu và bài ký hoạ tham khảo 1 61
Hình 2-3 Một số hình mẫu và bài ký hoạ tham khảo 2 62
Hình 2-4 Một số hình mẫu và bài ký hoạ tham khảo 3 63
Hình 2-5 Ký họa thâm diễn của sinh viên khoa Đa Phương tiện – PTIT 64
Hình 2-6 Quy hình về khối cơ bản 65
Hình 2-7 Đẩy sâu chi tiết 66
Hình 2-8 lên đậm nhạt 67
Hình 2-9 Xác định khung xương 68
Hình 2-10 Xác định hình và khối 68
Hình 2-11 Xách định hình và quy sang khối 69
Hình 2-12 Hoàn thiện hình và khối 70
Hình 2-13 Phác các nét chính 70
Hình 2-14 Vẽ dang tổng quan 71
Hình 2-15 Đẩy sâu chi tiết 72
Hình 2-16 tác phẩm ký hoạ của sinh viên D15PT 73
Hình 2-17 các tác phẩm ký hoạ của sinh viên D15PT 74
Hình 2-18 Tác phẩm ký hoạ của sinh viên D15pt 76
Hình 2-19 Bài ký hoạ tham khảo 77
Hình 2-20 Bài ký hoạ tham khảo 78
Hình 2-21 Bài ký hoạ tham khảo 79
Hình 2-22 Bài ký hoạ tham khảo 80
Hình 2-23.Ứng dụng hình ảnh động vật cách điệu làm biểu tượng logo 81
Hình 2-24.Nhiều thương hiệu lớn cũng sử dụng hình ảnh cách điệu làm logo 81
Hình 2-25 Hình ảnh cách điệu trong hoạt hình 82
Hình 2-26 Giao diện web sử dụng hình ảnh cách điệu 82
Hình 2-27 Hình ảnh cách điệu trong TVC quảng cáo(trái) và trong game (phải) 83
Hình 2-28.Ứng dụng họa tiết cách điệu trong thời trang 83
Hình 2-29 Tìm tài liệu và ký họa 84
Hình 2-30 Bản ký họa 84
Hình 2-31.Bản cách điệu dựa trên ký họa 84
Hình 2-32 Bản ký họa 85
Hình 2-33 Bản ký họa dựa trên ký họa 85
Hình 2-34 Bản cách điệu nét 85
Hình 2-35.Từ bản cách điệu nét chuyển thể thành mảng 85
Hình 2-36 Bản cách điệu nét 86
Hình 2-37 Bản cách điệu mảng 86
Hình 2-38.Quá trình ký họa, cách điệu nét, cách điệu mảng và biểu trưng (khung đen) 86
Hình 2-39.Quá trình ký họa, cách điệu nét, cách điệu mảng và biểu trưng (khung đen) 86
Hình 2-40 Bài tham khảo cách điệu động vật 1 87
Hình 2-41 Một số bài cách điệu động vật tham khảo 2 87
Hình 2-42.Bài tham khảo cách điệu động vật 3 88
Hình 2-43 Một số bài tham khảo cách điệu động vật 4 88
Hình 2-44.Bài tham khảo cách điệu động vật và côn trùng 5 89
Hình 3-1.Đồ trang trí mỹ nghệ 91
Hình 3-2.Trang trí phục trang 91
Hình 3-3.Ứng dụng trang trí trong thiết kế nội thất 92
Hình 3-4 Ứng dụng trang trí trong sản phẩm công nghiệp 92
Hình 3-5 Ứng dụng trang trí trong sân khấu, truyền hình 93
Hình 3-6.Ứng dụng trang trí trong các poster, bìa sách báo 93
Hình 3-7 Trang trí giao diện website 94
Hình 3-8 bố cục đăng đối 96
PTIT
Trang 6Hình 3-9 Bài trang trí bố cục đăng đối 97
Hình 3-10 Bố cục đường diềm 98
Hình 3-11 Bố cục dàn trải 99
Hình 3-12 Bố cục tự do 100
Hình 3-13 Các họa tiết sử dụng trong trang trí phong phú và đa dạng 101
Hình 3-14.Hòa sắc nóng 101
Hình 3-15.Hòa sắc lạnh 102
Hình 3-16.Hòa sắc tương phản 102
Hình 3-17 Phác thảo hình bằng nét của sinh viên E13PT 104
Hình 3-18 Bước 1 Phác thảo nét 104
Hình 3-19 Phác thảo đậm nhạt của D14PT 105
Hình 3-20 Bước 2 phác thảo đậm nhạt 105
Hình 3-21 Bước 3 - phác thảo màu 105
Hình 3-22.Phác thảo màu 106
Hình 3-23.Một số bài trang trí của D13PT 107
Hình 3-24 Một sỗ bài vẽ trang trí của D13PT 108
Hình 3-25 bài trang trí tham khảo 108
Hình 3-26.Bài trang trí bố cục tự do tham khảo 109
Hình 3-27 Bài trang trí đường diềm tham khảo 110
Hình 3-28 bài trang trí tham khảo 111
Hình 3-29 Bài trang trí dàn trải tham khảo 112
Hình 3-30 Một số bài đối xứng tham khảo 113
Hình 3-31 bài tham khảo 114
Hình 3-32 Bài tham khảo 115
Hình 3-33 Bài tham khảo 116
Hình 3-34 Bài tham khảo 117
PTIT
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA MỸ THUẬT
1.1 Khái niệm Mỹ thuật
Trên thực tế có rất nhiều giả thuyết nói về sự ra đời của nghệ thuật nói chung và Mỹthuật nói riêng Trong tất cả các giả thuyết đó thì có 7 giả thuyết được nhiều ngườibiết đến nhất đó là :
o Nghệ thuật là “bắt chước”
o Nghệ thuật ra đời từ trò chơi du hý, do sự hứng khởi của con người nghĩ ranhững trò chơi bởi thời gian giải trí dư thừa
o Nghệ thuật từ ma thuật mang tính tôn giáo
o Nghệ thuật ra đời từ cảm xúc muốn biểu hiện mình
o Tổng sinh lực và sinh lực thừa
o Nghệ thuật ra đời từ lao động
o Nghệ thuật ra đời do nhóm người đặc biệt có năng khiếu sáng tạo, hoạt độngnghệ thuật từ xã hội nguyên thuỷ di truyền đến ngày nay
Hình 1-1 Xã hội nguyên thủy - ảnh minh hoạ
Là một trong các loại hình nghệ thuật, “Mỹ thuật” là một cụm từ khá quen thuộc vớitất cả mọi người Có ý kiến cho rằng “Mỹ” tức là cái đẹp, “Thuật” là kỹ thuật, thủthuật “Mỹ thuật” là các kỹ thuật, thủ thuật để tạo ra cái đẹp Tuy nhiên việc cắt nghĩa
như vậy chưa thể định nghĩa được hai từ Mỹ thuật Theo Từ điển thuật ngữ mỹ thuật
PTIT
Trang 8phổ thông thì mỹ thuật là “Từ dùng để chỉ các loại hình nghệ thuật tạo hình chủ yếu
như hội họa, điêu khắc, đồ họa…”[1] Mỹ thuật sử dụng màu sắc, đường nét, hìnhkhối, ánh sáng, đậm nhạt, chất liệu để mô tả cái đẹp
Ngày nay, nghệ thuật tạo hình ngày càng đa dạng và phong phú, có thêm nhiềucách làm mới với công nghệ hiện đại hướng đến một cụm từ chung là “Nghệ thuật thịgiác”
1.2 Giới thiệu sơ lược khái quát lịch sử mỹ thuật thế giới
1.2.1 Giai đoạn từ 1100 TCN đến thế kỷ XVII
1.2.1.1 Mỹ thuật Ai Cập cổ đại
Lịch sử Ai Cập đã chứng kiến 3 giai đoạn hoàng kim, văn hoá nghệ thuật pháttriển hơn Cổ vương quốc (3100 - 2160 TCN), thời trung vương quốc (2133 - 1625 TCN),thời Tân quốc (1567 - 1085TCN) với các đời vua từ XVIII đến XX Từ triều vua thứXXI trở đi quyền lực của các vua Ai Cập bị sa sút rõ rệt, quốc gia lại bị chia thành nhiềuquốc gia tự trị Thời đại cuối cùng là Pôlêmê (Poléméc: 323 - 31 TCN)
Nền văn minh Ai Cập được hình thành và phát triển ngay từ thời kỳ đầu tiên.Lúc này mọi yếu tố như chữ viết, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, khoa học Ai Cập đãphát triển và hoàn thiện Năm 1822, một nhà Ai Cập học người Pháp là Giăng Phờrăngxoa Sămpôli đã đọc được phần viết bằng chữ tượng hình Ai Cập trên tấm đá Rosettetìm thấy năm 1799 Từ đó giải mã được chữ tượng hình Ai Cập, và lịch sử mỹ thuật AiCập dần được hé mở
Mỹ thuật Ai Cập cổ đại suốt 3000 năm tồn tại không có những biến động lớn.Ngay từ thời cổ vương quốc nghệ thuật đã có những thành tựu đáng khâm phục ở mọilĩnh vực kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ Sở dĩ như vậy vì trong nghệ thuật người AiCập có những quan niệm, những quy định yêu các nghệ sĩ khi sáng tác phải tuân thủnghiêm ngặt Vì vậy tính chất dân tộc thể hiện đậm nét trong các loại hình nghệ thuật
Ai Cập cổ đại Điều đó góp phần hình thành một số đặc điểm đặc trưng cho nghệthuật tạo hình
Nghệ thuật Ai Cập luôn hướng tới sự vĩnh hằng, sự trường tồn Điều này thểhiện trong kiến trúc, điêu khắc và bích hoạ Các tác phẩm nghệ thuật của Ai Cập đượclàm bằng chất liệu bền vững và chúng tồn tại cho tới tận ngày hôm nay Quan niệm,lòng tin vào sự bất diệt của linh hồn đã chi phối mạnh mẽ tới nghệ thuật tạo hình và
PTIT
Trang 9tạo ra những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, xứng đáng là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.
Hình 1-2 Các bích hoạ của Ai Cập Cổ Đại
Bị ảnh hưởng của thần thoại, tôn giáo họ đã sáng tác ra nhiều hình tượng thần
bí, siêu thực như hình tượng các vị thần đầu thú mình người, tượng nhân sư đầu ngườimình sư tử Chính đặc điểm thứ nhất đã tạo ra tiền đề nảy sinh đặc điểm thứ hai.Những ước lệ tạo hình cổ sơ đã chi phối nghệ thuật Ai Cập trong hai lĩnh vực điêukhắc (phù điêu) và bích hoạ Các hình tượng phù điêu và bích hoạ Ai Cập đã được thểhiện hoặc nhìn chính diện nghiêm trang, ngay ngắn hoặc là sự kết hợp của đầu mặtnghiêng, thân thẳng chân nghiêng Hai bàn chân nhìn nghiêng và được nhìn từ phíangón cái là một đặc điểm đặc biệt trong các hình tượng phù điêu và bích hoạ Ai Cập(hình 1-2) Sở dĩ người Ai Cập tạo hình như vậy vì họ quan niệm về sự toàn vẹn củahình tượng Họ muốn trên một hình tượng nhưng có thể nhìn thấy nhân vật ở tất cả cáchướng Mặt khác các hướng chọn để diễn tả phải là hướng mà các đặc điểm được thểhiện rõ đặc trưng nhất Như vậy người Ai Cập đã rất khéo chọn lựa và khéo sắp xếp.Nhìn thoáng qua ta thấy hình vẽ Ai Cập có dạng vặn và nhiều chi tiết tưởng như không
PTIT
Trang 10hợp lý phải nghiên cứu kỹ mới thấy sự sáng tạo và tài năng của người Ai Cập khi tạo hình Như vậy mới có cái nhìn đúng đắn về giá trị của nghệ thuật Ai Cập.
Trong nghệ thuật Ai Cập, các loại hình nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc,bích hoạ luôn gắn bó với nhau Nghệ thuật Ai Cập là nghệ thuật tổng hợp trong đókiến trúc phát triển sớm nhất và mạnh nhất Điêu khắc và tranh vẽ gắn với kiến trúc.Tất cả đều thống nhất phong cách và hoà hợp trong một tổng thể hoàn chỉnh Tất cảnhững đặc điểm trên đã kết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo ra sự độc đáo, riêng biệtcho nghệ thuật tạo hình Ai Cập Tuy nó bị chi phối bởi tôn giáo, bởi ý tưởng về sựvĩnh hằng, hay siêu hình thần bí thì nghệ thuật Ai Cập vẫn rất phong phú về thể loại.Những ước lệ tạo hình cổ sơ mặc dù theo các nghệ sĩ suốt trong quá trình sángtạo và phát triển Nhưng không vì thế mà nghệ thuật Ai Cập đơn điệu và không thayđổi Trái lại phong cách nghệ thuật Ai Cập mặc dù vẫn thống nhất nhưng vẫn có sựchuyển biến phong cách qua các thời kỳ từ cổ đến trung và tân vương quốc Có mộtđiều chắc chắn rằng, nghệ thuật Ai Cập thống nhất và phát triển theo một hướng điriêng, có thay đổi song vẫn giữ được đặc điểm, quan niệm tạo hình của mình
Nghệ thuật Ai Cập là một nền nghệ thuật sáng tạo, để lại nhiều thành tựu, kỳquan cho thế giới và mang đậm sắc thái dần Ai Cập xứng đáng là cái nôi đầu tiên củavăn minh nhân loại như người ta vẫn đánh giá từ nhiều thế kỷ trước
1.2.1.2 Mỹ thuật Hy Lạp cổ đại
Sau Ai Cập cổ đại, vào khoảng thế kỷ XVIII TCN, ở phía bên kia Địa TrungHải, Hy Lạp ra đời, lãnh thổ bao gồm Hy Lạp ngày nay và các đảo thuộc biển Ê Giê vàvùng Tây Tiểu á Hy Lạp không thuận lợi về nông nghiệp song lại phát triển trong việcgiao thông trên biển Với tài nguyên dồi dào đã tạo điều kiện cho Hy Lạp phát triểnthủ công nghiệp và ngoại thương Nó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển nền văn minh
Hy Lạp trong đó có nghệ thuật tạo hình
Cho đến tận ngày nay, khi nhắc đến Hy Lạp người ta sẽ nghĩ ngay đến đền thờPác Tê Nông (Parthénon), đến các pho tượng trên biển của Hy Lạp như tượng ngườiném đĩa, tượng vệ nữ Mi lô, … nghệ thuật Hy Lạp đã phát triển và để lại nhiều thànhtựu vĩ đại
Thành tựu của nghệ thuật tạo hình Hy Lạp vừa biểu hiện sự sáng tạo tuyệt vờicủa người Hy Lạp vừa chứng tỏ đỉnh cao về sự mẫu mực của Hy Lạp về trí tuệ trongtạo hình Con người thời nay không chỉ khâm phục trước những tác phẩm nghệ thuật
PTIT
Trang 11tiêu biểu của Hy Lạp Họ đã tìm thấy trong nền nghệ thuật cổ đại này một tư tưởngnhân văn cao thượng, một nền nghệ thuật hiện thực, ca ngợi giá trị và vẻ đẹp của conngười Đây là cơ sở để xây dựng một nền văn hoá mới, thấm đẫm những tư tưởngnhân văn
Nhà nước Hy Lạp cổ đại là xã hội chiếm hữu nô lệ chứa đựng những tư tưởngdân chủ tiến bộ, là Nhà nước thông bang, ở đó có hai vua với quyền lực như nhau, vừa
là thủ lĩnh quân sự, vừa là tăng lữ và người xử án Chế độ xã hội ở đây là chế độ dânchủ chủ nô, mở đường cho các nhà khoa học, những nghệ sĩ, những công dân tự donày được phát triển tài năng, trí sáng tạo Điều này giúp nghệ thuật cũng như khoa học
Hy Lạp cổ đại phát triển mạnh
Nghệ thuật Hy Lạp còn được nuôi dưỡng bằng một nguồn gốc đặc biệt - nguồngốc thần thoại Hy Lạp Quan niệm của người Hy Lạp về thế giới thần linh giống nhưthế giới con người Đó là quan niệm “thần nhân đồng hình” Quan niệm này chi phốitới việc xây cất các công trình kiến trúc Những câu chuyện gợi nguồn cảm hứng sángtạo cho các nghệ sĩ tạo hình Họ tìm thấy ở đây chất thơ, chất cảm xúc, thúc đẩy họsáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, thấm đượm tinh thần nhân văn
Hình 1-3 Các tác phẩm gốm Hy Lạp cổ đại
Nghệ thuật hội hoạ Hy Lạp hầu như không còn giữ được tác phẩm nào,các tác giả, tác phẩm danh tiếng của họ còn được lưu truyền trong sách, truyệnnhư: Apenlơ, Giơxít, Pôlinhơ, … với đề tài chủ yếu là lịch sử và thần thoại Hy Lạp.Các tác phẩm được vẽ với phong cách tả thực, sinh động Ngoài ra có một nguồntài liệu khá phong phú cho nghệ thuật vẽ hình mang tính đồ hoạ, đó là những
PTIT
Trang 12hình vẽ trên những chiếc bình cổ Hy Lạp Bình cổ Hy Lạp có nhiều kiểu dángđẹp Điều đáng chú ý là các hình vẽ trang trí trên đồ gốm cổ Hy Lạp có haicách trang trí: Hình vẽ đen trên nền trắng sáng hoặc hình vẽ màu đỏ trên nềngốm đen Các hoạ sĩ trang trí lưu ý đặc biệt đến yếu tố nét, mảng trong cáchình vẽ Đề tài thay đổi qua các thời kỳ: Thần thoại, duyên dáng, đa tình, lịch
sử, …
Đặc điểm đặc trưng nhất của nghệ thuật Hy Lạp đó là một nền nghệ thuật gắnliền với thần thoại, nội dung chủ yếu vừa giải thích, mô phỏng tự nhiên, xã hội vừa lànhững trang viết huyền thoại về lịch sử Hy Lạp Quan niệm thần nhân đồng hình đãdẫn đến đặc điểm lớn cho nghệ thuật Hy Lạp cổ đại Tính chất tôn giáo, thần thoại bộc
lộ ở nội dung, đề tài Nhưng qua các hình tượng nhân vật các tác giả lại muốn ca ngợi
vẻ đẹp của con người, một vẻ đẹp hoàn thiện cả về ngoại hình và nội tâm Các nghệ sĩ
Hy Lạp đã bỏ được công thức chi phối trong nghệ thuật tạo hình buổi ban đầu, nhữngước lệ tạo hình cơ sở để tiến tới một nền nghệ thuật hiện thực giàu tính nhân văn Cácloại hình nghệ thuật tạo hình đều phát triển và có thành tựu cao, để lại cho nhân loạinhiều tác phẩm vô giá Đó là nền móng, là cơ sở cho nghệ thuật tạo hình châu âu saunày
1.2.1.3. Mỹ thuật thời Trung cổ
Sau khi đế chế La Mã sụp đổ, kết thúc thời kì cổ đại Nhân loại bước vào thời kìTrung cổ Đây là giai đoạn nằm giữa Cổ đại và Phục hưng và cũng chính là bướcchuyển tiếp để nhân loại bước vào thời kì phat triển rực rỡ là nghệ thuật Phục hưngNăm 63 TCN ở La Mã xuất hiện 1 tôn giáo mới – Kitô giáo Đến thế kỉ IV đạoKitô trở thành tôn giáo chính ở La Mã, nhà thờ, giáo hội trở thành nơi khống chế conngười cả về thể xác lẫn linh hồn Cuộc sống hiện thực không trở thành đối tượng củanghệ thuật tạo hình Cái đẹp được hướng lên thế giới của Chúa trời và các thánh thần.Kiến trúc được xây dựng nhiều chủ yếu là các nhà thờ theo phong cách Roman, Gothic
và Byzantine Đi theo các công trình kiến trúc nhà thờ là các tác phẩm hội hoạ và điêukhắc với những đề tài tôn giáo trích từ kinh thánh
Tín ngưỡng chi phối con người khá mạnh thông qua nhiều đạo giáo khác nhau ,
nó tác động rất lớn vào đời sống văn hóa và nghệ thuật, tạo ra một thứ văn hóa - nghệ
thuật “nhà thờ” hay “nhà chùa”.
PTIT
Trang 13Trong hội họa và điêu khắc là tranh ghép mảnh, nghệ thuật trang trí tường nhà.
Về sau đến thế kỷ VI, nghệ thuật Icôn công giáo ra đời và phát triển theo hai hướng:Theo lối Hy lạp ngữ truyền thống và nghệ thuật Xri, Palétxtin
Từ thế kỷ V đến TK VII là thời kỳ phát triển của nghệ thuật Bidăngtin và kéodài đến thế kỷ XV, bị Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm, chấm dứt một nghìn năm hình thành vàphát triển với ảnh hưởng trực tiếp di sản văn hóa-nghệ thuật cổ đại, nhất là nền vănhóa Hy lạp ngữ tiền phương Đông
Hình 1-4 Các hiệp sĩ đen và Vua Massile - tác phẩm thời trung cổ
Với các nước phương Tây, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ nổ ra,cuộc khởi nghĩacủa Bacbarơ từ cuối thế kỷ V đến cuối TKVIII, nghệ thuật Bacbarơ giữ vai trò ưu thếtrên đại bộ phận Tây Âu, đặc biệt là trên đất Pháp Nghệ thuật của đế chế này được coi
là “nghệ thuật Carôlin”, do không có cội rễ sâu sắc trong những điều kiện xã hội, kinh
tế nên nhanh chóng sụp đổ Tiêu biểu của nghệ thuật Trung cổ là các trường phái nghệthuật như: Nghệ thuật Roman (Rô – Măng), Nghệ thuật Gothic (Gô – Thích),Nghệ thuật Byzantine (Bai – Răng – tanh)
Nghệ thuật Roman: Xuất hiện ở Pháp vào các thế kỷ XI và XII, ở Ý và Đức vàothế kỷ XIII Loại hình chủ yếu của thời kỳ Roman là kiến trúc, hội họa hoành tráng giữvai trò quan trọng trang trí cho các nhà thờ Thể loại tranh này màu sắc đơn giản,ngôn ngữ đặc trưng là nét Bố cục rất đơn giản, súc tích, dễ hiểu đồng thời bộc lộ nộidung sâu sắc
PTIT
Trang 14Nghệ thuật Gothic:
Tranh thời kì này là những bức tranh mang màu sắc tôn giáo, phục vụ nhà thờ.Trong kiến trúc Gothic, các nhà thờ có nhiều khoảng trống, rất phù hợp với loại tranh ghép kính màu Nghệ sĩ bằng nhiều lớp kính màu đã tạo ra những bức tranh lung linh nhiều màu sắc, ánh sáng huyền ảo…gợi không khí linh thiêng trong nhà của Chúa.Tranh kính màu tạo hiệu quả trang trí cao Đề tài trong tranh chính là các vịthánh, Chúa Có thể là tranh đơn nhưng có thể là những tranh đơn ghép thành những bức bình phong
Hình 1-5 Các tác phẩm mỹ thuật thời trung cổ
Nghệ thuật Byzantine: Tranh của nghệ thuật Byzantine thường được làm bằng cáchđắp ,khảm các mảnh gốm màu hoặc các mảnh đá, đề tài hầu hết là về kinh thánh, cáccâu chuyện về Chúa trời, Đức Mẹ và Chúa Hài đồng
1.2.1.4. Mỹ thuật Phục Hưng
Thời kỳ Phục Hưng có gốc từ tiếng Pháp Renaissance (nghĩa là sự tái sinh), là
cuộc tái sinh các giá trị nghệ thuật, tư tưởng, khoa học của thời ḱỳ Cổ đại và sự sốnglại, phát triển rực rỡ của nền văn minh phương Tây
Tái sinh ở đây có hai nghĩa: một là sự khám phá lại các sách vở cổ điển và đem
ứng dụng vào trong khoa học và nghệ thuật; hai là để chỉ kết quả của các hoạt động
PTIT
Trang 15văn hóa đó mang lại sự hồi sinh cho văn hóa châu Âu nói chung Như vậy Phục Hưng
có thể hiểu theo hai cách chính tuy khác biệt nhưng đều có ư nghĩa là sự tái sinh củanền giáo dục cổ điển Tây phương thông qua sách vở, tài liệu kinh điển của phươngTây và hồi sinh của văn hóa châu Âu nói chung Từ Hán-Việt viết hoa Phục hưng,hay Phục Hưng, là thuật ngữ tương đương với khái niệm này
Ở châu Âu thế kỉ XI, những thành thị được h́ ình thành đã phá vỡ các lãnhđịa phong kiến, từ đó xuất hiện tầng lớp thị dân giàu có , đây là tiền thân của giaicấp tư sản Tại Italia, nhiều thành thị trung tâm ổn định về chính trị, phát triển vềkinh tế,
…nhu cầu đời sống tinh thần được nâng cao, giai cấp tư sản muốn có một nền văn hoáchống lại giai cấp phong kiến, đó là nguyên nhân sự ra đời của văn hoá Phục hưng ởItalia, sau lan sang một số nước ở châu Âu như: Pháp, Đức,…Phong trào mĩ thuậtPhục hưng ở Italia được khởi đầu vào cuối thế kỉ XIII bởi hai hoạ sĩ Ximabuo và Giop
tu, phong trào ra đời nhằm khôi phục và làm hưng thịnh lại nền văn hoá cổ đại Hi-Lạp,La-Mã mà thời Trung cổ đã huỷ hoại; đưa cái đẹp phục vụ cuộc sống con người, đồngthời nâng cao hơn trong hoàn cảnh mới để đạt tới sự mẫu mực, hoàn chỉnh
Hình 1-6 Tác phẩm bữa ăn cuối cùng (1495- 1498) của Leonardo Da Vinci
Sang thế kỉ XIV đến giữa thế kỉ XV, phong trào mĩ thuật Phục hưng ở Italia pháttriển rực rỡ trên cơ sở những phát minh khoa học: tì́ m ra luật viễn cận, chất liệu sơndầu,…Các hoạ sĩ thời Phục hưng thường lấy đề tài tôn giáo để thể hiện cái đẹp, đểdiễn tả cuộc sống, diễn tả con người, họ không vẽ theo công thức
PTIT
Trang 1616Trung cổ mà học hỏi cái đẹp từ thời Hy Lạp, La Mã, từ thiên nhiên Các hoạ sĩ đưa
PTIT
Trang 17không gian thấu thị vào tranh và áp dụng những luật với khối theo sáng tối, nhờ đó conngười và thiên nhiên được diễn tả rất sâu về khối, tì́ nh cảm, y phục và bối cảnh, cácqui luật về bố cục, màu sắc không gian, tỉ lệ, ánh sáng đến cách diễn tả đều đạt tới sựhoàn hảo Mĩ thuật Phục hưng Italia đã sinh ra nhiều hoạ sĩ nổi tiếng có những cốnghiến to lớn cho nền mĩ thuật thế giới, trong đó có ba hoạ sĩ tiêu biểu như Leonardo DaVinci, Michelangelo, Raphael… Thời kỳ Phục Hưng kéo dài từ năm 1400 đến 1600,Trung tâm ở Florence.
Hình 1-7 Tác phẩm nàng Monalisa (trái) và Đức mẹ Litta (phải) của tác giả Leonardo Da Vinci
Hình 1-8 Tác phẩm "chúa tạo ra Adam" của tác giả Michelangelo
PTIT
Trang 18Hình 1-9 tác phẩm điêu khắc tượng David (trái) và Pietta (phải) của Michelanggelo
Hình 1-10 Trường học Athen - tác giả Raphael Santi
1.2.2 Giai đoạn từ thế kỷ XVII đến XIX
Đây là giai đoạn lên ngôi của nghệ thuật Baroque Nghệ thuật này phát triển mạnh mẽ ở Italia Tuy nhiên,nghệ thuật Italia thế kỷ XVII không nhất thống; nghĩa là
PTIT
Trang 19Hình 1-11 Tác phẩm "Sự chiêm bái của các vị vua" tác giả Peter paul Rubens
Phong cách Baroque, một mặt hướng tới những công trình mang tính hoànhtráng, mặt khác chứa đựng những nền tảng hội họa, trang trí, kỹ thuật có sức tác độngđến người xem Điều ấy cho thấy nghệ thuật Baroque giàu tính năng động, căng thẳngchứ không tĩnh tại như nghệ thuật Phục hưng Baroque theo nghĩa mới, là sự tổng hợpnghệ thuật Điêu khắc và hội họa giữ vai trò quan trọng trong công trình, tạo cho nó
có sức cô đúc, rực rỡ và kì vĩ Các sử gia chia nó làm 3 giai đoạn : Tiền Baroque : từnăm1580 đến cuối 1620 Baroque thời cực thịnh : từ 1620 đến cuối thế kỷ 17 HậuBaroque : vào nửa đầu thế kỷ 18
Nghệ thuật baroque phát triển ở nhiều nơi thuộc châu Âu Một trong nhữngtrung tâm lớn nhất là xứ Flandre, vùng đất ngày nay bao gồm Bỉ, Hà Lan và một phầnnước Pháp Rất nhiều họa sĩ baroque sinh sống ở xứ Flandre: Peter PaulRubens, Rembrandt Đây cũng là một thời kỳ hoàng kim của vùng đất này
PTIT
Trang 20Phong cách baroque đặc trưng với "ánh sáng phóng đại, cảm xúc mãnh liệt,thoát khỏi sự kiềm chế, và thậm chí là một loại chủ nghĩa giật gân nghệ thuật"[4].Nghệ thuật baroque không thực sự mô tả phong cách sống của người dân tại thời điểmđó; Tuy nhiên, "gắn bó chặt chẽ với Phong trào Phản Cải cách, phong cách này táikhẳng định và có phần cường điệu những chiều sâu cảm xúc của đức tin Công giáo vàvinh danh cả nhà thờ và chế độ quân chủ" về quyền lực và ảnh hưởng của họ
Nghệ thuật Baroque cũng không chỉ gói gọn trong hội họa Nó phát triển cả trong điêu khắc, âm nhạc, kiến trúc, văn học
Vào thế kỷ XVIII, các nước tây âu phát triển hang loạt các trường phái quốc gia, dân tộc trong đó Pháp giữ vị trí dẫn đầu với phong cách cổ điển
Hình 1-12.Francisco de Goya - 1814
Thế kỷ XIX ở Pháp thực sự là một thế kỷ cách mạng trong nghệ thuật tạohình Trào lưu cách mạng thứ ba sau lãng mạn và hiện thực là nghệ thuật ấn tượng Xuhướng nghệ thuật này được khởi xướng từ khoảng những năm 60 của thế kỷ này, bắtđầu từ sự kiện Monet Ông là hoạ sĩ Pháp, với các bức tranh “Bữa ăn trên cỏ”, “Nàngôlimpia”… Về nội dung, đề tài tranh của ông không có gì lạ so với tranh của các hoạ sĩtrước đó Sở dĩ ông bị từ chối do cách thể hiện, vì ông đã từ bỏ lối diễn tả ánh sáng dịu
PTIT
Trang 21dàng chuyển sắc độ êm ả kiểu cổ điển trong phòng vẽ theo sự sắp xếp, bố trí của cáchoạ sĩ ở đây ông sử dụng tương phản mạnh giữa ánh sáng và bóng tối Vấn đề đượcđặt ra là đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cách nhìn, cách vẽ Nếu trước đây các hoạ sĩđược học trong các học viện mỹ thuật đã bắt đầu từ việc vẽ các phiên bản tượng cổ HyLạp, diễn tả bóng rất tỉ mỉ để thể hiện khối tròn trịa, mềm mại, ánh sáng được diễn tảbằng sự chuyển đổi dần từ sáng sang tối Hình vững chãi, bố cục rành mạch Cách vẽnày đã chi phối nghệ thuật Châu Âu hằng mấy trăm năm Mặc dù Manet chưa từngbày tranh cùng nhóm ấn tượng, song ông vẫn được coi là tác nhân quan trọng thu hútcác hoạ sĩ trẻ muốn sự đổi thay trong nghệ thuật tạo hình Manet là người mở đầu cócùng quan niệm và kỹ thuật vẽ với các hoạ sĩ phái ấn tượng
Hình 1-13 Bức tranh "Ấn tượng mặt trời mọc" - Monet
Năm 1873, tranh của các hoạ sĩ kể trên gửi triển lãm quốc gia Pháp khôngđược chấp nhận, ngày 15/4/1874 họ đã trưng bày những tác phẩm của mình ở 1 xưởngcủa nhà nhiếp ảnh 35 phố Capuyxin với tên gọi “Ấn tượng mặt trời mọc” Đây là triểnlãm đầu tiên của phái ấn tượng và gây tiếng vang lớn ở Paris Các báo xúm lại chỉtrích, chế giễu
Từ năm 1926 , xu hướng nghệ thuật ấn tượng bắt đầu được đánh giá đúng mức Nhữngnăm 50 của thế kỷ XX, tranh ấn tượng đã được đặt đúng chỗ của nó trong lịch sử mỹthuật thế giới Công chúng Châu Âu đã hiểu và yêu thích tranh ấn tượng Xu hướng
PTIT
Trang 22nghệ thuật ấn tượng thực sự là một cuộc cách mạng trong nghệ thuật tạo hình Nó là sựkết thúc của một quan niệm nghệ thuật, đồng thời là điểm bắt đầu cho một thời kỳ mớitrong lịch sử mỹ thuật thế giới: Thời kỳ nghệ thuật hội hoạ hiện đại, mà ấn tượng làđiểm khởi đầu
Trước ấn tượng, các xu hướng nghệ thuật rất coi trọng vấn đề đề tài trong tácphẩm Họ tranh luận với nhau xem vẽ cái gì mới là có giá trị Suốt cả một thời giandài, các đề tài tôn giáo, thần thoại, quý tộc, lịch sử lên ngôi Đề tài bình dân khôngđược coi trọng Mãi đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa hiện thực mới thắng thế Đến ấntượng, các hoạ sĩ lại cho rằng đề tài không quan trọng Hiệu quả của ánh sáng và cảmxúc của hoạ sĩ quan trọng hơn đề tài Đề tài chỉ còn là cái cớ để vẽ tranh
1.2.3 Thế kỷ XX đến nay
Vào đầu thế kỷ XX, cái tôi của người nghệ sĩ được đẩy cao hơn Các sáng tác tự
do hơn Vì vậy có rất nhiều trường phải nghệ thuật ra đời như Henri Matisse và một sốnghệ sĩ trẻ khác tạo ra một cuộc cách mạng trong thế giới nghệ thuật Paris với "DãThú", nhiều màu, biểu cảm, phong cảnh và tranh vẽ con số với “Trừu Tượng” Miêu
tả thiên nhiên có thể được tối giản thành ba loại hình khối: khối lập phương, hình cầu
và hình nón với “Lập Thể”…Tất cả các phong trào tạo ra cho nền mỹ thuật XX đa sắcmàu sinh động
Trường phái Dã Thú
Trong thời kỳ thuộc địa, sự ảnh hưởng Phương Tây bắt đầu tạo nên một tác độngtới nghệ thuật Ấn Độ Nhiều nghệ sĩ phát triển phong cách sử dụng ý tưởng PhươngTây làm chất liệu Một số khác ví dụ như Jamini Roy, lại có ý thức lấy cảm hứng từnghệ thuật dân gian
Les Fauves (tiếng Pháp của The Wild Beasts) là họa sĩ đầu thế kỷ XX, thử nghiệm với
tự do ngôn luận thông qua màu sắc Tên gọi này được đưa ra, một cách hài hước vàkhông phải là một lời khen, dành cho nhóm các nhà phê bình nghệ thuật LouisVauxcelles Trường phái Dã thú là một nhóm ngắn ngủi và lỏng lẻo của các nghệ sĩđầu thế kỷ XX có tác phẩm nhấn mạnh chất hội họa, và việc sử dụng trí tưởng tượngcủa màu sắc sâu hơn các giá trị tượng trưng Các họa sĩ trường phái Dã thú tạo nên chủ
đề của bức tranh dễ hiểu, phóng đại các quan điểm và dự đoán tiên tri thú vị củatrường phái này được thể hiện vào năm 1888 bởi Paul Gauguin với Paul Sérusier, ông
PTIT
Trang 23đặt ra các câu hỏi: "Làm thế nào để nhìn thấy những cái cây? Chúng thật là vàng vọt.
Vì vậy, đặt chúng trong màu vàng; hình bóng này sơn nó với màu xanh tươi nguyênchất; những chiếc lá đỏ? Đặt trong son."
Hình 1-14 Tác phẩm Dã Thú "Điệu nhảy" - Matisse
Tiên phong của phong trào này là Henri Matisse và André Derain Các họa sĩtrường phái Dã Thú bao gồm Albert Marquet, Charles Camoin, Maurice de Vlaminck,Raoul Dufy, Othon Friesz, họa sĩ Hà Lan Kees van Dongen, và đối tác của Picassotrong phái lập thể, Georges Braque giữa những người khác Trường phái Dã thú, nhưmột phong trào, không có lý thuyết cụ thể, và được tồn tại ngắn ngủi, bắt đầu từ năm
1905 và kết thúc vào năm 1907, họ chỉ có ba triển lãm Matisse đã được xem như làngười lãnh đạo của phong trào, do thâm niên của ông trong độ tuổi và trước đó đã tựlập trong thế giới nghệ thuật hàn lâm Ông nói ông muốn tạo ra nghệ thuật để thỏathích; nghệ thuật như một sự trang trí là mục đích của ông và có thể nói rằng ông sửdụng màu sắc tươi sáng sẽ cố gắng để duy trì sự thanh thoát của vạn vật Những bậcthầy như Henri Matisse tiếp tục phát triển phong cách của họ độc lập với bất kỳchuyển biến nào trong suốt thế kỷ XX
PTIT
Trang 24Trường phái Lập thể
Năm 1907 trường phái Dã thú không còn là một phong trào mới gây sốc, ngaysau đó đã được thay thế bằng chủ nghĩa Lập thể - theo các nhà phê bình là sự pháttriển mới nhất trong nghệ thuật đương đại Từ khoảng năm 1908 thông qua năm 1912,
xu hướng Lập Thể phân tích lên ngồi, theo sau xu hướng lập thể tổng hợp, nhiều tácphẩm ra đời bởi Braque, Picasso, Fernand Léger, Juan Gris, Albert Gleizes, MarcelDuchamp và vô số nghệ sĩ khác vào năm 1920 Xu hướng lập thể tổng hợp có đặctrưng bởi sự ra đời của kết cấu khác nhau, bề mặt, các yếu tố cắt dán, bột Colle…
Hình 1-15 Tác phẩm Lập thể "Những cô gái D Avigon" – Picasso
Picasso và Braque sát cạnh bên nhau để mở đường cho ý tưởng tiền lập thểvào những năm 1906-1909 sau đó là "chủ nghĩa lập thể phân tích" (1909-1912) Vàothời kỳ này, hội họa của họ là nhiều bề mặt gần như đơn sắc, những đường thẳngkhông hoàn thiện, những hình khối đan xen lẫn nhau
PTIT
Trang 25Bức họa Les Demoiselles d'Avignon (Những cô gái Avignon H 1 -15) củaPicasso không được coi là lập thể nhưng nó lại được coi là cột mốc quan trọng để tiếnđến trường phái lập thể Trong tác phẩm này, lần đầu tiên Picasso thể hiện các hướngnhìn khác nhau cùng một lúc của vật thể ba chiều trên không gian hai chiều của bứctranh Dựa trên ý tưởng này, Braque khai triển thêm nhiều khía cạnh khác và đã tạo ratrường phái lập thể.
Hình 1-16 Juan Gris, tĩnh vật trái cây và Mandolin, 1919, tranh dầu trên vải bố.
Một số nhà sử học còn gọi giai đoạn này của chủ nghĩa lập thể là giai đoạn bíhiểm vì các tác phẩm được vẽ theo lối đơn sắc và khó có thể hiểu được Người họa sĩchỉ để lại một chút dấu vết trên bức tranh để có thể nhận ra đối tượng của họ Lúc này,chủ nghĩa lập thể rất gần với chủ nghĩa trừu tượng Một số chữ cái cũng được đưa vàocác bức tranh để làm đầu mối gợi ý ý nghĩa của các bức tranh
Giai đoạn tiếp theo của lập thể phân tích là "lập thể tổng hợp", bắt đầu vào năm
1912 Trong lập thể tổng hợp, bố cục của bức tranh gồm các chi tiết chồng chất lênnhau, những chi tiết này được tô sơn hoặc được trát sơn lên nền vải, chúng có màu sắcsặc sỡ hơn Không giống như lập thể phân tích (ở đó vật thể bị bẻ gãy làm nhiều
PTIT
Trang 26mảnh), lập thể tổng hợp cố gắng kết hợp nhiều vật thể với nhau để tạo nên các hìnhkhối mới.
Thời kỳ này còn đánh dấu sự ra đời của tranh dán và tranh dán giấy Picasso đã phát
minh ra tranh dán với bức tranh nổi tiếng của ông là Tĩnh vật với chiếc mây trong đó
ông đã dán những miếng vải dầu lên một phần của chiếc ghế mây Braque cũng lấy
cảm hứng từ bức tranh này để tạo ra tác phẩm Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh Tranh dán
giấy cũng gồm các vật liệu dùng để dán nhưng có điều khác là các mẩu giấy dán chính
là các vật thể Ví dụ, cốc thủy tinh trong bức tranh Đĩa hoa quả và cốc thủy tinh chính
là một mẩu giấy báo được cắt thành hình chiếc cốc
Trước đó Braque đã sử dụng chữ cái nhưng các tác phẩm của thời kỳ lập thểtổng hợp đã đưa ý tưởng này đến một tầm cao mới Các chữ cái trước đây dùng để gợi
ý cho chủ đề thì nay chúng chính là chủ đề của tác phẩm Các mẩu giấy báo là các vậtdụng được các họa sĩ dùng nhiều nhất Họ còn đi xa hơn nữa là dùng giấy với hìnhkhắc gỗ Sau đó còn đưa thêm các mẩu quảng cáo trên báo vào tác phẩm của họ vàđiều này làm cho các công trình của các nhà lập thể có thêm phần màu sắc
Trong hai thập niên đầu của thế kỷ XX và sau trường phái lập thể, một sốphong trào quan trọng khác xuất hiện; Chủ nghĩa vị lai (Balla), nghệ thuật trừu tượng(Kandinsky), Der Blaue Reiter), Bauhaus, (Kandinsky) và (Klee), Orphism, (RobertDelaunay và František Kupka), Synchromism (Morgan Russell), De Stijl (Mondrian),Suprematism (Malevich), tạo dựng (Tatlin), Dadaism (Duchamp, Picabia, Arp) và chủnghĩa siêu thực (De Chirico, André Breton, Miró, Magritte, Dalí, Ernst) Hội họa hiệnđại chịu ảnh hưởng tất cả các nghệ thuật thị giác, từ kiến trúc hiện đại và thiết kế, phimavant-garde, nhà hát và múa hiện đại và trở thành một phòng thí nghiệm thử nghiệmcho sự biểu hiện của trải nghiệm thị giác, từ nhiếp ảnh và thơ cụ thể với nghệ thuậtthời trang và quảng cáo Bức tranh của Van Gogh đã gây ảnh hưởng lớn với chủ nghĩabiểu hiện thế kỷ XX, như có thể thấy trong các tác phẩm của các họa sĩ Fauves, DieBrücke (một nhóm do họa sĩ người Đức Ernst Kirchner), và các biểu hiện của EdvardMunch, Egon Schiele, Marc Chagall, Amedeo Modigliani, Chaim Soutine và nhữngngười khác
PTIT
Trang 27Trường phái Trừu Tượng
Hình 1-17 tác phẩm trừ tượng "Bố cục 8" - Kandinsky
Trong tiếng Pháp, “trừu tượng” là “abstrait”, trong tiếng Anh là “abstract”.Ngoài ra, còn một thuật ngữ khác nữa cũng để chỉ nghệ thuật trừu tượng Đó là “artnon-figuratif” trong tiếng Pháp và “nonfigurative art” trong tiếng Anh, nghĩa là
“nghệ thuật phi hình thể”, được dùng để đối lập với “art figuratif/figurative art” tức
“nghệ thuật có hình thể” Như vậy có thể hiểu rằng, trường phái trừu tượng, tràolưu nghệ thuật thống trị thế giới suốt cả thế kỉ 20, đi ngược lại hoàn toàn với quanniêm truyền thống về nghệ thuật rằng nghệ thuật là sự mô phỏng thế giới tự nhiên.Chính vì vậy, khi nhìn vào những tác phẩm thuộc trường phái trừu tượng đươngnhiên không thể tìm ra bất kì một đối tượng hay vật thể nào có thể thấy được ở thếgiới bên ngoài Nghệ thuật đã chuyển từ mô phỏng sang một dạng cảm xúc thuầnkhiết Phong trào nghệ thuật này chính là tiếng nói của những cá tính rất riêngthuộc về thế giới tiềm thức muôn màu Người họa sĩ trừu tượng được thỏa sứcsáng tạo những lối vẽ rất tự do, cho phép sự nhạy cảm sâu sắc, sự bất tỉnh củamình, để thể hiện bản thân
PTIT
Trang 28Wassily Kandinsky một họa sĩ, nhà in ấn và nhà lý thuyết của Nga, một trongnhững nghệ sĩ nổi tiếng nhất thế kỷ XX thường được coi là họa sĩ quan trọng đầu tiêncủa nghệ thuật trừu tượng hiện đại Là một người theo tư tưởng hiện đại đầu tiên, đểtìm kiếm phương thức mới đầy ấn tượng thị giác và biểu hiện tinh thần, ông đưa ra lýthuyết cũng như nhà thị giác học, tạo sự liên kết tác phẩm với các nhà soạn nhạc.
Trường phái siêu thực
Hình 1-18.Sự dai dẳng của thời gian - Dali
Nghệ thuật siêu thực là một trào lưu văn học và nghệ thuật ở thế kỷ 20, bắtđầu ở Paris và được nhà thơ người Pháp André Breton viết tuyên ngôn vào năm 1924.Chủ nghĩa siêu thực cố gắng diễn tả tiềm thức bằng các trình bày các vật thể và sự việcnhư được thấy trong những giấc mơ Siêu thực là một khuynh hướng nghệ thuật lớnbao trùm nhiều loại hình của nghệ thuật Bắt đầu từ thơ, siêu thực lan tới hội họa rồitiếp đến điện ảnh, tiểu thuyết Thuật ngữ Chủ nghĩa siêu thực Surréalisme được nhà
thơ Guillaume Apollinaire dùng trong tác phẩm của mình vào năm 1917 Sau tuyênngôn năm 1924, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong văn học và nghệ thuật.[5]
PTIT
Trang 29Trong “Hiến chương Siêu thực” năm 1924, André Breton viết siêu thực là “cách quyhai trạng thái, mơ mộng và thực tại, dường như rất trái ngược nhau, thành một thực tạituyệt đối, một siêu thực tại (surreality)”[5] Như vậy, siêu thực là sự kết hợp thế giớithực tại thông thường và thế giới thực tại của giấc mơ Breton định nghĩa siêu thựcnhư sau: “Siêu thực (danh từ) là trạng thái tâm lý thuần túy không ý thức(automatism), mà ta có thể trải nghiệm để thể hiện (bằng lời được viết thành chữ hoặcbất cứ cách gì khác) hoạt động thực tế của tư duy (thought) Siêu thực được tư duy saikhiến, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào của lý trí, được miễn trừ khỏi mọi quan ngạiliên quan tới thẩm mỹ và đạo đức Về mặt triết học, siêu thực dựa trên niềm tin vàomột thực tại cao cấp của một số hình thể được tạo bởi những liên tưởng mà trước đâythường bị bỏ qua, vào quyền lực vô hạn của giấc mơ, vào hoạt động không vụ lợi của
tư duy Nó hướng tới sự phá hủy một lần và vĩnh viễn mọi cơ chế tâm lý khác và thaythế chúng để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống Vấn đề Breton nói tới ở đây là “tưduy (thought), tức bao gổm cả 3 trạng thái: ý thức (conscious), tiền ý thức(preconscious), và vô thức (unconscious)” [5] Để minh họa cho phương pháp siêuthực, Breton trích dẫn: Hình tượng (image) là sáng tạo thuần túy của tâm trí (mind)
Nó không thể sinh ra từ sự so sánh, mà sinh ra từ việc đặt cạnh nhau hai thực tại ítnhiều cách biệt nhau Mối liên hệ giữa hai thực tại này mà càng cách biệt và càng thựcthì hình tượng sẽ càng mạnh, thực tại thi vị và sức mạnh cảm xúc của nó càng lớn.Theo Baudelaire, con người không tự gọi các hình tượng siêu thực ra được, mà chúng
tự động xuất hiện một cách ám ảnh, chuyên chế, không thể xua chúng đi vì nghị lựcgiờ đây trở thành bất lực, không thể kiểm soát được các năng lực nữa
Trường phái pop Art
Nghệ thuật Pop Art khởi đầu tại Anh vào giữa thập niên 50 Khi đó,Independent Group (IG) thành lập tại London vào năm 1952, là tập hợp các họa sĩtrẻ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà văn, nhà phê bình( Eduardo Paolozzi, JohnMcHale, Alison và Peter Smithson ) đưa ra các cuộc thảo luận xoay quanh nhữngtác động từ yếu tố văn hóa đại chúng đến nghệ thuật, thách thức lại phương pháptiếp cận văn hóa cũng như quan điểm của mỹ thuật truyền thống
Cuối những năm 1950 và đầu 1960, Pop Art có mặt ở Mỹ; nảy sinh từ cuộc
“cách mạng văn hóa” dẫn đầu bởi các nhà hoạt động, nhà tư tưởng và nghệ sĩ tìmcách đảo ngược lại những điều mà trong mắt họ là một trật tự xã hội bị cai trị bởi sự
PTIT
Trang 30có chút “chậm chạp” trước phong trào Pop Art với một số tác phẩm nghệthuật tương tự như Pop Art chỉ nổi lên khoảng đầu những năm 1970.
Hình 1-19 Tác phẩm Marilyn Diptych (1962) của nghệ sĩ Andy Warhol Nghệ Thuật Tối giản
Tối Giản – Minimalism xuất hiện trong nghệ thuật Phương Tây từ sau Thế Chiến II, phát
triển mạnh mẽ nhất ở Mỹ trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 Tối Giản cónguồn gốc bắt rễ từ sự thuần khiết và cô đọng của Chủ nghĩa Hiện đại (Modernism) Xéttrên phương diện rộng lớn hơn, người ta tìm thấy nguồn gốc của Phong cách Tối giản Châu
Âu trong các concept hình học trừu tượng của các họa sĩ theo phong trào nghệ
PTIT
Trang 31thuật Bauhaus và De Stijl mà đi đầu là những tác phẩm của Kazimir Malevich, Piet
Mondrian; các nghệ sĩ khác trong phong trào Kết cấu Nga…
Hình 1-20 Triển lãm nghệ thuật tối giản tại Anh Rất nhiều cái tên đã được sử dụng để mô tả nghệ thuật mới này từ “Nghệ thuật ABC -
ABC Art”, “Nghệ thuật Rút gọn - Reductive Art” đến “Phép dịch giải – Literalism”,
“Tranh hệ thống - Systemic Painting” “Minimalism – Tối Giản” là cụm từ cuối cùng
được gọi tên, bởi vì có lẽ nó mô tả chính xác nhất công việc của các nghệ sĩ và nhà thiết kếtối giản: giản lược tối thiểu từ màu sắc, hình dạng, đường nét đến kết cấu
Các nghệ sĩ nổi tiếng gắn liền với phong trào nghệ thuật Tối Giản bao gồm Donald Judd, John McCracken, Agnes Martin, Dan Flavin, Robert Morris, Anne Truitt, Carl Andre và Frank Stella
1.3 Giới thiệu khái quát lịch sử mỹ thuật Việt Nam
1.3.1 Mỹ thuật thời kỳ Phong kiến dân tộc độc lập
1.3.1.1 Mỹ thuật thời Lý ( 1009 – 1225)
Trải qua hơn hai trăm năm tồn tại, xây dựng và phát triển, thời Lý đã sáng tạo và
để lại nhiều di vật quý giá, khẳng định sự tồn tại của một nền mỹ thuật dân tộc đã bắtđầu định hình và khởi sắc Nền mỹ thuật thời Lý đã phát triển tương đối hoàn thiện các
PTIT
Trang 32loại hình nghệ thuật Trong đó có kiến trúc, điêu khắc và hội họa, trang trí phát triểnđạt trình độ nghệ thuật cao và gắn bó với nhau thành một thể hoàn chỉnh.
Về kiến trúc và điêu khắc thời lý thường được bố cục một cách chặt chẽ, cânxứng hài hòa và hướng vào trọng tâm, chủ đề của tác phẩm điều này đã được chứngminh qua các tác phẩm Các tác phẩm này thường được gắn với hình tượng hoa senthanh cao, tinh khiết hoàn toàn phù hợp với quan niệm của phật giáo Kiến trúc thời
Lý chủ yếu là phục vụ tôn giáo, tín ngưỡng, nhưng những hình tượng điêu khắc lại chủyếu là thiên nhiên và con người Như vậy mỹ thuật thời Lý vừa mang tính tôn giáo,chính thống vừa mang tính hiện thực
Hình 1-21 Chùa một cột (Phải)
Mỹ thuật thời Lý hướng đến sự hoàn thiện , mẫu mực trong đường nét , hình khối Hoa văn nhỏ, dày đặc được cách điệu cao và sắp xếp trong bố cục hình tròn, vuông, nhọn đầu
Trang 33thời Trần lại chuyển sang hướng hiện thực với cách tạo hình đơn giản, khỏe khắn Haitính chất tôn giáo và chính thống kết hợp nhuần nhuyễn trong mỹ thuật thời Lý thìsang mỹ thuật thời Trần lại mang tính dân gian rõ nét hơn Tuy vậy cả hai thời kỳ nàyđều phát triển mạnh mỹ thuật Phật giáo.
Hình 1-22 Tượng hổ - Lăng Trần Thủ Độ (Phải) 1.3.1.3 Mỹ thuật thời Lê Sơ (1427 – 1527)
Mỹ thuật thời Lê Sơ có sự chuyển biến và phát triển theo một hướng hoàn toànkhác so với thời trước Một mặt kế thừa những tinh hoa của thời Lý, Trần, một mặtphát triển theo một hướng riêng Do ở thời kỳ này ảnh hưởng của tinh thần nho giáo.Hình vẽ ngày càng phong phú, có thể là những hình đơn lẻ, cũng có thể là một đồ ántrang trí với bố cục chặt chẽ, đậm nhạt phong phú, đường nét sinh động, thường là cácdải hoa văn ngang, vòng quanh thân gốm Điều đáng chú ý là độ đậm nhạt được thểhiện qua từng nét bút Thể loại tranh chân dung đã phát triển từ thế kỷ trước vẫn đượcchú trọng Ở thời kỳ này những tác phẩm vẽ trên gốm được đánh giá rất cao
1.3.1.4 Mỹ thuật thời Lê Trung Hưng (1593 -1788)
Mỹ thuật thời Lê Trung Hưng là một giai đoạn phát triển Tuy giai đoạn này được coi
là trì trệ của xã hội Việt Nam do sự khủng hoảng toàn diện, trầm trọng của xã hội
PTIT
Trang 34phong kiến Nhưng vì thế mà mỹ thuật thời kỳ này nhờ thế mới phát triển đến đỉnhcao, nhất là về các công trình kiến trúc - điêu khắc tiêu biểu thuộc các loại hình chùa -đình - đền - lăng mộ với các chất liệu gỗ - đá - đồng đều phát triển đến đỉnh cao Tuynền mỹ thuật thời Lê Trung Hưng là một giai đoạn có nền mỹ thuật đạt tới đỉnh cao.Bên cạnh xây dựng những ngôi đình, chùa mới khang trang, thời Lê Trung Hưng còncho sửa chữa và bổ sung thêm một số tượng để cho những ngôi chùa đó được hoànchỉnh và linh thiêng hơn đối với mọi người dân trong thời Lê Trung Hưng và nó vẫncòn được người dân ngày nay thờ cùng.
Hình 1-23.Tượng quan âm nghì tay nghì mắt - Chùa Bút tháp
Như vậy thì kiến trúc Phật giáo thời Lê Trung Hưng đã có một bước tiến mới,nhanh chóng đẩy lên đỉnh cao ở thế kỷ XVII, xây lại nhiều chùa với quy mô rất lớn vàhoà nhập cảnh sắc thiên nhiên để tăng thêm cả kích cỡ và nghệ thuật Kiến trúc từ chỗgắn với quý tộc cũng dần trở về với nhân dân trong vẻ đẹp bình dị, gọn nhỏ Nửa đầuthế kỷ XVII giới quý tộc cố gắng một lần nữa khôi phục lại nền kiến trúc ấy, dưới sựchỉ đạo trực tiếp của triều đình Trong thành tựu điêu khắc của thời Lê Trung Hưng thìtrước hết, điêu khắc gắn với kiến trúc, nhằm trang trí cho kiến trúc trở nên duyên dáng
PTIT
Trang 35Hình 1-24 Đình Đình Bảng
Về chạm khắc trang trí thì bộ khung gỗ không còn nặng nề như ở các giai đoạntrước, không có những cốn rộng nên chạm khắc trang trí chỉ nhằm điểm xiết và tượngthờ cũng tăng vọt lên Có nhiều ngôi chùa điển hình cho việc làm cụ thể ở thời kỳ này.Tóm lại, nền mỹ thuật của thời Lê Trung Hưng là một giai đoạn phát triển, tuy
xã hội được coi là giai đoạn trì trệ, chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài nhưng vì thế
mà các đình, chùa mới được xây dựng và phát triển Các công trình kiến trúc - điêukhắc tiêu biểu thuộc các loại hình chùa - đình đền - lăng mộ với cvác chất liệu gỗ - đá
- đồng đều phát triển đến đỉnh cao Và đây cũng là giai đoạn mà cả kiến trúc và điêukhắc đều đạt đến đỉnh cao còn lại đến tận ngày nay và phát triển hơ, tồn tại lâu hơntheo thời gian để cho lịch sử văn hoá Việt Nam tự hào là một nền văn hoá mỹ thuật lâuđời
1.3.1.5 Mỹ thuật thời Tây sơn (1789 – 1802)
Không như các thời trước kiến trúc tôn giáo đền chùa luôn lộng lẫy tranghoàng, các nghệ nhân thời Tây Sơn đã đưa nghệ thuật vào bên cái trang hoàng lộng lẫythành một thể kiến trúc thống nhất tạo sự trang nghiêm mà gần gũi giản dị nhưng vẫn
PTIT
Trang 36mang rõ nét riêng độc đáo cho triều đại mình.Kiểu kỹ thuật chạm nổi vừa phải tạođường néy uốn lượn tươi mát hình rõ ràng nền thoáng… tất cả tạo nên cảm giác thanhthản, tranh nhã khác với sự cứng cỏi thời trước và sự vụn rối ở giai đoạn sau.
Mỹ thuật Tây Sơn còn nổi trội bởi các tác phẩm điêu khắc mà tiêu biểu là tượngtròn Nó mang nét riêng khắc hẳn tượng các thời khác Mặc dù những tác phẩm nàykhông hề ghi rõ niên đại vẫn xác định được đó là của thời Tây Sơn
Thời này đã để lại một số lượng tượng đáng kể: 18 vị tổ kế đăng; 8 vị kimcương; thái tử Vi Đà, bộ tượng Di Đà tam tôn, Di Lặc tam tôn, Tuyết Sơn… ở chùaTây Phương Với phong cách độc đáo kết hợp với đường nét hoa văn trang trí kiếntrúc đặc biệt phù hợp với tinh thần xã hội rạng rỡ mà điêu khắc có một ấn tượng riêng
mà lạ
Hình 1-25 Tượng ở chùa tây phương
Các tượng chùa Tây Phương mang tính tượng chân dung nó làm toát lên vẻngười thực Ví như các tượng Kim Cương là những thiên tướng có nhiệm vụ bảo vệPhật giáo do đó mang tư cách hệ pháp Là chàng thanh niên tráng kiện, có trang bị vũkhí là một cây gươm, tượng trong thế võ, hùng dũng, quả quyết mà đằng đằng sát khínhưng vẫn mang được vẻ đôn hậu nhân ái Y phục, võ quan nhưng dưới bàn tay củacác nghệ nhân đương thời trở nên mềm mại, các dải và nép áo bay lượn trang trí nhiều
mà không rối, các mảng chảy sóng mượt tạo cảm giác như người thật
Bên cạnh những tượng tròn thờ một thành tựu của nghệ thuật điêu khắc thời TâySơn là chững quả chuông rất lớn được đúc bằng đồng, trống đồng dáng cân đối, nhiềuchuông có quai có hình một con rồng hoàn chỉnh vui mắt, khắc chữ sắc gọn
PTIT
Trang 37Một tác phẩm điêu khắc khổng lồ của mỹ thuật Tây Sơn là tượng Thánh Trấn Vũ ởđền Cư Linh Tượng ở thế ngồi còn cao tới 3,8m, chỗ rộng nhất giữa hai đùi tới 5,9mnặng chừng 4000kg.
Hình 1-26 Tượng Thánh Trấn Vũ ở đền Cư Linh
Dù được tham khảo tượng cùng tên ở đền Quán Thánh (Hà Nội) đúc ở nửa sauthế kỷ XVII thì vẫn là một kỳ công của điêu khắc và của kỹ thuật đúc đồng Tựơng thểhiện một đạo sỹ, tay bắt quyết lại được phù trợ bởi con rắn quấn quanh lưỡi kiếmchống trên lưng rùa tạo sự huyến bì linh thiêng
Mỹ thuật Tây Sơn xứng đáng là một nền mỹ thuật đặc sắc riêng biệt, chỉ với mộtthời gian rất ngắn song mỹ thuật Tây Sơn đã thực sự làm giàu cho nghệ thuật dân tộc
Nó không những kế thừa, phát huy những nền mỹ thuật của các triều đại cũ mà cònphát triển mảng mỹ thuật đặc sắc riêng thể hiện đặc trưng cho triều đại mình và tạotiền đề cho mỹ thuật thời sau phát triển
PTIT
Trang 381.3.1.6 Mỹ thuật thời Nguyễn (1802 – 1885)
Hình 1-27 Cố đô Huế
Mỹ thuật thời Nguyễn là mỹ thuật của giai đoạn cuối mùa quân chủ, từng có lúc
bị bỏ qua và bị bỏ quên Nhưng nghệ thuật cung đình Việt Nam chỉ đến thời Nguyễn
và chỉ ở Huế mới còn, là tinh hoa sáng tạo của trí tuệ một thời Là cung đình nhưngkhông xa dân, có ảnh hưởng phương Bắc nhưng đã dân tộc hoá, lại đi lên từ vốntruyền thống dân gian, để mang vẻ đẹp Việt Nam đích thực Trong khi đó, ở các làngquê dòng dân gian đã có sức sống vẫn cứ tồn tại và phát triển, tiếp tục xây dựng diệnmạo văn hoá truyền thống, không sắc sảo như giai đoạn trước, nhưng bình dị và do đócàng bình dân
PTIT
Trang 39Kiến trúc Huế có thân cao, mái ngắn hơn so với đình chùa ngoài Bắc nên cócảm giác nhẹ, không cần đến các hoa đao ở góc mái nữa Mặt trước thường lắp thêm
kẻ cổ ngỗng để kéo dài mái ra cái hiên làm không gian chuyển tiếp, khi không cần cóthể bỏ mà không ảnh hưởng gì đến cấu trúc chung Những kiến trúc ấy bên cạnh khốihình còn được nghệ thuật trang trí bổ trợ cả màu và hình Các cung điện đều lợp ngóiống hoặc ngói máng âm dương tạo thành những làn sóng đan xen nhau chạy dài từ bênnày đến bên kia Những mái ngói ấy đều được tráng men ngọc màu vàng hoặc xanh
gọi là “hoàng lưu ly" hay “thanh lưu ly" làm cho cả bộ mái rực rỡ trong ngần, thanh
tao, quý phái
Hình 1-28.Bên ngoài lăng Khải Định
Các mảng tường cổ diềm và bờ nóc đắp cao lại được chia ra những ô hộc vuông
và chữ nhật đan xen nhau Trên các bờ nóc, bờ dải đắp và ghép các mảng sứ thành condao, con rồng, con lân, con phượng… Với việc tạo hình những con vật linh ấy và kỹthuật ghép mảnh, ghép gốm, các nghệ nhân xưa đã đưa nghệ thuật trang trí kiến trúcđạt tới trình độ cao, điêu luyện và tinh xảo Men Pháp Lam cũng được đưa vào trangtrí và nhất là để làm đám mây ngũ sắc đỡ mặt trời hoặc một bầu to có hình như nâmrượu ở giữa bờ nóc Nội thất kiến trúc chính cũng phần nhiều được sơn son với nhiềuhình trang trí thếp vàng, sang trọng và vui mắt Và cùng với kiến trúc, nghệ thuật điêu
PTIT
Trang 40khắc với các tượng tròn và các bức chạm nổi, chạm lông bằng đá, bằng gỗ… phân bổrải rác trong các cung diện, các lăng mộ đều là những tác phẩm đạt tới các giá trị nghệthuật cao.
Kiến trúc cung đình Huê, ngoài kiến trúc kinh thành còn có lăng tẩm của cácvua nhà Nguyễn cũng rất đặc sắc Theo truyền thống các vua Lý, Trần, Lê khi mất đềuđược đưa về vùng quê cũ để an táng và xây lăng tẩm Với các vua nhà Nguyễn, quêgốc là ở Thanh Hoá, nhưng Huế cũng vừa là kinh đô vừa là quê hương nhà Nguyễn.Các vua được an táng ở Huế cũng là trở về với quê cha đất tổ ở thời Nguyễn mỗi vua
có một lăng mộ và tẩm thờ riêng, kết hợp với nhau thành lăng tẩm chiếm một khuôn
viên lớn, trong đó dựng bia “Thánh đức thần công" rất lớn để biểu dương công trạng.
Hình 1-29.Bên trong lăng Khải Định
Mỹ thuật dân gian bên cạnh kiến trúc còn có mảng tượng thờ không kém phầnđặc sắc Tất cả các tượng thờ trên đây, do một lối quan niệm hiện thực là hiện trạng tự
nhiên nên tượng ở thời Nguyễn thường “giống như thật" làm cho tượng cứng theo
công thức, rối như tự nhiên Có chăng chỉ tượng các tổ chùa ở thời Nguyễn rất phổ
biến, xuất phát từ mẫu người thực nên yêu cầu " giống " làm cho tượng mang chất
PTIT