Các công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội .... Do đó, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Ảnh hưởng của triết lý n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÊ THƯ
ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ LÊ THƯ
ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC và CNDVLS
Mã số: 62220302
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS ĐẶNG THỊ LAN
2 PGS.TS NGUYỄN THÚY VÂN
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn của PGS TS Đặng Thị Lan và PGS.TS Nguyễn Thúy Vân Các số liệu, tài liệu trong luận án trung thực, đảm bảo tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án chưa được công bố ở công trình nghiên cứu khoa học nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Lê Thư
Trang 4Cuối cùng, tôi xin được gửi lời tri ân tới gia đình, cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận án
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Lê Thư
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 4
Danh mục các bảng 5
Danh mục các hình vẽ 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14
1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến triết lý nhân sinh, triết lý nhân sinh Phật giáo, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo ở Hà Nội 14
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức và đạo đức thanh niên ở Hà Nội 23
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội 26
1.4 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 34
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO VÀ ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN Ở HÀ NỘI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 39
2.1 Triết lý nhân sinh Phật giáo và đặc trưng của triết lý nhân sinh Phật giáo Việt Nam 39
2.1.1 Khái niệm triết lý nhân sinh Phật giáo 39
2.1.2 Nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh Phật giáo 45
2.1.3 Đặc trưng của triết lý nhân sinh Phật giáo Việt Nam 57
2.2 Khái quát về Phật giáo ở Hà Nội 69
2.2.1 Đặc điểm của Phật giáo ở Hà Nội 69
2.2.2 Vài nét về tình hình Phật giáo ở Hà Nội hiện nay 75
2.3 Khái quát về đạo đức thanh niên ở Hà Nội 78
2.3.1 Đạo đức và đạo đức thanh niên 78
Trang 62.3.2 Đặc điểm của đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 84
Tiểu kết chương 2 91 Chương 3 ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN Ở HÀ NỘI HIỆN NAY – THỰC TRẠNG
VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 92 3.1 Bối cảnh, phương thức và mức độ ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đến đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 92
3.1.1 Bối cảnh ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đến đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 92 3.1.2 Phương thức ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đến đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 96 3.1.3 Mức độ ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 104
3.2 Ảnh hưởng tích cực của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 110
3.2.1 Triết lý nhân sinh Phật giáo góp phần hình thành ý thức đạo đức của thanh niên ở Hà Nội hiện nay 111 3.2.2 Triết lý nhân sinh Phật giáo góp phần điều chỉnh hành vi đạo đức của thanh niên ở Hà Nội hiện nay 117
3.3 Ảnh hưởng tiêu cực của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay và một số vấn đề đặt ra 127
3.3.1 Ảnh hưởng tiêu cực của triết lý nhân sinh Phật giáo đến đạo đức thanh niên
ở Hà Nội hiện nay 127 3.2.2 Một số vấn đề đặt ra từ những ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay 134
Tiểu kết chương 3 141 Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN Ở HÀ NỘI HIỆN NAY 142
Trang 74.1 Một số quan điểm cơ bản 142
4.1.1 Quán triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo 142 4.1.2 Phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TLNSPG đối với ĐĐTNHN cần gắn kết với mục tiêu xây dựng “Người thanh niên thủ đô thời đại mới” ở Hà Nội hiện nay 146
4.2 Các giải pháp 149
4.2.1 Hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho việc phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của
TLNSPG đến ĐĐTNHN hiện nay 149 4.2.2 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng với Giáo hội Phật giáo ở Hà Nội trong việc tổ chức và quản lý các hoạt động Phật sự nhằm giáo dục đạo đức cho thanh niên 155 4.2.3 Phát huy vai trò tích cực của đội ngũ chức sắc, tăng ni trong việc
truyền bá TLNSPG góp phần giáo dục đạo đức cho thanh niên ở Hà Nội hiện nay 161 4.2.4 Nâng cao hiệu quả của truyền thông Phật giáo trong việc lan tỏa
TLNSPG góp phần phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TLNSPG đối với ĐĐTNHN hiện nay 165 4.2.5 Nâng cao vai trò của thanh niên ở Hà Nội trong phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TLNSPG đối với ĐĐTNHN hiện nay 171
Tiểu kết chương 4 177 KẾT LUẬN 178 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 181 TÀI LIỆU THAM KHẢO 182 PHỤ LỤC
Trang 8Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
1 ĐĐTN Đạo đức thanh niên
2 ĐĐTNHN Đạo đức thanh niên ở Hà Nội
3 GHPGHN Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành phố Hà Nội
4 Nxb Nhà xuất bản
5 PGVN Phật giáo Việt Nam
6 TLNSPG Triết lý nhân sinh Phật giáo
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo là một trào lưu triết học – tôn giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI (TCN) ở Bắc Ấn Độ Trong quá trình phát triển, tầm ảnh hưởng của Phật giáo đã vượt ra khỏi lãnh thổ Ấn Độ, lan tỏa đến rất nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Hơn 2500 năm qua, Phật giáo đã khẳng định được vai trò của mình với tư cách một tôn giáo thế giới với lượng tín đồ đông đảo Bên cạnh đó, Phật giáo còn là một hệ thống triết học với những tư tưởng sâu sắc, vượt thời đại và còn nhiều giá trị đối với cuộc sống của xã hội hiện đại hôm nay
Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo trên tinh thần từ bi, khoan dung
và hòa hợp đã tìm ra con đường rất riêng biệt – con đường bản địa hóa để đi vào trong đời sống người Việt Hiếm có ở một quốc gia nào trên thế giới, cùng một tư tưởng nhưng được hiểu ở những lớp nghĩa với độ nông sâu khác nhau ứng với hai hình thái Phật giáo bác học và Phật giáo dân gian như ở Việt Nam Sau này, sự tồn tại của hai trình độ tư tưởng đó gắn liền với hai tư cách hiện tồn của Phật giáo trong xã hội Việt Nam ngày nay Một là tư cách một bộ phận của văn hóa Việt Nam truyền thống với những tư tưởng gần gũi, giản đơn của Phật giáo dân gian, hai là tư cách một tôn giáo với tư tưởng có tính hàn lâm, triết học Triết lý nhân sinh Phật giáo (TLNSPG) khi đến với người Việt đã hòa nhập với đời sống văn hóa, tín ngưỡng bản địa, chi phối nhiều hoạt động của quần chúng nhân dân, hình thành nên TLNSPG Việt Nam Điều này tương ứng với sự đa dạng về trình độ nhận thức và phù hợp tình cảm và tâm lý của người Việt Nam
Trong quá trình du nhập đó, Phật giáo cũng đã làm hình thành nhiều trung tâm Phật giáo ở Việt Nam, trong đó có vùng đất Thăng Long – Hà Nội Lịch sử Thăng Long – Hà Nội chính thức được bắt đầu từ khi vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Đại La vào năm 1010 Sau này, triều đình phong kiến nhà Lý – Trần với chủ trương phát triển Phật giáo đã khiến cho
Trang 11Thăng Long dần trở thành mảnh đất hưng thịnh bậc nhất của Phật giáo Cho đến nay, trải qua bao thăng trầm, thịnh suy nhưng những tư tưởng của Phật giáo đã bám rễ trong lòng dân tộc, không chỉ tồn tại với tư cách là những tư tưởng nền tảng của một tôn giáo lớn của dân tộc, mà còn là một bộ phận hữu
cơ trong văn hóa truyền thống của Việt Nam Vì thế, TLNSPG vẫn đang hiện diện và tiếp tục thẩm thấu vào đời sống tinh thần của người dân ở Hà Nội ngày hôm nay
Bên cạnh đó, từ khi Đổi mới, sự đổi thay toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã làm gia tăng vai trò và ảnh hưởng của Phật giáo đến người dân Đó là bởi khi đời sống vật chất được nâng cao tạo điều kiện để con người quan tâm hơn đến những giá trị tinh thần Mặt khác, sự phát triển của xã hội hiện đại cũng tạo lên sức ép không nhỏ lên họ, nhất là đối với thế hệ trẻ, khiến họ tìm đến tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng như một chỗ dựa tinh thần trong đời sống Thêm nữa, trong xu thế thế tục hóa của các tôn giáo, bản thân Phật giáo cũng có những hoạt động hướng đích xã hội mạnh mẽ hơn Trong điều kiện những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng ngày càng cởi mở hơn, cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông và mạng internet trong việc truyền bá tư tưởng, Phật giáo đang có xu hướng kết nối nhanh hơn và sâu rộng hơn với các tầng lớp cư dân trong xã hội Do đó, một cách tự nhiên, TLNSPG đang tiếp tục ảnh hưởng đến
sự chọn lựa giá trị cũng như phương thức hành xử của thanh niên trên địa bàn
Hà Nội hiện nay
Không chỉ vậy, cùng với quá trình Đổi mới, với tư cách là một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội hàng đầu của đất nước, đời sống của người dân ở Hà Nội hiện nay cũng có nhiều thay đổi thuận nghịch đa dạng Bên cạnh những thay đổi theo hướng tích cực là sự đứt gãy giá trị giữa quá khứ và hiện tại, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống… đang biểu hiện ngày càng phức tạp, đặc biệt trong thế hệ thanh niên ở Hà Nội Thực trạng này đang đặt ra yêu cầu cần phải huy động mọi nguồn lực trong xã hội, trong
Trang 12đó có việc phát huy các giá trị tích cực trong tư tưởng của các tôn giáo để điều chỉnh, giáo dục đạo đức cho thanh niên một cách hiệu quả Bởi vì, “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [100, tr.216] Đối với Việt Nam, thanh niên còn là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng xã hội mới – xã hội chủ nghĩa
Như vậy, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn xây dựng đạo đức thanh niên ở
Hà Nội hiện nay, từ vị trí và vai trò của Phật giáo trong lòng dân tộc và từ sự hiện diện mạnh mẽ của TLNSPG trong đời sống xã hội hôm nay, có thể nói, nếu được phát huy bằng những phương pháp đúng đắn, TLNSPG sẽ là một trợ lực to lớn bên cạnh hệ tư tưởng chính thống là chủ nghĩa Mác – Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp điều chỉnh ĐĐTN, góp phần khắc phục thực trạng xuống cấp về đạo đức của thanh niên ở Hà Nội hiện nay Do đó, chúng
tôi đã lựa chọn vấn đề “Ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ với mong
muốn góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò của TLNSPG trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt vai trò đó thể hiện trên phương diện đạo đức của một bộ phận dân cư quan trọng trên địa bàn Hà Nội là thanh niên
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu: Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về triết lý nhân
sinh Phật giáo và đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay, luận án tập trung làm
rõ những ảnh hưởng của triết lý nhân sinh Phật giáo đến đạo đức thanh niên ở
Hà Nội và những vấn đề đặt ra, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TLNSPG đối với ĐĐTNHN hiện nay
* Nhiệm vụ:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Trình bày một số vấn đề lý luận về TLNSPG và ĐĐTNHN hiện nay
Trang 13- Phân tích, đánh giá thực trạng ảnh hưởng của TLNSPG đối với
ĐĐTNHN hiện nay và những vấn đề đặt ra
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích
cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TLNSPG đối với ĐĐTNHN hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
Luận án nghiên cứu TLNSPG và ảnh hưởng của TLNSPG đến
ĐĐTNHN hiện nay
* Phạm vi:
Về thời gian: Nghiên cứu sự ảnh hưởng của TLNSPG đến ĐĐTNHN
giai đoạn từ khi Đổi mới (1986) đến nay
Về không gian: Địa giới hành chính của Hà Nội hiện nay bao gồm cả những khu vực có sự sát nhập với tỉnh Hà Tây và một số địa phương thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Hòa Bình (Giới hạn hành chính địa bàn Hà Nội sau 2008)
Về khách thể: Thanh niên ở Hà Nội là những người Việt Nam ở độ tuổi
từ 16 đến 30, có thời gian sinh sống, học tập (làm việc) tại Hà Nội từ 01 năm
Luận án được tiếp cận dưới góc độ triết học, vận dụng các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa các hình thái ý thức xã hội (chú ý đến mối quan hệ giữa tôn giáo và đạo đức)
Trang 144.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ bản của khoa học xã hội như phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, logic, lịch sử, đối chiếu, so sánh… để đạt được mục tiêu đặt ra Đồng thời, để có kết quả nghiên cứu khách quan, khoa học và cụ thể, luận án đã kết hợp sử dụng các phương pháp
xã hội học như: thu thập thông tin định tính và định lượng (thông qua bảng hỏi, phỏng vấn sâu), khảo sát thực địa… nhằm thực hiện nhiệm vụ của luận
án với các kết quả thực tế, sinh động
- Chọn địa bàn khảo sát và mẫu nghiên cứu:
Chúng tôi tiến hành chọn mẫu theo phương pháp kết hợp Phương pháp này bao gồm chọn mẫu theo cụm và chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản
Bước 1: Chọn mẫu cụm
Căn cứ vào cách chia theo đơn vị hành chính của thành phố Hà Nội, thành phố hiện có 10 quận, 1 thị xã và 18 huyện Chúng tôi chia thành 3 cụm như sau (bậc 1):
+ Cụm 1 bao gồm các quận trung tâm: Quận Ba Đình, Quận Hoàn Kiếm, Quận Đống Đa, Quận Hai Bà Trưng
+ Cụm 2 bao gồm các quận cách xa trung tâm: Quận Tây Hồ, Quận Long Biên, Quận Cầu Giấy, Quận Hoàng Mai, Quận Thanh Xuân, Quận
Hà Đông
+ Cụm 3 bao gồm 18 huyện và 1 thị xã
Sau khi chia cụm, tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên cụm 1 chọn ra được Quận Hoàn Kiếm và Quận Đống Đa, cụm 2 chọn được Quận Hà Đông và Quận Long Biên, cụm 3 chọn được Huyện Mê Linh và Huyện Gia Lâm Từ kết quả này, chúng tôi tiếp tục tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên để chọn được các phường trong các quận và huyện (bậc 2):
+ Quận Hoàn Kiếm chọn được phường Trần Hưng Đạo
+ Quận Đống Đa chọn được phường Văn Miếu
+ Quận Hà Đông chọn được phường Văn Quán
Trang 15+ Quận Long Biên chọn được phường Bồ Đề
+ Huyện Mê Linh chọn được xã Mê Linh
+ Huyện Gia Lâm chọn được xã Yên Viên
Bước 2: Chọn mẫu ngẫu nhiên
Căn cứ vào kết quả chọn ra được 6 địa bàn khảo sát ở bước 1, chúng tôi tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên trên 6 địa bàn này để tiến hành phỏng vấn
- Chọn đối tượng khảo sát:
Thanh niên ở Hà Nội là những người Việt Nam ở độ tuổi từ 16 đến 30,
có thời gian sinh sống, học tập (làm việc) tại Hà Nội từ 1 năm trở lên
Khảo sát tiến hành phân tích những tác động của TLNSPG đến ĐĐTN theo hai nhóm chính:
+ Nhóm phân chia theo độ tuổi: thanh niên sớm (16-18 tuổi), thanh
niên (19-24 tuổi) và thanh niên muộn (25-30 tuổi) (Căn cứ theo phân chia của Báo cáo Quốc gia về thanh niên Việt Nam công bố tháng 6 năm 2015 do Bộ Nội Vụ Và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc thực hiện)
+ Nhóm phân chia theo tôn giáo: thanh niên Phật tử (là thanh niên đã thực hiện nghi lễ quy y Tam Bảo và có pháp danh tại các cơ sở thờ tự Phật giáo) và thanh niên không phải Phật tử
- Mẫu khảo sát:
Để tránh phiếu hỏi sai sót và phục vụ cho việc chọn mẫu phỏng vấn, chúng tôi tiến hành phát 540 phiếu trên 6 địa bàn Như vậy, số lượng trường hợp trung bình của mỗi địa bàn sẽ là: 90 mẫu
Căn cứ trên số lượng Phật tử trên số dân theo thống kê chính thức của ban dân vận Trung ương năm 2017, căn cứ trên tỷ lệ thanh niên trên số dân cả nước theo Báo cáo Quốc gia về thanh niên năm 2015, từ 540 phiếu, chúng tôi chọn cỡ mẫu nghiên cứu gồm 500 phiếu với tỷ lệ cụ thể như sau:
+ Nhóm phân chia theo tôn giáo: thanh niên Phật tử: 54 phiếu; thanh niên không phải Phật tử: 446 phiếu
Trang 16+ Nhóm phân chia theo độ tuổi: thanh niên sớm (16-18 tuổi): 104 phiếu; thanh niên (19-24 tuổi): 240 phiếu; thanh niên muộn (25-30 tuổi): 156 phiếu
- Công cụ khảo sát:
Hai công cụ khảo sát chính được sử dụng nhằm mục đích thu thập được thông tin định tính và định lượng là:
+ Bảng hỏi cấu trúc phỏng vấn cá nhân
Dựa trên phương pháp chọn mẫu đã đề ra, chúng tôi sử dụng bảng hỏi cấu trúc để phỏng vấn 500 thanh niên về vấn đề ảnh hưởng của TLNSPG đến ĐĐTN trên địa bàn thành phố Hà Nội Đây là phương pháp giúp thu thập được các thông tin định lượng phục vụ luận án
+ Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu:
Chúng tôi tiến hành sử dụng bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu để tiến hành phỏng vấn một số thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội Đây là phương pháp giúp thu thập được các thông tin định tính phục vụ luận án
5 Ý nghĩa lý luận của luận án
- Luận án đã góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của TLNSPG và đặc điểm của TLNSPG
- Luận án đã làm rõ những ảnh hưởng của TLNSPG tới đạo đức thanh niên ở Hà Nội hiện nay trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực
- Luận án đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của TLNSPG đối với ĐĐTNHN hiện nay
- Trên cơ sở đó, luận án khẳng định rõ thêm vai trò của Phật giáo và TLNSPG trong đời sống xã hội Việt Nam trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn học như: triết học, tôn giáo học, văn hóa học,
Trang 17đạo đức học, lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phật giáo Việt Nam (PGVN)… ở các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo thuộc khối ngành khoa học xã hội và nhân văn cũng như các cơ sở đào tạo của PGVN Các cơ quan, ban ngành làm công tác quản lý tôn giáo cũng có thể tham khảo luận án này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến triết lý nhân sinh, triết lý nhân sinh Phật giáo, Phật giáo Việt Nam và Phật giáo ở Hà Nội
1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến triết lý nhân sinh và TLNSPG
* Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Trong ngôn ngữ nước ngoài, nhất là ở phương Tây thường chỉ có một thuật ngữ để nói về triết học với tư cách “hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới” Khi chuyển ngữ sang tiếng Việt, tùy vào từng bối cảnh cụ thể thuật ngữ này được dịch nghĩa thành hai khái niệm triết học hay triết lý Vì thế, đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, để tìm hiểu những tư tưởng về TLNSPG chúng tôi đã tham
khảo các nghiên cứu trực tiếp về triết học Phật giáo
Trước hết là cuốn Buddhist Philosophy: A historical analysis [165] của
tác giả David J.K Kalupahana (1984) Trong cuốn sách này, tác giả đã chỉ ra Nhân – Quả là khái niệm trung tâm của hệ thống triết học Phật giáo Bên cạnh
đó, tác giả còn chỉ ra ba khái niệm cơ bản khác trong triết học Phật giáo là Nghiệp báo, Luân hồi và Niết Bàn Ở đây tác giả nỗ lực xóa bỏ quan niệm sai lầm rằng Phật giáo theo chủ nghĩa quyết định luận bằng cách phân tích logic
và dẫn chứng trực tiếp từ các nguồn tài liệu trong các bản kinh Phật bằng tiếng Pali
Cuốn Lời giáo huấn của Phật đà [118] của tác giả Walpola Rahula
(1999) dành chương VI để phân tích cụ thể về nhân sinh quan Phật giáo Bằng việc khẳng định, “Phật giáo không công nhận vai trò tạo dựng của Thượng đế
và cũng không nương nhờ vào hồng ân của Thượng đế” [118, tr.117], tác giả
đã chỉ ra Phật giáo coi con người cũng là một chúng sinh tồn tại trên cõi đời rồi tan biến hủy diệt vào cõi như vô trong qui luật của luân hồi Những nội
Trang 19dung cơ bản trong nhân sinh quan Phật giáo được Wapola Rahula phân tích là
Vô ngã luận, Duyên khởi luận
Cuốn sách Buddhism as Philosophy: An Introduction [169] của tác giả
Mark Siderits (2007) Theo Siderits “học thuyết về nghiệp báo và sự tái sinh”
là nội dung cơ bản nhất của triết học Phật giáo Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ
ra tư tưởng cơ bản của Phật giáo thời kỳ đầu là Bát Chính đạo, Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Tam độc, học thuyết về nghiệp báo và luân hồi, về sự khổ (Suffering), học thuyết về vô thường (Impermanent), vô ngã (Nonself) Siderits đã nhấn mạnh rằng dù các trường phái sau này của Phật giáo đã phát triển vượt lên những tư tưởng ban đầu nhưng có “những tư tưởng nền tảng mà tất cả các trường phái triết học Phật giáo đều thống nhất thừa nhận là nội dung
cơ bản của Phật giáo sơ kỳ” [169, tr.14]
Stephen J.Laumakis (2008) trong cuốn An Introduction to Buddhist Philosophy [166] đã gọi toàn bộ tư tưởng triết học Phật giáo bằng thuật ngữ
Dhamma, trong đó phân tích chi tiết về Dhamma gồm Nghiệp báo – luân hồi, thuyết Nhân quả, vô thường, vô ngã và tính Không, Giải thoát và Niết Bàn Cuốn sách này còn khẳng định con đường trung đạo của Phật giáo và gọi Đức Phật là người khai sáng (the Awakened One) trong tôn giáo và các vấn đề triết
học
Cuốn sách A Companion to Buddhist Philosophy [163] do Steven
M.Emmanuel (2013) chủ biên tập hợp các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu
về triết học Phật giáo trong đó khẳng định “giá trị của Phật giáo cần phải được hiểu gắn liền với bối cảnh và mục đích của nó là đến giải thoát, đạt được đến Niết Bàn” [163, tr.5] Trong công trình này, các tác giả cùng thống nhất rằng nguồn gốc và cội rễ của sự vô thường của thế giới là bởi luật nhân quả
Cuốn Đại cương Triết học Phật giáo [84] của tác giả người Trung
Quốc Tưởng Duy Kiều (2016) khi phân tích các tư tưởng triết học Phật giáo
đã đưa ra hai nội dung cơ bản: Một là giáo lý của Phật giáo với hai thuyết Thuyết duyên khởi (trọng tâm chính là định luật nhân quả) và Thuyết thật
Trang 20tướng (bản thể thực tại của vũ trụ); Hai là giải thoát của Phật giáo trong đó có
sự đối sánh giữa “chủ nghĩa tiêu cực Tiểu Thừa” và “chủ nghĩa tích cực Đại thừa” trong giải quyết vấn đề về xuất phát điểm, thật chất và hình thức giải thoát Đặc biệt, tác giả cũng cho rằng lập trường của triết học Phật giáo là nhất nguyên luận và phiếm thần luận
Yamakami Sogen (2016) trong bài viết Nguyên lý vô thường trong triết học Phật giáo [121] khẳng định ba nguyên lý căn bản của Phật giáo là vô
thường, vô ngã và Niết Bàn tịch tịnh Ba nguyên lý này dựa trên toàn bộ cấu trúc của đạo Phật: Phật giáo Nguyên Thủy, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa Trên cơ sở luật Nhân quả, tác giả khẳng định sự vô thường của sinh diệt, vô thường của tính không
Như vậy, từ góc độ triết học, các học giả nước ngoài đã khái quát hóa các nguyên lý, nội dung cơ bản của hệ thống triết học Phật giáo Một số khái niệm, tư tưởng được nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài chỉ ra là Vô thường,
Vô ngã, Nhân - Quả, Duyên khởi, Nghiệp, Khổ, Giải thoát, Niết Bàn, Tứ Diệu
Đế Đây là những chỉ dẫn quan trọng để xác định những nội dung căn bản của TLNSPG
* Các công trình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu về triết lý nhân sinh rất đa dạng ở chủ đề và cách triển
khai nội hàm triết lý nhân sinh Ví dụ như: Kỷ yếu hội thảo khoa học Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam [122] do Lê Công Sự (2016) chủ biên tập
hợp nhiều bài viết về triết lý nhân sinh trong văn học Việt Nam, trong văn hóa
truyền thống của dân tộc và trong văn hóa tộc người Công trình Triết lý nhân sinh trong Phúc âm và ý nghĩa của nó đối với lối sống của tín đồ Công giáo Việt Nam hiện nay [67] của tác giả Đỗ Xuân Hiển (2017) lại phân chia tư
tưởng triết lý nhân sinh trực tiếp thành hai nội dung là quan niệm về lẽ sống
và quan niệm về lối sống Công trình: Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII [151]
của tác giả Ngô Quang Tuệ (2018) đã phân tích triết lý nhân sinh theo hai
Trang 21mục lớn là quan niệm về con người (vị trí, bản chất, sự sống chết của con người), quan niệm về đạo làm người, kế đó các tiểu mục là những quan niệm
cụ thể trong hệ thống tư tưởng của Đạo gia như quan niệm về vô dục và tri
túc, quan niệm về vô vi… Hay trong công trình Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay” [140] của Nguyễn Thị Tình (2018), tác giả đã phân tích khái niệm
triết lý nhân sinh trong đối sánh với khái niệm nhân sinh quan và chỉ ra sự khác biệt nhất định giữa hai khái niệm này Có thể nói, khi nghiên cứu triết lý nhân sinh, hầu hết các tác giả thường đồng nhất khái niệm này với khái niệm nhân sinh quan Vì thế, trong phần tổng quan các công trình liên quan, những công trình nghiên cứu về nhân sinh quan Phật giáo có nội dung gần gũi với đề tài của luận án sẽ được ưu tiên khảo lược Việc khảo lược này không có nghĩa tác giả luận án nhất trí với quan điểm đồng nhất hai khái niệm nhân sinh quan
và triết lý nhân sinh Mục đích của việc khảo lược này để làm rõ hơn nội dung
cơ bản của Phật giáo về vấn đề con người và xã hội, từ đó có thể khái quát hóa nội dung TLNSPG
Các công trình nghiên cứu giúp chúng tôi có nhận thức tổng quát về TLNSPG có thể kể đến là:
Trong bài viết Bước đầu tìm hiểu giá trị nhân sinh của Phật giáo [112]
của Lê Văn Quán (1998) đã khẳng định “Đối tượng chủ yếu của Phật giáo nghiên cứu là con người, là giá trị nhân sinh” [112, tr.9] Ngoài ra tác giả đã trình bày những tư tưởng cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo là tứ diệu đế,
nhân quả, vô ngã, vô thường
Tác giả Thích Tâm Thiện (1998) với công trình Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo [132] đã cung cấp một công trình công phu về tư tưởng Phật
giáo về nhân sinh với 16 chương sách Tác giả cho rằng Duyên sinh – Vô ngã
là quan niệm trung tâm, có tính nhất quán và đặc thù của Phật giáo kể cả Nam tông và Bắc tông, “là điểm khác biệt cơ bản nhất giữa Phật giáo và các tôn giáo khác từ cổ đại cho đến ngày nay” [132, tr.13] Nội dung căn bản của
Trang 22nhân sinh quan Phật giáo theo tác giả là giáo lý Duyên sinh – Vô Ngã được hình thành trên cơ sở bản thể luận, nhận thức luận Phật giáo
Cuốn sách Triết lý nhà Phật [29] của tác giả Đoàn Trung Còn (2013)
đã truyền tải một cách độc đáo những tư tưởng TLNSPG thông qua những tích truyện về Tứ đại, về Trí Huệ, về Trung Đạo, về Bầy khỉ… và những lời bình của tác giả để nói về sự vô thường, vô ngã, Thập nhị nhân duyên, quá trình nghiệp báo luân hồi… của nhân sinh Tác giả nhấn mạnh: “Đạo Phật dù chia ra nhiều tông phái, chung quy cũng là để tiếp dẫn đưa người đến chỗ giải thoát rốt ráo mà thôi” [29, tr.7]
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu chuyên biệt một nội dung cụ thể trong tư tưởng triết học Phật giáo về nhân sinh, thông qua
đó có thể hiểu sâu hơn các tư tưởng cơ bản trong quan niệm nhân sinh của
Nghiệp và về sự vận động của Nghiệp
Minh Hải (2009) Tìm hiểu về thuyết vô thường, vô ngã trong giáo lý Phật giáo [56] đã phân tích rất sâu sắc về vô thường, vô ngã và cho rằng đây
là những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật giáo cũng chính là cơ sở của phương thức sống, triết lý sống của các nhà tu hành và Phật tử tu dưỡng theo giáo lý nhà Phật Trong bài viết này, tác giả đã lý giải về sự vô thường và vô ngã của sự tồn tại của thế giới và con người theo quan niệm của Phật giáo,
“ngã hay cái ta cũng chỉ là giả tưởng, không có thật tức là vô ngã Con người tồn tại đó nhưng chỉ là ảo giả, tạm thời”
Nguyễn Thị Toan (2010) trong cuốn sách Giải thoát luận Phật giáo
[141] trình bày quan niệm của đạo Phật về nhân sinh thông qua phạm trù giải
Trang 23thoát Tác giả cho rằng, giải thoát là phạm trù trung tâm của giáo lý đạo Phật Theo quan niệm của đạo Phật, giải thoát là xóa bỏ vô minh, dập tắt dục vọng, vượt lên hỏi sự ràng buộc của thế giới hiện tượng, chấm dứt sinh tử, luân hồi bằng con đường tu luyện đạo đức, mài giũa trí tuệ để nhập Niết Bàn – một trạng thái tâm linh thanh tịnh, an lạc, bất sinh, bất diệt, tự do, tự tại Chính vì vậy, cuốn sách chỉ rõ những hạn chế, để dần khắc phục, xóa bỏ cũng như nhận ra những giá trị tích cực cần duy trì, phát triển trong giáo lý của đạo Phật nói chung, trong giải thoát luận nói riêng
Lê Hữu Tuấn (2010) trong bài viết Tìm hiểu học thuyết về nghiệp trong đạo Phật [150] nêu lên những nội dung cơ bản về Nghiệp Tác giả cho rằng
Nghiệp có nghĩa là hành động, những hành động không cố ý, không có chủ tâm, mặc dù đã biểu hiện bằng lời nói hay việc làm đều không tạo nghiệp Những hành động có tác ý, thiện hay bất thiện đều tạo Nghiệp Tác ý là yếu tố quan trọng nhất để tạo Nghiệp “Nghiệp có thể ví như hạt có khả năng trở thành cây, quả như trái cây” tức là “khả năng sinh ra quả đã gắn liền với
nghiệp” và khẳng định theo đạo Phật, ta có thể uốn nắn cái Nghiệp của ta
Nguyễn Tiến Nghị (2016) trong Quan niệm về nhân quả trong triết học Phật giáo [102] chỉ ra ba phạm trù cơ bản của thuyết Nhân quả là Nhân,
Duyên và Quả, trong đó “Quan hệ nhân quả, nghiệp báo, luân hồi là một cách giải thích tất cả các sự việc, hiện tượng xảy ra trong kiếp người cũng như trong mọi sự vật hiện tượng” Nhân quả Phật giáo giúp con người hiểu cuộc đời vốn không phải là định mệnh hay do thần thánh điều khiển như một số
người lầm tưởng
Như vậy, các công trình, bài viết nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liên quan đến triết lý nhân sinh Phật giáo rất đa dạng Có những công trình nghiên cứu toàn diện quan niệm của Phật giáo về nhân sinh, có công trình tập trung vào làm rõ một nội dung trong hệ thống tư tưởng nhân sinh Phật giáo Đây là những tư liệu làm cơ sở để phân tích và làm rõ khái niệm TLNSPG và nội dung của TLNSPG trong luận án này
Trang 241.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến TLNSPG Việt Nam, PGVN và Phật giáo ở Hà Nội
Khi phân tích TLNSPG, nhiều tác giả đều khẳng định trong suốt quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam, Phật giáo đã cải biến để phù hợp với dân tộc, từ đó dễ dàng thẩm thấu hơn và đời sống và tinh thần người Việt Điều này đã được nhiều tác giả nghiên cứu lịch sử PGVN khẳng định Có thể
kể đến những công trình tiêu biểu là: Lịch sử PGVN [136] do Nguyễn Tài Thư (1988) chủ biên; Lịch sử PGVN [128] của Lê Mạnh Thát (1999); Việt Nam Phật giáo sử lược [131] của Thích Mật Thể (2004); Việt Nam Phật giáo sử luận [89] của Nguyễn Lang (2014)… đều là những công trình công phu ghi
lại những mốc lịch sử thăng trầm của PGVN, trong đó có những sự kiện liên quan đến Phật giáo ở vùng đất Hà Nội ngày nay Thông qua những công trình này có thể hình dung được thêm về sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở
Hà Nội, những di sản của quá trình đó ở Hà Nội cũng như xác định được tư tưởng Phật giáo Bắc tông (Đại thừa) là dòng tư tưởng có ảnh hưởng chính đến Phật giáo ở Hà Nội
Thêm vào đó, trong những công trình nghiên cứu về Phật giáo ở Việt Nam, có một số nghiên cứu đã bước đầu chỉ ra đặc điểm của tư tưởng nhân sinh Phật giáo ở Việt Nam Cụ thể là:
Trần Văn Trình (1999) với bài viết “Tìm hiểu những đặc trưng của Phật giáo trong quá trình hội nhập với văn hóa Việt Nam” [146] phân tích
quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam nhưng tập trung vào sự phát triển của các Tông phái: Thiền Tông, Tịnh độ tông, Mật Tông cho đến thời đổi mới
và khẳng định “Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo lớn nhất và có số lượng tín
đồ đông nhất ở Việt Nam” Tác giả khẳng định có ba khía cạnh đặc trưng của PGVN là tính tổng hợp hài hòa, tính thiệp thế (nhập thế) với nét nổi bật là chủ nghĩa yêu nước và tính Việt Nam hóa mạnh mẽ Từ đó tác giả khẳng định rằng nhân cách Phật giáo đã góp phần làm nên nhân cách của con người Việt Nam ngày nay
Trang 25Cuốn Đại cương Triết học PGVN – từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV [62]
của Nguyễn Hùng Hậu (2002) đã dành một phần ba dung lượng để phân tích sâu về nhân sinh quan Phật giáo giai đoạn trước thế kỷ XIV Tác giả đã làm
rõ những quan niệm cơ bản của Phật giáo về con người từ cấu tạo, thân thể, nguồn gốc đến cuộc đời con người trên nền tảng Tứ diệu đế (Khổ đế, Tập đến, Đạo đế, Diệt Đế) và khẳng định nhân sinh quan của Phật giáo hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa yếm thế (pessimission) Hơn nữa, tác giả còn khẳng định rằng: “PGVN không phải là Phật giáo thuần túy như trên quê hương đã sinh ra nó mà là sự kết hợp giữa Thiền, Tịnh, Mật, Nho, Lão và tín ngưỡng bản địa” [62, tr.388] Trong cuốn sách này, tác giả cũng chỉ ra những đặc điểm “độc đáo đặc sắc của PGVN, một cống hiến mới vào kho tàng Phật giáo
thế giới” [62, tr.400] Một là, Phật giáo dân gian có mầm mống từ khi Phật
giáo mới du nhập vào nước ta, là sự dung hợp giữa Phật giáo Ấn Độ với tín
ngưỡng cổ của người Việt Hai là, con đường đi đến giác ngộ bằng cứu dân
độ thế và sự gắn liền với chủ nghĩa yêu nước chân chính - sự khác biệt hoàn toàn với Phật giáo Ấn Trung Là một chuyên gia đầu ngành trong nghiên cứu Phật giáo, những phân tích của tác giả Nguyễn Hùng Hậu về Phật giáo Việt Nam là một trong những tài liệu cơ bản với nhiều luận điểm giá trị về đặc trưng của TLNSPG Việt Nam mà chúng tôi kế thừa trong luận án
Ngoài ra, Nguyễn Duy Hinh (2008) trong bài viết Mấy đặc điểm PGVN
[70] thông qua phân tích quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo vào Việt Nam đã đưa ra một số đặc điểm của Phật giáo ở Việt Nam như sau: Một
là nơi gặp gỡ của hai dòng Nam truyền và Bắc truyền của Phật giáo từ Ấn Độ truyền ra nước ngoài; hai là Giáo –Thiền hợp nhất, Thiền – Tịnh song tu; ba
Trang 26đó chỉ ra hai nội dung cơ bản của TLNSPG thời Lý là chủ trương giáo dân vi thiện và quan niệm về nhân quả - luân hồi
Trong bài viết Một số đặc trưng của nhân sinh quan PGVN [57]
Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014) đã chỉ ra ba đặc trưng là: “Thứ nhất, nhân sinh quan PGVN có sự hòa quyện với văn hóa và các hình thức thờ cúng bản địa Thứ hai, sự tương đồng giữa nhân sinh quan PGVN với quan niệm nhân sinh
của người Việt Nam Thứ ba, tinh thần nhập thế của nhân sinh quan PGVN”
Tuy nhiên, đối với Phật giáo ở Hà Nội, các nghiên cứu chủ yếu xoay quanh lịch sử du nhập và phát triển của Phật giáo vào Hà Nội, có thể kể đến
như: Tìm hiểu những khía cạnh xã hội của tình hình phát triển Phật giáo ở
Hà Nội thời kỳ đổi mới [145] của Trần Văn Trình (1998); Phật giáo Hà Nội - Quá trình du nhập và phát triển [104] của các tác giả Nguyễn Minh Ngọc và
Minh Thiện (2004), Phật giáo với nghìn năm Thăng Long – Hà Nội [134] của Văn Đức Thu (2008) Đáng chú ý nhất trong nhóm này là công trình Đời sống tôn giáo tín ngưỡng Thăng Long Hà Nội [78] của giáo sư Đỗ Quang Hưng
(2010) Tác giả Đỗ Quang Hưng đã đề cập khá toàn diện và hệ thống về hệ
thống tôn giáo ở Hà Nội và sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người Thăng Long – Hà Nội Công trình nghiên cứu này có 3 phần chính, trong đó phần II
về hệ thống tôn giáo ở Hà Nội và phần III về sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng của người Thăng Long – Hà Nội đã dành một dung lượng đáng kể đề phân tích về Phật giáo ở Thăng Long – Hà Nội Tác giả đã nêu lên 4 đặc điểm
chính của Phật giáo Thăng Long – Hà Nội: Thứ nhất, Thăng Long là nơi mà
Phật giáo Bắc tông (Đại thừa), bộ phận quan trọng nhất của PGVN xuất hiện
và phát triển rực rỡ với nhiều lĩnh vực có ý nghĩa tiêu biểu nhất Thứ hai, Phật
giáo Thăng Long – Hà Nội được xem là cái nôi, nơi trải nghiệm và đúc kết hệ
ý thức của các nhà nước phong kiến độc lập, nhất là những thế kỷ đầu tiên của
nền độc lập Thứ ba, kinh thành Thăng Long và Phật giáo Thăng Long cũng
là nơi nuôi dưỡng và phát triển truyền thống nhập thế Thứ tư, Thăng Long
cũng là nơi mà PGVN có khả năng bộc lộ những thành tựu về Phật học, Phật
Trang 27pháp như về kinh điển, tu viện, tăng sĩ Có thể nói, trong kho tàng các công trình nghiên cứu về PGVN, không thực sự có nhiều nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về Phật giáo ở Hà Nội Do đó, công trình của giáo
sư Đỗ Quang Hưng đã cung cấp những tư tưởng nền tảng để từ đó chúng tôi khái quát hóa những đặc điểm cơ bản của Phật giáo ở Hà Nội, làm rõ những nét tiêu biểu của TLNSPG Việt Nam được hội tụ và thể hiện ở vùng đất Hà thành này
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã khái quát quá trình du nhập
và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam, bước đầu chỉ ra những đặc điểm của Phật giáo và TLNSPG ở Việt Nam giúp tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về Phật giáo ở Hà Nội xưa và nay Trong đó Phật giáo ở Hà Nội, với
tư cách là một bộ phận hữu cơ của PGVN, trên bình diện tư tưởng cũng mang những nét đặc điểm này
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức và đạo đức thanh niên ở Hà Nội
Hiện nay, các nhà khoa học xã hội đều nhất quán rằng bên cạnh yếu tố kinh tế là nền tảng vật chất của sự phát triển xã hội thì vấn đề đạo đức, văn hóa trở thành một chìa khóa để phát triển bền vững về xã hội Vì vậy, kể từ khi tiến hành Đổi mới, những nghiên cứu về đạo đức con người trong xã hội và vai trò
của nó đối với sự phát triển xã hội được nhiều học giả quan tâm tìm hiểu
Trong phần này chúng tôi khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức và đạo đức học, bao gồm khái niệm, bản chất, cấu trúc của đạo đức, quan niệm của các nhà kinh điển mác-xít về đạo đức; các công trình
nghiên cứu liên quan đến ĐĐTN
“Đạo đức là gì?” là câu hỏi được nhiều học giả đặt ra khi nghiên cứu vấn đề liên quan đến đạo đức con người Trước hết, trong các giáo trình đạo
đức học, đây là khái niệm căn bản mở đầu như Giáo trình đạo đức học [83] của tác giả Trần Hậu Kiêm chủ biên (1996); Giáo trình đạo đức học [31] của tác giả Vũ Trọng Dung chủ biên (2005); Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin
Trang 28[73] của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2006); Giáo trình đạo đức học [120] của Trần Đăng Sinh, Nguyễn Thị Thọ (2008) đồng chủ biên; cuốn Đạo đức học [25] do Phạm Khắc Chương (2010) chủ biên; Giáo trình đạo đức học đại cương [33] của Dương Văn Duyên (2013) làm chủ biên Là
giáo trình nên các công trình này đã phân tích khá hệ thống và toàn diện từ khái niệm, đến cấu trúc, chức năng, bản chất, nguồn gốc và vai trò của đạo đức nói chung và giành nhiều nội dung để phân tích đạo đức học Mác – Lênin với tư cách là hạt nhân của nền đạo đức xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng
Bên cạnh các giáo trình còn có nhiều bài viết, công trình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng liên quan đến đạo đức người Việt Nam nói chung, ĐĐTN Việt Nam nói riêng như:
Liên quan đến những nội dung về đạo đức người Việt Nam, tác giả
Đặng Thị Lan (2006) trong cuốn sách Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam [85] bên cạnh việc làm rõ khái niệm đạo đức, đã phân tích rõ
những thực trạng đạo đức ở Việt Nam hiện nay và một số ảnh hưởng của Phật giáo đến các bộ phận cấu thành nên đạo đức là ý thức đạo đức (tri thức đạo đức, niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức và lý tưởng đạo đức) và hành vi đạo đức của con người Việt Nam trong bối cảnh đó Luận án tiếp thu cách phân chia cấu trúc đạo đức của tác giả trong phân tích những ảnh hưởng của TLNSPG đến ĐĐTNHN
Cuốn sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp”
[117] do Nguyễn Duy Quý chủ biên (2006) tìm hiểu vấn đề đạo đức xã hội dưới ảnh hưởng, ảnh hưởng của kinh tế, chính trị của nước ta hiện nay và phân tích đạo đức của từng nhóm đối tượng, hoàn cảnh cụ thể đạo đức của cán bộ, đảng viên và công chức, đạo đức của thanh niên, đạo đức trong lao động, giao tiếp, đạo đức trong gia đình
Bài viết Quan niệm của C.Mác về đạo đức và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay [109] của tác giả
Trang 29Nguyễn Văn Phúc (2008) đã phân tích quan niệm của C.Mác về bản chất của đạo đức: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh và bị quy định bởi tồn tại xã hội; quan hệ giữa lợi ích và đạo đức, tiến bộ đạo đức Đối với C.Mác, “vấn đề không phải ở chỗ đối lập một cách tách rời giữa lợi ích và đạo đức, mà là giải quyết như thế nào quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
xã hội để hành vi thực hiện lợi ích của con người trở thành hành vi đạo đức” [109, tr.12] Những quan điểm đó của tác giả được kế thừa trong luận án để làm rõ bản chất của hành vi đạo đức cũng như đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng ĐĐTN trong điều kiện hiện nay
Diệp Minh Giang (2011) trong công trình Xây dựng đạo đức của thanh niên Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [46]
chia cấu trúc đạo đức gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức Bàn về thanh niên, tác giả Diệp Minh Giang cho rằng thanh niên “là nhóm nhân khẩu - xã hội đặc thù, có độ tuổi nhất định được phân bố rộng khắp trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội; trong các ngành kinh tế - xã hội của đất nước Thanh niên được phân chia theo lứa tuổi nên có những đặc điểm riêng biệt về trình độ học vấn, sức khỏe, tâm lý, sinh lý” Từ đây, Diệp Minh Giang đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ĐĐTN “vừa có những đặc điểm chung của đạo đức dân tộc, vừa bao hàm trong nó những biểu hiện mang tính đặc thù” trong ý thức đạo đức, trong hành vi đạo đức và trong quan hệ đạo đức thể hiện ở “1) lý tưởng và chuẩn mực đạo đức đã được khát quát hóa và
cá thể hóa thành hệ thống giá trị của cá nhân; 2) đạo đức của thanh niên tồn tại nhiều mâu thuẫn nội tại; 3) sự tự nhận thức, tự giáo dục ĐĐTN là chủ đạo trong quá trình hoàn thiện đạo đức; 4) ĐĐTN chịu ảnh hưởng của các giá trị hiện đại hơn giá trị đạo đức truyền thống” [46, tr 85-87]
Tác giả Phạm Hồng Tung (2011) trong công trình nghiên cứu Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập
quốc tế [152] đã phân chia tuổi thanh niên trong cấu trúc độ tuổi dân cư Việt
Nam hiện nay là từ 15 - 18 tuổi là tuổi thanh niên sớm; từ 19 - 24 tuổi là giai
Trang 30đoạn thanh niên trưởng thành và từ 25 - 30 tuổi là độ tuổi thanh niên muộn Bên cạnh đó, một số đặc trưng cơ bản của thanh niên Việt Nam hiện nay
cũng được chỉ ra bao gồm: Thứ nhất, nhóm những đặc trưng có tính chất đặc
thù “một nhóm xã hội – dân cư có tính phức hợp rất cao, hàm chưa trong đó nhiều sự đa dạng về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa bàn cư trú, định hướng giá trị, lợi ích, tâm linh và các mô hình ứng xử và lựa chọn xã hội”
[152, tr.67]; Thứ hai, nhóm những đặc trưng chung của thanh niên ở tất cả
các quốc gia, dân tộc và thời đại lịch sử khác nhau như tính trẻ và năng
động, ưa thử nghiệm, dễ phạm sai lầm và xung đột với thế hệ đi trước
Những công trình trên đã làm sáng tỏ một số khái niệm liên quan đến đạo đức, thanh niên, khảo sát và phân tích tình hình thanh niên Việt Nam trong hơn hai thập kỷ đổi mới đất nước Mặt khác, các học giả cũng chỉ ra rằng những tư tưởng về đạo đức của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin
và của Hồ Chí Minh là những chỉ dẫn quan trọng để xây dựng đạo đức hiện đại cho thanh niên ở Việt Nam ngày nay Bên cạnh đó, những biến động nhiều chiều cạnh trong ĐĐTN ở Việt Nam cũng được chỉ ra trong các nghiên cứu, điều này cũng phản ánh một cách tổng quát thực trạng ĐĐTNHN hiện nay và đặt ra vấn đề phát huy các nguồn lực trong xã hội trong khắc phục những điểm hạn chế trong ĐĐTN hiện nay Vì thế, trong quá trình triển khai luận án, chúng tôi đã kế thừa được những tư tưởng đó nhằm làm rõ thực trạng ĐĐTNHN, những đặc điểm của ĐĐTNHN và chỉ ra vai trò của Phật giáo
trong việc góp phần điều chỉnh ĐĐTNHN hiện nay
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của triết
lý nhân sinh Phật giáo đối với đạo đức thanh niên ở Hà Nội
Những năm vừa qua, với những biến động của đời sống xã hội, đặc biệt
là những ảnh hưởng nhiều chiều của nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa khiến cho các vấn đề nhân sinh xã hội nổi lên, các quốc gia đang tìm cho mình một con đường phát triển bền vững sau một thời gian dài quá chú trọng đến yếu tố kinh tế hơn các yếu tố về văn hóa, đạo đức, môi sinh Do vậy
Trang 31mà các vấn đề đạo đức, văn hóa, môi trường đang trở thành tâm điểm của các
lý thuyết phát triển trên thế giới Ở Việt Nam, từ sau Đổi mới, đất nước đã trải qua một tiến trình dài chuyển mình, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ gỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại ngày 3/2/1994 thì Việt Nam mới thực sự có điều kiện để phát triển, đặc biệt là kinh tế Vì thế, những năm 2000 trở lại đây, những thành quả của công cuộc Đổi mới ngày càng được thể hiện rõ ràng bằng các chỉ số phát triển kinh tế, xã hội, con người và ở sự gia tăng vị thế của đất nước trên trường quốc tế Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển cũng bộc lộ nhiều chiều cạnh, thể hiện rõ nét nhất trong đạo đức, văn hóa, lối sống của con người Có
lẽ bởi vậy mà các nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam đặc biệt là từ những năm 2000 trở lại đây có rất nhiều nghiên cứu tập trung về các chủ đề văn hóa, tôn giáo, đạo đức của người Việt Nam để giải quyết những vấn đề cấp bách mà thực tiễn đang đặt ra Một trong những chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là nghiên cứu tôn giáo trong mối quan hệ với sự phát triển con người và xã hội Liên quan đến đề tài luận án, có một số những công trình tiêu biểu như:
Về mối quan hệ giữa Phật giáo và đời sống người Việt Nam đã có nhiều công trình mang nhiều giá trị trong việc xác định những ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đến con người Việt Nam
Thích Mãn Giác với cuốn Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam [45] xuất bản năm 1967 và được Thư viện Huệ Quang tái bản năm 2017 đã khẳng định
sự gắn bó chặt chẽ giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam “Đạo Phật gần hai ngàn năm nay đã chan hòa đời sống của mình trong đời sống của dân tộc, đã vui cái vui của dân tộc, đã buồn cái buồn của dân tộc Đạo Phật đã chi phối tất
cả mọi sinh hoạt của con người Việt Nam, từ triết lý đạo đức, qua kiến trúc, hội họa, âm nhạc, đến văn chương, tư tưởng, tình cảm và nếp sống” [45, tr.18] “Cái triết lý của đạo Phật đã ảnh hưởng mạnh mẽ trong nếp sống dân tộc Việt Nam, đã thấm nhuần trong tư tưởng, trong hành động, đến nỗi không
Trang 32ai có thể phân tích một cách dứt khoát đâu là biên giới của Đạo Phật, đâu là hết ảnh hưởng của Đạo Phật” [45, tr.24]
Cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay [137] do giáo sư Nguyễn Tài Thư (1997) chủ biên đã đưa
ra nhận định “Những tôn giáo có ảnh hưởng lớn về mặt tư tưởng trong thanh thiếu nhi ở Việt Nam hiện nay là Phật giáo và Thiên Chúa giáo” [137, tr.207] Những ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến đạo đức của thanh thiếu nhi Việt Nam ngày nay theo nhóm tác giả là hướng con người có trách nhiệm với hành
vi của mình, tôn trọng kỷ cương luật lệ, sống thật thà, tránh dối trá, không làm điều ác Bên cạnh đó, nhóm tác giả của chỉ ra một ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến thế hệ trẻ Việt Nam khi “tạo dựng thế giới quan hư vô, niềm tin không tưởng, đạo lý cốt nhục”, “làm lu mờ cá tính, cá nhân và sự phát triển cá thể nhân cách” [137, tr.213]
Tác giả Nguyễn Khắc Đức (2008) trong bài viết Vai trò của Phật giáo
ở Việt Nam hiện nay [42] đã khẳng định Phật giáo với số lượng tín đồ đông
nhất trong các tôn giáo ở nước ta, có vai trò và ảnh hưởng tích cực trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua bao nhiêu thế hệ, đặc biệt trên các lĩnh vực đạo đức, văn hóa, và chính trị tư tưởng Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra ba vấn đề của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay như: lợi dụng Phật giáo để hoạt động mê tín; lợi dụng Phật giáo vào mục đích chính trị hay sự sa sút phẩm hạnh của một số tăng ni Đối với đạo đức người Việt Nam, tác giả khai thác ở khía cạnh vai trò định hướng, giáo dục con người theo những chuẩn mực, quy tắc đạo đức tốt đẹp của Phật giáo Cũng giống nhiều nhà nghiên cứu khác, tác giả chia sẻ quan điểm rằng những tư tưởng của Phật giáo “phù hợp với mong
muốn của xã hội Việt Nam trong việc xây dựng nền đạo đức mới hiện nay”
Nguyễn Tất Đạt (2012) với PGVN với vai trò dẫn dắt tinh thần xã hội trong lịch sử và hiện tại [41] đã phân tích rõ vai trò của Phật giáo trong suốt
chiều dài lịch sử Việt Nam, từ khi khai quốc đến hiện nay trên các phương diện chính trị, văn hóa, xã hội Trong đó đặc biệt nhấn mạnh “Trong thời kỳ
Trang 33Đổi mới của đất nước, Phật giáo có vai trò trong việc cân bằng đời sống tinh thần trong nền kinh tế thị trường” Bởi vì, “trong xã hội kinh tế thị trường, tất
cả lực lượng lao động đều bị cuốn hút vào các giá trị kinh tế, tất cả xã hội quay quanh trục thị trường và bị chi phối bởi cạnh tranh, lợi nhận, được mất, giàu nghèo, phá sản, sạt nghiệp và phất lên nhanh chóng, mọi sự đều loạn động, giá trị tinh thần đạo đức bị chao đảo Trong tình thế đó, Phật giáo đã giúp cho cư dân, một chỗ dựa bình an về tinh thần và một sự tĩnh tại của tâm hồn, niềm tin vào sự phù hộ trợ giúp may mắn từ các vị Bồ Tát… cũng chính
là nhắc nhở đến các giá trị đạo đức, đến lối sống đúng với đạo lý làm người
mà những giá trị đó đang bị các vật chất che khuất”
Tác giả Thích Hạnh Bình (2013) thông qua cuốn PGVN - suy tư và nhận định [15] đã khẳng định hai đặc điểm đặc thù của PGVN là tính nhập
thế gắn liền với dân tộc và truyền thống Đại thừa Trong cuốn sách này, tác giả nhiều lần nhấn mạnh rằng ảnh hưởng của Phật giáo đến người Việt Nam không chỉ ở những người xuất gia, những người Phật tử mà còn đến nhiều người dân khác vì Phật giáo đóng vai trò khá quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển nền văn hóa dân tộc Những ảnh hưởng rõ nét trong văn hóa Việt Nam từ các loại văn hóa vật thể như các công trình kiến trúc, mỹ thuật cho đến các loại văn hóa phi vật thể như đạo đức, phong tục tập quán, bao gồm cả truyền thống yêu nước của dân tộc ta Tác giả khẳng định “Không
ai có thể phủ nhận sự đóng góp của Phật giáo cho nền văn hóa dân tộc Việt
Trang 34tiếp cận từ một vai trò cụ thể của Phật giáo như vậy, bài biết đã cung cấp cho chúng tôi thêm tư liệu có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình thực hiện luận án
Hai tác giả Võ Văn Dũng và Huỳnh Thị Minh Hạ (2016) trong bài viết
Đóng góp của đạo đức Phật giáo trong việc giáo dục đoàn viên, thanh niên
[32] đã khẳng định cùng với quá trình du nhập vào Việt Nam, những giá trị
đạo đức của Phật giáo đã hòa quyện với giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, góp vào việc bồi đắp tinh hoa đạo đức truyền thống dân tộc Vì thế, đối với đoàn viên, thanh niên, tác giả chỉ ra: một là đạo đức Phật giáo góp phần xây dựng “tâm trong”, “trí sáng” cho đoàn viên, thanh niên; hai là đạo đức Phật giáo góp phần rèn luyện năng lực quản lý cảm xúc, kiểm soát hành vi trước ảnh hưởng của ngoại cảnh, góp phần điều chỉnh các mối quan hệ xã hội tốt đẹp của đoàn viên thanh niên; ba là đạo đức Phật giáo kêu gọi con người hành thiện, tránh ác, từ bi, hỷ xả đến nay còn giá trị to lớn trong công cuộc xây dựng mẫu đoàn viên, thanh niên lý tưởng ngày nay
Tác giả Đỗ Lan Hiền (2017) chủ biên cuốn Những biến động trong đời sống tôn giáo hiện nay và ảnh hưởng của nó đến lối sống người Việt [66] đã
có một tiểu mục nghiên cứu về ảnh hưởng của tôn giáo với việc hình thành các chuẩn mực, hệ giá trị mới cho lối sống mới hiện nay của người Việt Nam,
cụ thể trong xây dựng hệ giá trị mới, trong giải quyết các vấn nạn xã hội và trong giáo dục đạo đức, nhân cách cho thanh niên Việt Nam hiện nay Theo tác giả, vấn đề có ý nghĩa nhất của tôn giáo trong đó có Phật giáo là trong việc giáo hóa con người, nhất là đối với thế hệ trẻ, được thể hiện qua thứ nhất là
“hiếu đạo” trong gia đình; thứ hai là “hòa” với với tha nhân và thứ ba là giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ Ngoài ra tác giả cũng chỉ ra “Khoan dung”, “Từ
Bi Hỷ Xả”, “Vô ngã Vị tha” cũng là các phạm trù của đạo làm người, của nhân luân và cũng là “con đường” cách thức để dạy người Việt hình thành nhân cách và thành bậc thánh hiền
Tác giả Nguyễn Thanh Bình (2018) với bài viết Nhân sinh quan Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam đăng trong Kỷ yếu khoa học quốc tế về
Trang 35Tôn giáo và đạo đức trong xã hội hiện đại [14] đã khẳng định giá trị nổi bật của nhân sinh quan Phật giáo là tính chất nhân văn, nhân bản sâu sắc với mục đích cao cả và cuối cùng là cứu khổ cứu nạn cho con người Chính vì thế, đối với con người Việt Nam, nhân sinh quan của Phật giáo đặc biệt có vai trò to lớn trong việc củng cố và hoàn thiện đạo đức con người, góp phần tạo lập một lối sống, tấm lòng nhân ái, vị tha cao cả, hy sinh vì mọi người; khơi dậy và phát huy tinh thần đoàn kết tương thân tương ái của con người Ở bình diện rộng hơn, Phật giáo đã góp phần hình thành và hoàn thiện những truyền thống
và phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam, đã góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng và làm phong phú nền văn hóa dân tộc, giữ gìn, bảo lưu bản sắc và cốt cách của dân tộc Việt Nam Tác giả đi đến kết luận “nhân sinh quan Phật giáo không chỉ có vai trò tích cực trong việc hình thành, hoàn thiện đạo đức của con người Việt Nam trong lịch sử mà của cả con người mới Việt Nam hiện nay” [14, tr.304]
Liên quan trực tiếp đến những ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với con người Hà Nội có một số công trình sau:
Trong sách Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và Châu thổ Bắc Bộ [13], tác giả Nguyễn Thị Bảy (1997) đã chia văn hóa Phật
giáo thành ba bộ phận: văn hóa vật thể, văn hóa tinh thần và văn hóa ứng xử của Phật giáo Tác giả cho rằng, Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống của người Việt nhất là người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Thị Bảy khai thác ảnh hưởng của Phật giáo nghiêng về
biểu hiện ảnh hưởng của Phật giáo trong văn hóa vật thể
Tác giả Đặng Thị Lan (2006) trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại
học Quốc gia, mã số QX.04.10, Phật giáo với đạo đức của cư dân Hà Nội trong giai đoạn Đổi mới hiện nay [86] đã phân tích những ảnh hưởng của
Phật giáo đến đạo đức của cư dân Hà Nội trong giai đoạn Đổi mới hiện nay
Về ý thức đạo đức, “thuyết Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi đã làm hình thành ý thức khuyến thiện, hướng thiện”, “Giá trị từ bi, tinh thần cứu khổ, cứu
Trang 36nạn của Phật giáo với việc giáo dục lòng nhân ái, vị tha và bao dung” Về hành vi đạo đức, nhóm tác giả chỉ ra đạo đức Phật giáo đã ảnh hưởng đến hành vi của cư dân Hà Nội trong việc thờ phụng, với việc hoàn thiện đạo đức
cá nhân và trong quan hệ với cộng đồng xã hội Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến đạo đức cư dân ở Hà Nội Một là, “Phật giáo khuyên con người thiểu dục, tri túc, bằng lòng với thực tại nên có phần hạn chế sự phát triển xã hội, vì bỏ qua nhu cầu lợi ích vốn là động lực mạnh mẽ nhất để thúc đẩy tiến bộ xã hội Hai là, một bộ phận
cả trong giới tăng ni, cả trong dân chúng đã lợi dụng tôn giáo để mưu cầu lợi ích không trong sáng, ích kỷ” [86, tr.81-82] Những kết luận rút ra từ nghiên cứu này giúp chúng tôi nhìn nhận tính hai mặt trong sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến đạo đức người dân để có thể đưa ra những đánh giá
khách quan, toàn diện trong sự ảnh hưởng đến ĐĐTNHN hiện nay
Nguyễn Thị Thúy Hằng (2015) trong luận án tiến sĩ về Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân đồng bằng sông Hồng hiện nay [58] đề cập đến đạo đức như là một bộ phận của đời sống tinh
thần Thông qua khảo sát, tác giả đã chỉ ra trong hệ thống tư tưởng nhân sinh Phật giáo, thuyết nhân quả và tinh thần từ bi, hỉ xả, nghiệp báo luân hồi có ảnh hưởng nhiều nhất đến đạo đức của người dân đồng bằng sông Hồng Về tình cảm đạo đức, “nhân sinh quan Phật giáo đã cung cấp triết lý sống nhân bản, tích cực bảo vệ con người, vì con người và niềm tin vào sự che chở của Đức Phật” [58, tr.82] Thêm nữa, nhân sinh quan ảnh hưởng lên ý thức đạo đức, làm hình thành ý thức hướng hiện, các chuẩn mực ở đời và làm người Ngoài ra, trong thực tiễn đạo đức, “từ chỗ ảnh hưởng đến tri thức đạo đức, nhân sinh quan Phật giáo ảnh hưởng định hướng con người làm nhiều điều tốt, điều thiện, có ích cho cộng đồng” [58, tr.85] Mặt khác, những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo được chỉ ra là “tâm lý cam chịu, không
nỗ lực vươn lên thoát nghèo”, “xa rời hiện thực, rơi vào mê tín dị đoan”, hay
“có hành vi ứng xử không đúng vì xuất phát từ tình cảm để giải quyết công
Trang 37việc”, “quá thiên về khơi gợi tính tự giác mà xem nhẹ vai trò của pháp luật”,
“sự suy thoái đạo đức ở một số nhà sư do ảnh hưởng của kinh tế thị trường” Với sự nghiên cứu công phu và tỉ mỉ, có nhiều dẫn chứng nghiên cứu sơ cấp
và thứ cấp, công trình này thực sự là một tài liệu tham khảo hữu ích cả về
phương pháp và nội dung nghiên cứu
Bài viết Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống của người dân đô thị
ở Hà Nội hiện nay [81] của Hoàng Thu Hương (2015) đi vào phân tích sức
hút của Phật giáo đối với cộng đồng cư dân đô thị ở Hà Nội thông qua khảo sát định lượng và định tính cộng đồng người theo Phật giáo tại chùa Hà, chùa Quán sứ và chùa Thắng Nghiêm ở Hà Nội - “là những nơi thu hút được khá nhiều Phật tử trẻ từ nội thành đến nghe giảng pháp” qua đó làm rõ phạm vi ảnh hưởng của Phật giáo và vai trò của Phật giáo đối với cộng đồng người theo Phật giáo ở Hà Nội Theo kết quả khảo sát, tác giả đánh giá “cộng đồng người theo Phật giáo ở Hà Nội hiện nay có cơ cấu trẻ, trình độ học vấn trung bình tương đối cao” Hơn nữa, “tại địa bàn Hà Nội, số lượng tín đồ của Phật giáo nhỏ hơn rất nhiều so với những người thường xuyên tham gia thực hành nghi lễ Phật giáo” Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra những ảnh hưởng xã hội của các hoạt động nghi lễ Phật giáo trong tạo nguồn thu cho các ngôi chùa, trong việc đốt vàng mã, trong các loại hình dịch vụ phát sinh xung quanh các ngôi chùa Tuy nhiên, về cơ bản tác giả mới chỉ nghiên cứu một mặt, một khía
cạnh của Phật giáo là lễ nghi Phật giáo đối với đời sống người dân
Phan Thị Lan (2015) trong bài viết Ảnh hưởng của Phật giáo trong xây dựng lối sống của người dân tại Hà Nội [88] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
Phật giáo đến việc thực hành đạo đức của người dân ở các làng đô thị hóa ở ngoại thành Hà Nội và khẳng định: việc thực hành đạo đức ở các làng này chịu ảnh hưởng chính của sư trụ trì thông qua hai hoạt động chính là thuyết pháp và làm các công việc từ thiện Việc thực hành đạo đức của người dân được thể hiện ở trong quan hệ gia đình, dòng tộc và làng xóm theo tình thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách Tác giả kết luận “thông qua các đạo
Trang 38tràng, người dân đã thấu hiểu sâu sắc giáo lý nhà Phật, thực hành cuộc sống đời thường giản dị, chan hòa tình thương, lối sống đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”
Như vậy, những công trình trên trong nội dung đều khẳng định tính tất yếu ảnh hưởng của Phật giáo đến con người, đến xã hội Việt Nam trong lịch
sử và giá trị đó còn tiếp tục truyền đến hiện tại Những phân tích đa dạng về nội dung và góc độ tiếp cận đó là những tài liệu tham khảo quan trọng hỗ trợ
chúng tôi triển khai những nội dung cốt yếu của luận án
1.4 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
1.4.1 Đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án
Thứ nhất, về mặt lý luận, các nghiên cứu mặc dù từ nhiều góc độ với
nhiều cách khai thác nội dung cụ thể khác nhau, song về cơ bản đều thống nhất rằng, quan niệm về nhân sinh tức là quan niệm về con người và cuộc đời con người Vì vậy, triết lý nhân sinh của Phật giáo tập trung phân tích nhiều
về các phạm trù như vô thường, vô ngã, nhân quả - nghiệp báo – luân hồi, giải thoát, Tứ diệu đế, Niết Bàn… trong mối liên hệ với con người và cuộc đời con người Tuy nhiên, giữa các nhà nghiên cứu khi định nghĩa khái niệm triết
lý nhân sinh còn có những điểm chưa thống nhất Nhiều công trình đồng nhất khái niệm triết lý nhân sinh và khái niệm nhân sinh quan Trong khi đó cũng
có công trình phân biệt hai khái niệm này, như nghiên cứu của tác giả Nguyễn
Thị Tình (2018) về Triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Việt Nam và ý nghĩa của nó đối với đời sống xã hội ở nước ta hiện nay [140] cho rằng triết
lý nhân sinh và nhân sinh quan tuy cùng bàn đến vấn đề con người và cuộc đời con người nhưng triết lý phân sinh phản ánh ở trình độ khái quát hóa thấp hơn Các cách hiểu khác nhau về khái niệm triết lý nhân sinh sẽ ảnh hưởng lớn đến những phân tích cụ thể về nội dung của TLNSPG Vì vậy, nội dung
Trang 39luận án cần phải có sự phân tích và xác định rõ nội hàm và ngoại diên của khái niệm triết lý nhân sinh và khái niệm TLNSPG
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về Phật giáo ở Việt Nam đã khẳng
định những đặc trưng của Phật giáo qua quá trình du nhập và phát triển ở Việt Nam Quá trình này đã làm hình thành những nét riêng biệt trong triết lý nhân sinh của PGVN, khiến cho PGVN khác với Phật giáo ở nhiều quốc gia lân cận như Ấn Độ, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan Thêm vào đó, trong quá trình phát triển ở Việt Nam, nhiều trung tâm Phật giáo đã được hình thành, vì thế
có một số công trình, bài viết đã đi sâu vào phân tích những đặc điểm của Phật giáo ở các trung tâm lớn này như Phật giáo vùng đồng bằng sông Hồng hay Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam Bộ… Phật giáo ở Hà Nội cũng nằm trong vùng ảnh hưởng của Phật giáo ở khu vực đồng bằng sông Hồng Do đó, khái lược về Phật giáo ở Hà Nội cần phải dựa trên những tư tưởng Phật giáo ở Việt Nam – vốn được cải biến qua lăng kính người Việt và gắn với lịch sử phát triển của vùng đất Thăng Long – Hà Nội
Thứ ba, đối với các nghiên cứu về đạo đức và ĐĐTN ở Việt Nam, khái
niệm và cấu trúc đạo đức đã được phân tích có hệ thống trong nhiều công trình, bài viết Liên quan đến đặc điểm ĐĐTN, các nghiên cứu cũng chỉ ra, tuy khái niệm thanh niên ở mỗi quốc gia có giới hạn về độ tuổi khác nhau, nhưng đều thống nhất rằng thanh niên là những người ở độ tuổi còn rất trẻ vì thế, đạo đức của thanh niên có những nét đặc thù về tâm - sinh lý và xã hội so với những nhóm người ở lứa tuổi khác Hơn nữa, các công trình, bài viết bàn
về đạo đức ở Việt Nam cũng đã phân tích bối cảnh và thực tiễn đời sống đạo đức ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những biến động mang tính tiêu cực cần phải
có sự can thiệp, tác động và điều chỉnh Tóm lại các nghiên cứu đã phác hoạ một bức tranh toàn cảnh về thực trạng đạo đức xã hội hiện nay và ĐĐTN nói riêng ở nước ta Mặc dù những đặc điểm đạo đức của thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên ở Hà Nội nói riêng có được đề cập trong một số
Trang 40nghiên cứu, nhưng còn chưa được cụ thể hóa, cần phải bổ sung và làm rõ hơn những đặc điểm này
Thứ tư, về ảnh hưởng của TLNSPG đối với ĐĐTNHN, có thể nói, từ
sau Đổi mới, với sự phát triển của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo khác có điều kiện để gia tăng ảnh hưởng lên xã hội Thêm vào đó, mặt trái của sự phát triển xã hội với những hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống là nguyên nhân trực tiếp nhất thúc đẩy các nhà khoa học xã hội nghiên cứu và tìm ra giải pháp Các nguyên do này đã khiến những nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo lên con người và xã hội tăng nhanh về số lượng và chất lượng trong giai đoạn hiện nay Các công trình nghiên cứu cùng dựa trên một hiện tượng của đời sống xã hội là Phật giáo và ảnh hưởng của nó nhưng cách tiếp cận và đối tượng nghiên cứu cũng rất đa dạng: có người nghiên cứu đạo đức Phật giáo, giới luật Phật giáo hoặc nghiên cứu nghi lễ Phật giáo Đối tượng chịu sự tác động của Phật giáo trong các công trình khoa học cũng rất phong phú như tác động lên lối sống, đời sống tinh thần, đạo đức, tâm lý Các nghiên cứu cũng ở nhiều cấp độ từ mức độ chung cho người Việt Nam, xã hội Việt Nam đến cho từng vùng miền cụ thể, hay nhóm người cụ thể trong xã hội Luận án này cũng nằm trong dòng chảy đó Tuy nhiên, qua tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể thấy rằng, cho đến nay chưa có nghiên cứu trực tiếp về nội dung ảnh hưởng của TLNSPG đối với ĐĐTNHN Nếu có
đề cập đến thì thường chỉ với hàm lượng hạn chế, được trình bày xen kẽ, sơ lược trong một nghiên cứu chung Vì thế, đây vẫn là một nội dung cần phải tiếp tục nghiên cứu toàn diện, sâu sắc hơn trên các bình diện về phương thức, mức độ, nội dung ảnh hưởng… Do đó, chúng tôi đã lựa chọn đề tài này làm chủ đề nghiên cứu của luận án
1.4.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu