1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm phát âm tổ hợp phụ âm tiếng anh ở người việt nói tiếng anh

299 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 299
Dung lượng 8,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích Nghiên cứu này có 3 mục đích chính là: a khảo sát các đặc điểm phát âm tiếng Anh ở người Việt nói tiếng Anh, bao gồm các đặc điểm mang tính chất cá nhân, nhất thời tại một thời

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN ĐẶNG NGUYỆT HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM PHÁT ÂM TỔ HỢP PHỤ ÂM TIẾNG ANH

Ở NGƯỜI VIỆT NÓI TIẾNG ANH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN ĐẶNG NGUYỆT HƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM PHÁT ÂM TỔ HỢP PHỤ ÂM TIẾNG ANH

Ở NGƯỜI VIỆT NÓI TIẾNG ANH

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÂM QUANG ĐÔNG

Hà Nội - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Nguyễn Đặng Nguyệt Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lâm Quang Đông đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, nhận xét giúp đỡ, cho tôi những ý kiến quý báu trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận án

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ học, các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội và Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm Khoa tiếng Anh Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội cũng như Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn bộ các nghiệm viên đã tham gia ghi âm, nghiên cứu, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình làm thực nghiệm

Sau cùng, tôi xin cảm ơn người thầy, cố GS TS Nguyễn Văn Lợi, cùng mẹ tôi là Bà Đặng Thị Minh Nguyệt và gia đình đã luôn bên tôi, bạn bè đã luôn ủng hộ tôi, cũng như các đồng nghiệp đã luôn khích lệ tôi trong thời gian qua

Tác giả luận án

Nguyễn Đặng Nguyệt Hương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 13

1 Tính cấp thiết của đề tài 13

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

3 Phạm vi và đối tượng của luận án 15

4 Phương pháp nghiên cứu 16

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 19

6 Cấu trúc của luận án 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 22

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 22

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đặc điểm phát âm phụ âm và tổ hợp phụ âm tiếng Anh trên thế giới 22

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đặc điểm phát âm phụ âm và tổ hợp phụ âm tiếng Anh tại Việt Nam 27

1.1.3 Đánh giá về các nghiên cứu đã có 29

1.2 Cơ sở lý luận 30

1.2.1 Lý thuyết về đặc điểm âm tiết tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt 31

1.2.2 Lý thuyết về phụ âm và tổ hợp phụ âm 36

1.2.3 Lý thuyết về Ngôn ngữ học đối chiếu 51

1.2.4 Lý thuyết về Phân tích lỗi 55

1.3 Tiểu kết 71

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT PHÁT ÂM TỔ HỢP PHỤ ÂM TIẾNG ANH Ở NGƯỜI VIỆT NÓI TIẾNG ANH 74

2.1 Phương pháp khảo sát và nghiên cứu 74

2.1.1 Phương pháp phân tích miêu tả ngữ âm – âm vị học bằng cảm thụ thính giác 74

2.1.2 Phương pháp ngữ âm thực nghiệm 90

2.1.3 Phương pháp đối chiếu 95

2.1.4 Thủ pháp thống kê 98

Trang 6

2.2 Kết quả khảo sát 99

2.2.1 Kết quả khảo sát phát âm tổ hợp phụ âm trong từ được phát âm đơn lẻ và trong từ được phát âm trong ngữ lưu 99

2.2.2 Kết quả khảo sát trường độ phát âm tổ hợp phụ âm ở vị trí đầu và cuối âm tiết 103 2.2.3 Kết quả khảo sát về cường độ của các tổ hợp phụ âm trong phát âm tiếng Anh của người Việt 106

2.3 Tiểu kết 111

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT ÂM TỔ HỢP PHỤ ÂM TIẾNG ANH VỊ TRÍ ĐẦU VÀ CUỐI ÂM TIẾT CỦA NGUỜI VIỆT 114

3.1 Phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt nói chung 114

3.1.1 Phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh trong từ đơn lẻ 114

3.1.2 Phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh trong ngữ lưu 117

3.1.3 Phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh theo vị trí nhóm từ 118

3.1.4 Phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh theo nhóm nghiệm viên 120

3.2 Đặc điểm phát âm các tổ hợp đầu âm tiết tiếng Anh của người Việt 123

3.2.1 Trường độ tổ hợp phụ âm đầu âm tiết 124

3.2.2 Cường độ tổ hợp phụ âm đầu âm tiết 126

3.2.3 Các biến thể phổ biến trong phát âm tổ hợp đầu âm tiết tiếng Anh của người Việt 128

3.2.4 Các biến thể trong phát âm tổ hợp đầu âm tiết tiếng Anh của người Việt 135

3.2.5 Các biến thể lệch chuẩn trong phát âm tổ hợp đầu âm tiết tiếng Anh của người Việt theo nhóm nghiệm viên 143

3.3 Đặc điểm các tổ hợp cuối âm tiết tiếng Anh của người Việt 149

3.3.1 Trường độ tổ hợp phụ âm cuối âm tiết 151

3.3.2 Cường độ tổ hợp phụ âm cuối âm tiết 153

3.3.3 Các biến thể phổ biến trong phát âm tổ hợp cuối âm tiết tiếng Anh của người Việt và biện pháp khắc phục 154

3.3.4 Các biến thể trong phát âm tổ hợp cuối âm tiết tiếng Anh của người Việt 165

3.3.5 Các biến thể lệch chuẩn trong phát âm tổ hợp cuối âm tiết tiếng Anh của người Việt theo nhóm nghiệm viên 167

3.4 Lý giải nguyên nhân hiện tượng lệch chuẩn 171

Trang 7

3.5 Cách khắc phục một số đặc điểm lệch chuẩn 173 3.6 Tiểu kết 174 KẾT LUẬN 176 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 179 TÀI LIỆU THAM KHẢO 180 PHỤ LỤC 190

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt (Đoàn Thiện Thuật, 1980) 32

Bảng 1.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Anh (Daniel & James, 2006: 10) 34

Bảng 1.3 Lược đồ cấu trúc âm tiết tiếng Anh theo McCully (2009) 36

Bảng 1.4 Hệ thống phụ âm tiếng Anh 38

Bảng 1.5 Hệ thống âm đầu tiếng Việt (Đoàn Thiện Thuật, 1980) 41

Bảng 1.6 Hệ thống âm đầu tiếng Việt 42

Bảng 1.7 Hệ thống âm đầu tiếng Việt (Kirkby, 2011) 42

Bảng 1.8 Hệ thống âm cuối tiếng Việt (Đoàn Thiện Thuật, 1980) 44

Bảng 1.9 Hệ thống âm cuối tiếng Việt (Mai Ngọc Chừ, 1997) 45

Bảng 1.10 Bảng so sánh phụ âm tiếng Anh – tiếng Việt (Giang Tang, 2005) 46

Bảng 1.11 Tiến trình phân tích lỗi (Corder, 1981) 56

Bảng 1.12 Phân biệt lỗi và nhẫm lẫn 57

Bảng 1.13 Phân loại lỗi theo quan niệm của Richards và Schmidt (2002) 61

Bảng 1.14 Nhân tố phi cấu trúc trong nguyên nhân gây lỗi 67

Bảng 2.1 Tổ hợp 2 phụ âm đầu âm tiết 76

Bảng 2.2 Tổ hợp 3 phụ âm đầu âm tiết 78

Bảng 2.3 Tổ hợp 2 phụ âm cuối âm tiết 79

Bảng 2.4 Tổ hợp 3 phụ âm cuối âm tiết 81

Bảng 2.5 Tổ hợp 4 phụ âm cuối âm tiết 82

Bảng 2.6 Thông tin miêu tả các nhóm nghiệm viên 86

Bảng 2.7 Các thông số sử dụng để mô tả và phân tích trong luận án 94

Bảng 2.8 Tổng hợp kết quả khảo sát phát âm tổ hợp phụ âm trong từ được phát âm đơn lẻ 100

Bảng 2.9 Tổng hợp kết quả khảo sát phát âm tổ hợp phụ âm trong từ được phát âm ngữ lưu 101

Bảng 2.10 Tổng hợp kết quả khảo sát phát âm tổ hợp phụ âm theo vị trí của tổ hợp 102

Bảng 2.11 Tổng hợp kết quả khảo sát phát âm tổ hợp phụ âm theo các nhóm nghiệm viên 103

Trang 9

Bảng 2.12 Trường độ trung bình của tổ hợp /bl-/ trong lần phát âm thứ nhất các từ

đơn lẻ 104

Bảng 2.13 Trường độ trung bình của tổ hợp /bl-/ trong lần phát âm thứ hai các từ đơn lẻ 105

Bảng 2.14 Trường độ trung bình của tổ hợp /bl-/ trong lần phát âm thứ ba các từ đơn lẻ 105

Bảng 2.15 Trường độ trung bình của tổ hợp /bl-/ trong lần phát âm các từ trong ngữ lưu 106 Bảng 2.16 Cường độ trung bình của tổ hợp /ʃm-/ trong lần phát âm thứ nhất các từ đơn lẻ 107

Bảng 2.17 Cường độ trung bình của tổ hợp /ʃm-/ trong lần phát âm thứ hai các từ đơn lẻ 107

Bảng 2.18 Cường độ trung bình của tổ hợp /ʃm-/ trong lần phát âm thứ ba các từ đơn lẻ 108

Bảng 2.19 Cường độ trung bình của tổ hợp /ʃm-/ trong lần phát âm các từ trong ngữ lưu 108

Bảng 2.20 Các biến thể phát âm lệch chuẩn của tổ hợp /bl-/ 109

Bảng 2.21 Các biến thể phát âm lệch chuẩn của tổ hợp /ʃm-/ 110

Bảng 2.22 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn của tổ hợp /tʃt-/ 111

Bảng 2.23 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn của tổ hợp /-ndʒ/ 111

Bảng 3.1 Bảng tỉ lệ phát âm gần chuẩn/lệch chuẩn phát âm theo vị trí nhóm từ của nhóm nghiệm viên người Việt 119

Bảng 3.2 Bảng so sánh phát âm tổ hợp phụ âm theo nhóm nghiệm viên 120

Bảng 3.3 Bảng tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp hai phụ âm đầu âm tiết 124

Bảng 3.4 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Việt trường hợp tổ hợp hai phụ âm đầu âm tiết 125

Bảng 3.5 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp ba phụ âm đầu âm tiết 125

Bảng 3.6 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp ba phụ âm đầu âm tiết 126

Trang 10

Bảng 3.7 Tổng hợp cường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của

nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp hai phụ âm đầu âm tiết 127

Bảng 3.8 Tổng hợp cường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Việt trường hợp tổ hợp hai phụ âm đầu âm tiết 127

ở nghiệm viên người Việt 135

Bảng 3.9 Tổng hợp các loại biến thể phát âm tổ hợp phụ âm 142

Bảng 3.10 Tỉ lệ lệch chuẩn cao nhất trong phát âm tổ hợp phụ âm vị trí đầu âm tiết theo nhóm nghiệm viên 147

Bảng 3.11 So sánh tỉ lệ lệch chuẩn của các nhóm nghiệm viên 148

Bảng 3.12 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp bốn phụ âm cuối âm tiết 151

Bảng 3.13 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Việt trường hợp tổ hợp bốn phụ âm cuối âm tiết 152

Bảng 3.14 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp ba phụ âm cuối âm tiết 152

Bảng 3.15 Tổng hợp trường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Việt trường hợp tổ hợp ba phụ âm cuối âm tiết 153

Bảng 3.16 Tổng hợp cường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Mỹ trường hợp tổ hợp bốn phụ âm cuối âm tiết 153

Bảng 3.17 Tổng hợp cường độ trung bình của từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu của nghiệm viên người Việt trường hợp tổ hợp bốn phụ âm cuối âm tiết 154

Bảng 3.18 Tổng hợp các biến thể của tổ hợp /-ðd/ 165

Bảng 3.19 Tổng hợp các biến thể của tổ hợp /-fθs/ 166

Bảng 3.20 Tổng hợp các biến thể của tổ hợp /-ksθs/ 167

Bảng 3.21 Tỉ lệ lệch chuẩn phát âm tổ hợp phụ âm vị trí cuối âm tiết 168

Bảng 3.22 Tỉ lệ lệch chuẩn cao nhất trong phát âm tổ hợp phụ âm cuối âm tiết theo nhóm nghiệm viên 170

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Anh Mỹ 35

(trường hợp shimmer) của McCully, 2009 35

Hình 1.2 Trạng thái thanh môn trong các thức tạo thanh khác nhau (Ladefoged, 2006:144) 37

Hình 2.1 Hình ảnh máy ghi âm Zoom H2n HR được dùng để ghi âm 87

Hình 2.2 Hình ảnh ghi âm của nghiệm viên người Mỹ 88

Hình 2.3 Hình ảnh ghi âm của nghiệm viên người Việt 88

Hình 2.4 Phòng ghi âm có cách âm được sử dụng để tiến hành thực nghiệm 89

Hình 2.5 Trích đoạn của một bảng tổng hợp các biến thể phát âm bằng cảm thụ thính giác 90

Hình 2.6 Hình ảnh biểu tượng phần mềm Praat được sử dụng trong luận án 92

Hình 2.7 Một hình ảnh phân tích do phần mềm Praat ghi nhận của nghiệm viên EM01, phát âm từ bathed đơn lẻ lần thứ nhất 93

Hình 2.8 Hình ảnh thể hiện phân tách âm trong xử lí tư liệu thực nghiệm 95

Hình 3.1 Biểu đồ miền về tỉ lệ phát âm chuẩn/lệch chuẩn trong phát âm đơn lẻ 115

Hình 3.2 Tỉ lệ lệch chuẩn trong phát âm từ đơn lẻ 116

Hình 3.3 Biểu đồ miền về tỉ lệ phát âm đúng chuẩn/lệch chuẩn 117

trong phát âm từ trong ngữ lưu 117

Hình 3.4 Phụ âm /b/ đầu âm tiết do nghiệm viên VF08 phát âm 128

Hình 3.5 Phụ âm /b/ đầu âm tiết do nghiệm viên EF04 phát âm 128

Hình 3.6 Phát âm /bl-/ ở nghiệm viên người bản ngữ 129

Hình 3.7 Phát âm biến thể /br-/ ở nghiệm viên người Việt 129

Hình 3.8 Phát âm /mw-/ ở nghiệm viên người Mỹ (EF04_muesh_3) 130

Trường độ /mw-/ 144 ms 130

Hình 3.9 Phát âm /mʊwɛʃ/ ở nghiệm viên người Việt (VM14_muesh_1) Trường độ /mʊw-/ 233 ms 131

Hình 3.10 Biến thể /mjuwɛʃ/ ở nghiệm viên người Việt (VF24_muesh_2) 131

Trường độ /mjuw-/ 260 ms 131

Hình 3.11 Phát âm /ʃm-/ ở nghiệm viên người Mỹ (EF02_schmaltz_1) 132

Trường độ /ʃm-/ 213 ms 132

Trang 12

Hình 3.12 Biến thể /ʃtʃm-/ ở nghiệm viên người Việt (VF22_schmaltz_3) Trường

độ /ʃtʃm-/ 373 ms 132

Hình 3.13 Biến thể /ʃkm-/ ở nghiệm viên người Việt (VF38_schmaltz_2) Trường độ /ʃkm-/ 711 ms 133

Hình 3.14 Biến thể /smw-/ ở nghiệm viên người Việt (VF02_muesh_1) 133

Trường độ /smw-/ 216 ms 133

Hình 3.15 Biến thể /m-/ bị giản lược từ tổ hợp /mw-/ trong phát âm ở nghiệm viên người Việt (VM17_muesh_1) Trường độ tổ hợp: 67 ms 134

Hình 3.16 Phát âm tổ hợp /sv-/ ở nghiệm viên người Mỹ (EF04_svelte_2) 134

Trường độ tổ hợp: 259 ms 134

Hình 3.17 Biến thể phát âm /v-/ của tổ hợp /sv-/ do nghiệm viên người Việt phát âm (VF48_svelte_2) Trường độ tổ hợp: 93 ms 135

Hình 3.18 Biến thể phát âm /ɓl-/ ở nghiệm viên người Việt (VM14_black_3) 136

Hình 3.19 Biến thể phát âm /pl-/ ở nghiệm viên người Việt 137

Hình 3.20 Phát âm /-ðd/ của nghiệm viên người Mỹ 155

Hình 3.21 Phát âm /-ðd/ lược bỏ âm cuối /d/ của người Việt 155

Hình 3.22 Phát âm /-fθs/ của nghiệm viên người Mỹ 156

Hình 3.23 Biến thể phát âm /-fθs/ thành /-f/ ở nghiệm viên người Việt 156

Hình 3.24 Phát âm /-ðd/ của nghiệm viên người Mỹ 158

Hình 3.25 Tổ hợp /-ðd/ bị biến thành /-ðs/ ở nghiệm viên người Việt 159

Hình 3.26 Tổ hợp /-ðd/ bị biến thành /-st/ ở nghiệm viên người Việt 159

Hình 3.27 Tổ hợp /-ðd/ biến thành /-t/ ở nghiệm viên người Việt 160

Hình 3.28 Tổ hợp /-fθs/ biến thành /-fts/ ở nghiệm viên người Việt 160

Hình 3.29 Phát âm /-ndʒ/ của người Mỹ 161

Hình 3.30 Biến thể phát âm tổ hợp /-ndʒ/ thành /-nt/ ở nghiệm viên người Việt 161

Hình 3.31 Phát âm /-ntʃt/ ở nghiệm viên người Mỹ 162

Hình 3.32 Tổ hợp /-ntʃt/ bị biến đổi thành /-ntt/ ở nghiệm viên người Việt 162

Hình 3.33 Phát âm /-kts/ ở nghiệm viên người Mỹ 163

Hình 3.34 Biến thể phát âm /-kst/ ở nghiệm viên người Việt 163

Hình 3.35 Phát âm tổ hợp /-lpts/ ở nghiệm viên người Mỹ 164

Hình 3.36 Biến thể /-lpst/ ở nghiệm viên người Việt 164

Trang 13

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Phân loại lỗi theo quan niệm của Abbott (1980) 58

Sơ đồ 1.2 Phân loại lỗi theo quan niệm của Dulay, Burt và Krashen (1982) 60

Sơ đồ 1.3 Phân loại lỗi theo quan niệm của Odlin (1989) 61

Sơ đồ 1.4 Phân loại lỗi tự ngữ đích theo quan niệm của Richards và Schmidt (2002) 62

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh tỉ lệ lệch chuẩn trong phát âm từ đơn lẻ hay trong ngữ lưu 118

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ thể hiện phát âm đúng chuẩn theo nhóm nghiệm viên 121

Biểu đồ 3.3 Biểu đồ thể hiện phát âm lệch chuẩn theo nhóm nghiệm viên 122

Biểu đồ 3.4 Biểu đồ thể hiện phát âm đúng chuẩn/lệch chuẩn theo nhóm nghiệm viên trong phát âm đơn lẻ, phát âm trong ngữ lưu và cả 2 trường hợp 123

Biểu đồ 3.5 Các loại biến thể phát âm tổ hợp /bl/ 135

Biểu đồ 3.6 Các biến thể phát âm tổ hợp /ʃm-/ ở nghiệm viên người Việt 137

Biểu đồ 3.7 Các biến thể phát âm tổ hợp /mw-/ 138

ở nghiệm viên người Việt 138

Biểu đồ 3.8 Các biến thể phát âm tổ hợp /sv-/ ở nghiệm viên người Việt 139

Biểu đồ 3.9 Các biến thể phát âm tổ hợp /lj-/ ở nghiệm viên người Việt 140

Biểu đồ 3.10 Các biến thể phát âm tổ hợp /smj-/ ở nghiệm viên người Việt 140

Biểu đồ 3.11 Các biến thể phát âm tổ hợp /str-/ 141

ở nghiệm viên người Việt 141

Biểu đồ 3.12 Tổng hợp so sánh các loại biến thể phát âm tổ hợp phụ âm vị trí mở đầu âm tiết chiếm tỉ lệ cao nhất 142

Biểu đồ 3.13 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn phát âm tổ hợp /bl-/ theo nhóm nghiệm viên 143

Biểu đồ 3.14 Tỉ lệ phát âm tổ hợp /ʃm-/ lệch chuẩn theo nhóm nghiệm viên 144

Biểu đồ 3.15 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn phát âm tổ hợp /mw-/ theo nhóm nghiệm viên 145

Biểu đồ 3.16 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn phát âm tổ hợp /lj-/ theo nhóm nghiệm viên 145

Biểu đồ 3.17 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn phát âm tổ hợp /sv-/ theo nhóm nghiệm viên 146

Biểu đồ 3.18 Tỉ lệ phát âm lệch chuẩn phát âm tổ hợp /spl-/ theo nhóm nghiệm viên 146 Biểu đồ 3.19 Tỉ lệ phát âm tổ hợp /smj-/ lệch chuẩn theo nhóm nghiệm viên 147

Trang 14

Biểu đồ 3.20 Tổng hợp tỉ lệ lệch chuẩn trong phát âm tổ hợp phụ âm vị trí đầu âm tiết theo nhóm nghiệm viên 149 Biểu đồ 3.21 Tỉ lệ lệch chuẩn trong phát âm tổ hợp phụ âm cuối âm tiết theo nhóm nghiệm viên 168 Biểu đồ 3.22 So sánh phát âm hai tổ hợp phụ âm /-ndʒ/ và /-lm/ theo nhóm nghiệm viên 169 Biểu đồ 3.23 Tỉ lệ lệch chuẩn theo nhóm nghiệm viên 170

Trang 15

phụ âm thứ nhất trong tổ hợp phụ âm thứ hai trong tổ hợp phụ âm thứ ba trong tổ hợp phụ âm thứ tư trong tổ hợp Đại học Quốc gia Hà Nội Đại học Sư phạm

nữ nghiệm viên người Mỹ nam nghiệm viên người Mỹ Formant (Phoóc măng) phụ âm cuối âm tiết phụ âm thứ nhất trong tổ hợp cuối âm tiết phụ âm thứ hai trong tổ hợp cuối âm tiết phụ âm thứ ba trong tổ hợp cuối âm tiết phụ âm thứ tư trong tổ hợp cuối âm tiết

Hà Nội phụ âm đầu âm tiết phụ âm thứ nhất trong tổ hợp đầu âm tiết phụ âm thứ hai trong tổ hợp đầu âm tiết phụ âm thứ ba trong tổ hợp đầu âm tiết ngôn ngữ thứ nhất

ngôn ngữ thứ hai không áp dụng/không xác định người Mỹ

nghiệm viên New York giai đoạn mở thanh âm (nguyên âm) khởi phát tiếng thanh

phụ âm tiếng Anh-Mỹ Trung học phổ thông Thạc sĩ

lần phát âm

Trang 16

nữ nghiệm viên người Việt nam nghiệm viên người Việt Việt Nam

Thời gian khởi phát tiếng thanh

Trang 17

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, khi mọi quốc gia trên thế giới đều đang đối mặt với xu hướng toàn cầu hoá, Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ khi đang từng bước

mở cửa và hội nhập trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Điều đó đòi hỏi người Việt phải sử dụng ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng một cách rộng rãi để giao lưu và hội nhập Theo báo cáo chỉ số thông thạo Anh ngữ, English Proficiency Index, (EF Education First, 2018), Việt Nam đứng thứ 41 trong bảng tổng kết và là một trong những quốc gia tiến bộ nhanh nhất trên toàn cầu về khả năng sử dụng tiếng Anh Người Việt càng ngày càng quan tâm đến việc học tiếng Anh hơn và việc sử dụng tiếng Anh đã trở thành một kĩ năng bắt buộc phải có cho thời đại mới

Hai hình thức giao tiếp phổ biến nhất của con người nói chung là nói và viết, trong đó hoạt động nói là hoạt động chiếm vai trò lớn hơn trong đời sống Do tiếng Việt và tiếng Anh là hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình, khi giao tiếp bằng tiếng Anh, người Việt thường gặp khá nhiều vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, v.v… Trong quá trình học tập, giảng dạy ngoại ngữ này cho học viên, tác giả luận án nhận thấy học viên người Việt gặp khó khăn trong việc cảm nhận và sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng với chuẩn của người bản ngữ Một phần những khó khăn này có thể giải quyết được bằng việc luyện tập, một phần lại rất khó có thể vượt qua do những khác biệt giữa hai ngôn ngữ Những khó khăn này có lẽ chỉ có thể được khắc phục bằng sự dày công rèn giũa trên cơ sở một sự nghiên cứu, phân tích và so sánh khoa học về những nét tương đồng và khác biệt có tính bản chất thể hiện được các đặc trưng có ý nghĩa bản sắc riêng của hai ngôn ngữ này về hệ thống âm vị và cấu trúc

âm tiết Vì thế, việc tìm hiểu các vấn đề mà người học gặp phải, phân loại, tìm nguyên nhân và giải pháp luôn luôn là cần thiết

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu đặc điểm phát âm của người Việt học tiếng Anh nhưng khá lẻ tẻ, thường chỉ về các khía cạnh nhỏ như nghiên cứu các lỗi về phát âm, lỗi trọng âm và ngữ điệu của người Việt nói tiếng Anh Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đối tượng người học, hơn là đối tượng

Trang 18

người đang sử dụng tiếng Anh sau quá trình đào tạo Hơn nữa, do số lượng nghiệm viên trong các nghiên cứu khá nhỏ lẻ, cộng với việc đánh giá các lỗi thường mang tính cảm thụ thính giác, nên một số kết quả nghiên cứu còn mang tính chủ quan, thiếu chính xác hoặc chưa đủ độ tin cậy Đây là những lí do cơ bản khiến tác giả

luận án lựa chọn đề tài Đặc điểm phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở người Việt nói

tiếng Anh

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Nghiên cứu này có 3 mục đích chính là:

a) khảo sát các đặc điểm phát âm tiếng Anh ở người Việt nói tiếng Anh, bao gồm các đặc điểm mang tính chất cá nhân, nhất thời tại một thời điểm thuộc lời nói (ngữ âm học) hay các đặc điểm trừu tượng, khái quát (âm vị học) để tìm hiểu và phân tích những đặc điểm, hay chính là các điểm khác biệt, về ngữ âm và âm vị học của các tổ hợp phụ âm tiếng Anh do người Việt phát âm;

b) phát hiện những điểm khác biệt được coi là những đặc điểm riêng và có thể mang tính qui luật, hoặc ít nhất là có tính phổ biến ở người Việt nói tiếng Anh;

c) phân tích, mô tả các hiện tượng này; đưa ra hướng khắc phục, phương pháp khắc phục nếu có thể nhằm giúp người Việt học tiếng Anh có được cách phát

âm gần hơn với người bản ngữ Đây là cơ sở khoa học để luận án đề xuất những phương pháp sửa phát âm nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh cho người Việt

Trang 19

 Kiểm chứng những kết quả phát âm được phân tích qua cảm thụ thính giác bằng kết quả đo đạc trên khí cụ và phân tích bằng phần mềm ứng dụng tin học;

 Xây dựng cơ sở dữ liệu về cách phát âm các tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt ở trình độ cao;

 Phân tích mô tả những đặc điểm ngữ âm – âm vị học riêng biệt của các tổ hợp phụ âm tiếng Anh do người Việt phát âm; gợi ý một số phân tích cũng như nguyên nhân và cách khắc phục các hiện tượng này nếu có thể

3 Phạm vi và đối tƣợng của luận án

3.1 Phạm vi

Luận án nghiên cứu tổ hợp phụ âm tiếng Anh do người Việt có trình độ tiếng Anh C1 (theo Khung tham chiếu châu Âu CEFR) phát âm Người Việt được lựa chọn là những người thuộc phương ngữ Bắc Bộ Đây đều là những người đã học, và đang sử dụng tiếng Anh trong đời sống và giao tiếp

Để tìm hiểu đặc điểm khác biệt, đối tượng tiếng Anh mà nghiên cứu trong luận án này sử dụng là tiếng Anh Mỹ chuẩn – Standard/General American English với các phát âm được ghi nhận trong từ điển Cambridge Các phát âm của người bản ngữ được sử dụng để đối chiếu là các phát âm của người sinh sống ở khu vực New York

3.2 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các cách phát âm các tổ hợp phụ âm tiếng Anh của 48 nghiệm viên người Việt gồm cả nam và nữ, nói phương ngữ Bắc Bộ, có tiếng Anh ở trình độ C1 Một nửa số người đạt trình độ C1 này đã dành ít nhất 1.5 năm học ở nước ngoài và đã đạt 6.5 IELTS (học thuật) trở lên hoặc tương đương (95 TOEFL ibt hoặc 67 PTE học thuật trở lên) – trình độ tối thiểu để được nhận vào chương trình thạc sĩ hoặc tiến sĩ Số nghiệm viên còn lại cũng là những người có trình

độ C1 nhưng chỉ học ở trong nước Các nghiệm viên này là giáo viên dạy tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông, đại học và cao đẳng, vì theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cũng như qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên ở bậc học này cần có trình độ ít nhất là bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt

Trang 20

Nam (tương đương C1 CEFR) Tất cả các nghiệm viên đều có trình độ học vấn từ Thạc

sĩ trở lên Ngoài ra, có 12 nghiệm viên người Mỹ, sử dụng tiếng Anh tiêu chuẩn của người Mỹ (General American English/Standard American English) Biến thể ngôn ngữ này dựa vào tiếng Anh của tầng lớp trên, có giáo dục ở các vùng North Midland, Western New England và các khu vực phía đông nước Mỹ Trong các khu vực này, tiếng Anh New York (New York City English/Metropolitan New York English) là phát âm phổ biến và dễ nhận biết nhất tại Bắc Mỹ (Labov, 1966) Đây cũng là giọng đọc được sử dụng và nghe nhiều nhất ở New York qua các phương tiện truyền thông như tivi, radio, Internet, v.v cũng như các khu vực thành thị lân cận

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình triển khai đề tài, luận

án đã sử dụng các phương pháp phân tích âm học qua quan sát, phân tích, mô tả đặc trưng cấu âm âm học bằng thính giác và phương pháp phân tích âm học nhờ khí cụ

hỗ trợ Ngoài ra, khi đối chiếu với các phát âm chuẩn, các phương pháp của ngôn ngữ học đối chiếu cũng đã được tiến hành

4.1 Phương pháp miêu tả ngữ âm – âm vị học bằng cảm thụ thính giác

Luận án một mặt dựa vào kết quả nghiên cứu ngữ âm – âm vị học tiếng Việt

và tiếng Anh của các tác giả đi trước; mặt khác, kết hợp giữa phương pháp quan sát, cảm thụ chủ quan bằng thính giác của người nói tiếng Anh bản ngữ về các đặc trưng và các nét khu biệt ngữ âm – âm vị học giữa hai ngôn ngữ Việt, Anh Vì nhiệm vụ chính của luận án là miêu tả các đặc điểm phát âm tiếng Anh nên tác giả miêu tả các đối tượng ngôn ngữ ở góc độ ngữ âm học hơn là âm vị học

4.2 Phương pháp ngữ âm thực nghiệm

4.2.1 Xây dựng bảng từ

Bảng từ được xây dựng với các từ đơn tiết để kiểm tra các phát âm tổ hợp phụ âm ở vị trí đầu âm tiết và cuối âm tiết, trong hai trường hợp là từ đơn lẻ và từ trong ngữ lưu Ở vị trí đầu âm tiết, các tổ hợp phụ âm có hai loại là tổ hợp 2 và tổ hợp 3 phụ âm Ở vị trí cuối âm tiết, ba loại là tổ hợp 2, tổ hợp 3 và tổ hợp 4 phụ âm

Trang 21

Các từ được lựa chọn phần lớn đều là từ đơn âm tiết, kết hợp với các nguyên

âm trung tính Với trường hợp các từ phát âm trong ngữ lưu, vị trí các từ được lựa chọn đều là vị trí giữa cụm từ hoặc câu ngắn, khoảng 4 đến 6 âm tiết Đây đều là những ví dụ được lấy từ từ điển Cambridge Dictionary trên trang https://dictionary.cambridge.org/

4.2.2 Lựa chọn nghiệm viên

Các nghiệm viên người bản ngữ bao gồm 12 người Mỹ, 4 nam và 8 nữ, sinh

ra, lớn lên và hiện sống ở thành phố New York, Mỹ Họ đều có ông bà, bố mẹ là người Mỹ bản ngữ, ở độ tuổi 22-30 và đều có trình độ cử nhân trở lên Nhóm nghiệm viên này là nhóm nghiệm viên số 1, gồm có 12 nghiệm viên được kí hiệu lần lượt là EM01, EF02, EM03, EF04, EF05, EM06, EF07, EF08, EF09, EM10, EF11, EF12 (trong đó E là kí hiệu người bản ngữ, F là kí hiệu cho nữ giới, M là kí hiệu cho nam giới)

Để tìm hiểu các biến thể của tổ hợp phụ âm, các nghiệm viên người Việt được lựa chọn là những người có trình độ tiếng Anh C1 theo Khung tham chiếu châu Âu CEFR Trong số 48 nghiệm viên, có 18 nam và 30 nữ 24 người đã dành ít nhất 2 năm học ở nước ngoài và đã đạt trình độ tối thiểu để được nhận vào chương trình thạc sĩ hoặc tiến sĩ, trong đó có 12 người sử dụng tiếng Anh hàng ngày trong công việc (từ 5 tiếng/ngày trở lên) và số còn lại ít sử dụng hơn (ít hơn 5 tiếng/ngày)

24 nghiệm viên còn lại cũng là những người có trình độ C1 nhưng chỉ học ở trong nước và cũng phân nhóm về số thời gian sử dụng tiếng Anh hàng ngày Các đối tượng được chọn lựa theo phương thức “lấy mẫu tiện lợi” (convenient sampling) do điều kiện và những hạn chế khách quan trong quá trình thu thập dữ liệu Trong nhóm này, các nghiệm viên được chia thành 4 nhóm nhỏ bao gồm 48 nghiệm viên được kí hiệu từ VF01 đến VF48 (trong đó V là kí hiệu người Việt, F là kí hiệu cho

nữ giới, M là kí hiệu cho nam giới)

 Nhóm 2 là nhóm học ở nước ngoài về, có thời gian sử dụng tiếng Anh nhiều (từ 5 tiếng/ngày trở lên) gồm có VM10, VM11, VF28, VF31, VF36, VF37, VM38, VM39, VM41 VF44, VM45, VF48

Trang 22

 Nhóm 3 là nhóm học ở nước ngoài về, có thời gian sử dụng tiếng Anh ít (từ

5 tiếng/ngày trở xuống) gồm có VM09, VM12, VM13, VM14, VM15, VM16, VM17, VF18, VM40, VM42, VM43, VF46

 Nhóm 4 là nhóm học ở trong nước, có thời gian sử dụng tiếng Anh nhiều (từ

5 tiếng/ngày trở lên) gồm có VF03, VF04, VF19, VF20, VF26, VF27, VF30, VF32, VF33, VF34, VF35, VF47

 Nhóm 5 là nhóm học ở trong nước, có thời gian sử dụng tiếng Anh ít (từ 5 tiếng/ngày trở xuống) gồm có VF01, VF02, VF05, VF06, VM07, VF08, VF21, VF22, VF23, VF24, VF25, VF29

4.2.3 Cách ghi âm

Các phát ngôn của nghiệm viên được ghi âm bằng máy ghi âm số ZOOM H2n Handy Recorder, sau đó xử lí số hoá bằng chương trình Praat theo cỡ mẫu 22.050 Hz, 16 bit, dưới dạng các file có định dạng wav Các thông số âm học của phụ âm được trích xuất từ các chương trình phân tích tiếng nói, cụ thể trong nghiên cứu này là phần mềm Praat

Các nghiệm viên được lên lịch ghi âm tuỳ theo điều kiện thời gian và công việc Mỗi nghiệm viên được đưa bảng từ trước khi ghi âm, và được yêu cầu phát âm một cách chậm rãi 03 lần với mỗi từ đơn lẻ, trong khi với từ trong ngữ lưu, các nghiệm viên chỉ đọc 01 lần, trong điều kiện không gian tương đối yên tĩnh

4.2.4 Xử lí tư liệu ghi âm

Các file ghi âm sau đó được gỡ dưới dạng stereo, và chuyển đổi sang dạng mono trước khi phân tích Với mỗi file ghi âm, phần mềm Praat được sử dụng để cắt thành các file từ đơn lẻ và từ trong câu Với từ đơn lẻ, từng lần phát âm được lần

lượt kí hiệu từ 1 đến 3, tương ứng với 3 lần phát âm Theo đó, từ black chẳng hạn,

được nghiệm viên nam người Mỹ số 1 phát âm, sẽ được kí hiệu lần lượt là EM01_black_1, EM01_black_2, EM01_black_3; còn với từ trong câu sẽ được thêm

kí hiệu S cho sentence (câu) thành EM01_Sblack_1 Các tư liệu ghi âm được sẽ

được nghe lại và xác định các biến thể phát âm bằng cảm thụ thính giác Sau đó, kết quả có được bằng cảm thụ thính giác sẽ được tiến hành đối chiếu với kết quả từ các

Trang 23

phần mềm phân tích tiếng nói để đo cường độ, trường độ cho từng trường hợp rồi đi đến kết luận mức độ lệch chuẩn của các nghiệm viên

4.3 Phương pháp đối chiếu

Phương pháp đối chiếu cách phát âm của người Việt với cách phát âm chuẩn tiếng Anh của người bản ngữ (trong nghiên cứu này là giọng New Yorker của Anh Mỹ) được sử dụng để tìm các biến thể phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh

của người Việt

4.4 Thủ pháp thống kê

Bên cạnh các phương pháp trên, trong quá trình thực hiện luận án, một số thủ pháp thống kê đã được sử dụng để thống kê, mô tả, phân loại qua đó đưa ra các kết quả minh chứng cho các luận điểm trong từng chương của luận án

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa lý luận

Trong lĩnh vực ngôn ngữ học miêu tả và ngôn ngữ học đối chiếu, luận án cung cấp một cơ sở dữ liệu mới về đặc trưng ngữ âm – âm vị học của các tổ hợp phụ âm tiếng Anh do người Việt phát âm Trên cơ sở phân tích các lỗi, luận án chỉ

ra những biến thể có thể khắc phục và cách khắc phục

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án là công trình đầu tiên phân tích miêu tả và đối chiếu phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt với người bản ngữ, và vận dụng vào việc phân tích biến thể phát âm của người Việt học tiếng Anh Luận án không chỉ nghiên cứu theo các phương pháp truyền thống mang tính chủ quan mà còn sử dụng phương pháp thực nghiệm với việc sử dụng các phần mềm ngữ âm học chuyên dụng và số hoá

Luận án xác định các kiểu loại biến thể phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở các vị trí đầu và cuối âm tiết của người Việt khi sử dụng tiếng Anh với tư cách là một ngoại ngữ và đề xuất biện pháp khắc phục lỗi

Các kết quả của luận án có thể phục vụ cho việc biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng Anh, đặc biệt là đề xuất một số giải pháp trong dạy phát âm chuẩn tiếng Anh cho người Việt

Trang 24

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài

Trong chương này, luận án trình bày hai vấn đề chính Thứ nhất, luận án điểm lại những công trình đi trước liên quan đến đề tài, trong đó cụ thể là những nghiên cứu phát âm tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam Thứ hai, luận án trình bày những cơ sở lí thuyết về đặc điểm âm tiết tiếng Anh – tiếng Việt, phụ âm và tổ hợp phụ âm, ngôn ngữ học đối chiếu và phân tích lỗi Trong chương này luận án cũng tập trung trình bày khái quát về ngữ âm tiếng Việt và tiếng Anh ở cấp độ cấu trúc âm tiết, vì tác giả cho rằng lỗi phát âm tiếng Anh của người Việt nói chung có nguồn gốc sâu xa từ sự khác biệt về cấu trúc âm tiết cũng như loại hình giữa hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

Chương 2 Khảo sát phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở người Việt nói

Chương 3 Đặc điểm phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở vị trí đầu và cuối

âm tiết của người Việt

Các đặc trưng về phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở người Việt nói tiếng Anh nói chung sẽ được trình bày theo các trường hợp từ đơn lẻ, từ trong ngữ lưu Tác giả cũng đi sâu vào miêu tả phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở các vị trí đầu

và cuối âm tiết bởi từng nhóm đối tượng nghiệm viên khác nhau

Trong chương này, tác giả tập trung miêu tả, đối chiếu phát âm tổ hợp phụ

âm đôi và tổ hợp phụ âm ba ở vị trí đầu âm tiết Trên cơ sở dữ liệu thu được, các kiểu lệch chuẩn trong phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh đầu âm tiết của người Việt được phân loại và mô tả, rồi sau đó, dựa vào kết quả phân tích, những lệch chuẩn

Trang 25

nào có khả năng khắc phục sẽ được xác định và đề xuất biện pháp sửa đổi nhằm có được phát âm gần chuẩn hơn nữa

Chương này tập trung miêu tả đối chiếu phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt ở vị trí cuối âm tiết, gồm các tổ hợp đôi, tổ hợp ba, và tổ hợp bốn; sau đó đi sâu vào phân loại các biến thể lệch chuẩn và đề xuất biện pháp khắc phục những lệch chuẩn đó

Trang 26

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Với đề tài nghiên cứu đặc điểm phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt có năng lực tiếng Anh ở trình độ C1, chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu phát âm phụ âm iếng Anh nói chung, và tình hình nghiên cứu phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh nói riêng Sau đó, tác giả đi sâu tìm hiểu tình hình nghiên cứu các biến thể phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh trên thế giới nói chung, phát âm

tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở Việt Nam nói riêng

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu đặc điểm phát âm phụ âm và tổ hợp phụ

âm tiếng Anh trên thế giới

Tình hình nghiên cứu các biến thể lệch chuẩn tiếng Anh được nghiên cứu khá phổ biến ở bất cứ một quốc gia nào có người học ngoại ngữ này Các biến thể lệch chuẩn có thể được bắt gặp ở rất nhiều các lĩnh vực như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, hay ngữ nghĩa, ngữ dụng, v.v… Trong nghiên cứu này, do chỉ tập trung vào mặt ngữ âm, tác giả chỉ điểm qua tình hình nghiên cứu đặc điểm phát âm phụ âm và

tổ hợp phụ âm tiếng Anh trên thế giới

Về các đặc điểm phát âm phụ âm tiếng Anh nói chung, hai giáo trình nghiên cứu đặc điểm phát âm phụ âm tiếng Anh căn bản của Roach (2009) và Ladefoged (2010) được sử dụng rất nhiều trong các khoá học về ngữ âm – âm vị học Công trình “Ngữ âm – âm vị học tiếng Anh” của Roach (2009) là một trong những giáo trình kinh điển nhất về phát âm tiếng Anh nói chung và phụ âm tiếng Anh nói riêng Trong nghiên cứu này, ông giới thiệu các phụ âm theo phương thức cấu âm và đi rất chi tiết vào các đặc điểm phát âm của từng loại phụ âm như phụ âm tắc, xát, tắc-xát, phụ âm mũi và các phụ âm khác Nghiên cứu của Roach cũng không chỉ nhắc đến các từ đơn lẻ mà còn nhắc đến các khía cạnh của phát âm trong ngữ lưu như về nhịp điệu (rhythm), hiện tượng đồng hoá (assimilation), lược hoá (elision), nối âm (linking) Cuốn “Khoá học Ngữ âm học” của Ladefoged và Johnson (2010) cũng đề cập đến các phương thức cấu âm của phụ âm tiếng Anh nói chung và từng trường

Trang 27

hợp riêng Phát âm phụ âm trong nghiên cứu này còn nhấn mạnh các trường hợp tha

âm vị, hay âm tố (allophones) trong các nghiên cứu phát âm phụ âm Một nghiên cứu khác của Rogers (2013) nghiên cứu sâu về các âm của ngôn ngữ cũng đề cập đến các phát âm phụ âm tiếng Anh với các đặc điểm của âm tố, tiếng thanh, trường

độ, vị trí cấu âm và phương thức cấu âm của các phụ âm tiếng Anh Nghiên cứu này còn đi sâu vào phân tích sự khác biệt giữa phát âm tiếng Anh của một số khu vực ở

Mỹ và một số khu vực khác ở Anh, Scotland, Ireland, Ấn Độ, Châu Phi, v.v…

Về các qui tắc phân biệt âm vị và biến thể ở các ngôn ngữ, nghiên cứu của Trubeskoi (1969) là một trong những nghiên cứu nổi bật nhất Trubeskoi đề cập chi tiết đến các quy tắc phân biệt âm vị và các biến thể Tác giả cũng nhắc đến các nghiên cứu chỉ ra các biến thể khi phát âm phụ âm hoặc tổ hợp phụ âm tiếng Anh nói chung của người học tiếng Anh ở các nước, chẳng hạn như người Nhật Bản thường có thói quen thêm nguyên âm ngắn và ở vị trí cao vào giữa các phụ âm hoặc

ở vị trí cuối âm tiết, nên ski sẽ có xu hướng được phát âm thành /sukɪ/, spoon được phát âm thành /sʊpʊn/ hay /kɪrɪsʊto/ là phát âm của Christ Sự nhầm lẫn giữa phát

âm của phụ âm /r/ và /l/ cũng rất phổ biến với người học ở đất nước này Một ví dụ

khác được nhắc đến là việc lược bỏ âm /s/ trong tổ hợp phụ âm bắt đầu bằng phụ

âm này ở người Hàn Quốc, hoặc việc thay thế âm /f/ bằng tổ hợp /xv/ của người

Ukraina (phát âm Philip /fɪlɪp/ thành /xvɪlɪp/)

Các nghiên cứu đề cập đến các biến thể tiếng Anh, đặc biệt là biến thể về phát âm phụ âm, được tiến hành với rất nhiều các biến thể tại các khu vực khác nhau Tại châu

Âu, nghiên cứu đặc điểm phát âm tiếng Anh của người Tây Ban Nha của Allen (2011) chỉ ra các đặc điểm phát âm phụ âm, ví dụ như người Tây Ban Nha thường nhầm lẫn giữa các cặp âm /b/ - /v/, /s/ - /ʃ/, /dʒ/ - /ʒ, /ʃ/ - /tʃ/ nhưng lại ít gặp vấn đề với cặp phụ âm /θ/ - /ð/ do 2 âm này có xuất hiện trong hệ thống âm vị tiếng Tây Ban Nha Với trường hợp tổ hợp phụ âm, người dân nước này có thói quen thêm nguyên âm vào trước phát

âm tổ hợp phụ âm, đặc biệt với các tổ hợp bắt đầu bằng âm /s/ theo sau là một phụ âm do

đặc điểm của ngôn ngữ này, ví dụ như Spain /speɪn/ được phát âm thành Espain /espeɪn/

Với các tổ hợp phụ âm cuối âm tiết, người Tây Ban Nha có hai xu hướng phát âm: thêm

nguyên âm (advanced được phát âm thành /ædvɑncɪd/ - thêm nguyên âm /ɪ/) và giản lược phụ âm trong tổ hợp (fifths được phát âm thành /fɪs/)

Trang 28

Tại châu Á, các biến thể lệch chuẩn trong phát âm tiếng Anh của các nước có nhiều điểm tương đồng với các phát âm tiếng Anh của người Việt Fachun Zhang

và Pengpeng Yin (2009) nghiên cứu lỗi phát âm của sinh viên Trung Quốc học tiếng Anh Nhóm tác giả này chứng minh có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cách phát

âm của người Trung Quốc như sự giao thoa ngôn ngữ, tuổi, thái độ cũng như kiến thức về ngữ âm – âm vị học tiếng Anh; trong đó sự giao thoa giữa hai ngôn ngữ là nguyên nhân chính dẫn đến lỗi phát âm tiếng Anh của người Trung Quốc Liang Enli (2014) nghiên cứu lỗi phát âm phụ âm và nguyên âm của người nói tiếng phổ thông ở Trung Quốc Sau khi phân tích phát âm của 50 nghiệm viên, tác giả kết luận người Trung Quốc gặp khó khăn nhất với các phụ âm /θ/ và /ð/; phụ âm cuối ở danh từ số nhiều hoặc động từ ngôi thứ ba số ít /s/, /z/, /ɪz/; còn với nguyên âm thì

họ có vấn đề nhất với /i:/, /ɪ/, /eɪ/, /u:/, /ɑʊ/ và /eə/ Jianping Luo (2014) cũng tìm hiểu lỗi phát âm tiếng Anh của người Trung Quốc và phát hiện họ có vấn đề với 3 nhóm phụ âm gồm /l/ và /n/, /f/ và /h/, cũng như phụ âm bật hơi và không bật hơi Tác giả này cũng khẳng định yếu tố giao thoa ngôn ngữ là nguyên nhân chính gây khó khăn cho sinh viên khi nói và đọc tiếng Anh

Nghiên cứu của Kota Ohata (2004) về những khác biệt âm vị học giữa tiếng Anh và tiếng Nhật – phát âm của người Nhật nói tiếng Anh chỉ ra rằng do tiếng Anh

có số lượng phụ âm lớn hơn tiếng Nhật, và tiếng Nhật không có âm xát và tắc xát nên người Nhật khi phát âm tiếng Anh gặp rất nhiều khó khăn với các phụ âm /f/, /v/, /θ/, /ð/, /ʃ/, /ʒ/, /tʃ/, /dʒ/ Vì thế, khi nghe người Nhật phát âm tiếng Anh, thường chúng ta khó có thể phân biệt các cặp phụ âm /ʃ/ - /s/, /t/ - /tʃ/, /b/ - /v/, /r/ - /l/ Tổ hợp phụ âm cũng là một vấn đề lớn với người Nhật khi học tiếng Anh do cấu trúc

âm tiết của tiếng Nhật không có tổ hợp phụ âm Vì thế, từ “street” sẽ được người

Nhật nói tiếng Anh phát âm thành /sutɔrɪtɔ/, và hiện tượng này rất phổ biến trong việc phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Nhật

Jalal Ahmad và Mohammad Muhiburahman (2013) tìm hiểu về lỗi phụ âm của sinh viên người Ả-rập Xê-út và kết luận họ thường phát âm sai những phụ âm như /p/, /d/, /v/, /tʃ/, /ʒ/và /ŋ/ Tuy nhiên, kết quả này dựa trên bảng khảo sát của giáo viên về lỗi của sinh viên nên kết quả chỉ có giá trị với các nghiên cứu trường

Trang 29

hợp, không thực sự khách quan Jalal Ahmad (2011) cũng tiến hành phân tích phát ngôn của sinh viên tại một trường đại học và kết luận 7 phụ âm gây khó khăn nhất cho sinh viên Ả-rập Xê-út theo thứ tự từ khó nhất đến ít khó nhất là /ʒ/, /p/, /ŋ/, /d/, /tʃ/, /v/ và /t/ Idriss Hassan và Elkhair Muhammad (2014) cũng nghiên cứu về tiếng Anh của người nói tiếng Ả-rập Xê-út và nhận thấy họ có khó khăn khi phát âm một

số nguyên âm và vài cặp phụ âm đối lập như /z/ và /ð/, /s/ và /θ/, /b/ và /p/, /ʃ/ và /tʃ/ Các tác giả cũng kết luận rằng người Ả-rập Xê-út mắc lỗi phát âm là do sự giao thoa ngôn ngữ, sự khác nhau giữa hai hệ thống âm vị và sự thể hiện con chữ không đồng nhất với cách phát âm, đặc biệt là nguyên âm tiếng Anh

Ingrid Mathew (2005) nghiên cứu tiếng Anh của các nhóm người ở Indonesia và cũng phát hiện ra các lỗi phát âm âm vị tiếng Anh với các phụ âm tắc /p/, /b/, /t/, /d/, /g/; phụ âm xát /s/, /z/, /ʃ/, /ʒ/, phụ âm tắc xát /tʃ/, /dʒ/, và những phụ

âm răng /θ/, /ð/ Sarmah, Gogoi và Wiltshire (2009) nghiên cứu về nhịp điệu và phát âm nguyên âm tiếng Anh của người Thái Lan, so sánh cấu trúc âm tiết của biến thể này với biến thể của tiếng Anh Singapore và tiếng Anh Hồng Kông Họ phỏng vấn hai nhóm nghiệm viên người Thái (ở Mỹ trên 18 tháng và ít hơn 4 năm), yêu cầu nghiệm viên đọc một đoạn tiếng Thái, sau đó đọc từ, câu và đoạn tiếng Anh rồi

từ đó tính toán chỉ số biến Pairwise (Pairwise Variability Index - nPVI, Grabe and Low 2002) và lượng thời gian phát âm nguyên âm %V1 (Ramus, Nespor and Mehler 1999) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tiếng Anh của người Thái có chỉ số nPVI cao và %V thấp, rất khác với biến thể Anh Anh hay Anh Mỹ Hung (2005), Deterding, Wong và Kirkpatrick (2008) nghiên cứu biến thể tiếng Anh của Hồng Kông và Deterding (2003), Lim (2004) nghiên cứu biến thể tiếng Anh Singapore nhưng tập trung chủ yếu vào các đặc điểm của nguyên âm /i:/ - /ɪ/, /u:/ - /ʊ/, hay /æ/

- /ɛ/e/

Hoàng Thị Quỳnh Hoa (1965), Giang Tang (2005), Lan Truong (2005) cũng

có đóng góp trong việc khảo sát sự tương đồng và khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt Các nhà nghiên cứu này đều đưa ra những nhận định đồng nhất về việc người Việt học tiếng Anh sẽ gặp một số khó khăn ở một số âm nhất định do sự khác biệt

Sarmah, Gogoi và Wiltshire, 2009)

Trang 30

về phương thức cấu âm của các phụ âm; họ sẽ gặp vấn đề với các âm có trong tiếng Anh mà không có trong tiếng Việt như /ʃ/, /dʒ/, /ʒ/, /tʃ/, /θ/, /ð/ Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng với trường hợp tổ hợp phụ âm, người Việt thường có xu hướng lược bỏ phụ âm trong tổ hợp ở cả vị trí đầu và cuối âm tiết hoặc thay thế các phụ

âm hay nguyên âm tiếng Anh bằng một số âm gần tương tự trong tiếng Việt, hoặc

sử dụng ngữ điệu lên xuống ở cấp độ từ

Về lỗi phát âm tổ hợp phụ âm, Fangchi-Chang (2004) có nghiên cứu lỗi phát

âm tổ hợp phụ âm với đối tượng là người Trung Quốc học tiếng Anh và tìm ra 4 kiểu lỗi chủ yếu gồm giản lược (cluster reduction), đơn giản hoá (cluster simplification), chèn nguyên âm (epenthesis), và hợp nhất phụ âm (coalescence) Đây là một trong những nghiên cứu đi sâu vào các biến thể phát âm tổ hợp phụ âm của người nước ngoài học tiếng Anh được đánh giá cao Nguyên nhân chủ yếu được cho là do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ cũng như các nhân tố mang tính phát triển

Khanbeki và Abdolmanafi-Rokni (2015) nghiên cứu đề tài tương tự với đối tượng người Iran và nhận thấy họ có xu hướng thêm nguyên âm vào tổ hợp ở vị trí đầu âm tiết nhiều hơn so với cuối âm tiết và những ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ thực sự khá rõ rệt trong việc họ sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ

Yuliati (2014) tập trung vào việc lược bỏ và đơn giản hoá các phụ âm trong

tổ hợp tiếng Anh do người Indonesia thể hiện Tuy nhiên, các nghiên cứu này hầu như đều không có sự đánh giá một cách khách quan bằng các thông số ngữ âm mà chỉ sử dụng cảm thụ thính giác để đưa ra kết luận Nếu có các kết quả về thông số

âm học thì các kết quả sẽ mang tính thuyết phục hơn rất nhiều

Tất cả các nghiên cứu này đã khái quát hoá các đặc điểm phát âm phụ âm và

tổ hợp phụ âm tiếng Anh nói chung cũng như đặc điểm phát âm của biến thể tiếng Anh ở các đối tượng người học ở các quốc gia khác nhau Các nghiên cứu này đã tìm

ra những điểm tương đồng – khác biệt, phân tích đặc điểm cấu trúc âm tiết của tiếng Anh so với tiếng mẹ đẻ của người học, từ đó tổng hợp và dự đoán những biến thể mà những người học này có thể sử dụng Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới dừng ở mức đánh giá biến thể bằng cảm thụ thính giác chứ ít sử dụng các thông số kĩ thuật qua các phần mềm phân tích giọng nói nên tính khách quan còn chưa cao Việc xác định

Trang 31

biến thể có lệch chuẩn hay không có thể sử dụng cảm quan thính giác của nhà nghiên cứu, nhưng cũng nên có các biện pháp để chứng thực cho các nhận định đưa ra

1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đặc điểm phát âm phụ âm và tổ hợp phụ

âm tiếng Anh tại Việt Nam

Các nghiên cứu về đặc điểm phát âm phụ âm tiếng Anh tại Việt Nam hầu như đều tập trung vào các giao thoa ngữ âm giữa hai ngôn ngữ Miller (1976) là một trong những nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu về giao thoa trong phát âm tiếng Anh của người Việt nói tiếng Anh, trong đó ông cho thấy khác biệt giữa phụ âm tiếng Anh và tiếng Việt là nguyên nhân chính gây nên các lỗi về phụ âm, tổ hợp phụ

âm tiếng Anh Trong nghiên cứu của mình, ông đề cập đến bốn khía cạnh của giao thoa ngữ âm tạo nên biến thể tiếng Anh của người Việt, trong đó có giao thoa về phụ âm Ông dự đoán người Việt sẽ gặp những vấn đề khó khăn nhất với các phụ

âm như /θ/, /ð/, và /r/ Ông cũng chỉ ra vấn đề về tính chất bật hơi có thể sẽ bị thiếu trong các phát âm tiếng Anh của người Việt Ngoài ra, do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên người Việt cũng khó thể hiện trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh, vốn

xa lạ với người Việt nói tiếng Anh

Về các khó khăn mà việc giao thoa giữa hai ngôn ngữ - tiếng Việt và tiếng Anh - gây ra nói chung, Phạm Đăng Bình (2003) có nghiên cứu “Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hoá trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh” chỉ ra một số đặc điểm về phát âm của người Việt bao gồm giao thoa về phát âm phụ âm như các lỗi về phụ âm đầu (phụ âm bật hơi bị đổi thành phụ âm không bật hơi, phụ

âm tiếng Anh bị đổi thành các âm gần giống trong tiếng Việt như với trường hợp của /θ/, /ð/, /tʃ/, /dʒ/, phụ âm /l/ bị phát âm thành /n/); lỗi phát âm tổ hợp phụ âm đầu người Việt thường đệm nguyên âm /ə/; lỗi phát âm phụ âm cuối và cụm phụ âm cuối Khi khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ, văn hóa trong diễn ngôn của người Việt (NV) học tiếng Anh, ông đã đưa ra các quan niệm khác nhau về lỗi dưới góc độ cấu trúc và hành vi luận, góc độ ngôn ngữ học chức năng, góc độ ngôn ngữ học tâm lý,

và góc độ ngôn ngữ học đối chiếu Ông cho rằng “hiện tượng giao thoa ngôn ngữ và

văn hoá trong quá trình giao tiếp liên ngôn là nhân tố cản trở quá trình học ngôn ngữ thứ hai của người học và là nguyên nhân gây ra ngưng trệ giao tiếp hoặc sốc

Trang 32

văn hoá trong giao tiếp liên ngôn” (tr.195) Ông cũng đưa ra nhận xét rằng người học

phi bản ngữ khi đã mắc lỗi phát âm ở trình độ cao thì rất khó sửa Tuy nhiên, do tác giả bao quát tất cả các vấn đề về lỗi ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm trong một luận án nên

dữ liệu phân tích về mảng ngữ âm còn quá ít và giải thích còn sơ sài, chưa thể hiện đủ bản chất lỗi ở NV học tiếng Anh

Cụ thể về nghiên cứu các biến thể phát âm phụ âm, một số các nghiên cứu gần đây tập trung vào vấn đề này Dương Thị Nụ (2009) sử dụng phương pháp miêu tả âm vị học để nghiên cứu lỗi phát âm 4 âm vị tiếng Anh /tʃ/, /dʒ/, /ʃ/, /ʒ/ và đưa ra kết luận rằng lỗi phát âm tiếng Anh là do thiếu kiến thức về cách phát âm và quan trọng hơn là do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ Với những lí luận khá chặt chẽ và xác đáng trên cơ sở những sự khác nhau của vị trí cấu âm và phương thức cấu âm, tác giả đã chỉ ra 4 cặp lỗi tương ứng /ʃ/ thành /s/, /ʒ/ thành /z/, /dʒ/ thành /z/ hoặc /s/ còn /tʃ/ thành /c/ và đề xuất các biện pháp khắc phục lỗi Lê Thanh Hoà (2016) là một trong những nghiên cứu khá nổi bật gần đây về lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên Việt Nam ở Trường Đại học Đồng Nai Tác giả so sánh hệ thống nguyên âm và phụ âm tiếng Việt được phát âm tại Đồng Nai với hệ thống nguyên âm và phụ âm tiếng Anh Anh (British English); và sau đó dùng phần mềm Praat và Speech Analyzer để phân tích lỗi với kết quả khá thuyết phục Theo Lê Thanh Hoà, về phát âm phụ âm, người Việt thường gặp vấn đề với các âm /tʃ/, /dʒ/, /ʃ/, /ʒ/, /θ/, /ð/ và các tổ hợp phụ âm Tác giả cũng phân tích nguyên nhân gây lỗi và đề xuất một số biện pháp khắc phục

Việc nghiên cứu các biến thể lệch chuẩn và đưa ra giải pháp ứng dụng trong giảng dạy ngoại ngữ cũng khá phổ biến ở các luận văn thạc sĩ như nghiên cứu của Nguyễn Tấn Lộc (2009) về phụ âm /θ/ và /ð/ của sinh viên Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Đoàn Thị Phương Thảo (2011) nghiên cứu sửa lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh thường mắc ở sinh viên ngoại ngữ 2, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Thị Mai Đào (2003) nghiên cứu lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh của học sinh Việt Nam Về phát âm tiếng Anh của học viên người Việt ở một vài địa phương, Đào Thuý Mai (2012) nghiên cứu một số lỗi thường gặp của học viên Việt Nam ở Quảng Ngãi khi phát âm phụ âm cuối trong tiếng Anh, trong đó tập trung vào các phụ âm /b/ /p/ /t/ /d/ /k/ Đào Thị

Trang 33

Thuỳ Chi (2015) nghiên cứu những lỗi thường mắc trong phát âm phụ âm tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất người Nghệ An và một số cách khắc phục Đào Thị Thùy Chi nhận thấy các phụ âm mà sinh viên là người thuộc khu vực này hay gặp

khó khăn lần lượt theo thứ tự là các âm /d/ /j/ /t/ /dʒ/ /θ/ và /ʒ/ Lỗi phát âm thường

gặp của sinh viên không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình của Nguyễn Thọ

Phước Thảo (2016) chỉ ra rằng sinh viên khu vực này có hiện tượng lược âm cuối, nhầm lẫn âm, Việt hoá âm và không phát âm được các tổ hợp phụ âm Cụ thể, 98% sinh viên không phân biệt được cặp âm /ʒ/ và /dʒ/ bị phát âm thành /z/ hay /tʃ/ 65% sinh viên bị nhầm lẫn âm /ʃ/ với /s/ 85% sinh viên không phát âm được âm /ð/ 75% sinh viên gặp khó khăn trong việc phát âm các chuỗi phụ âm, cụ thể là không đọc thành cụm mà lại đọc riêng lẻ như đang phát âm tiếng Việt Điều này xuất phát

từ việc sinh viên không phân biệt được cấu trúc âm tiết tiếng Anh Ví dụ: play /pleɪ/ thường được phát âm thành /pəleɪ/, split /splɪt/ thường phát âm thành /səpəlɪt/, three

/θri:/ thường phát âm thành /trɪ/

1.1.3 Đánh giá về các nghiên cứu đã có

Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đây đã bước đầu xác lập được một hệ thống cơ sở lí thuyết về đặc điểm phát âm phụ âm tiếng Anh của người Việt thông qua sự tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới dừng lại ở đối tượng người đang trong quá trình học và không có nhiều kết quả về thông số ngữ âm mà chỉ tập trung vào các lỗi ghi lại được do cảm quan thính giác Phương ngữ Bắc Bộ cũng dường như ít được quan tâm trong các nghiên cứu về biến thể phát âm Nghiên cứu đặc điểm phát âm của người đã đạt trình độ cao về ngoại ngữ bằng cách ghi lại phát âm của họ và đánh giá qua các thông số ngữ âm rồi tìm hướng khắc phục các biến thể (nếu có) là một hướng nghiên cứu mới chưa

có nhiều nhà nghiên cứu tập trung thực hiện Một nhược điểm khá lớn của các nghiên cứu được đề cập ở đây là các nghiên cứu về phát âm thì lại chỉ đề cập một khía cạnh nhỏ của ngữ âm – âm vị học, với số lượng nghiệm viên khá khiêm tốn, chưa đến 20 nghiệm viên Các kết quả nghiên cứu có được cũng không có nhiều yếu tố thực nghiệm để so sánh đối chiếu mà hầu hết dựa trên cảm quan thính giác Các nghiên cứu gần đây đã có sử dụng các phương pháp thực nghiệm, tuy nhiên

Trang 34

chủ yếu tập trung vào đối tượng là người học tại các cơ sở đào tạo, còn chưa có nghiên cứu nào tập trung vào đối tượng người có trình độ ngoại ngữ cao, sau quá trình đào tạo tại trường lớp Hơn nữa, số lượng nghiệm viên ở các nghiên cứu này khá hạn chế, không tạo được cơ sở dữ liệu đáng kể để thể hiện các đặc điểm tiếng Anh của người Việt nói chung Điều này cũng cản trở việc khái quát hoá các hiện tượng được đề cập trong nghiên cứu Vì vậy, luận án đi sâu vào đề tài này với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về đặc điểm phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt đã đạt trình độ tiếng Anh cao, các biến thể phát

âm, nguyên nhân gây ra hiện tượng biến thể đó, và từ đó đề xuất biện pháp khắc phục

1.2 Cơ sở lý luận

Để xác lập cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình, tác giả luận án đã dựa trên lý thuyết về đặc điểm âm tiết tiếng Anh – tiếng Việt, lý thuyết về phụ âm và tổ hợp phụ âm, lý thuyết về phát âm, ngôn ngữ học đối chiếu, lý thuyết về lỗi và phân tích lỗi Đây đều là những lý thuyết cơ bản để tiến hành các bước nghiên cứu

Phần đầu tiên trong cơ sở lý thuyết bàn đến đặc điểm âm tiết tiếng Anh cũng như tiếng Việt, tập trung vào ba mảng chính là đặc điểm ngữ âm – âm vị học cơ bản của âm tiết; cấu trúc âm tiết; và kiểu loại âm tiết Đây sẽ là nền tảng lý thuyết thể hiện

sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó giúp lý giải nguyên nhân gây ra các vấn đề về phát âm tiếng Anh của người Việt

Lý thuyết về phụ âm và tổ hợp phụ âm tập trung khái quát định nghĩa phụ

âm, phân tích cụ thể hệ thống phụ âm của tiếng Anh và tiếng Việt, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống này rồi đi sâu vào riêng trường hợp tổ hợp phụ âm tiếng Anh Đặc điểm về tính thanh, vị trí cấu âm, phương thức cấu âm của các phụ âm trong hai hệ thống ngôn ngữ sẽ là căn cứ để mô tả đặc điểm tổ hợp phụ âm tiếng Anh ở người Việt nói tiếng Anh

Lý thuyết về ngôn ngữ học đối chiếu giúp hiểu rõ khái niệm và vai trò của ngôn ngữ học đối chiếu – phương pháp nghiên cứu khả dụng để tìm ra đặc điểm tương đồng và khác biệt trong phát âm của cả hai ngôn ngữ Trong phần này, luận

Trang 35

án đi sâu vào định nghĩa ngôn ngữ nguồn – ngôn ngữ đích, giao thoa ngôn ngữ; sau

đó tập trung vào nguyên tắc cũng như qui trình đối chiếu nói chung Cuối cùng, luận án đề cập đến vai trò của Ngôn ngữ học đối chiếu với việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ nói chung để qua đó nhấn mạnh thêm vai trò của Ngôn ngữ học đối chiếu trong các tình huống dạy và học cụ thể

Do nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu đặc điểm phát âm tổ hợp phụ âm tiếng Anh của người Việt, lý thuyết về lỗi cũng là cơ sở lý luận khá quan trọng vì đây chính là một trong những điểm đặc biệt tạo nên những nét riêng biệt của biến thể phát

âm Liên quan đến nghiên cứu về lỗi, tác giả luận án nhận thấy có hai khuynh hướng: khuynh hướng phân tích đối chiếu (Contrastive Analysis) và khuynh hướng phân tích lỗi (Error Analysis) Luận án bắt đầu bằng việc đưa ra khái niệm và các bước phân tích lỗi, rồi từ đó định nghĩa lỗi và phân loại lỗi theo nhiều quan điểm khác nhau Vì đề tài tập trung vào lỗi ngữ âm, phần tiếp sau là định nghĩa và phân loại lỗi ngữ âm và các kiểu giao thoa ngữ âm Sau đó, các nguyên nhân gây lỗi và ý nghĩa của toàn bộ quá trình xác định lỗi với từng đối tượng bao gồm người học, người dạy, nhà quản lý giáo dục, v.v được đi vào phân tích cụ thể

Do nghiên cứu sử dụng phương pháp ngữ âm thực nghiệm, luận án cũng đề cập đến các khái niệm trong ngữ âm học thực nghiệm, với các đặc trưng vật lí, và đặc điểm và phương thức cấu âm (ba thành tố cơ bản trong quá trình tạo âm thanh lời nói: cơ cấu luồng hơi, thức tạo thanh và cấu âm) Phần này sẽ được trình bày kĩ hơn trong chương 2 của luận án

1.2.1 Lý thuyết về đặc điểm âm tiết tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt

Như đã trình bày ở trên, trong nghiên cứu này, luận án sử dụng tiếng Anh

Mỹ chuẩn (Standard American English/General American English) làm chuẩn, nên tiếng Anh được sử dụng trong nghiên cứu này sẽ được ngầm hiểu là tiếng Anh Mỹ

Theo định nghĩa của Đoàn Thiện Thuật (1980: 18), âm tiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất của lời nói, có khả năng mang hiện tượng ngôn điệu như trọng âm và ngữ điệu Về cơ chế cấu tạo, âm tiết được xác định như một đợt căng cơ của bộ máy phát âm: cứ mỗi lần cơ phát âm căng dần lên tới đỉnh cao nhất rồi trùng dần xuống

để rồi lại bắt đầu căng lên ở đợt tiếp theo là ta có một âm tiết Trong một âm tiết,

Trang 36

nơi độ căng lên đến mức cao nhất ứng với đỉnh độ cong của hình sin biểu diễn độ căng, được gọi là đỉnh âm tiết (vị trí thường tương ứng với vị trí của một nguyên âm) còn nơi độ căng giảm đến mức thấp nhất thì được gọi là ranh giới âm tiết

1.2.1.1 Âm tiết tiếng Việt

a Đặc điểm ngữ âm – âm vị học cơ bản của âm tiết tiếng Việt

- Tính tách bạch rõ ràng: mỗi âm tiết chiếm giữ một khoảng thời gian nhất định, ranh giới với các âm tiết liền kề trong ngữ lưu rất rõ ràng nên có thể dễ dàng đếm được có bao nhiêu âm tiết trong một đoạn ngữ lưu nhất định

- Ranh giới âm tiết thường trùng với ranh giới hình vị: tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập nên ranh giới âm tiết có xu hướng trùng với ranh giới hình vị Mỗi âm tiết tiếng Việt được coi là vỏ ngữ âm của một hình vị - một đơn vị có nghĩa Do đó trong tiếng Việt, âm tiết có vai trò rất quan trọng

- Cấu trúc chặt chẽ: âm tiết tiếng Việt là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, là khối thống nhất giữa các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, hình thái cấu trúc và chức năng

b Cấu trúc âm tiết tiếng Việt

Âm tiết tiếng Việt là đơn vị phát âm nhỏ nhất trong tiếng Việt, có cấu trúc chặt chẽ, với các thành tố được tổ chức theo 2 bậc: bậc 1 gồm âm đầu, vần và thanh điệu; bậc 2 là cấu trúc phần vần, gồm âm đệm, âm chính và âm cuối Ngoài ra, trong tiếng Việt, mỗi âm tiết đều được đặc trưng bằng tiêu chí ngôn điệu nhất định

là thanh điệu (âm vị siêu đoạn tính) Trong cấu trúc âm tiết, ở vị trí âm đầu chỉ có thể xuất hiện các phụ âm, ở vị trí âm đệm xuất hiện bán nguyên âm /-w-/, ở vị trí

âm chính là các nguyên âm đơn và nguyên âm đôi, và ở vị trí âm cuối là các phụ âm mũi, phụ âm tắc vô thanh và hai bán nguyên âm /-j; -w/ Tuy có nhiều quan điểm khác nhau, nhiều nhà nghiên cứu đều đồng nhất với quan điểm của Đoàn Thiện Thuật (1980) thể hiện cấu trúc 2 bậc của âm tiết tiếng Việt như bảng sau đây:

Bảng 1.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Việt (Đoàn Thiện Thuật, 1980)

Thanh điệu

Trang 37

Như sơ đồ trên, âm tiết tiếng Việt có cấu trúc 2 bậc: Ở bậc thứ nhất, âm tiết gồm âm đầu, vần, thanh điệu Âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết, vần tạo đỉnh

âm tiết, thanh điệu là thành phần ngôn điệu của âm tiết Đây là các thành phần bắt buộc của âm tiết tiếng Việt

Bậc thứ hai liên quan đến sự phân chia vần thành âm đệm, âm chính và âm cuối Âm đệm có chức năng trầm hóa vần Âm cuối có chức năng kết thúc vần Vần

có thể kết thúc bằng phụ âm, nhưng về ngữ âm, các phụ âm cuối vần không có giai đoạn thoái, luôn là phụ âm ngậm (implosive) Về âm vị học, phụ âm đầu và phụ âm cuối vần nằm trong đối hệ khác nhau, độc lập với nhau Ví dụ phụ âm đầu /t-/ trong

âm tiết tiếng Việt không đồng nhất với phụ âm cuối /-t/ trong âm tiết

Ngoài quan điểm này, cũng có những quan điểm có chút khác biệt như của

Cù Đình Tú (1972), Nguyễn Quang Hồng (1976) nhưng theo cách nhìn phổ biến, luận án vẫn xem xét cấu trúc tiếng Việt theo quan điểm thực tiễn của Đoàn Thiện Thuật, tức là xem âm tiết tiếng Việt không phải là một đơn vị duy nhất không thể phân xuất được mà là một cấu trúc hai bậc gồm năm thành phần như bảng trên

c Kiểu loại âm tiết tiếng Việt

Dựa trên sự có mặt hay vắng mặt và đặc trưng của âm cuối, âm tiết tiếng Việt được chia thành bốn kiểu loại sau:

- Âm tiết mở: là âm tiết kết thúc bằng nguyên âm (âm cuối zê rô);

- Âm tiết nửa mở: là âm tiết có âm cuối là một bán nguyên âm /w/ hoặc /j/;

- Âm tiết nửa khép: là âm tiết có âm cuối là một phụ âm mũi /m/ /n/ hoặc /ŋ/;

- Âm tiết khép: là âm tiết có âm cuối là một phụ âm tắc vô thanh /p/ /t/ hoặc /k/

1.2.1.2 Âm tiết tiếng Anh

a Đặc điểm ngữ âm – âm vị học cơ bản của âm tiết tiếng Anh

- Không tách bạch, rõ ràng: Trong ngôn ngữ biến hình, về hình thái học, âm tiết không đóng vai trò quan trọng Không như tiếng Việt, cấu trúc âm tiết tiếng Anh không rõ ràng Hầu như mọi người đều dễ dàng có thể xác định được số lượng

âm tiết trong một từ, nhưng do sự khác nhau về yếu tố thổ ngữ, đôi khi người bản

ngữ không thống nhất về số lượng âm tiết của một từ Ví dụ từ history có thể được

hiểu là có ba âm tiết với trường hợp /ˈhɪs·tə·rɪ/ nhưng cũng có thể được coi là có hai

âm tiết với trường hợp phát âm là /ˈhɪs·trɪ/

Trang 38

- Ranh giới âm tiết không rõ ràng: Trong các ngôn ngữ biến hình, hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa để cấu tạo từ Hình vị, về mặt biểu đạt âm thanh, có thể

nhỏ hơn một âm tiết (như s-es để biểu thị danh từ số nhiều hoặc động từ chia ở ngôi thứ ba số ít ở hiện tại), có thể là một âm tiết ở dạng nguyên thể như at /æt/, hoặc có thể nhiều hơn một âm tiết như teacher /ˈti:·tʃə(r)/ Trong từ, ranh giới hình vị có thể

cắt ngang ranh giới âm tiết, và ngược lại ranh giới âm tiết cũng có thể cắt ngang ranh giới hình vị Như vậy, ranh giới hình vị và ranh giới âm tiết không nhất thiết phải trùng nhau

- Cấu trúc âm tiết không chặt chẽ: Cấu trúc âm tiết tiếng Anh thường ít tính chặt chẽ như tiếng Việt, đặc biệt là ở cuối từ Trong ngữ lưu hoặc thực tế giao tiếp, phụ âm cuối có khả năng rời bỏ âm tiết của mình để trở thành âm đầu của âm tiết đứng liền sau bắt đầu bằng một nguyên âm Do kết cấu âm tiết lỏng lẻo như vậy nên hiện tượng nối âm rất phổ biến trong tiếng Anh

b Cấu trúc âm tiết tiếng Anh

Âm tiết tiếng Anh là đơn vị phát âm nhỏ nhất của lời nói, với các hiện tượng ngôn điệu như trọng âm, ngữ điệu Nếu tiếng Việt chủ yếu là các từ đơn tiết, do một

âm tiết tạo thành, thì tiếng Anh lại nhiều tổ hợp đa âm tiết, một từ có thể gồm một hay nhiều âm tiết Cấu trúc âm tiết của ngôn ngữ này khá lỏng lẻo, ranh giới âm tiết không rõ ràng Thông thường cấu trúc âm tiết tiếng Anh được chia thành 3 phần gồm âm đầu (bất kì phụ âm nào trước nguyên âm), nguyên âm (trung tâm), và âm cuối Âm đầu trong tiếng Anh cũng có thể coi là tiền âm tiết, âm cuối là hậu âm tiết,

và nguyên âm và âm cuối được xem như phần vần Do đó, vần trong tiếng Anh được chia thành 2 phần: hạt nhân – nucleus (phần lớn là nguyên âm) và âm cuối – coda (bất cứ phụ âm nào sau hạt nhân) Sau đây là Bảng 1.2 thể hiện cấu trúc của

âm tiết tiếng Anh của Daniel & James (2006)

Bảng 1.2 Cấu trúc âm tiết tiếng Anh (Daniel & James, 2006: 10)

Âm tiết (Syllable)

Âm đầu

(Onset)

Vần (Rhyme) Nguyên âm

(Nucleus)

Âm cuối (Coda)

Trang 39

Với trường hợp các từ có hơn một âm tiết, việc phân xuất ranh giới giữa các

âm tiết vẫn còn có nhiều mâu thuẫn và chưa nhận được sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu Một trong những cấu trúc nhận được nhiều sự đồng tình vì sự phân tích chi tiết về vai trò và thành phần cấu tạo âm tiết là cấu trúc của McCully (2009) Theo McCully, âm tiết tiếng Anh được sắp xếp thành 5 lớp: lớp âm tiết (syllables), lớp bộ phận cấu tạo âm tiết (syllable constituents), lớp vần (rhymes), lớp chiết đoạn (X-tier: CV segments) và lớp âm vị (phonemes) Ông đã tìm hiểu mối liên hệ giữa các thành phần cấu tạo nên những âm tiết khác nhau trong từ đa tiết và lấy ví dụ mô

tả cấu trúc âm tiết từ shimmer /ˈʃɪm.ə(r)/ theo sơ đồ sau

Hình 1.1 Cấu trúc âm tiết tiếng Anh Mỹ (trường hợp shimmer) của McCully, 2009

Trong luận án này, tác giả sử dụng mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Anh của McCully (2009) đã được lược đồ hoá như sau:

Trang 40

Bảng 1.3 Lƣợc đồ cấu trúc âm tiết tiếng Anh theo McCully (2009)

Từ hai âm tiết

Từ một âm tiết Khởi âm Âm chính Âm cuối/

Khởi âm

Âm chính Âm cuối

c Kiểu loại âm tiết tiếng Anh

Tiếng Anh có hai kiểu loại âm tiết: âm tiết mở và âm tiết đóng

- Âm tiết mở: là những âm tiết kết thúc bằng một nguyên âm, như he /hiː/

- Âm tiết đóng: là những âm tiết kết thúc bằng một phụ âm, như stop /stɒp/

1.2.2 Lý thuyết về phụ âm và tổ hợp phụ âm

1.2.2.1 Khái niệm phụ âm và quá trình tạo sản lời nói

Có rất nhiều định nghĩa về phụ âm, từ cả góc độ ngữ âm học và âm vị học

Về mặt ngữ âm học, phụ âm được coi là “những âm được tạo ra bằng việc đóng hoàn toàn hay một phần của bộ phận cấu âm, làm cho không khí đi ra bị cản trở hoàn toàn hay bị cản trở một phần” (Crystal, 2008: 103) Về mặt âm vị học, tác giả này cũng cho rằng phụ âm là “những đơn vị có chức năng làm âm đầu hay âm cuối,

kể cả đối với phụ âm đơn lẫn tổ hợp phụ âm” Từ các định nghĩa này, phụ âm được

mô tả thường trên ba đặc điểm bao gồm phương thức cấu âm, vị trí cấu âm và đặc điểm thanh tính

Căn cứ vào phương thức cấu âm, tức là sử dụng cách cấu âm để phát âm đúng một âm nào đó, người ta phân loại phụ âm thành: phụ âm tắc, phụ âm mũi, phụ âm rung, phụ âm vỗ, phụ âm xát, phụ âm tắc xát, phụ âm xát bên, phụ âm lỏng

và phụ âm lỏng bên

Căn cứ vào các bộ phận cấu âm, người ta chia vị trí cấu âm của phụ âm thành các loại: phụ âm hai môi, phụ âm môi răng, phụ âm răng, phụ âm lợi, phụ âm sau lợi, phụ âm quặt, phụ âm ngạc cứng, phụ âm mạc, phụ âm lưỡi con, phụ âm thanh quản và phụ âm hầu

Xét về đặc điểm thanh tính, các cặp phụ âm xuất hiện theo cặp ở cùng phương thức cấu âm và vị trí cấu âm đối lập nhau Trong Bảng phiên âm quốc tế, phụ âm bên trái có tính vô thanh (voiceless) và phụ âm bên phải có tính hữu thanh (voiced) Khi phát âm phụ âm vô thanh, dây thanh không rung và khi phát âm phụ

âm hữu thanh thì dây thanh có rung

Ngày đăng: 19/03/2021, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Phương Anh (2018), “Ngữ điệu tiếng Anh và việc giảng dạy ngữ điệu tiếng Anh cho người Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (2), tr. 44-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ điệu tiếng Anh và việc giảng dạy ngữ điệu tiếng Anh cho người Việt”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Ngô Phương Anh
Năm: 2018
2. Phạm Đăng Bình (2002), “Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá”, Tạp chí Ngôn ngữ (9), tr. 58-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2002
3. Phạm Đăng Bình (2003), Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hoá trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh, Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các lỗi giao thoa ngôn ngữ - văn hoá trong diễn ngôn của người Việt học tiếng Anh
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2003
4. Pimsen Buarapa (2005), Phân tích tương phản hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan và tiếng Việt - Ứng dụng sửa lỗi phát âm thanh điệu cho người Thái học tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tương phản hệ thống thanh điệu tiếng Thái Lan và tiếng Việt - Ứng dụng sửa lỗi phát âm thanh điệu cho người Thái học tiếng Việt
Tác giả: Pimsen Buarapa
Năm: 2005
5. Nguyễn Huy Cẩn (2008), Ngôn ngữ học: Một số phương diện nghiên cứu liên ngành, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học: Một số phương diện nghiên cứu liên ngành
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
6. Nguyễn Văn Chiến (1991), Ngôn ngữ học đối chiếu, NXB Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Ngoại ngữ
Năm: 1991
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, tr. 73- 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
8. Lê Ngọc Diệp (2019), “Lỗi giao thoa phát âm vần mở tiếng Việt ở người nói tiếng Anh (Mỹ)”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (8), tr. 92-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi giao thoa phát âm vần mở tiếng Việt ở người nói tiếng Anh (Mỹ)”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Lê Ngọc Diệp
Năm: 2019
9. Trần Thanh Diệu (2013), Khảo sát cách phát âm trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh của người bản ngữ Việt, Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát cách phát âm trọng âm và ngữ điệu tiếng Anh của người bản ngữ Việt
Tác giả: Trần Thanh Diệu
Năm: 2013
10. Trần Thị Mai Đào (2003), Nghiên cứu lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh của học sinh Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lỗi phát âm phụ âm tiếng Anh của học sinh Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Mai Đào
Năm: 2003
11. Nguyễn Thiện Giáp (2012), Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
12. Cao Xuân Hạo (2004), Âm vị học và tuyến tính, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm vị học và tuyến tính
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
13. Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng (2005), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt, Việt - Anh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt, Việt - Anh
Tác giả: Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2005
14. Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
15. Lê Thanh Hoà (2014), “Lỗi phát âm thường gặp của sinh viên Đồng Nai ở phụ âm, tổ hợp phụ âm kết thúc từ tiếng Anh”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (10), tr. 75-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi phát âm thường gặp của sinh viên Đồng Nai ở phụ âm, tổ hợp phụ âm kết thúc từ tiếng Anh”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Lê Thanh Hoà
Năm: 2014
16. Lê Thanh Hoà (2016), Lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên Việt Nam: trường hợp sinh viên Đại học Đồng Nai, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên Việt Nam: trường hợp sinh viên Đại học Đồng Nai
Tác giả: Lê Thanh Hoà
Năm: 2016
17. Nguyễn Quang Hồng (1976), “Âm tiết tiếng Việt, chức năng và cấu trúc của nó”, Tạp chí Ngôn ngữ (52), tr. 29-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm tiết tiếng Việt, chức năng và cấu trúc của nó”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Quang Hồng
Năm: 1976
18. Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Bùi Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
19. Đặng Ngọc Hướng (2014), “Một lỗi nhỏ nhưng dễ mắc khi dùng lượng từ tiếng Anh”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (5), tr. 25-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một lỗi nhỏ nhưng dễ mắc khi dùng lượng từ tiếng Anh”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Đặng Ngọc Hướng
Năm: 2014
20. Nguyễn Huy Kỷ (2004), Ngữ điệu tiếng Anh đối với người Việt nói tiếng Anh, Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ điệu tiếng Anh đối với người Việt nói tiếng Anh
Tác giả: Nguyễn Huy Kỷ
Năm: 2004

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w