Căn cứ vào đặc điểm này để xác định biên chế bộ máy kế toán, tổ chức công tác kế toán theo các bộ phận kế toán trong bộ máy kế toán, bố trí nhân viên kế toán thực hiện từng phần công việ
Trang 1BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Trang 2MỞ ĐẦU
Bài giảng Kế toán doanh nghiệp du lịch được biên soạn trên cơ sở đề cương học phần Kế toán doanh nghiệp du lịch (FIA1437) trong Chương trình khung giáo dục đại học ngành Kế toán - trình độ đại học (Quyết định số 485/QĐ-HV ngày 17 tháng 5 năm
2016 của Giám đốc Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) Với kết cấu bốn chương, gồm những kiến thức chủ yếu về tổ chức công tác kế toán, kế toán chi phí và giá dịch vụ du lịch, kế toán doanh thu, kết quả kinh doanh du lịch và báo cáo kế toán doanh nghiệp du lịch Sau mỗi chương đều có phần câu hỏi ôn tập và/hoặc bài tập thực hành
Nội dung các chương là những kiến thức cơ bản, hiện đại, chọn lọc, đảm bảo tính khoa học, liên thông, phù hợp với thực tiễn, bám sát Luật Kế toán, Chuẩn mực Kế toán
và Chế độ Kế toán doanh nghiệp hiện hành Nhằm đáp ứng mong muốn của người học và người dạy có bài giảng Kế toán doanh nghiệp du lịch phù hợp với chương trình đã quy định trong Học viện, Bộ môn Kế toán - Kiểm toán, Khoa Tài chính - Kế toán, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã tổ chức biên soạn Bài giảng Kế toán doanh nghiệp
du lịch, Tham gia biên soạn bài giảng gồm:
TS Nguyễn Văn Hậu - Trưởng Bộ môn (chủ biên) tham gia biên soạn lý thuyết và minh họa các chương 1,2,3,4;
ThS, NCS Phạm Vũ Hà Thanh tham gia biên soạn hệ thống câu hỏi ôn tập và bài tập các chương 1,2,3,4
Bài giảng Kế toán doanh nghiệp du lịch được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy và học tập cho giảng viên và sinh viên ngành kế toán của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Để bài giảng được hữu ích phục vụ cho hoạt động giảng dạy và học tập, chúng tôi mong nhận được những góp ý xây dựng của độc giả
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12/2017
TẬP THỂ TÁC GIẢ PTIT
Trang 3MỤC LỤC
VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1
1.1 Đặc điểm, phân loại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch 1
1.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh du lịch 1
1.1.2 Phân loại hoạt động kinh doanh du lịch 2
1.2 Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch 4
1.2.1 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch 4
1.2.2 Căn cứ, nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch 4
1.2.3 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch 5
CHƯƠNG 2: KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH 28 2.1 Khái niệm, phân loại chi phí và giá thành dịch vụ du lịch 28
2.1.1 Khái niệm về chi phí và giá thành dịch vụ du lịch 28
2.1.2 Phân loại chi phí, giá thành dịch vụ du lịch 28
2.2 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ kế toán chi phí và giá thành dịch vụ du lịch 34
2.2.1 Yêu cầu quản lý chi phí và giá thành dịch vụ du lịch 34
2.2.2 Nhiệm vụ kế toán chi phí và giá thành dịch vụ du lịch 37
2.3 Kế toán chi phí dịch vụ du lịch 37
2.3.1 Đối tượng, phương pháp tập hợp chi phí dịch vụ du lịch 37
2.3.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí dịch vụ du lịch 38
2.4 Kế toán giá thành dịch vụ du lịch 43
2.4.1 Đối tượng, phương pháp tính giá thành dịch vụ du lịch 43
2.4.2 Phương pháp kế toán giá thành dịch vụ du lịch 46
CHƯƠNG 3: KẾ TOÁN DOANH THU VÀ KẾT QUẢ KINH DOANH 60 DỊCH VỤ DU LỊCH 60 3.1 Khái niệm, phân loại doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 60
3.1.1 Khái niệm doanh thu, kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 60
3.1.2 Phân loại doanh thu, kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 61
3.2 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ kế toán doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 63
3.2.1 Yêu cầu quản lý doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 63
3.2.2 Nhiệm vụ kế toán doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 64
3.3 Kế toán doanh thu và kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 64
3.3.1 Ghi nhận doanh thu và xác định kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 64
3.3.2 Phương pháp kế toán doanh thu dịch vụ du lịch 65
CHƯƠNG 4: BÁO CÁO KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP DU LỊCH 87 4.1 Hệ thống báo cáo kế toán trong doanh nghiệp du lịch 87
PTIT
Trang 44.2 Báo cáo tài chính doanh nghiệp du lịch 87
4.2.1 Nội dung kết cấu và phương pháp lập bảng cân đối kế toán 87
4.2.2 Nội dung kết cấu và phương pháp lập báo cáo kết quả kinh doanh 96
4.2.3 Nội dung kết cấu và phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ 100
4.2.4 Nội dung kết cấu và phương pháp lập thuyết minh báo cáo tài chính 115
4.3 Báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp du lịch 147
4.3.1 Nội dung kết cấu và phương pháp lập báo cáo chi phí dịch vụ du lịch 149
4.3.2 Nội dung kết cấu và phương pháp lập báo cáo giá thành dịch vụ du lịch 150
4.3.3 Nội dung kết cấu và phương pháp lập báo cáo doanh thu, kết quả kinh doanh dịch vụ du lịch 153
PTIT
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU
BẢNG 1.1 DANH MỤC HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO DOANH
NGHIỆP 14
BẢNG 1.2 DANH MỤC HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO 18
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (Ban hành kèm theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 của Bộ Tài chính) 18
BẢNG 1.3 YÊU CẦU CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN 24
BẢNG 2.1 TỔNG HỢP CHI PHÍ DỊCH VỤ DU LỊCH 42
BẢNG 2.2 SỔ CHI TIẾT CHI PHÍ TRỰC TIẾP 45
BẢNG 2.3 SỔ TẬP HỢP VÀ PHÂN BỔ CHI PHÍ CHUNG 45
BẢNG 2.4 BẢNG PHÂN BỔ CHI PHÍ DỊCH VỤ DU LỊCH 46
BẢNG 3.1 SỔ CHI TIẾT DOANH THU CUNG CẤP DỊCH VỤ 71
BẢNG 3.2 BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 72
BẢNG 4.1 BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 87
BẢNG 4.1 CÁCH LẬP CÁC CHỈ TIÊU “SỐ CUỐI NĂM” TRÊN BCĐKT 92
BẢNG 4.3 BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH 96
BẢNG 4.4 CÁCH LẬP CÁC CHỈ TIÊU “NĂM NAY” TRÊN BCKQKD 98
BẢNG 4.5 BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ THEO PHƯƠNG PHÁP TRỰC TIẾP 100
BẢNG 4.6 BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ THEO PHƯƠNG PHÁP GIÁN TIẾP 102
BẢNG 4.7 CÁCH LẬP CÁC CHỈ TIÊU CỦA BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ 108
BẢNG 4.8 THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 116
BẢNG 4.9 CÁO CÁO THỰC HIỆN DỰ TOÁN CHI PHÍ QUẢN LÝ 149
BẢNG 4.10 BÁO CÁO CHI PHÍ DỊCH VỤ DU LỊCH 149
BẢNG 4.11 BÁO CÁO GIÁ THÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH 150
BẢNG 4.12 BÁO CÁO GIÁ THÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH THEO HOẠT ĐỘNG 152
BẢNG 4.13 BÁO CÁO DOANH THU CUNG CẤP DỊCH VỤ DU LỊCH 153
BẢGN 4.14 BÁO CÁO KQKD CHI TIẾT THEO ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC 153
BẢNG 4.15 BÁO CÁO KQKD CHI TIẾT THEO HOẠT ĐỘNG 155
PTIT
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHTNLĐ&BNN Bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
PTIT
Trang 7CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP DU LỊCH
1.1 Đặc điểm, phân loại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
1.1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh du lịch
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi thường trú nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Hoạt động kinh doanh du lịch (dịch vụ du lịch) là hoạt động kinh doanh tổng hợp phục vụ nhu cầu của con người như thăm quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh, thể thao, …
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Một là, hoạt động kinh doanh du lịch mang tính chất tổng hợp của nhiều ngành
kinh doanh khác nhau, vừa mang tính chất thương mại - dịch vụ - sản xuất và vừa mang tính chất văn hoá - xã hội:
Tính chất thương mại thể hiện qua các nghiệp vụ mua - bán hàng lưu niệm, hàng ăn, đồ uống …phục vụ cho khách du lịch
Hoạt động kinh doanh mang tính chất dịch vụ như cho thuê phòng nghỉ, hướng dẫn du lịch, vận chuyển, tắm hơi, massage, karaoke, nhiếp ảnh, cho thuê đồ dùng,…
Kinh doanh du lịch mang tính chất sản xuất như chế biến món ăn, đồ uống, sản xuất hàng lưu niệm, dụng cụ du lịch, …
Tính chất văn hóa – xã hội thể hiện trong hoạt động kinh doanh du lịch qua các nơi khách tham quan trong nước cũng như nước ngoài, như ẩm thực tại các vùng miền,
lễ hội truyền thống tại các địa phương, trò chơi dân gian, di tích lịch sử, đình, chùa, miếu, đền…
Các hoạt động kinh doanh du lịch nhằm mục đích phục vụ nhu cầu của khách hàng, các hoạt động này kết hợp với nhau tạo nên tính tổng hợp, đa dạng, phong phú, phức tạp của hoạt động kinh doanh du lịch
Hai là, hoạt động kinh doanh du lịch tạo ra sản phẩm không mang hình thái vật
chất, quá trình sản xuất, tiêu thụ thực hiện đồng thời, tại chỗ và trực tiếp với khách hàng Sản phẩm du lịch được bán cho khách trước khi khách hàng thấy sản phẩm du lịch, khách hàng mua sản phẩm du lịch phải trả tiền trước khi được sử dụng sản phẩm
du lịch Sản phẩm du lịch có nhiều chủng loại, thứ hạng… phục vụ nhu cầu khác nhau cho khách hàng Sản phẩm du lịch không dự trữ được nên rất khó gia tăng việc cung cấp sản phẩm du lịch trong một thời gian ngắn
PTIT
Trang 8Ba là, hoạt động kinh doanh du lịch mang tính thời vụ, bị tác động và phụ thuộc
vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, chính trị, di sản văn hoá, địa danh (phong cảnh đẹp, độc đáo và kỳ lạ, …) chẳng hạn như hoạt động kinh doanh dịch
vụ du lịch vào mùa hè (tắm biển), mùa đông (ngắm tuyết), mùa lễ hội (chùa Hương, Hội Lim…)
Bốn là, đối tượng phục vụ của hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch rất đặc biệt,
khách du lịch đa dạng, phong phú về thành phần, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, học vấn, sở thích, thị hiếu, phong tục, tập quán, nếp sống, nhu cầu du lịch của khách là không ổn định, dễ thay đổi và chịu sự tác động của tính ổn định về kinh tế cũng như chính trị của mỗi quốc gia và mỗi khách hàng
Năm là, hoạt động kinh doanh du lịch có tính rủi ro:
Để hoàn thành sản phẩm du lịch, các doanh nghiệp du lịch phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nhau nhưng hiệu quả mang lại nhiều khi chưa đạt được như mong muốn, trong khi đó nhiều ngành kinh doanh khác lại được hưởng, chẳng hạn như để tạo ra tour du lịch, doanh nghiệp du lịch phải bỏ trước về chi phí quảng cáo, đặt khách sạn, bảo hiểm, nhưng kết quả là có rất ít khách hàng mua tour du lịch đó nhưng khi đã có khách hàng mua tour du lịch thì nhiều ngành kinh doanh khác được hưởng như khách sạn, vận chuyển, nhà hàng, bưu chính,…
1.1.2 Phân loại hoạt động kinh doanh du lịch
Hoạt động kinh doanh du lịch được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau như theo theo tính chất dịch vụ, theo phương thức và phạm vi hoạt động, …
Thứ nhất, theo tính chất của dịch vụ du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch gồm
có những hoạt động sau:
- Kinh doanh đại lý du lịch là hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu làm dịch vụ trung gian tiêu thụ cho các doanh nghiệp du lịch để hưởng hoa hồng Để thực hiện được hoạt động kinh doanh này, những đối tượng làm đại lý du lịch phải có vị trí địa
lý thuận lợi, có hệ thống đăng ký, có kỹ năng chuyên môn, có kỹ năng giao tiếp cũng như kỹ năng bán hàng, …
- Kinh doanh du lịch tour là việc các doanh nghiệp du lịch mua các sản phẩm mang tính chất đơn lẻ của của các công ty du lịch khác để tiếp tục hoàn thiện và liên kết chúng lại, làm gia tăng giá trị của các sản phẩm du lịch, làm cho sản phẩm du lịch được hoàn chỉnh và trọn vẹn Sau đó doanh nghiệp du lịch bán lại cho các khách du lịch Để thực hiện được hoạt động kinh doanh này, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, đủ về lượng cũng như chất lượng
- Kinh doanh du lịch tổng hợp là hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm hoạt động kinh doanh đại lý du lịch và kinh doanh du lịch tour
Thứ hai, theo phương thức và phạm vi hoạt động:
- Kinh doanh gửi khách (khách quốc tế và nội địa) là hoạt động kinh doanh du lịch thực hiện việc tổ chức thu hút khách du lịch trực tiếp để đưa khách du lịch đến nơi
du lịch
PTIT
Trang 9- Kinh doanh nhận khách là hoạt động kinh doanh du lịch thực hiện các chương trình du lịch Các doanh nghiệp du lịch có mối quan hệ với các doanh nghiệp du lịch gửi khách để bán các chương trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán
- Kinh doanh kết hợp là hoạt động kinh doanh du lịch thực hiện giữa kinh doanh du lịch nhận khách và kinh doanh du lịch gửi khách
- Kinh doanh du lịch quốc tế và kinh doanh du lịch nội địa:
Kinh doanh du lịch quốc tế là hoạt động kinh doanh cung cấp dịch vụ phục vụ khách du lịch từ các nước khác đến nước sở tại hoặc hoạt động kinh doanh phục vụ cho người dân nước sở tại đi du lịch nước ngoài Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam
và người nước ngoài thường trú ở Việt Nam ra nước ngoài du lịch
Kinh doanh du lịch nội địa là hoạt động cung cấp dịch vụ phục vụ khách du lịch
là người nước sở tại đi du lịch trong nước Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam
Thứ ba, theo nội dung hoạt động, hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch được
phân loại thành:
- Kinh doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh cho thuê phòng nghỉ và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú Cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu là khách sạn, nhà nghỉ và khu nghỉ dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú trong quá trình tham quan du lịch
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch là hoạt động kinh doanh sử dụng phương tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài để vận chuyển khách du lịch theo chương trình du lịch Hoạt động vận chuyển du lịch gồm các hoạt động vận chuyển bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường hàng không nhằm đáp ứng yêu cầu đi lại của khách trong thời gian tham quan du lịch
- Kinh doanh hướng dẫn du lịch là hoạt động kinh doanh chủ yếu được thực hiện bởi các hướng dẫn viên du lịch theo chương trình du lịch Hoạt động hướng dẫn
du lịch chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của khách tham quan các di tích lịch sử, công trình văn hóa và phong cảnh thiên nhiên
- Kinh doanh lữ hành là hoạt động kinh doanh về xây dựng chương trình du lịch, bán chương trình du lịch và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch Kinh doanh đại lý lữ hành là việc các tổ chức, cá nhân nhận bán chương trình du lịch của doanh nghiệp du lịch cho khách du lịch để hưởng hoa hồng
- Kinh doanh dịch vụ khác là hoạt động kinh doanh ăn uống, hàng lưu niệm, nhiếp ảnh, xông hơi – massage – spa, vũ trường, karaoke, cắt tóc – gội đầu, …
PTIT
Trang 101.2 Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch
1.2.1 Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch
Nguyên tắc tuân thủ:
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch phải tuân thủ các quy định của pháp luật về du lịch, kế toán, phù hợp với yêu cầu quản lý vĩ mô của nhà nước, tuân thủ các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành
Nguyên tắc phù hợp:
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch phải phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh du lịch, đặc điểm tổ chức quản lý, quy mô và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp du lịch, phù hợp với trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ quản lý cũng như cán bộ kế toán trong doanh nghiệp du lịch
Nguyên tắc khả thi:
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch phải đảm bảo tính khả thi, việc tổ chức phải thực hiện được, đơn giản, dễ hiểu và dễ làm
Nguyên tắc hiệu quả:
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch phải đạt được kết quả tốt nhất với chi phí thấp nhất
1.2.2 Căn cứ, nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch phải dựa trên những căn
- Căn cứ vào khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên
kế toán hiện có của doanh nghiệp du lịch;
- Căn cứ vào mức độ trang bị cũng như việc sử dụng phương tiện kỹ thuật tính toán hiện có của doanh nghiệp du lịch
Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch gồm những nhiệm vụ:
- Tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện toàn bộ công việc tài chính, kế toán và thống kê của doanh nghiệp du lịch Tuỳ theo khối lượng công việc và biên chế bộ máy
kế toán để xác định mô hình bộ máy kế toán và phân công nhiệm vụ cho từng bộ phận
kế toán hoặc từng nhân viên kế toán
PTIT
Trang 11- Tổ chức thực hiện công việc kế toán theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch
- Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán hoặc sử dụng máy vi tính để ghi nhận,
hệ thống hoá - xử lý và cung cấp thông tin kế toán theo hình thức kế toán thích hợp, đảm bảo những yêu cầu của thông tin kế toán doanh nghiệp du lịch theo chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành
- Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán, mối quan hệ giữa bộ máy kế toán với các bộ phận chức năng khác có liên quan đến công tác kế toán, tài chính và thống kê của doanh nghiệp du lịch
- Tổ chức hướng dẫn mọi người lao động nắm được các chế độ, thể lệ về quản
lý kinh tế tài chính phát sinh trong doanh nghiệp du lịch
1.2.3 Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch
1.2.3.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Mỗi doanh nghiệp du lịch được thành lập, đi vào hoạt động, có tư cách pháp nhân đều phải tổ chức bộ máy kế toán để thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán
và thống kê Theo cơ chế tổ chức quản lý hiện nay, công tác kế toán tài chính và thống
kê được tổ chức thống nhất do phòng kế toán thực hiện Các doanh nghiệp du lịch khác nhau về quy mô, phạm vi hoạt động kinh doanh, quy trình kinh doanh cũng khác nhau, nội dung công việc kế toán khác nhau, khối lượng công việc kế toán khác nhau
Do đó không có mô hình bộ máy kế toán thích hợp cho mọi doanh nghiệp du lịch Tổ chức bộ máy kế toán trong doanh nghiệp du lịch nhằm thực hiện được toàn bộ công tác kế toán, tài chính và thống kê Để có thể xây dựng được mô hình bộ máy kế toán ở doanh nghiệp du lịch khoa học, hợp lý, các doanh nghiệp du lịch cần phải dựa vào các căn cứ sau đây:
- Đặc điểm quy trình hoạt động kinh doanh du lịch, quy mô và phạm vi hoạt động kinh doanh du lịch Căn cứ vào đặc điểm này để xác định biên chế bộ máy kế toán, tổ chức công tác kế toán theo các bộ phận kế toán trong bộ máy kế toán, bố trí nhân viên kế toán thực hiện từng phần công việc kế toán phù hợp với khả năng và trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán;
- Mức độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính: Dựa vào căn cứ này để lựa chọn hình thức tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch, tổ chức bộ máy kế toán doanh nghiệp du lịch 1 cấp hay 2 cấp (kế toán ở doanh nghiệp du lịch cấp cơ sở và kế toán
ở doanh nghiệp du lịch phụ thuộc);
- Khả năng và trình độ đội ngũ nhân viên kế toán hiện có để lựa chọn hình thức
kế toán thích hợp nhằm thực hiện ghi chép và hệ thống hoá thông tin kế toán ở doanh nghiệp du lịch cũng như đảm bảo được công tác tài chính, thống kê và thuận lợi cho việc phân công nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán;
- Mức độ trang bị và khả năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán (máy
vi tính) ở doanh nghiệp du lịch để tổ chức sử dụng máy vi tính vào công tác kế toán ở doanh nghiệp du lịch
PTIT
Trang 12Trong thực tế tồn tại ba hình thức tổ chức công tác kế toán: Hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung, tổ chức công tác kế toán phân tán, tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán
Một là, hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung:
Ở doanh nghiệp du lịch chỉ lập phòng kế toán (đơn vị kế toán cấp cơ sở) để thực hiện toàn bộ công tác kế toán, công tác tài chính và công tác thống kê Còn ở các đơn
vị trực thuộc, các bộ phận trực thuộc đều không có tổ chức kế toán riêng, mà chỉ bố trí nhân viên hạch toán (trong thực tế còn gọi là nhân viên thống kê) làm nhiệm vụ hướng dẫn hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ ban đầu để hàng ngày hoặc định
kỳ ngắn (3 ngày, 5 ngày .) lập bảng kê chuyển chứng từ về phòng kế toán để tiến hành ghi chép kế toán Trong điều kiện cho phép, kế toán trưởng có thể phân công cho những nhân viên hạch toán ở các đơn vị trực thuộc tiến hành một số phần công việc kế toán ngay tại các đơn vị trực thuộc mà các công việc này đã được đơn vị chính phân công, phân cấp cho các đơn vị trực thuộc; ví dụ như ghi chép theo dõi khoản tiền ứng trước để các đơn vị trực thuộc có thể chi trả ngay ở các đơn vị trực thuộc, ghi chép kế toán chi tiết doanh thu, kế toán chi phí Các nhân viên kế toán được phân công ghi chép từng phần công việc kế toán, định kỳ (cuối tháng, cuối quý) lập bảng kê hoặc báo cáo đơn giản để chuyển số liệu hoặc để thanh toán với đơn vị chính Toàn bộ các nghiệp vụ này, phòng kế toán phải tiến hành kiểm tra, thanh toán và ghi sổ kế toán
Như vậy toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong toàn doanh nghiệp du lịch đều được ghi chép, hệ thống hoá thông tin tập trung ở phòng kế toán của doanh nghiệp du lịch
- Ưu điểm của hình thức này:
Tập trung hoá công tác kế toán, cung cấp thông tin kế toán kịp thời phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính tập trung ở doanh nghiệp du lịch; thuận tiện cho việc phân công lao động trong phòng kế toán, thuận tiện cho việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán (máy vi tính) vào công tác kế toán, tài chính, thống kê, thích hợp với các doanh nghiệp du lịch có quy mô vừa và nhỏ
- Nhược điểm của hình thức này:
Hạn chế việc kiểm tra tại chỗ của các nhân viên kế toán đối với các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở các đơn vị trực thuộc; không cung cấp thông tin kế toán kịp thời cho cán bộ quản lý ở các đơn vị trực thuộc, tiến độ lập báo cáo kế toán định
kỳ của đơn vị có thể chậm nếu như việc tổ chức luân chuyển chứng từ ban đầu không tốt hoặc địa bàn hoạt động kinh doanh của các đơn vị trực thuộc có khoảng cách xa doanh nghiệp du lịch (trụ sở chính)
Hai là, hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán:
Theo hình thức tổ chức công tác kế toán này, trong doanh nghiệp du lịch tổ chức phòng kế toán trung tâm (đơn vị kế toán cấp cơ sở), còn ở các đơn vị trực thuộc doanh nghiệp du lịch đều được phân cấp quản lý kinh tế tài chính ở mức độ cao và đều
có tổ chức kế toán riêng (các đơn vị kế toán phụ thuộc) Như vậy hình thức tổ chức
PTIT
Trang 13công tác kế toán phân tán sử dụng thích hợp với những doanh nghiệp du lịch lớn có nhiều đơn vị trực thuộc và đã phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ ở mức độ cao
Trong trường hợp này, công việc kế toán, tài chính, thống kê trong toàn doanh nghiệp du lịch được phân công và phân cấp như sau:
- Phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ: Xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của toàn doanh nghiệp du lịch; cấp phát, quản lý vốn và kinh phí đối với đơn vị trực thuộc; thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh ở tại doanh nghiệp du lịch (trụ sở chính) và lập báo cáo kế toán về các phần hành công việc kế toán này; hướng dẫn và kiểm tra công tác kế toán, tài chính, thống kê ở các đơn vị trực thuộc; thu nhận, kiểm tra các báo cáo kế toán, thống kê của các đơn vị trực thuộc nộp lên và tổng hợp chung với báo cáo công việc kế toán ở doanh nghiệp du lịch để lập được các báo cáo
kế toán, thống kê toàn doanh nghiệp du lịch
- Các đơn vị kế toán phụ thuộc có nhiệm vụ:
Tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế toán, tài chính, thống kê ở tại đơn vị mình dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng đơn vị cơ sở; lập báo cáo kế toán định kỳ bắt buộc và các báo cáo kế toán nội bộ theo yêu cầu của doanh nghiệp du lịch và gửi các báo cáo kế toán về phòng kế toán trung tâm
Ưu và nhược điểm của hình thức tổ chức công tác kế toán phân tán:
- Ưu điểm:
Phù hợp với trình độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính nội bộ ở mức độ cao, tăng cường được kiểm tra, giám sát trực tiếp của các kế toán viên tại chỗ đối với các hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị trực thuộc, cung cấp thông tin kế toán kịp thời phục
vụ cho điều hành và quản lý hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị trực thuộc
Ba là, hình thức tổ chức công tác kế toán vừa tập trung vừa phân tán:
Theo hình thức tổ chức công tác kế toán này, ở doanh nghiệp du lịch thành lập phòng kế trung tâm; ở các đơn vị trực thuộc lớn, nếu quản lý tốt thì được phân cấp quản lý kinh tế tài chính ở mức độ cao và tổ chức kế toán riêng; còn ở các đơn vị trực thuộc nhỏ, trình độ quản lý còn hạn chế thì không được phân cấp ở mức độ cao, không
tổ chức kế toán riêng, mà chỉ bố trí nhân viên hạch toán làm nhiệm vụ hướng dẫn hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ ban đầu để định kỳ chuyển chứng từ về phòng kế toán trung tâm để kiểm tra và ghi sổ kế toán
Thực chất hình thức tổ chức công tác kế toán này là sự kết hợp của hai hình thức tổ chức công tác kế toán tập trung và phân tán
PTIT
Trang 141.2.3.2 Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán
Thông tin kế toán là thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình kinh doanh; thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của doanh nghiệp du lịch Các thông tin này đều phải được ghi nhận, phản ánh vào các chứng từ kế toán để làm căn cứ ghi sổ Việc thu nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong các chứng từ kế toán là công việc khởi đầu của quy trình kế toán, có ý nghĩa quyết định đến tính khách quan, trung thực của số liệu kế toán và báo cáo kế toán Bởi vì, chứng từ kế toán là căn cứ để ghi chép
và hệ thống hoá thông tin kế toán; chứng từ kế toán sử dụng còn là căn cứ không thể thiếu phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính ở các doanh nghiệp du lịch Do đó, việc thu nhận thông tin kế toán phản ánh vào chứng từ kế toán
sử dụng cần phải đảm bảo các yêu cầu:
- Ghi nhận, phản ánh đúng nội dung các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh
và thực sự hoàn thành theo địa điểm và thời gian phát sinh của chúng vào các bản chứng từ kế toán nhằm đảm bảo tính thực tế và khách quan về hoạt động kinh tế tài chính ở doanh nghiệp du lịch;
- Ghi nhận phản ánh rõ tên và địa chỉ của những người thực hiện các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong các chứng từ kế toán để kiểm tra, xác định trách nhiệm vật chất của họ trong việc thực hiện các nghiệp vụ này khi cần thiết
- Phản ánh đầy đủ các chỉ tiêu số lượng hiện vật và số tiền mà các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của doanh nghiệp du lịch và cách tính toán xác định các chỉ tiêu này
Các chứng từ kế toán về các nghiệp vụ kinh tế nội sinh phát sinh trong quá trình
xử lý thông tin kế toán cũng phải ghi rõ căn cứ để tính toán các chỉ tiêu, cách tính các chỉ tiêu để nhằm kiểm tra tính hợp lý và độ tin cậy của những chỉ tiêu này
Nhân viên kế toán ở doanh nghiệp du lịch bắt buộc phải lập các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế nội sinh để làm căn cứ ghi sổ kế toán
- Việc ghi nhận, phản ánh thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán phải đảm bảo tính kịp thời, tổ chức luân chuyển chứng từ kịp thời để kế toán có thể kiểm tra và ghi sổ kế toán kịp thời Hiệu lực của thông tin kế toán chỉ được phát huy khi thông tin được ghi nhận, cung cấp kịp thời phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính ở doanh nghiệp du lịch, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
- Việc ghi nhận, phản ánh thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, các đơn vị phải sử dụng hệ thống chứng từ kế toán bắt buộc do
Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê ban hành, vận dụng các mẫu chứng từ hướng dẫn
và tự xây dựng các mẫu chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế nội sinh cho phù hợp với quá trình tính toán và xử lý thông tin kế toán ở doanh nghiệp du lịch
Tổ chức thu nhận thông tin các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh vào chứng từ kế toán sử dụng Một trong những đặc trưng của hạch toán kế toán là ghi
PTIT
Trang 15chép, hệ thống hoá và xử lý thông tin kế toán phải căn cứ vào chứng từ kế toán sử dụng Chứng từ kế toán vừa là căn cứ để ghi sổ kế toán vừa là bằng chứng pháp lý của
số liệu kế toán Tổ chức thu nhận, phản ánh thông tin kế toán vào các bản chứng từ kế toán sử dụng là một nội dung công việc quan trọng của việc tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp du lịch Theo nội dung và tính chất của nghiệp vụ, các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở các doanh nghiệp du lịch được phân chia thành hai loại: + Nghiệp vụ ban đầu (nghiệp vụ kinh tế ngoại sinh) là những nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của đơn vị và kéo theo sự trao đổi;
+ Nghiệp vụ xử lý thông tin (nghiệp vụ kinh tế nội sinh) là những nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình xử lý thông tin kế toán, tác động đến tài sản
và không kéo theo sự trao đổi
Các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của doanh nghiệp
du lịch phát sinh ở tất cả các bộ phận, mọi người lao động đều có liên quan đến việc thực hiện các nghiệp vụ này Vì vậy, phải tổ chức hạch toán ban đầu ở tất cả các bộ phận để có thể thu nhận, phản ánh nội dung thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ ban đầu Hạch toán ban đầu là công việc khởi đầu của quy trình kế toán nhưng không hoàn toàn do các nhân viên kế toán tiến hành, mà do người lao động ở các bộ phận công tác thực hiện với sự hướng dẫn của phòng kế toán
Chẳng hạn như việc chấm công lao động ở các bộ phận trong đơn vị, việc ghi chép nghiệp vụ bán lẻ ở các quầy hàng, việc đưa nguyên liệu vào sử dụng ở bộ phận chế biến món ăn Những thông tin hạch toán ban đầu đều là thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở doanh nghiệp du lịch, là những thông tin kế toán phải thu nhận để ghi chép phản ánh Vì vậy, phòng kế toán đơn vị phải cùng với các bộ phận khác trong đơn vị phối hợp tổ chức hạch toán ban đầu ở từng bộ phận Nội dung công việc chủ yếu của tổ chức hạch toán ban đầu, gồm:
- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ thích hợp với từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh để có thể ghi nhận được đầy đủ, chính xác nội dung thông tin về các nghiệp vụ đó, phù hợp với yêu cầu thu nhận thông tin kế toán;
- Quy định người chịu trách nhiệm ghi nhận thông tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào chứng từ ban đầu ở từng bộ phận; hướng dẫn cách ghi nhận thông tin vào chứng từ ban đầu nhằm đảm bảo ghi đúng và ghi đầy đủ các yếu tố của chứng
từ để có thể kiểm tra, kiểm soát được nội dung các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ;
- Phân công kế toán viên chịu trách nhiệm thu nhận và kiểm tra các chứng từ ban đầu để phòng kế toán nhận được toàn bộ thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong đơn vị Tính trung thực của thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong các chứng từ ban đầu có ý nghĩa quyết định đến tính trung thực của số liệu kế toán
Vì vậy, tổ chức tốt hạch toán ban đầu nhằm bảo đảm ghi nhận được thông tin trung thực về các nghiệp vụ ban đầu Vai trò của kế toán viên trong việc hướng dẫn,
PTIT
Trang 16kiểm tra việc ghi nhận thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ ban đầu là cần thiết để nhằm hạn chế sự thiếu trung thực của việc ghi nhận thông tin vào chứng từ ban đầu
Tổ chức thực hiện nghiệp vụ nội sinh:
Khác với hạch toán ban đầu, các nghiệp vụ nội sinh phát sinh trong quá trình xử
lý thông tin kế toán do các kế toán viên trực tiếp thực hiện trên cơ sở số liệu thông tin
kế toán đã được hệ thống hoá từ các chứng từ ban đầu hoặc phải tính toán, xác định một số khoản mục chi phí kinh doanh trong kỳ phải chịu trên cơ sở dự toán, kế hoạch chi phí Các nghiệp vụ này thường được tiến hành vào cuối tháng, cuối quý, trước khi khoá sổ kế toán như: Phân bổ các khoản chi phí trả trước, trích trước …; tiến hành phân
bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng hoạt động kinh doanh cụ thể, cho từng đối tượng chịu chi phí, tính toán xác định kết quả hoạt động ở doanh nghiệp du lịch Nội dung công việc chủ yếu trong việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ kinh
tế nội sinh:
- Quy định việc sử dụng các mẫu chứng từ thích hợp đối với từng loại nghiệp
vụ kinh tế nội sinh để ghi nhận về các nghiệp vụ này, làm căn cứ để tiến hành ghi sổ
kế toán trước khi khoá sổ Một số mẫu bảng đã được quy định trong chế độ kế toán (chế
độ chứng từ kế toán sử dụng, chế độ sổ kế toán), các doanh nghiệp phải xây dựng mẫu chứng từ phản ánh nghiệp vụ kinh tế nội sinh cho phù hợp với cách tính toán các chỉ tiêu
về các nghiệp vụ này Các chứng từ về các nghiệp vụ kinh tế nội sinh cũng cần có đầy
đủ các yếu tố cơ bản của chứng từ kế toán, các chỉ tiêu số lượng về nghiệp vụ kinh tế nội sinh phải ghi rõ căn cứ tính và cách tính các chỉ tiêu này
- Phân công từng bộ phận kế toán, từng kế toán viên thực hiện từng nghiệp vụ
xử lý thông tin kế toán phù hợp với chức năng, nhiệm vụ Vì các nghiệp vụ này có ảnh hưởng lớn đến tính pháp lý, tính tin cậy của số liệu thông tin kế toán và kết quả cuối cùng của các hoạt động ở doanh nghiệp du lịch;
- Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh tế nội sinh cần phải tuân thủ các chuẩn mực kế toán đã quy định và các nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận, tránh chủ quan, tuỳ tiện
Tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán sử dụng: Các chứng từ kế toán sử dụng ban đầu được lập ở các bộ phận trong đơn vị hoặc do các đơn vị khác lập về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của đơn vị, cũng như các chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế nội sinh, từ khi lập hoặc nhận được chúng, bảo quản, lưu trữ thường luân chuyển qua nhiều bộ phận chức năng trong đơn vị, qua các bộ phận kế toán trong phòng kế toán để thực hiện các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ hoặc để kiểm tra ghi nhận các thông tin về các nghiệp vụ này theo chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận trong đơn vị Chứng từ
kế toán sử dụng vừa là vật mang tin vừa là phương tiện truyền tin Vì vậy ở mỗi đơn vị cần phải xây dựng các chương trình (kế hoạch) luân chuyển chứng từ kế toán sử dụng thích ứng đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở đơn vị Trong từng
PTIT
Trang 17chương trình luân chuyển chứng từ cần quy định rõ trình tự luân chuyển của chứng từ khi lập hoặc nhận được (đối với chứng từ từ bên ngoài đến) phải tuần tự luân chuyển qua các bộ phận nào, thời gian thực hiện hoặc kiểm tra nội dung nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh chứng từ ở từng bộ phận để chứng từ kế toán sử dụng luân chuyển kịp thời Chỉ có như vậy kế toán mới có thể thu nhận thông tin, hệ thống hoá
và cung cấp thông tin kế toán được kịp thời, phục vụ tốt cho yêu cầu quản lý kinh tế tài chính ở đơn vị Để tổ chức khoa học và hợp lý việc luân chuyển chứng từ kế toán sử dụng ở đơn vị cần phải quy định rõ chức trách, nhiệm vụ của từng bộ phận, của từng cán
bộ, nhân viên trong đơn vị đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh thường xuyên ở đơn vị; từ đó xây dựng các chương trình luân chuyển chứng từ cho từng loại nghiệp vụ phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý ở đơn vị để nhằm hạn chế những thủ tục không cần thiết Chứng từ kế toán sử dụng là phương tiện truyền tin về các nghiệp
vụ kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình luân chuyển chứng từ giúp cho các bộ phận chức năng có liên quan đến nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh kiểm tra được nội dung của thông tin phản ánh trong chứng từ theo chức trách, nhiệm vụ của mình
Lãnh đạo doanh nghiệp du lịch và kế toán trưởng phải kiểm tra việc nhập, xuất tài sản đối với bên ngoài, phòng tổ chức phải kiểm tra ngày công lao động của cán bộ công nhân viên, kiểm tra thang bậc lương của cán bộ công nhân viên Khi chứng từ kế toán sử dụng chuyển đến phòng kế toán, kế toán viên bắt buộc phải kiểm tra chứng từ
kế toán sử dụng trước khi ghi sổ kế toán:
Kiểm tra chứng từ kế toán sử dụng có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính trong doanh nghiệp du lịch; đảm bảo tính thực tế, tính trung thực, tính chính xác, tính hợp pháp của nội dung nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ, hạn chế những hành vi thiếu trung thực của những người thực hiện các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong các chứng từ kế toán sử dụng Đại bộ phận các hành vi tiêu cực phát sinh ở các đơn vị đều được thực hiện bằng cách lập chứng từ sai lệch với nội dung các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh Vì vậy, ở mọi doanh nghiệp du lịch cần quy định rõ chức trách, nhiệm vụ cho từng bộ phận để kiểm tra chặt chẽ nội dung thông tin về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ kế toán sử dụng
Bất kỳ kế toán viên nào được phân công ghi sổ kế toán, bắt buộc phải tiến hành kiểm tra chứng từ kế toán sử dụng nhằm đảm bảo tính thực tế, tính hợp pháp, hợp lý của nội dung nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và đặc biệt là để đảm bảo tính chính xác của các chỉ tiêu số lượng phản ánh trong chứng từ Việc ghi sổ kế toán để hệ thống hóa và cung cấp thông tin từ các chứng từ kế toán sử dụng phải chính xác, không được phép có sai số là một đặc trưng của khoa học kế toán Cho nên kiểm tra chặt chẽ tính chính xác của các chỉ tiêu số lượng phản ánh trong chứng từ kế toán sử dụng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán Nội dung công việc kiểm tra thông tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ánh trong chứng từ kế toán trước khi ghi sổ bao gồm:
PTIT
Trang 18- Kiểm tra tính thực tế của nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở doanh nghiệp
du lịch nhằm loại trừ việc giả mạo chứng từ để tham ô hoặc thanh toán khống;
- Kiểm tra tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ nhằm đảm bảo tuân thủ các chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế tài chính hiện hành, hạn chế những hành vi vi phạm làm tổn hại đến tài sản của các doanh nghiệp du lịch;
- Kiểm tra tính hợp lý của nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ánh trong chứng từ, tính hợp lý đòi hỏi nội dung thông tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phải phù hợp với kế hoạch, phù hợp với dự toán, phù hợp với định mức kinh tế kỹ thuật, phù hợp với quy định về thanh toán, quy định về tín dụng, phù hợp với giá cả thị trường nhằm hạn chế những hành vi tham ô, lãng phí của những người thực hiện;
- Kiểm tra tính trung thực của các chỉ tiêu số lượng hiện vật và giá trị, số lượng tổng hợp và số lượng chi tiết mà nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của đơn vị nhằm hạn chế những hành vi gian dối của những người thực hiện;
- Kiểm tra việc tính toán các chỉ tiêu giá trị phản ánh trong chứng từ nhằm đảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán;
- Kiểm tra việc ghi đầy đủ các yếu tố của chứng từ nhằm đảm bảo tính pháp lý của chứng từ kế toán sử dụng, thuận tiện cho việc kiểm tra, kiểm soát được hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vị Mọi hành vi tiêu cực trong hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị đều thể hiện trong các chứng từ kế toán sử dụng Vì thế chỉ khi nào đơn vị tiến hành kiểm tra chứng từ kế toán sử dụng mới có thể phát hiện được những hành vi tiêu cực này Do đó, các chứng từ kế toán sử dụng phải ghi đầy đủ các yếu tố của chứng từ mới xác định rõ người chịu trách nhiệm vật chất về nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phản ánh trong chứng từ Muốn tổ chức tốt việc kiểm tra chứng từ ban đầu về các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tác động đến tài sản của đơn vị, đòi hỏi cán bộ quản lý ở đơn vị nói chung và các kế toán viên nói riêng cần phải nắm chắc các chế
độ, thể lệ về quản lý kinh tế tài chính hiện hành, các kỷ luật thu, nộp, thanh toán, tín dụng, các định mức kinh tế kỹ thuật có liên quan và thường xuyên nắm được giá cả thị trường có liên quan đến các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở đơn vị Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng chế độ chứng từ kế toán sử dụng do Bộ Tài chính phát hành, bao gồm hệ thống chứng từ kế toán sử dụng thống nhất bắt buộc và hệ thống chứng từ
kế toán sử dụng hướng dẫn và thực hiện các quy định về chứng từ theo Luật kế toán hiện hành Hệ thống chứng từ kế toán sử dụng bắt buộc là hệ thống chứng từ kế toán
sử dụng phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân, hoặc có yêu cầu quản lý chặt chẽ, mang tính chất phổ biến rộng rãi Đối với hệ thống chứng từ này, Nhà nước tiêu chuẩn hoá về quy cách, mẫu biểu, chỉ tiêu phản ánh, phương pháp lập và áp dụng thống nhất trong tất cả các lĩnh vực và các thành phần kinh tế Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn là những chứng từ sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, Nhà nước hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng để các ngành, các thành phần kinh tế trên cơ sở đó vận dụng vào tuỳ từng trường hợp cụ thể, thích hợp Các ngành, các lĩnh vực có thể thêm, bớt một số chỉ tiêu hoặc thay đổi thiết kế mẫu biểu cho phù hợp đảm bảo tính
PTIT
Trang 19pháp lý cần thiết của chứng từ Nội dung của hệ thống chứng từ kế toán sử dụng gồm
Ngoài 5 chỉ tiêu còn có thêm một loại chứng từ như trong Luật kế toán quy định
đó là chứng từ điện tử: Phản ánh các nghiệp vụ xử lý thông tin trong quá trình ghi sổ
kế toán cũng là các chứng từ kế toán sử dụng cũng phải đảm bảo tính pháp lý cần thiết (chứng từ phản ánh tính toán kết quả kinh doanh, xác định kết quả, phân bổ chi phí )
1.2.3.3 Tổ chức vận dụng tài khoản kế toán sử dụng
Tài khoản kế toán sử dụng là các trang sổ kế toán (các bảng kê) được mở để ghi chép phản ánh một cách thường xuyên, liên tục, có hệ thống nhằm phản ánh được tình hình và sự biến động của từng chỉ tiêu kinh tế tài chính, phản ánh tài sản và sự vận động của tài sản ở đơn vị Các chỉ tiêu kinh tế tài chính này bao gồm các chỉ tiêu kinh
tế tài chính tổng hợp và các chỉ tiêu kinh tế tài chính chi tiết Do vậy, tài khoản cũng được phân chia thành nhiều cấp: Tài khoản cấp 1 được mở để ghi phản ánh tình hình
và sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, còn gọi là tài khoản tổng hợp; tài khoản chi tiết được mở theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính chi tiết nhằm cụ thể hoá chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp Tuỳ theo mức độ và yêu cầu cụ thể hoá chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, mà tài khoản chi tiết được mở nhiều cấp khác nhau (tài khoản cấp 2, cấp 3, cấp 4 ) Danh mục tài khoản cấp 1 dùng để ghi chép phản ánh được toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản ở doanh nghiệp du lịch Thông thường các doanh nghiệp du lịch không tự xây dựng hệ thống tài khoản kế toán sử dụng, mà chỉ căn cứ vào các hệ thống tài khoản kế toán sử dụng đã được xây dựng cho từng lĩnh vực hoạt động kinh tế tài chính để xác định danh mục các tài khoản kế toán sử dụng đơn vị cần sử dụng đủ để phản ánh toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vị mình
Hiện nay, Nhà nước ta ban hành chế độ kế toán thống nhất, trong đó có hệ thống tài khoản kế toán sử dụng thống nhất và nhiều hệ thống tài khoản kế toán sử dụng thống nhất đối với từng loại hình doanh nghiệp Hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho doanh nghiệp bao gồm các tài khoản cấp 1, tài khoản cấp 2, tài khoản trong bảng cân đối kế toán và tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán Các doanh nghiệp, công
ty, Tổng công ty căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán sử dụng quy định trong chế độ
kế toán doanh nghiệp, tiến hành nghiên cứu, vận dụng và chi tiết hoá hệ thống tài khoản kế toán sử dụng phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng ngành và từng doanh nghiệp, nhưng phải phù hợp với nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của các tài khoản tổng hợp tương ứng Trường hợp doanh nghiệp, công ty, Tổng công ty cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc sửa đổi tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch toán các nghiệp vụ
PTIT
Trang 20kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện Các doanh nghiệp, công ty, Tổng công ty có thể mở thêm các tài khoản cấp 2 và các tài khoản cấp 3 đối với những tài khoản không có quy định tài khoản cấp 2, tài khoản cấp 3 tại danh mục Hệ thống tài khoản kế toán sử dụng cho doanh nghiệp đã quy định
BẢNG 1.1 DANH MỤC HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO
DOANH NGHIỆP theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014:
Số TT SỐ HIỆU TK TÊN TÀI KHOẢN
Tiền gửi Ngân hàng
Tiền Việt Nam Ngoại tệ
03 121 Chứng khoán kinh doanh
05 131 Phải thu của khách hàng
06 133
1331
1332
Thuế GTGT được khấu trừ
Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ
07 136
1361
1368
Phải thu nội bộ
Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc Phải thu nội bộ khác
PTIT
Trang 2109 141 Tạm ứng
10 151 Hàng mua đang đi đường
11 152 Nguyên liệu, vật liệu
19 217 Bất động sản đầu tư
20 228
2281
2288
Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết Đầu tư khác
Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh
Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác
Dự phòng phải thu khó đòi
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
23 242 Chi phí trả trước
LOẠI TÀI KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ
PTIT
Trang 2224 331 Phải trả cho người bán
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
Thuế giá trị gia tăng phải nộp
Thuế GTGT đầu ra Thuế GTGT hàng nhập khẩu
Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế xuất, nhập khẩu Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân Thuế tài nguyên
Thuế nhà đất, tiền thuê đất Thuế bảo vệ môi trường và các loại thuế khác
Thuế bảo vệ môi trường Các loại thuế khác
30 341
3411
3412
Vay và nợ thuê tài chính
Các khoản đi vay
Trang 23Quỹ khen thưởng phúc lợi
Quỹ khen thưởng Quỹ phúc lợi Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ Quỹ thưởng ban quản lý điều hành công ty
33 356
3561
3562
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã hình thành TSCĐ
LOẠI TÀI KHOẢN VỐN CHỦ SỞ HỮU
35 413 Chênh lệch tỷ giá hối đoái
36 418 Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu
37 419 Cổ phiếu quỹ
38 421
4211
4212
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm trước Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm nay
LOẠI TÀI KHOẢN DOANH THU
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Doanh thu bán hàng hóa Doanh thu bán thành phẩm Doanh thu cung cấp dịch vụ Doanh thu khác
40 515 Doanh thu hoạt động tài chính
LOẠI TÀI KHOẢN CHI PHÍ SẢN XUẤT, KINH DOANH
PTIT
Trang 2444 627 Chi phí sản xuất chung
51 711 Thu nhập khác
LOẠI TÀI KHOẢN CHI PHÍ KHÁC
51 811 Chi phí khác
52 821 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
TÀI KHOẢN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH
53 911 Xác định kết quả kinh doanh
BẢNG 1.2 DANH MỤC HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
(Ban hành kèm theo Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/8/2016 của Bộ Tài chính)
Tiền gửi Ngân hàng
Tiền Việt Nam Ngoại tệ
03 121 Chứng khoán kinh doanh
05 131 Phải thu của khách hàng
PTIT
Trang 2506 133
1331
1332
Thuế GTGT được khấu trừ
Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ
07 136
1361
1368
Phải thu nội bộ
Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc Phải thu nội bộ khác
09 141 Tạm ứng
10 151 Hàng mua đang đi đường
11 152 Nguyên liệu, vật liệu
19 217 Bất động sản đầu tư
20 228
2281
2288
Đầu tư góp vốn vào đơn vị khác
Đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết Đầu tư khác
Trang 262292
2293
2294
Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác
Dự phòng phải thu khó đòi
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
23 242 Chi phí trả trước
LOẠI TÀI KHOẢN NỢ PHẢI TRẢ
24 331 Phải trả cho người bán
Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
Thuế giá trị gia tăng phải nộp
Thuế GTGT đầu ra Thuế GTGT hàng nhập khẩu
Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế xuất, nhập khẩu Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân Thuế tài nguyên
Thuế nhà đất, tiền thuê đất Thuế bảo vệ môi trường và các loại thuế khác
Thuế bảo vệ môi trường Các loại thuế khác
Trang 2730 341
3411
3412
Vay và nợ thuê tài chính
Các khoản đi vay
Quỹ khen thưởng phúc lợi
Quỹ khen thưởng Quỹ phúc lợi Quỹ phúc lợi đã hình thành TSCĐ Quỹ thưởng ban quản lý điều hành công ty
33 356
3561
3562
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ đã hình thành
35 413 Chênh lệch tỷ giá hối đoái
36 418 Các quỹ thuộc vốn chủ sở hữu
37 419 Cổ phiếu quỹ
38 421
4211
4212
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối
Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm trước Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm nay
LOẠI TÀI KHOẢN DOANH THU
39 511 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
PTIT
Trang 2840 515 Doanh thu hoạt động tài chính
LOẠI TÀI KHOẢN CHI PHÍ SẢN XUẤT, KINH DOANH
LOẠI TÀI KHOẢN THU NHẬP KHÁC
46 711 Thu nhập khác
LOẠI TÀI KHOẢN CHI PHÍ KHÁC
47 811 Chi phí khác
48 821 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
TÀI KHOẢN XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH
49 911 Xác định kết quả kinh doanh
1.3.3.4 Tổ chức vận dụng hình thức kế toán sử dụng
Hình thức kế toán là hình thức tổ chức sổ kế toán trong đó quy định rõ số lượng, kết cấu, mối quan hệ giữa các sổ, trình tự ghi sổ được sử dụng để ghi chép hệ thống hoá thông tin kế toán Vì vậy, người ta phải tổ chức sổ kế toán, xây dựng kết cấu các mẫu sổ phù hợp với trình tự và phương pháp hệ thống hoá thông tin kế toán Trong quá trình hình thành khoa học kế toán, người ta đã xây dựng các phương án tổ chức sổ
kế toán để ghi chép hệ thống hoá thông tin kế toán trong công tác kế toán ở doanh nghiệp du lịch Các phương án tổ chức sổ kế toán được gọi là các hình thức kế toán
Theo chế độ kế toán hiện hành, các doanh nghiệp có thể lựa chọn sử dụng các hình thức kế toán sau: Nhật ký - Sổ cái; Nhật ký chung; Chứng từ ghi sổ; Nhật ký - Chứng từ; Kế toán máy
Mỗi hình thức kế toán lại có các loại sổ kế toán nhất định Theo mức độ phản ánh các chỉ tiêu kinh tế tài chính, sổ kế toán chia làm hai loại:
PTIT
Trang 29+ Sổ kế toán tổng hợp: Dùng để ghi chép kế toán tổng hợp, hệ thống hoá thông tin kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp trong báo cáo tài chính;
+ Sổ kế toán chi tiết: Dùng để ghi chép kế toán chi tiết nhằm cụ thể hoá các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế tài chính nội bộ doanh nghiệp du lịch, minh hoạ cho phần kế toán tổng hợp; đảm bảo kiểm tra được tính thực
tế và tính chính xác của thông tin kế toán Trong các hình thức kế toán khác nhau, kết cấu và nội dung phản ánh mẫu các sổ kế toán tổng hợp cũng khác nhau; nhưng nội dung, kết cấu các sổ kế toán chi tiết thì tương tự nhau Theo trình tự ghi chép kế toán,
sổ kế toán được chia làm hai loại:
+ Sổ ghi theo trật tự thời gian các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh ở doanh nghiệp du lịch (sổ Nhật ký)
+ Sổ ghi phân loại các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo hệ thống các chỉ tiêu kinh tế tài chính, biểu thị tài sản và sự vận động của tài sản ở doanh nghiệp du lịch trong quá trình hoạt động kinh doanh; sử dụng kinh phí Sổ này còn được gọi là sổ tài khoản (Sổ cái, sổ chi tiết) Theo hình thức tổ chức sổ, sổ kế toán được chia thành hai loại: Sổ đóng thành quyển và sổ tờ rời;
Sổ kế toán vừa là phương tiện ghi chép hệ thống hoá thông tin kế toán ở doanh nghiệp du lịch, vừa là phương tiện lưu giữ số liệu và đăng ký các chứng từ kế toán sử dụng, là căn cứ để tiến hành kiểm tra kế toán, kiểm tra hoạt động kinh tế tài chính ở doanh nghiệp du lịch Vì vậy, sử dụng hình thức tổ chức sổ kế toán hoặc sử dụng máy
vi tính để ghi nhận và hệ thống hoá thông tin kế toán đều bắt buộc phải thực hiện được những yêu cầu của thông tin kế toán và đảm bảo có thể kiểm tra được việc thực hiện các yêu cầu này trong công tác kế toán Để kiểm tra tính chính xác của việc ghi chép
kế toán tổng hợp, cuối tháng, cuối quý, kế toán viên lập bảng đối chiếu số phát sinh (bảng cân đối tài khoản) Nội dung kiểm tra đảm bảo quan hệ cân bằng sau:
Tổng số phát sinh bên Nợ
các tài khoản cấp 1 =
Tổng số phát sinh bên Có các tài khoản cấp 1 =
Tổng số tiền ghi theo trật tự thời gian
Để kiểm tra tính chính xác của việc ghi chép kế toán chi tiết, cuối tháng kế toán viên phải lập các bảng chi tiết số phát sinh (bảng tổng hợp chi tiết) theo từng loại tài khoản cấp 1 có mở chi tiết để đối chiếu số liệu ghi chép ở tài khoản cấp 1
Hiện nay, hình thức kế toán máy được đa số các doanh nghiệp du lịch lựa chọn Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán trên máy vi tính:
+ Công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây
+ Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải
in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định Các loại sổ của hình thức kế toán trên máy vi tính được thiết kế theo hình thức kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay
PTIT
Trang 301.3.4.5 Tổ chức lập các báo cáo kế toán
Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn
vị nói chung, ở các doanh nghiệp nói riêng Thông tin kế toán là thông tin cần thiết và hữu ích, phục vụ cho rất nhiều đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán theo mục đích
và lợi ích riêng của doanh nghiệp Các đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán:
- Những người quản lý ở doanh nghiệp du lịch: Chủ doanh nghiệp, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và các bộ phận quản lý khác trong đơn vị cần sử dụng thông tin
kế toán để điều hành và quản lý hoạt động kinh tế tài chính ở đơn vị; kiểm tra được các biện pháp quản lý đang áp dụng; phân tích, đánh giá được kết quả của hoạt động kinh tế tài chính và đề ra các quyết định kinh tế cần thiết
- Tập thể lao động trong doanh nghiệp du lịch cần nắm được thông tin kế toán để biết được hiệu quả hoạt động kinh doanh, sử dụng kinh phí ở đơn vị, mức thu nhập và các quyền lợi khác của người lao động và tham gia giám sát hoạt động kinh tế tài chính
- Các đối tượng khác ngoài đơn vị có quan hệ lợi ích kinh tế với doanh nghiệp du lịch như: Các nhà đầu tư, các nhà tài chính, các ngân hàng, các đại lý, các bạn hàng cũng cần thông tin kế toán của đơn vị để có những quyết định kinh tế tài chính và có quan hệ kinh tế với đơn vị vì lợi ích riêng của mình Mục đích sử dụng thông tin kế toán của các đối tượng cần sử dụng thông tin kế toán khác nhau, vì vậy yêu cầu của thông tin
cụ thể trong báo cáo kế toán nội bộ (báo cáo kế toán quản trị)
PTIT
Trang 31Các tổ chức đoàn thể và
tập thể lao động trong
doanh nghiệp du lịch
Các chỉ tiêu về kết cấu vốn, cấu thành nguồn vốn, số hiện
có và tình hình sử dụng các quỹ, tình hình biên chế và lao động, kết quả hoạt động kinh tế tài chính, mức thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp du lịch
Các cơ quan quản lý
kinh tế tài chính của nhà
nước, cơ quan chủ quản,
cơ quan thống kê
Thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của các đơn vị theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp trong báo cáo tài chính và các báo cáo khác theo yêu cầu của các cơ quan này
- Số lượng và trình độ đội ngũ lao động hiện có của doanh nghiệp du lịch;
- Kết quả và hiệu quả hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp du lịch và xu hướng phát triển;
- Mức thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp du lịch
Thông tin kế toán là thông tin cần thiết và hữu ích cho các đối tượng sử dụng thông tin để đề ra các quyết định kinh tế có liên quan đến hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp du lịch Hiệu quả của việc sử dụng thông tin kế toán phụ thuộc vào chất lượng thông tin được cung cấp Để đảm bảo được chất lượng thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng thông tin thì thông tin kế toán do các doanh nghiệp du lịch cung cấp cần phải đáp ứng được những yêu cầu cụ thể sau:
- Thông tin kế toán phải phản ánh được thực tế, khách quan tình hình tài sản hiện có của doanh nghiệp du lịch
- Thông tin kế toán phải phản ánh đúng thực tế hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp du lịch
- Các chỉ tiêu báo cáo đảm bảo đúng thực tế, chính xác và có thể tin cậy được
- Chỉ tiêu báo cáo phải rõ ràng, dễ hiểu, thuận lợi cho người sử dụng thông tin Nghiêm cấm mọi hành vi xuyên tạc, làm sai lệch thông tin kế toán ở doanh nghiệp du lịch, vì mọi hành vi này đều có thể dẫn đến hậu quả thiệt hại cho người sử dụng thông tin và làm tổn hại đến tài sản của đơn vị cung cấp thông tin kế toán
Báo cáo kế toán là phương tiện để cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán của đơn vị Báo cáo kế toán gồm nhiều loại, vì vậy cần phải phân loại các báo cáo kế toán để tổ chức lập và nộp báo cáo kế toán hoặc cung cấp thông tin kế toán kịp thời, đáp ứng những yêu cầu sử dụng thông tin kế toán Báo cáo kế toán được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Theo quy định trong chế độ kế toán, báo cáo kế toán được chia thành hai loại:
PTIT
Trang 32- Báo cáo kế toán bắt buộc là các báo cáo kế toán định kỳ bắt buộc các doanh nghiệp phải lập (gọi chung là báo cáo tài chính) và nộp theo các địa chỉ quy định nhằm cung cấp thông tin kế toán phục vụ quản lý kinh tế tài chính vĩ mô, phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính ở các đơn vị, cũng như phục vụ cho việc quản lý và phân tích hoạt động kinh tế tài chính ở doanh nghiệp du lịch
- Báo cáo kế toán không bắt buộc là các báo cáo kế toán không thuộc loại phải lập và nộp theo các địa chỉ quy định, song các đơn vị vẫn phải lập theo yêu cầu của ngành và yêu cầu quản lý kinh tế tài chính nội bộ đơn vị (báo cáo kế toán quản trị)
Những công việc cần làm để tổ chức tốt việc lập báo cáo kế toán:
- Xây dựng các mẫu báo cáo kế toán nội bộ doanh nghiệp du lịch;
- Phân công từng bộ phận kế toán, từng kế toán viên chịu trách nhiệm lập từng loại báo cáo kế toán cụ thể Quy định rõ về thời hạn lập cho từng loại báo cáo kế toán
cụ thể
- Kiểm tra báo cáo kế toán trước khi nộp hoặc báo cáo cho người sử dụng thông tin kế toán nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin báo cáo, cụ thể là:
+ Số liệu báo cáo phải hoàn toàn phù hợp với số liệu trong sổ kế toán;
+ Kiểm tra tính chính xác việc ghi sổ kế toán khi lập các báo cáo kế toán định kỳ; + Đôn đốc việc thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kiểm kê định kỳ đối với tài sản
cố định, vật liệu, dụng cụ, hàng hoá, thành phẩm ở đơn vị; kiểm kê hàng ngày đối với tiền mặt tồn quỹ;
+ Tiến hành đối chiếu, xác minh thường xuyên các khoản tiền gửi ngân hàng, tiền gửi kho bạc, các khoản tiền vay, các khoản nợ phải thu, tạm ứng, nợ phải trả;
+ Kiểm tra việc sử dụng các phương pháp tính toán, việc vận dụng các nguyên tắc kế toán trong quá trình xử lý thông tin của các bộ phận kế toán, của các kế toán viên nhằm đảm bảo tính hợp lý và có thể tin cậy được của thông tin kế toán
1.3.3.6 Tổ chức công việc kế toán trong điều kiện ứng dụng tin học
Công nghệ thông tin ngày càng phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng máy vi tính vào việc thu nhận và hệ thống hoá thông tin kế toán ở đơn vị để có thể cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho điều hành và quản lý hoạt động kinh tế tài chính nhanh, nhạy, kịp thời Để sử dụng máy vi tính vào công tác kế toán cần giải quyết những vấn để cơ bản sau:
- Nắm chắc chức năng của máy vi tính trong công tác kế toán ở đơn vị, máy vi tính chỉ là phương tiện tính toán, ghi nhận và hệ thống hoá thông tin kế toán, có khả năng lưu trữ các thông tin, dữ liệu cần thiết với khối lượng lớn, có thể in các tài liệu, các bảng, biểu, các sổ kế toán và báo cáo kế toán theo trình tự đã được thiết kế trong chương trình kế toán trên máy vi tính;
- Tổ chức trang bị máy, trang bị kiến thức tin học cho các kế toán viên để có thể
sử dụng máy tính thành thạo, vận hành được các chương trình kế toán trên máy;
- Tổ chức mã hoá các đối tượng kế toán cụ thể ở đơn vị theo ngôn ngữ của máy
PTIT
Trang 33Đối tượng cụ thể của hạch toán rất nhiều và đa dạng, vì vậy ở đơn vị phải xây dựng hệ thống mã hoá các đối tượng kế toán theo những nguyên tắc nhất định, sao cho đơn giản, dễ nhớ, dễ khai thác trên máy Sử dụng chương trình kế toán trên máy hiện nay, hầu hết các đơn vị sử dụng máy vi tính vào công tác kế toán đều sử dụng các chương trình kế toán trên máy do các chuyên gia lập trình xây dựng, đã được lưu hành
Các chương trình kế toán trên máy hầu như đều được thiết kế dựa vào hình thức
kế toán Nhật ký chung hoặc hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ, song chưa có chương trình kế toán nào có thể sử dụng cho mọi đơn vị, nên vẫn là các chương trình cá biệt chỉ thích hợp đối với từng loại hình hoạt động kinh tế tài chính, từng lĩnh vực hoạt động kinh tế tài chính Sử dụng máy vi tính để thu nhận - hệ thống hoá thông tin kế toán thay cho việc ghi sổ kế toán cũng là một phương án tổ chức thu nhận - hệ thống hoá và cung cấp thông tin kế toán
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1 Hãy phân tích đặc điểm hoạt động kinh doanh du lịch và từ đó cho biết chúng
có tới công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch thế nào?
Câu 2 Hoạt động kinh doanh du lịch được phân loại thế nào?
Câu 3 Trình bày cac nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch Câu 4 Tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp du lịch phải căn cứ vào đâu? Thực hiện những nhiệm vụ gì?
Câu 5 Tổ chức vận dụng chứng từ kế toán trong doanh nghiệp du lịch gồm những nội dung cụ thể gì?
Câu 6 Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán trong doanh nghiệp du lịch thực hiện thế nào?
Câu 7 Tổ chức vận dụng các hình thức kế toán trong doanh nghiệp du lịch gồm những nội dung gì?
Câu 8 Tổ chức lập các báo cáo kế toán trong doanh nghiệp du lịch thực hiện thế nào? Câu 9 Trình bày những nội dung công việc tổ chức bộ máy kế toán trong doanh nghiệp du lịch
PTIT
Trang 34CHƯƠNG 2: KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH DỊCH VỤ DU LỊCH
2.1 Khái niệm, phân loại chi phí và giá thành dịch vụ du lịch
2.1.1 Khái niệm về chi phí và giá thành dịch vụ du lịch
Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) định nghĩa: Chi phí là dòng ra hoặc sử dụng tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ hoặc kết hợp cả hai trường hợp phát sinh trong một kỳ liên quan đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ và thực hiện hoạt động khác thuộc các hoạt động trung tâm của đơn vị [1, tr230]
Trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01): Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
Các khái niệm trên không có gì mâu thuẫn với nhau mà chỉ khác cách diễn đạt
và chi phí được hiểu như sau: Chi phí là những phí tổn được biểu hiện bằng giá trị của toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa và các khoản chi khác cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp du lịch, chi phí dịch vụ du lịch là biểu hiện bằng giá trị của toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa và hao phí khác phát sinh trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
Quá trình kinh doanh dịch vụ du lịch luôn tồn tại hai mặt đối lập nhưng có quan
hệ mật thiết với nhau, doanh nghiệp du lịch đã bỏ ra các khoản chi phí và kết quả thu được đó là các dịch vụ du lịch hoàn thành Do đó, doanh nghiệp du lịch phải hạch toán các chi phí đã chi ra và tính toán được phần chi phí dịch vụ du lịch nằm trong dịch vụ
đã hoàn thành
Như vậy, giá thành dịch vụ du lịch được hiểu là chi phí của dịch vụ du lịch đã
hoàn thành Giá thành dịch vụ du lịch còn là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, kết quả sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tài sản cố định trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp du lịch Giá thành dịch vụ
du lịch cũng là cơ sở để xác định giá bán dịch vụ du lịch, đảm bảo bù đắp chi phí dịch
vụ du lịch và có lợi nhuận
2.1.2 Phân loại chi phí, giá thành dịch vụ du lịch
2.1.2.1 Phân loại chi phí dịch vụ du lịch
Hiện nay có nhiều cách phân loại chi phí dịch vụ du lịch như theo nội dung kinh
tế của chi phí, theo mục đích và công dụng của chi phí, theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động kinh doanh, theo yêu cầu sử dụng chi phí với việc lựa chọn phương án kinh doanh, theo mối quan hệ với khả năng quy nạp chi phí, theo tính chất hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
Một là, theo nội dung kinh tế của chi phí, chi phí dịch vụ du lịch gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ dùng vào hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
PTIT
Trang 35- Chi phí nhân công: tiền lương, tiền ăn ca, phụ cấp, các khoản trích theo lương phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp du lịch
- Chi phí khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp du lịch
- Chi phí dịch vụ mua ngoài của doanh nghiệp du lịch (chi phí điện, nước…)
- Chi phí khác
Tác dụng của cách phân loại này là giúp doanh nghiệp lịch theo dõi và quản lý các khoản mục chi phí để làm cơ sở cho việc xây dựng, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí
Hai là, theo mục đích và công dụng của chi phí, chi phí dịch vụ du lịch gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: nguyên vật liệu chính, nguyên liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp du lịch như chi phí về thực phẩm tưới sống, gia vị, hoa quả, xăng dầu, xà phòng, chè, nước uống,…
- Chi phí nhân công trực tiếp: tiền lương, tiền công, tiền ăn ca, phụ cấp, các khoản trích theo lương phải trả người lao động trực tiếp trong doanh nghiệp du lịch (đầu bếp, nhân viên nấu ăn, nhân viên pha chế đồ uống, nhân viên buồng, bàn, bar, lái xe, phụ xe, hướng dẫn viên du lịch, nhân viên massage,….)
- Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí quản lý các dịch vụ du lịch trong đó: chi phí vật liệu sử dụng ở bộ phận quản lý, chi phí nhân viên quản lý của các bộ phận dịch vụ, chi phí khấu hao TSCĐ ở các bộ phận, chi phí dụng cụ (cốc chén, khăn, bàn, ghế, ga, gối, đệm….), chi phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước…) và chi phí khác
Phân loại chi phí dịch vụ du lịch theo tiêu thức này giúp cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch chi phí, mức tiết kiệm hoặc bội chi theo từng khoản mục chi phí
để có được các quyết định quản trị chi phí dịch vụ du lịch tối ưu
Ba là, theo mối quan hệ với mức độ hoạt động, chi phí dịch vụ du lịch được phân
loai thàn:
- Biến phí: là chi phí thay đổi về tổng số theo mức độ hoạt động nhưng tính trên một đơn vị dịch vụ cung cấp thì không thay đổi chẳng hạn như chi phí vé thăm quan thắng cảnh, chi phí nhiên liệu, nguyên liệu chế biến món ăn…
- Định phí: là chi phí không thay đổi về mặt tổng số nhưng tính cho một đơn vị dịch vụ cung cấp thì thay đổi chẳng hạn như chi phí khấu hao TSCĐ, lương nhân viên hướng dẫn du lịch…
- Chi phí hỗn hợp: là chi phí trong đó có cả định phí và biến phí chẳn hạn như chi phí thuê xe trong trường hợp hợp đồng quy định nếu chạy quá giới hạn số km trong hợp đồng thì sẽ tính thêm tiền theo số km chạy quá
Mức độ hoạt động có thể là số lượng khách du lịch trong một chương trình du lịch, lượng thời gian thăm quan tại một điểm du lịch, độ dài quãng đường di chuyển, số phòng nghỉ, số suất ăn, số xăng dầu dùng cho xe vận chuyển khách, nguyên liệu chế biến món ăn, …
PTIT
Trang 36Việc phân loại chi phí dịch vụ du lịch theo tiêu thức này sẽ giúp cho việc dự đoán chi phí du lịch cho kỳ kinh doanh tiếp theo (sử dụng phương pháp cực đại – cực tiểu hoặc phương pháp bình phương bé nhất) và phục vụ cho việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận (xác định sản lượng hòa vốn, công suất hòa vốn, doanh thu hòa vốn….)
Bốn là, theo yêu cầu sử dụng chi phí trong việc lựa chọn phương án kinh doanh,
chi phí dịch vụ du lịch gồm:
- Chi phí chênh lệch là số chênh lệch chi phí của phương án kinh doanh lựa chọn mới so với phương án kinh doanh cũ chẳng hạn như khi quyết định thay thế nhiên liệu đang nấu ăn (than, ga) bằng điện năng Số chênh lệch giá năng lượng điện
so với nhiên liệu than (ga) là khoản chi phí chênh lệch
- Chi phí cơ hội là lợi ích bị mất đi khi lựa chọn phương án kinh doanh này mà không chọn phương án kinh doanh khác như khi quyết định cho đơn vị khác thuê khách sạn mà không trực tiếp khai thác khách sạn đó Phần lợi ích tiềm năng từ bỏ ở phương án trực tiếp khai thác khách sạn thay vì cho thuê khách sạn đó chính là chi phí
cơ hội
- Chi phí chìm là chi phí đã phát sinh có trong tất cả các phương án kinh doanh
mà các doanh nghiệp du lịch phải chấp nhận dù không muốn chẳng hạn như chi phí khấu hao TSCĐ cho dù doanh nghiệp du lịch có hoạt động kinh doanh hay không thì TSCĐ vẫn bị hao mòn và doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao
Phân loại chi phí theo tiêu thức này giúp cho việc lựa chọn phương án kinh doanh dịch vụ du lịch hợp lý
Năm là, theo mối quan hệ với khả năng quy nạp chi phí, chi phí dịch vụ du lịch
được phân loại thành:
- Chi phí trực tiếp là những chi phí liên quan trực tiếp đến quá trình cung cấp dịch vụ du lịch
- Chi phí gián tiếp là các khoản chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, chẳng hạn như chi phí quản lý hành chính, chi phí sản xuất chung trong doanh nghiệp du lịch
Tùy theo từng hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch cụ thể mà có những khoản chi phí trực tiếp phù hợp như:
Chi phí trực tiếp trong hoạt động hướng dẫn du lịch, gồm:
+ Tiền chi trả các khoản ăn, uống, ngủ, nghỉ của khách, tiền thuê phương tiện đi lại, tiền vé đường, cầu, phà, vào cửa di tích, danh lam, thắng cảnh…
+ Tiền lương, tiền ăn ca, phụ cấp, các khoản trích theo lương của nhân viên hướng dẫn du lịch
+ Chi phí khác: chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng du lịch, công tác phí của hướng dẫn viên du lịch
PTIT
Trang 37Chi phí gián tiếp trong hoạt động hướng dẫn du lịch, gồm: chi phí quản lý dịch
vụ phân bổ cho hoạt động hướng dẫn du lịch, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hoạt động hướng dẫn du lịch
Chi phí trực tiếp trong hoạt động kinh doanh lưu trú, ăn, uống, gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu
+ Chi phí nhân công trực tiếp
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định
+ Chi phí điện nước
+ Chi phí vệ sinh
+ Chi phí khác
Chi phí gián tiếp trong hoạt động lưu trú, hàng ăn, uống…, gồm: chi phí quản lý dịch vụ phân bổ cho từng hoạt động, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hoạt động kinh doanh lưu trú, ăn uống
Sáu là, theo tính chất kinh doanh dịch vụ du lịch, chi phí dịch vụ du lịch phụ
thuộc từng hoạt động cụ thể:
+ Hoạt động kinh doanh lưu trú, chi phí hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú bao gồm:
- Chi phí vật liệu;
- Chi phí của nhân viên trực tiếp phục vụ;
- Chi phí khấu hao TSCĐ;
- Chi phí công cụ, đồ dùng;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước, sửa chữa TSCĐ thuê ngoài …);
- Chi phí khác (nhiên liệu, quảng cáo, hoa để phòng …);
- Chi phí vệ sinh (xà phòng, giấy vệ sinh …);
- Chi phí khấu hao phương tiện vận chuyển;
- Chi phí về trích trước săm lốp;
- Chi phí sửa chữa phương tiện;
- Chi phí quản lý, phục vụ;
- Chi phí khác
PTIT
Trang 38+ Hoạt động kinh doanh hướng dẫn du lịch, chi phí hoạt động kinh doanh hướng dẫn du lịch gồm:
- Chi phí trực tiếp: Là khoản chi phí phục vụ trực tiếp cho khách du lịch trong quá trình tham quan, vẵng cảnh, như tiền ăn, ở, đi lại, vé ra vào các địa điểm tham quan du lịch …
- Chi phí nhân viên hướng dẫn du lịch, gồm: Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp, kinh phí công đoàn của hướng dẫn viên
- Chi phí khác: công tác phí của nhân viên hướng dẫn du lịch, chi phí giao dịch,
ký kết hợp đồng du lịch, chi hoa hồng mối giới, bảo hiểm của khách du lịch…
+ Hoạt động kinh doanh lữ hành, chi phí dịch vụ này bao gồm:
- Chi nghiên cứu thị trường và thiết kế chương trình du lịch;
- Chi quảng cáo bán chương trình du lịch;
- Chi thực hiện các chương trình du lịch theo hợp đồng đã ký kết;
- Chi khác cho hoạt động kinh doanh lữ hành
+ Hoạt động kinh doanh hàng ăn uống, các hoạt động này thường được tiến hành cùng với kinh doanh lưu trú, để phục vụ nhu cầu về ăn, uống, giải khát,…của khách hàng trong thời gian du lịch Kinh doanh hàng ăn, uống, giả khát bao gồm cả kinh doanh hàng mua sẵn và hàng tự chế Vì vậy doanh nghiệp du lịch còn tự chế biến sản phẩm để phục vụ nhu cầu của khách hàng Chi phí hoạt động kinh doanh dịch vụ chế biến món ăn, đồ uống gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp gồm vật liệu chính để chế biến món ăn (cơm suất, phở, mỳ …), chế biến đồ uống (cocktail, sinh tố, …) và chi phí về vật liệu phụ như các loại gia vị (hành, tỏi, mắm, muối, mỳ chính, hạt tiêu, ớt …)
- Chi phí nhân viên trực tiếp chế biến (tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp, kinh phí công đoàn)
- Chi phí khác như chi phí nhiên liệu, quảng cáo, sửa chữa, công cụ đồ dùng …
- Chi phí quản lý, phục vụ
+ Hoạt động kinh doanh hàng hóa trong doanh nghiệp du lịch: Hàng hóa mua sẵn (mua hàng để bán) và hàng tự chế (hoạt động ăn, uống) Chí phí hoạt động kinh doanh hàng hóa mua sẵn là những chi phí liên quan đến quá trình bán hàng, gồm:
- Chi phí nhân viên bán hàng;
- Chi phí vật liệu, bao bì;
- Chi phí công cụ, đồ dùng;
- Chi phí khấu hao TSCĐ;
- Chi phí bảo hành hàng hóa;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài;
- Chi phí bằng tiền khác;
PTIT
Trang 39- Chi phí quản lý, phục vụ
+ Hoạt động khác là các hoạt động nhằm phục vụ dáp ứng các nhu cầu khác của
du khách như: vũ trường, tắm hơi - massage - spa, chụp ảnh lưu niệm, điện thoại, điện tín, dịch vụ cho thuê đồ chơi, dụng cụ du lịch…Hoạt động khác trong kinh doanh du lịch gồm các khoản chi phí:
- Chi phí nhân viên;
- Chi phí vật liệu;
- Chi phí công cụ, đồ dùng;
- Chi phí khấu hao TSCĐ;
- Chi phí bảo hành hàng hóa;
- Chi phí dịch vụ mua ngoài;
- Chi phí bằng tiền khác
2.1.2.2 Phân loại giá thành dịch vụ du lịch
Thứ nhất, phân loại giá thành dịch vụ du lịch theo phạm vi chi phí:
Theo cách phân loại này, giá thành dịch vụ du lịch gồm giá thành toàn bộ dịch
vụ du lịch, giá thành dịch vụ du lịch theo biến phí, giá thành toàn bộ dịch vụ du lịch theo biến phí, giá thành toàn bộ của dịch vụ du lịch tiêu thụ
- Giá thành toàn bộ dịch vụ du lịch: bao gồm toàn bộ biến phí và định phí
thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho dịch vụ du lịch hoàn thành Thông tin về giá thành dịch vụ toàn bộ thường đóng vai trò chủ yếu trong các quyết định mang tính chiến lược dài hạn như quyết định ngừng hay tiếp tục kinh doanh một dịch vụ nào đó
- Giá thành dịch vụ du lịch theo biến phí: là giá thành mà trong đó chỉ bao
gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí chung (biến phí sản xuất) tính cho dịch vụ hoàn thành Giá thành dịch vụ theo biến phí là cơ sở để xác định chỉ tiêu “lãi trên biến phí” Đây là yếu tố trọng tâm trong mô hình mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận Giá thành dịch vụ theo biến phí đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định ngắn hạn, tức thời hay đột xuất
- Giá thành toàn bộ dịch vụ du lịch theo biến phí: là giá thành dịch vụ theo
biến phí cộng với biến phí bán hàng và biến phí quản lý doanh nghiệp tính cho dịch vụ tiêu thụ
- Giá thành toàn bộ dịch vụ du lịch tiêu thụ: Gồm giá thành toàn bộ dịch vụ
cộng với chi phí bán hàng và chi phí quản lý tính cho dịch vụ tiêu thụ
Tác dụng của cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp du lịch định giá bán dịch
vụ du lịch trên cơ sở giá thành
Thứ hai, phân loại giá thành dịch vụ du lịch theo thời điểm và cơ sở số liệu tính
giá thành dịch vụ du lịch:
PTIT
Trang 40Theo cách phân loại này, giá thành dịch vụ du lịch gồm giá thành kế hoạch dịch
vụ du lịch, giá thành thực tế dịch vụ du lịch và giá thành định mức dịch vụ du lịch
- Giá thành kế hoạch dịch vụ du lịch:
Giá thành kế hoạch là giá thành dịch vụ được tính trên cơ sở chi phí dịch vụ kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp du lịch thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình kinh doanh dịch vụ du lịch Giá thành kế hoạch của dịch vụ du lịch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp du lịch
- Giá thành định mức dịch vụ du lịch:
Giá thành định mức là giá thành dịch vụ được tính toán trên cơ sở định mức chi
phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị dịch vụ du lịch
Việc tính giá thành định mức thực hiện trước khi kinh doanh Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp du lịch, là thước đo để xác định chính xác kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp du lịch đánh giá đúng đắn các giải pháp kinh tế, kĩ thuật đã thực hiện và nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp du lịch trong việc tổ chức và
sử dụng các giải pháp kinh tế-tổ chức-kĩ thuật để thực hiện quá trình kinh doanh dịch
vụ, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp phân tích được tình hình thực hiện giá thành dự toán (kế hoạch) dịch vụ du lịch
2.2 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ kế toán chi phí và giá thành dịch vụ du lịch
2.2.1 Yêu cầu quản lý chi phí và giá thành dịch vụ du lịch
Chi phí và giá thành dịch vụ du lịch là những chỉ tiêu kinh tế chủ yếu và luôn được các nhà quản lý, các nhà quản trị và nhiều đối tượng quan tâm Chi phí hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm các chi phí có liên quan đến quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch như: chi phí nguyên, nhiên, vật liệu; khấu hao tài sản cố định; tiền lương và các khoản chi phí có tính chất lương; các khoản trích nộp theo quy định của Nhà nước như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn; chi phí dịch vụ mua ngoài; chi phí bằng tiền khác Việc quản lý và hạch toán chi phí được quy định như sau:
PTIT