Mục tiêu yêu cầu của đề tài Đánh giá được khả năng sinh trưởng của đàn lợn rừng lai {♂ rừng x ♀ ♂ rừng x ♀ Meishan giai đoạn sau cai sữavà hiệu quả chăn nuôi lợn giai đoạn này tại cơ sở
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH NHUẬN
Tên chuyên đề:
ĐÁNH GIÁ SỨC SINH TRƯỞNG CỦA LỢN RỪNG LAI {♂ RỪNG x ♀ (♂ RỪNG x ♀ MEISHAN)}GIAI ĐOẠN
SAUCAI SỮA TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2016 - 2020
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN ĐÌNH NHUẬN
Tên chuyên đề :
ĐÁNH GIÁ SỨC SINH TRƯỞNG CỦA LỢN RỪNG LAI {♂ RỪNG x ♀ (♂ RỪNG x ♀ MEISHAN)}GIAI ĐOẠN
SAUCAI SỮA TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên với tình cảm sâu sắc và chân thành nhất, cho em được bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả các cá nhân và tổ chức tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ em trong suất quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong Ban Giám hiệu nhà trường Ban chủ nhiệm khoa, cùng thầy cô trong khoachăn nuôi thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng các bác, anh, chị quản lýtrong trại chăn nuôi của Công ty CP Khoa học sự sống đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Một lần nữa em xin cảm ơn thầy giáo PGS.TS Trần Văn Phùng người
đã trực tiếp hướng dẫn trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình viết khóa luận
Cuối cùng em xin chúc thầy, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành tích trong trong nghiên cứu khoa học, có nhiều thành công trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên,ngày 08 tháng 7 năm2020
Sinh viên
Nguyễn Đình Nhuận
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả tổng hợp về công tác tiêm phòng 32 Bảng 4.2 Khối lượng của lợn rừng lai qua các kỳ cân 34 Bảng 4.3 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn rừng lai giai đoạn sau cai sữa 36 Bảng 4.4 Sinh trưởng tương đối của lợn rừng laigiai đoạn sau cai sữa(%) 37 Bảng 4.5 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn rừng laigiai đoạn sau cai sữa 38 Bảng 4.6 Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của lợn rừng laigiai đoạn sau cai sữa 39 Bảng 4.7 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh của lợn rừng laigiai đoạn sau cai sữa 43 Bảng 4.8 Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nuôi sống của lợn rừng lai
giai đoạn sau cai sữa 44
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ khối lượng của lợn thí nghiệm qua các kỳ cân 35 Hình 4.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 36 Hình 4.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con TN 38
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Sinh trưởng và đặc điểm sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa 3 2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con giai đoạn sau cai sữa 7
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn con 9
2.1.4 Khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con 11
2.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của lợn 12
2.1.6 Một số yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn 12
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21
Trang 73.3 Nội dung thực tập 21
3.4 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi 21
3.4.1 Công tác phục vụ sản xuất 21
3.4.2 Phương pháp theo dõi 21
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Kết quả phục vụ sản xuất 27
4.1.1 Kết quả chăn nuôi lợn nái đẻ và nuôi con 27
4.1.2 Kết quả công tác thú y 30
4.1.3 Công tác khác 33
4.2 Kết quả nghiên cứu chuyên đề 33
4.2.1 Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng của lợn thí nghiệm 33
4.2.2 Hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn thí nghiệm 38
4.2.3 Kết quả theo dõi về tình hình mắc bệnh của lợn con giai đoạn sau cai sữa 40
Phần 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
I Tiếng việt 47
II Tiếng anh 49
PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ngànhchănnuôinướctađãvàđangchiếmmộtvị tríquantrọngtrongsản xuấtnôngnghiệpnóiriêngvàtrongcơcấunềnkinhtếcủacảnướcnói chung Chănnuôi,vớinhiềuphươngthứcphongphúvà đa dạngđã gópphầngiảiquyết côngănviệclàm,xóađóigiảm nghèo,nângcaothunhậpchongườidân,tạora cácnguồnthựcphẩmđảm bảo chongườitiêudùng Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và các hiệp định
tự do thương mại khác thì sản phẩm chăn nuôi thuộc ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và sản phẩm thịt lợn nói riêng, khi làm ra phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, không ảnh hưởng tới sức khỏe con người, có giá cả và chất lượng phù hợp để xuất khẩu ra thị trường quốc tế Để đáp ứng nhu cầu trên, nhà nước ta đang thực hiện nhiều dự án, chương trình cải tạo giống lợn, xây dựng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, quy trình phòng chống dịch bệnh phù hợp để tạo ra sản phẩm “sạch” có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng đủ tiêu chuẩn của người tiêu dung trong nước cũng như thị trường tiêu dùng quốc tế Hiện nay các giống lợn địa phương, lợn rừng đang thu hút nhiều do chất lượng thịt thơm ngon, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, đang rất được ưa chuộng
và trở thành “Đặc sản” có giá trị trên thị trường Để có con giống tốt cung cấp cho sản xuất thì phải chọn lọc chăm sóc tốt cho đàn lợn tại cơ sở, các trại giống rất quan trọng, trong đó đàn giống bố mẹ luôn được chú trọng Trong các giai đoạn chăn nuôi lợn rừng lai, chăn nuôi lợn con sau cai sữa có một tầm quan trọng đặc biệt Do khả năng tiêu hóa của lợn con giai đoạn này chưa tốt, rất dễ mắc các bệnh về đường tiêu hóa, làm lợn con còi cọc, chậm lớn hoặc tỷ lệ chết cao Với mục đích góp phần nâng cao năng suấtchăn nuôi lợn rừng lai, chúng
Trang 9tôi tiến hành đề tài “Đánh giá sức sinh trưởng của lợn rừng lai {♂ rừng x ♀ (♂ rừng x ♀ Meishan) giai đoạn sau cai sữa nuôi tại Thái Nguyên
1.2 Mục tiêu yêu cầu của đề tài
Đánh giá được khả năng sinh trưởng của đàn lợn rừng lai {♂ rừng x ♀ (♂ rừng x ♀ Meishan) giai đoạn sau cai sữavà hiệu quả chăn nuôi lợn giai đoạn này tại cơ sở chăn nuôi của Công ty CP Khoa học
sự sống
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Các kết quả nghiên cứu đạt được là những tư liệu khoa học về khả năng sinh trưởng của lợn rừng lai {♂ rừng x ♀ (♂ rừng x ♀ Meishan), góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, phục vụ nghiên cứu học tập của giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực chăn nuôi lợn
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các trang trại và người chăn nuôi có biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với thực tế nhằm nâng cao năng xuất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn rừng lai {♂ rừng x ♀ (♂ rừng x ♀ Meishan) Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm trong chăn nuôi lợn Từ đó giúp nâng cao trình độ, kỹ năng thực hành, củng cố kiến thức bản thân
Trang 10Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Sinh trưởng và đặc điểm sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa
Theo Nguyễn Văn Thiện và Cs (2002) [8] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất
di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến sự phát dục vì hai quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi rụng trứng tới khi trưởng thành, khi con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu là tích luỹ mỡ, còn phát dục xem như ở trạng thái ổn định
Sinh trưởng còn được hiểu theo nghĩa khác là một quá trình tích luỹ về chất thông qua quá trình trao đổi chất, là sự tăng lên về khối lượng, về kích thước các chiều các bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính di
truyền có từ đời trước (Hoàng Toàn Thắng và Cs 2006) [7]
Người ta thường phân chia các quy luật sinh trưởng và phát dục của vật nuôi theo hai cách:
- Quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn: quá trình sinh trưởng và phát dục của lợn được chia làm giai đoạn trong thai (prenatal) và giai đoạn ngoài thai (postnatal) (Trần Văn Phùng và Cs, 2004) [3]
Trang 11+ Quá trình sinh trưởng trong thai là một phần quan trọng trong chu kỳ sống của lợn bởi vì các sự kiện của thời kỳ này có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của lợn Quá trình phát triển trong thai được chia làm 3 giai đoạn nhỏ là giai đoạn phôi thai, giai đoạn tiền thai và giai đoạn bào thai
Giai đoạn phôi thai: được tính từ lúc trứng thụ tinh đến lúc 22 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là hợp tử dịch chuyển và làm tổ ở sừng tử cung (trong vòng hai ngày đầu tiên), hợp tử phân chia nhanh chóng thành khối tế bào và thành các lá phôi
Giai đoạn tiền thai: tính từ ngày 23 - 39 hình thành hầu hết các cơ quan
bộ phận trong cơ thể còn non
Giai đoạn thai: tính từ ngày 40 đến khi được sinh ra là giai đoạn phát triển nhanh về kích thước và khối lượng của thai
+ Giai đoạn ngoài thai được chia thành các thời kỳ: bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi
- Quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều:
Không đồng đều về khả năng tăng khối lượng: Lúc còn non khả năng tăng khối lượng của lợn chậm, sau đó tăng khối lượng nhanh dần, tuỳ theo từng giống lợn khác nhau mà tốc độ tăng khối lượng có khác nhau Điều quan trọng nhất là các nhà chăn nuôi phải biết thời điểm lợn sinh trưởng nhanh nhất để kết thúc vỗ béo cho thích hợp, giảm giá thành sản phẩm chăn nuôi
Không đồng đều về sự phát triển của các cơ quan, bộ phận của cơ thể Trong quá trình sinh trưởng và phát dục của cơ thể lợn có những cơ quan phát triển nhanh, có những cơ quan phát triển chậm hơn Ví dụ đối với lợn con thì
hệ tiêu hoá, hệ cơ xương phát triển nhanh hơn hệ sinh dục
Trang 12Không đồng đều về sự tích luỹ của các tổ chức mỡ, nạc, xương Sự phát triển của bộ xương có xu hướng giảm dần theo tuổi (tính theo sinh trưởng tương đối) của thịt giữ ở mức độ bình thường trong giai đoạn đầu sau khi sinh, sau đó giảm dần từ tháng thứ 5, sự tích luỹ mỡ tăng dần từ 6 - 7 tháng tuổi Dựa vào quy luật này, các nhà chăn nuôi cần căn cứ vào mục đích chăn nuôi mà quyết định thời điểm giết mổ cho phù hợp để có thể đạt tỷ lệ nạc cao nhất
Lợn con mới sinh ra chưa thành thục về tính và thể vóc, có rất nhiều sự thay đổi diễn ra trong thời kỳ đầu tiên sau khi sinh để phù hợp với đời sống của chúng sau này Có một số thay đổi và các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi đó như: khối lượng sơ sinh, số con đẻ ra trên ổ, lượng đường glucoza trong máu, vấn đề điều tiết thân nhiệt, khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn, sự thay đổi về thành phần hoá học của cơ thể theo tuổi Đây là những sự thay đổi quan trọng trong những ngày đầu tiên của lợn sau khi sinh, cần phải được nghiên cứu đầy
đủ và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng của lợn
Do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh nên khả năng tích luỹ các chất dinh dưỡng rất mạnh Ví dụ lợn con ở 3 tuần tuổi có thể tích luỹ được 9 - 14g protein/1kg khối lượng cơ thể Trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3 - 0,4g protein/1kg khối lượng cơ thể Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn ít thức ăn hơn lợn lớn Vì tăng khối lượng chủ yếu của lợn con là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1 kg thịt mỡ (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [3]
Đặc điểm của lợn con giai đoạn sau cai sữa là tế bào cơ xương phát triển mạnh mẽ (Trần Văn Phùng và cs., 2004) [5] Nhu cầu về protein lúc này là cao nhất trong toàn bộ chu trình sinh trưởng Nhu cầu về protein và chất khoáng phải đầy đủ để đảm bảo cân bằng trao đổi chất, vì trong giai đoạn này cường
Trang 13độ trao đổi chất khá cao Khả năng tiêu hóa các loại thức ăn thô của lợn còn kém Tỉ lệ các loại thức ăn tinh trong khẩu phần cần chiếm 80-85% Nếu dùng dưới dạng hạt nên chế biến như ngâm, rang nghiền…là tốt nhất Đối với thức
ăn xanh nên dùng loại tươi non, giàu vitamin để đảm bảo sinh thưởng nhanh
Giai đoạn sau cai sữa lợn con cần nhiều protein, khoáng, vitamin cho phát triển cơ, xương Tuy nhiên, lợn con giai đoạn này khả năng tiêu hoá còn yếu, lượng
ăn mỗi lần còn ít, vì vậy cần cho ăn nhiều bữa/ngày, mỗi ngày cho ăn 4-5 bữa trong giai đoạn đầu, sau đó giảm dần Khoảng cách giữa các bữa ăn phải chia đều, nên cho ăn thức ăn tinh trước, thô xanh sau Không cho ăn các loại thức ăn kém phẩm chất, thối mốc, hư hỏng vì dễ gây cho lợn bị tiêu chảy
Đồng thời, người ta cũng thấy rằng lợn con sinh trưởng nhanh, nhưng không đồng đều qua từng giai đoạn tuổi Trong 21 ngày đầu sau khi sinh, lợn sinh trưởng nhanh, sau đó giảm dần, mà nguyên nhân chủ yếu do lượng sữa mẹ cung cấp không đủ nhu cầu, thời gian giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần, thời kỳ này được gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Ở giai đoạn cai sữa,
do ảnh hưởng của sự thay đổi của môi trường sống và thay đổi về dinh dưỡng Chính sự thay đổi thức ăn từ sữa của lợn mẹ sang thức ăn do con người cung cấp là nguyên nhân chính dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng trong tuần đầu tiên sau cai sữa Để hạn chế khủng hoảng này người ta phải tập cho lợn con ăn sớm,
để lợn con quen dần với thức ăn sẽ ăn khi cai sữa (Võ Trọng Hốt và cs, 2007 [2])
Để đẩy nhanh tốc độ sinh trưởng, nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn con sau cai sữa, cần tìm hiểu và nắm vững đặc điểm sinh trưởng cũng như sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động các biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng và phương pháp chế biến thức ăn cho lợn phù hợp Trong đó, nghiên cứu tạo ra các thức ăn phù hợp về sinh lý tiêu hóa và sinh trưởng của lợn con thực sự rất
Trang 14quan trọng Thực tế cho thấy, những khẩu phần ăn có tỷ lệ các chất dinh dưỡng cao, đặc biệt protein thường giúp cho lợn con sinh trưởng nhanh, nhưng rất dễ gây bệnh tiêu chảy mà nguyên nhân chủ yếu là do khả năng tiêu hóa của lợn con còn hạn chế Ngoài ra, việc dư thừa các chất dinh dưỡng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, một mối quan ngại trong giai đoạn hiện nay của xã hội
2.1.2 Đặc điểm tiêu hóa của lợn con giai đoạn sau cai sữa
Tiêu hoá là quá trình phân giải thức ăn bằng các tác động cơ học, hóa học và sinh vật học để biến những hợp chất hữu cơ phức tạp của thức ăn thành những chất đơn giản, mà cơ thể động vật có thể hấp thu và sử dụng được (Nguyễn Thiện, 1998) [7] Đối với lợn con, cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển đó thể hiện ở sự tăng nhanh về dung tích
dạ dày, ruột non và ruột già Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 6 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, ở 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006 [7]
Cơ quan tiêu hóa của lợn con chưa hoàn thiện còn thể hiện ở chỗ lượng dịch phân tiết và hoạt tính của enzyme tiêu hóa còn kém, nhất là ở 3 tuần đầu, sau đó hoàn thiện dần Nếu không cho lợn con ăn sớm thì khoảng 25 ngày đầu sau khi đẻ, pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày chưa có HCl tự do nên chưa hoạt hóa
Trang 15pepsinogen thành pepsin để tiêu hóa protein Do thiếu HCl nên lợn con rất dễ
bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hóa gây bệnh Để khắc phục tình trạng này nên tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 7 - 8 ngày tuổi, để kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl tự do sớm hơn
Nhiều nghiên cứu cho thấy, nếu lợn con được tách mẹ thì amylaza trong nước bọt có hoạt tính cao nhất vào ngày thứ 14, nếu còn bú sữa mẹ thì hoạt tính này đến ngày thứ 21 mới có hiệu quả cao, cho nên khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn con còn kém, chỉ tiêu hóa được khoảng 50 % lượng tinh bột ăn vào, vì vậy cần tập cho lợn con ăn sớm kết hợp cai sữa sớm và chế biến thức ăn thật tốt trước khi cho lợn con ăn (Đào Trọng Đạt và cs, 1996)[1] Dịch tụy của ruột non có ý nghĩa quan trọng đối với sự tiêu hóa Trong dịch tụy có chứa các enzyme (trypsin, cacboxypeptidaza, elactaza, dipeptidaza, nucleaza v.v ) có tác dụng phân giải
từ 60 - 80 % protein, gluxit và lipit của thức ăn Hoạt tính của các enzyme thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành Như vậy, để tăng tỷ lệ tiêu hóa và làm giảm tỷ
lệ tiêu chảy ở lợn con, trong sản xuất thức ăn cho lợn con giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu hóa như sữa bột, đường lactoz, thức ăn hạt cần được rang chín và nghiền nhỏ, đồng thời bổ sung thêm một số axit vô cơ như axit lactic
Theo A D Xinhexcop (Trích từ Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [7] thì tuyến tụy được phân tiết tăng lên như sau: giai đoạn 20 - 30 ngày tuổi tiết
50 - 350 ml, 40 ngày tuổi tiết 460 ml, sau 3 tháng tuổi tiết > 3,5 lít, 7 tháng tuổi tiết 10 lít Lợn có tỷ lệ nạc cao có lượng enzym tiêu hóa protein cao hơn lợn có
tỷ lệ nạc thấp Ông đã có thí nghiệm trên 2 nhóm lợn trắng và đen thì thấy lợn đen có các lipaza và amilaza cao hơn ở lợn trắng, trái lại lợn trắng có men tripxin cao hơn ở lợn đen Trong dịch tụy của lợn lớn có tới 15 men để tiêu hóa các chất, song ở lợn con chỉ có 2 men là kimozin và lipaza và sau một tuần tuổi
Trang 16lợn con có thêm một số men như tripsin và amilase, hoạt tính của các men cũng tăng dần theo tuổi, từ 1 - 28 ngày men tripsin tăng gấp 20 lần, amilasa gấp 30 lần, các men như kimotipxin, protease, amilase, elastase, carboxipolypeptidase cũng tăng dần theo tuổi của lợn con Hàm lượng vật chất khô ở trong dịch tụy cũng tăng dần lên theo tuổi của lợn con Dịch ruột do 2 tuyến Bruner và Liberkuntiết ra chứa đầy đủ các men tiêu hóa nhưng ở lợn con chưa có men lactose, các men tiêu hóa khác có hàm lượng rất thấp không đủ khả năng để tiêu hóa các thức ăn nhân tạo Dịch mật của lợn con trong các tuần tuổi đầu còn hạn chế, khả năng nhũ tương hóa mỡ của lợn con chưa có
Qua nghiên cứu chúng ta thấy khả năng tiêu hóa của lợn con ngày càng được cải thiện theo sự tăng lên của ngày tuổi
Giai đoạn sau cai sữa lợn con cần nhiều protein, khoáng, vitamin cho phát triển cơ, xương Tuy nhiên, lợn con sau khi cai sữa khả năng tiêu hoá còn yếu, lượng ăn mỗi lần còn ít, vì vậy cần cho ăn nhiều bữa/ngày, mỗi ngày cho ăn 4-
5 bữa trong giai đoạn đầu Khoảng cách giữa các bữa ăn phải chia đều, nên cho
ăn thức ăn tinh trước, thô xanh sau Không cho ăn các loại thức ăn kém phẩm chất, thối mốc, hư hỏng vì dễ gây cho lợn bị ỉa chảy
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn con
Loại thức ăn: các loại thức ăn khác nhau ảnh hưởng không giống nhau đến quá trình tiết dịch tiêu hóa Thức ăn nhiều nước sẽ giảm tiết nước bọt và
dich vị
Kỹ thuật chế biến thức ăn: kỹ thuật chế biến thức ăn khác nhau (như lên men, ủ chua rang chín ) thì khả năng tiết dịch khác nhau Thức ăn được rang chín dịch vị tiết nhiều hơn thức ăn không rang chín
Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần: khi khẩu phần thức ăn không cân bằng sẽ gây ra sự căng thẳng của cơ quan tiêu hóa, từ đó dẫn đến hiện tượng
Trang 17giảm đồng hóa thức ăn Trong khẩu phần có hàm lượng protein cao thì lượng dịch tụy tiết ra càng nhiều để tiêu hóa thức ăn
Phương pháp cho ăn, uống: Cách cho ăn cũng làm ảnh hưởng đến sự tiêu hóa thông qua lượng dịch tiêu hóa tiết ra bị thay đổi Nếu cho ăn nhiều bữa và cho ăn nhiều thức ăn khô sẽ làm tăng tiết dịch tiêu hóa Ngoài ra, nhiệt độ thức
ăn và nước uống cũng ảnh hưởng đến khả năng tiết dịch tiêu hóa Theo Bakeeva, lợn sau khi uống nước có nhiệt độ 5 - 8oC thì lượng dịch tiêu hóa tiết
ra chỉ bằng 20% so với lợn uống nước ở nhiệt độ thường 20- 25oC
Ngoài ra, còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của lợn con như:
Các yếu tố về điều kiện môi trường cũng ảnh hưởng đến sinh lý tiêu hóa
ở lợn Khi nhiệt độ môi trường cao hoạt đông tiêu hóa bị ức chế, sự tiết dịch tiêu hóa giảm
Vận động không những làm tăng tính thèm ăn mà còn thúc đẩy sự phát triển của cơ quan vận động, tăng cường hoạt động trao đổi chất, từ đó tăng khả năng tiêu hóa thức ăn
Vỏ não có tác dụng rất lớn cho hoạt động tiêu hóa Cho nên cần thành lập các phản xạ có điều kiện để nâng cao chức năng tiêu hóa như tập ăn cho lợn đúng giờ giấc Có thể dùng tín hiệu báo chuẩn bị cho ăn
Trang 182.1.4 Khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng, nhiệt năng có thể thải ra môi trường xung quanh, ngược lại sự thay đổi nhiệt độ môi trường lại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sinh nhiệt và tỏa nhiệt của cơ thể, hiện tượng đó gọi là trao đổi nhiệt giữa cơ thể lợn con với môi trường
Lợn con lúc mới sinh có khả năng điều hòa thân nhiệt kém (Thí nghiệm của Newland 1969 Trích từ Trần Văn Phùng, 2006) [4] đã chứng minh mối quan hệ giữa tuổi và thân nhiệt của lợn con Khi ông tiến hành nuôi lợn con ở các nhiệt độ khác nhau (110C, 180C và 280C), thì ở nhiệt độ 280C lợn con có khả năng sinh trưởng nhanh nhất và ở nhiệt độ 110C lợn con có khả năng sinh trưởng chậm nhất Nhiệt độ cao hay thấp đều ảnh hưởng tới quá trình điều tiết thân nhiệt của lợn con
Nhiệt độ bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tỏa nhiệt và tốc độ sinh trưởng của lợn con Nhiệt độ được coi như là một chỉ tiêu ảnh hưởng lớn đến đặc điểm, chức năng của cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con Nếu nhiệt độ thấp lợn con mất nhiều nhiệt và có thể dẫn tới chết Vậy, trong tuần lễ đầu thân nhiệt của lợn con hoàn toàn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Nếu ở hai ngày đầu sau khi sinh, nhiệt độ từ 5 - 60C, lợn con có thể chết do lạnh và mất nhiệt Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều hòa thân nhiệt của lợn con có thể ổn định để đáp ứng với môi trường bình thường bên ngoài Do lợn con có khả năng điều hòa thân nhiệt kém nên cơ thể dễ bị lạnh và phát sinh bệnh tật, nhất là bệnh ỉa phân trắng
Nếu độ ẩm cao thì lợn con dễ bị mất nhiệt và có thể bị cảm lạnh Độ ẩm thích hợp cho lợn con ở nước ta là 65 - 70% Các kết quả nghiên cứu trong nước
và nước ngoài cho thấy rằng khả năng chịu đựng và sự thích nghi của lợn con đối với môi trường bên ngoài còn thấp, làm cho khả năng sinh trưởng phát triển
Trang 19của lợn con bị hạn chế và có thể dễ nhiễm bệnh dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp Trong chăn nuôi, chúng ta thường sử dụng một số biện pháp kỹ thuật để hạn chế những tác động của các yếu tố nói trên đối với lợn con, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi cũng như điều hòa nhiệt độ và ẩm độ ở tiểu khí hậu chuồng nuôi sao cho thích hợp với lợn con
2.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của lợn
Để nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát dục của vật nuôi, người ta dùng phương pháp định kỳ cân khối lượng và đo kích thước của cơ thể vật nuôi
Từ đó tính toán ra các chỉ tiêu sinh trưởng để đánh giá khả năng sinh trưởng và phát dục của vật nuôi Các chỉ tiêu sinh trưởng thường dùng khi nghiên cứu khả năng sinh trưởng của vật nuôi là:
+ Sinh trưởng tích luỹ: là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi
tích luỹ được qua thời gian khảo sát Các thông số thu được qua các lần cân đo
là biểu thị sinh trưởng tích luỹ của vật nuôi
+ Sinh trưởng tuyệt đối (A): là khối lượng, kích thước, thể tích của vật
nuôi tăng lên trong một đơn vị thời gian Đối với lợn, đơn vị sinh trưởng tuyệt đối thường là gam/con/ngày
+ Sinh trưởng tương đối (R): là tỷ lệ % của phần khối lượng (thể tích,
kích thước) tăng lên so với khối lượng (thể tích, kích thước) thời điểm cân đo Đơn vị sinh trưởng tương đối thường là %
2.1.6 Một số yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển
cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ và độ ẩm môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác
Về dinh dưỡng khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả về
số lượng và chất lượng thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát
Trang 20triển các cơ quan trong cơ thể Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh chi phối đến sinh trưởng và sức cho thịt của lợn Trần Văn Phùng và cs, (2004) [3] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối
đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể, ví như chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều protein thì tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng ta cho ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên
Cũng theo các tác giả nói trên, trong thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi dưỡng rất rõ Nuôi dưỡng gia súc mẹ tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp gia súc mẹ nhiều con và gia súc con khoẻ mạnh Thành phần thức ăn và chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thân thịt của vật nuôi Tuy nhiên, trong giai đoạn sau cai sữa, cần cân nhắc đến khả năng tiêu hóa của lợn con Do khả năng tiêu hóa của lợn con giai đoạn này chưa cao, nếu cho ăn quá nhiều dinh dưỡng hoặc thức ăn không phù hợp khả năng tiêu hóa của chúng sẽ dẫn đến tiêu chảy Đây là vấn đề thường gặp của các cơ sở chăn nuôi lợn Nếu để lợn con bị tiêu chảy sẽ ảnh hưởng đến tiêu chảy, thậm chí tiêu chảy nặng có thể dẫn đến chết
Nhiệt độ và độ ẩm môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn
ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn.Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cơ thể Một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng khi
Trang 21nhiệt độ môi trường xuống thấp (dưới 5,50C) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt độ môi trường là 29,50C
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ đó
ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi béo từ 15 -
180C, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 120C Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn vào khoảng 70% (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [5]
Tác giả Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [12] cho biết ở điều kiện nhiệt
độ và ẩm độ cao lợn phải tăng cường quá trình toả nhiệt thông qua quá trình hô hấp (vì lợn rất ít có tuyến mồ hôi) để duy trì thăng bằng thân nhiệt Ngoài ra khi nhiệt độ cao sẽ cho khả năng thu nhận thức ăn của lợn hàng ngày giảm Do
đó tăng trọng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hóa thức ăn kém dẫn đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn bị giảm
Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn Đặc biệt là lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, trong đó có trao đổi khoáng, với lợn con từ
sơ sinh đến 71 ngày tuổi nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5-12%, tiêu tốn thức ăn tăng 8-9%
Các tác giả trên đều cho rằng ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 1,5% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời Ánh sáng mặt trời có thể tăng cường hoạt động sống và quá trình sinh lý của cơ thể vật nuôi Dưới ánh sáng mặt trời cơ thể phát sinh những phản ứng bên trong và bên ngoài có lợi, tăng cường sinh
Trang 22trưởng phát dục, hồi phục cơ thể Tuy nhiên, ánh sáng gay gắt cũng làm mỡ của những vật nuôi béo bị oxy hoá mạnh
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như: Chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu
của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng đạt mức tối đa
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm, phát triển ở châu Âu và châu Á,sau
đó phát triển sang châu Úc Đến nay, nuôi lợn đã trở thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Ở nhiều nước như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Đức, Úc, Trung Quốc, Sing-Ga-Po, Đài Loan… Nói chung, ở các nước tiên tiến có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao Tuy vậy, đàn lợn trên thế giới phân bổ không đồng đều ở các châu lục Có tới 70% số đầu lợn được nuôi ở châu Á và châu Âu, khoảng 30% ở các châu lục khác Trong đó,
tỷ lệ đàn lợn được nuôi nhiều ở các nước có chăn nuôi lợn tiên tiến Nơi nào có nhu cầu tiêu dùng thịt lợn càng cao, nơi đó nuôi nhiều lợn Tính đến nay chăn nuôi lợn ở các nước châu âu chiếm khoảng 52%, châu Á 30,4%, châu Úc 5,8%, châu Phi 3,2%, châu Mỹ 8,6%
Nhu cầu tiêu dùng thịt lợn trên thế giới ngày càng tăng cao Theo USDA,
do ảnh hưởng của dịch bệnh dịch tả lợn châuPhi nên nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của người tiêu dùng giảm đáng kể trong năm 2020 (bình quân trên thế giới giảm khoảng 37%, các nước châu Á giảm 52% so với năm 2019) Ngoài yếu tố về
vệ an toàn thực phẩm, do giá thịt lợn tăng cao nên đa số có xu hướng chuyển sang sử dụng thịt gà, thịt bò và các loại thịt khác, có thể nói đây là cơ hội lớn cho ngành chăn nuôi gia cầm và đại gia súc
Trang 23Theo Akita và cs (1993) [28], đã nghiên cứu sản xuất kháng thể đặc hiệu qua lòng đỏ trứng gà dùng trong phòng và chữa bệnh tiêu chảy ở lợn con Cùng với sự phân lập và nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của E.coli, việc nghiên cứu
và sản xuất các chế phẩm phòng tiêu chảy ở lợn cũng được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt quan tâm
Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt lợn
Do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi (ASF) nên tổng đàn lợn trên thế giới năm 2020 dự báo đạt 1,02 tỷ con, giảm 10% so với năm 2019 Nguyên nhân chủ yếu do Trung Quốc là nước có tổng đàn lợn chiếm 45% tổng đàn lợn trên thế giới nhưng do dịch bệnh nên số lượng đàn lợn nước này dự kiến sẽ giảm khoảng 25% trong năm 2020 Sản lượng thịt lợn trên thế giới năm 2020 ước tính cũng sẽ giảm khoảng 10%, trong đó các nước châu Á có sản lượng giảm mạnh nhất, sau Trung Quốc là Philipine (giảm 16%), Việt Nam (giảm 7%) Mặc dù sản lượng thịt lợn giảm nhưng dự báo thị trường xuất nhập khẩu
sẽ tăng khoảng 10% đạt 10,4 triệu tấn, trong đó nhu cầu nhập khẩu thịt lợn của Trung Quốc sẽ tăng 35% tổng sản lượng thịt lợn nhập khẩu toàn thế giới Ngoài tăng trưởng về số lượng, giá thịt lợn xuất khẩu trong năm 2020 sẽ tăng khá mạnh so với năm 2019, trong đó Brasil sẽ tăng khoảng 20%, EU tăng 13% Việc các nước tăng mạnh giá thịt lợn xuất khẩu sẽ là cơ hội cho Việt Nam trong việc cạnh tranh về giá nhằm tăng thị phần thịt lợn xuất khẩu vào các nước không
có yêu cầu về chất lượng thịt lợn như Trung Quốc và một số nước châu Phi
Giống lợn Meishan của Trung Quốc đã được nhiều nước có nền chăn nuôi lớn tiên tiến như: Anh, Pháp, Mỹ nhập và sử dụng làm nguyên liệu để lai tạo giống, tạo ra các loại lợn có năng suất, sinh sản cao Khả năng đẻ nhiều con của lợn Meishan chủ yếu là do tỷ lệ phôi sống cao Tuy nhiên các nhà khoa học Anh lại cho rằng: khả năng đẻ nhiều con của lợn Meishan vừa do số lượng trứng chín rụng nhiều vừa do tỷ lệ phôi sống cao Cho đến nay các nhà khoa học cũng chưa nghiên cứu chính xác được khả năng đẻ nhiều con của
Trang 24lợn Meishan là do một gen đặc hiệu nào gây ra Nhưng gần đây các nhà khoa học cho rằng, để cải tiến di truyền còn lại của lợn Meishan có thể đi theo hai hướng:
Chọn lọc thuần chủng lợn Meishan theo hướng nâng cao tỷ lệ nạc và chất lượng thân thịt (vì hệ số di truyền của tỷ lệ nạc và chất lượng thân thịt cao, hơn nữa mức độ biến dị của hai tính trạng này còn lớn) Tuy nhiên việc xác định tỷ
lệ nạc qua độ dày mỡ lưng đối với lợn Meishan, không được chính xác lắm vì
tỷ lệ mỡ lợn này nhiều, đồng thời giá trị thân thịt của lợn Meishan thuần là thấp
Chọn lai giữa các giống lợn khác với lợn Meishan, sau đó tiến hành chọn lọc các dòng tổng hợp cả tính trạng sinh sản và cho thịt (có thể sử dụng cả các gen tín hiệu)
Lợn Meishan được đặc biệt quan tâm vì có tính trạng số con sơ sinh /lứa
đẻ cao, đã có những công trình nghiên cứu về gen trên lợn Meishan, những phát hiện của Haley và cs (1995) [27] về mối liên hệ giữa các gen đến khả năng sinh sản Các kết quả nghiên cứu này đã phát hiện ra lợn nái Meishan có tính trạng
số con sơ sinh/lứa đẻ cao là do có tỷ lệ phôi sống cao
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây việc nhân giống, nuôi lợn rừng và lợn rừng lai có chiều hướng phát triển mạnh ở nhiều vùng trong cả nước nhất là vùng đồi núi, vùng cao Lợn này được nhiều người chăn nuôi ưa chuộng và nó đã thành con vật nuôi mang lại thu nhập đáng kể cho người dân vùng cao Nó đã cung cấp được một phần nhu cầu thực phẩm sạch, có nguồn gốc tự nhiên cho
xã hội, đặc biệt là các thành phố lớn Việc nhập nuôi lợn rừng và lợn rừng lai ở các tỉnh có nguồn gốc từ Thái Lan bằng nhiều con đường khác nhau và nhân rộng ở một số khu vực ở miền Bắc Nhiều nơi đã nuôi và phát triển lợn rừng, lợn rừng lai với lợn địa phương như lợn Mường và lợn Mán vùng Hòa Bình, Tuyên Quang, Lào Cai, Thanh Hóa, Sơn La… Đối với con lai, nhiều địa phương đã dùng lợn đực rừng để lai với lợn địa phương tạo ra con lai và đã
Trang 25nâng giá trị thương phẩm lên 1,5 - 2,0 lần so với lợn địa phương
Năm 2007 – 2010 đề tài cấp Bộ thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã thành công trong nghiên cứu, nhân thuần giống lợn Rừng Việt Nam, lợn rừng Thái Lan và con lai giữa chúng (Võ Văn Sự và Tăng Xuân Lưu
và cs, 2008) [8] Kết quả là lợn Rừng nuôi trong điều kiện bán hoang dã đã sinh sản tốt, mỗi năm đẻ bình quân 2,0 – 2,2 lứa/năm và bình quân lứa 1 là 5,5 con, lứa 2 là 6,5 con và từ lứa 3 trở lên bình quân 7,4 con/lứa Lợn sinh trưởng phát triển bình thường, ít bệnh tật và dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, tỷ lệ móc hàm đạt trên 87% Đối với con lai là giữa lợn rừng và lợn bản cho khả năng tăng khối lượng tốt và chất lượng thịt cao, giá bán cao hơn so với lợn bản thuần Thức ăn ưa thích của chúng là các loại cỏ như cỏ voi, cỏ dại, cỏ trồng… đây là một lợi thế tại các địa phương trong cả nước nhất là vùng núi
Nguyễn Ngọc Phụng và cs, (2006) [4] cho biết các tổ hợp lợn lai có máu Meishan đều cho năng suất sinh sản cao và ổn định trong điều kiện địa phương
Hội chứng tiêu chảy ở lợn
Tùy theo đặc điểm, tính chất, diễn biến, tùy theo độ tuổi của lợn, tùy theo yếu tố được cho là nguyên nhân chính mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng các tên khác nhau như: Bệnh lợn con ỉa phân trắng, chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hóa
Các nghiên cứu bênh lý tiêu chảy ở gia súc cho thấy, biểu hiện bệnh lý chủ yếu là tình trạng mất nước và chất điện giải và cuối cùng con vật trúng độc, kiệt sức và chết Vì lẽ đó trong điều trị tiêu chảy việc bổ sung nước và các chất điện giải là yếu tố cần thiết
Theo Nguyễn Ngọc Minh Tuấn (2010) [17] lợn mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy cao nhất vào mùa xuân và thấp nhất vào mùa thu
Trang 26Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] đã nghiên cứu và kết luận, vào các tháng
có nhiệt độ thấp và độ ẩm cao, tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy cao hơn so với các tháng khác (26,98% đến 38,18%)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiên (2001) [20] nguyên nhân
vi khuẩn gây tiêu chảy chính ở lợn là E.coli, Salmonella và Clostridium
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [22] lợn con ở một số tỉnh phía Bắc mắc tiêu chảy và chết với tỷ lệ trung bình là 30,32% và 5,12%, tỷ lệ mắc tiêu chảy
và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn giai đoạn từ 21 - 40 ngày (30,97%
và 4,93%) và giảm ở giai đoạn từ 41 - 60 ngày (30,27% và 4,75%)
Nghiêm Thị Anh Đào (2008) [23] đã nghiên cứu và kết luận, từ mẫu
phân và phủ tạng lợn bệnh phân lập được vi khuẩn E.coli với các tỷ lệ nhiễm
lần lượt là: Ở phân 92,8%, ở gan 75,0%, ở lách 83,3% và ở ruột là 100%
Đoàn Thị Kim Dung (2004) [26] cũng cho biết, khi lợn bị tiêu chảy số loại vi khuẩn và tổng số vi khuẩn hiếu khí trong 1 gam phân tăng lên so với ở lợn không bị tiêu chảy Khi phân lập tác giả thấy rằng các vi khuẩn đóng vai
trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy như: E.coli, Salmonella và Streptococus tăng lên trong khi Staphylococus và Bacillus subtilis giảm đi
Sau khi nghiên cứu biến động của vi khuẩn đường ruột thường gặp ở gia súc khỏe mạnh và bị tiêu chảy, Nguyễn Bá Hiên (2001) [20] đã chỉ ra rằng khi
lợn bị tiêu chảy, số lượng vi khuẩn E coli trung bình tăng 1,9 lần, số lượng vi khuẩn Cl perfringens tăng 100 lần so với lợn khỏe mạnh
Ngoài các vấn đề trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn Các tác giả đều cho rằng, khi lợn bị mắc tiêu chảy do các tác nhân là vi sinh vật thường làm tăng tỉ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết
Trang 27Bệnh viêm phổi do Mycoplasma (bệnh suyễn lợn)
Theo nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs.(2006) [24] bệnh suyễn lợn (Swine enzootic pneumonia) có những tên gọi khác nhau như: viêm phổi truyền nhiễm, viêm phế quản phổi lưu hành là một bệnh truyền nhiễm thường ở thể á
cấp tính, cấp tính và lưu hành ở một địa phương, do Mycoplasma gây ra và đặc
điểm là một chứng viêm phế quản phổi tiến triển chậm Ngoài ra có nhiều loại
vi trùng kế phát như: Streptococcus, Staphylococcus, Salmonella,…
Đặng Xuân Bình và cs.(2007) [25] nghiên cứu tình hình nhiễm
Actinobacillus, Pleuropneumoniae và bệnh viêm phổi - màng phổi ở lợn đã cho
biết: Lợn thịt giai đoạn 2 - 3 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi theo đàn là 100%, trung bình 36,53% theo cá thể và các tác giả cũng đã phân lập được vi
khuẩn Actinobacillus, Pleuropneumoniae với tỷ lệ đạt 31,25 - 55,55%, trung
bình là 37,83%
Theo Trương Quang Hải và cs.(2012) [21] khi xác định khả năng mẫn
cảm với kháng sinh của vi khuẩn S suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi cho biết các chủng vi khuẩn S suis mẫn cảm cao với các loại kháng sinh
như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin, amikacin và có hiện tượng kháng lại một
số kháng sinh streptomycin, neomycin, tetracycline Điều này đã thể hiện theo
thời gian vi khuẩn S suis đã có hiện tượng kháng thuốc với một số kháng sinh
thông dụng như streptomycin, neomycin, tetracycline và penicillin G
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Lợn rừng lai F2 {Đực rừng x nái (Đực rừng x nái Meishan) giai đoạn sau cai sữa(Từ 42 đến 90 ngày tuổi)
- Phạm vi nghiên cứu: Khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh của lợn rừng lai
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm nghiên cứu: Công ty CP Khoa học sự sống
Địa chỉ: Xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2019 đến tháng 5 năm 2020
3.3 Nội dung thực tập
(1) Công tác phục vụ sản xuất
(2) Nghiên cứu chuyên đề khoa học: Gồm hai nội dung:
Khả năng sinh trưởng của lợn rừng lai giai đoạn sau cai sữa (Từ 42 đến
Trực tiếp tham gia chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản (Giai đoạn
đẻ và nuôi con) và đàn lợn con giai đoạn sau cai sữa của cơ sở chăn nuôi
3.4.2.Phương pháp theo dõi
Đánh giá về khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh của lợn rừng lai giai đoạn sau cai sữa được tiến hành tại cơ sở chăn nuôi lợn của Công ty CP Khoa học sự sống Lợn theo dõi là những lợn con cai sữa của những lứa đẻ
Trang 29củalợn nái lai RM (lai giữa lợn đực rừng và lợn nái Meishan) Số liệu theo dõi được so sánh với lợn con sau cai sữa của lợn nái lai RĐP (Lai giữa lợn đực rừng và lợn nái địa phương)
Sơ đồ bố trí và theo dõi lợn thí nghiệm như sau:
1 Loại lợn theo dõi F2 (♂ rừng x ♀RM) F2 (♂ rừng x ♀RĐP)
4 Tuổi theo dõi Cai sữa – 90 ngày tuổi
5 Quy trình chăn nuôi Quy trình cơ sở
Quy trình chăn nuôi lợn con theo mẹ và sau cai sữa do Công ty CP Khoa học sự sống ban hành Bao gồm những nội dung cơ bản như sau:
(a) Thức ăn cho lợn con giai đoạn sau cai sữa
Sử dụng các loại nguyên liệu sẵn có như: Bột ngô, bột gạo, khô đậu tương, bột cá, bột sữa khử bơ, bột khoáng, premix vitamin…
Khi phối trộn các loại nguyên liệu cần đảm bảo thành phần dinh dưỡng (Trong 1 kg thức ăn có 3200 kcal; 18-19% protein)
Các loại bột ngũ cốc cần rang chín, nghiền nhỏ; hoặc nấu chín trước khi cho ăn
Có thể sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh để nuôi lợn con sau cai sữa: Ví dụ hỗn hợp thức ăn 3840 của Deheus
Thức ăn xanh: Do khả năng tiêu thụ thức ăn xanh của lợn rừng lai khá tốt, cho nên có thể sử dụng các loại thức ăn xanh như: Cỏ voi, thân lá cây chuối,
lá sung… Yêu cầu các loại thức ăn xanh phải non, được rửa sạch và cắt nhỏ