Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa kiến thức về các vấn đề pháp lý khoa học và yêu cầu từ thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn. Phân tích thực trạng của quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum. Đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HUỲNH XUÂN HẬU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
ĐĂK LĂK, NĂM 12/2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HUỲNH XUÂN HẬU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn tốt nghiệp “Quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn
thành phố Kon Tum”, chuyên ngành quản lý công là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các
thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung
thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình luận văn nào trước đây
Kon Tum, ngày 20 tháng 12 năm 2019
Tác giả đề tài
Huỳnh Xuân Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời
cảm ơn đến thầy giáo TS: Trịnh Đức Hưng Người trực tiếp tận tình hướng
dẫn và cung cấp nhiều kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian tôi thực
hiện luận văn này
Xin trân thành cảm ơn quý thầy, cô Học Viện Hành chính đã nhiệt tình
giảng dạy, giúp đỡ và cung cấp cho tôi những kiến thức hữu ích, để tôi có thể
vận dụng trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn đến lãnh đạo UBND tỉnh Kon Tum; các Sở ban
ngành; Lãnh đạo UBND thành phố Kon Tum và các phòng, ban, ngành của
thành phố Kon Tum; Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Kon Tum;
Công ty TNHH Song Nguyên Kon Tum; Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân các xã,
phường và các hộ dân đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến
trong quá trình thu thập thông tin luận văn tốt nghiệp; đó là những căn cứ hết
sức quan trọng để đánh giá quá trình quản lý nhà nước về phát triển cơ sở hạ
tầng trong quá trình xây dựng nông thôn mới và đề xuất một số giải pháp cho
địa bàn nghiên cứu
Xin cảm ơn các đồng chí đồng nghiệp đã quan tâm, giúp đỡ; cảm ơn các
học viên lớp cao học HC22 – TN11 (niên khóa 2017 - 2019) đã quan tâm,
động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
CTRTT: Chất thải rắn thông thường
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước về chất thải rắn
trên địa bàn thành phố Kon Tum 57
Bảng 2.2: 61
Bảng 2.3: Hiện trạng cơ sở hạ tầng tại các bãi rác 62
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải rắn y tế trên địa bàn tỉnh năm 2014 – 2018 63
Bảng 2.5: Tình trạng sử dụng lò đốt xử lý chất thải y tế từ năm 2014- 2018 65
Bảng 2.6: Các văn bản liên quan đến quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum 69
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM 8
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 8
1.2 Đặc điểm, các tác hại của chất thải rắn đến môi trường, môi sinh và con người 11
1.3 Sự cần thiết, Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về chất thải rắn 19
1.4 Nội dung quản lý quản lý nhà nước đối với chất thải rắn 26
1.5 Bài học kinh nghiệm 33
Chương 2 THỰC TRANG CHẤT THẢI RẮN TẠI ĐÔ THỊ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KON TUM 36
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh KonTum 36
2.2 Thực trạng rác thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum 59
2.3 Thực trạng QLNN đối với rác thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum 68
2.4 Thành tựu và hạn chế QLNN đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum 83
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHẤT THẢI RẮN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM 89
3.1 Quan điểm của Đảng về QLNN đối với quản lý chất thải rắn 89
3.2 Một số giải pháp 93
Trang 8KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay do tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng kéo theo nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh như sự quá tải của thành thị đối với các công tác an sinh xã hội, trong đó phải kể đến vấn đề quản lý chất thải rắn Chất thải rắn hiện đang
là một trong những nguyên nhân lớn gây ra ô nhiễm môi trường Quản lý chất thải rắn là một trong những vấn đề bức xúc tại khu vực đô thị và công nghiệp tập trung ở nước ta Việc quản lý chất thải rắn không tốt dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng hơn như tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt, gây dịch bệnh và phá hủy môi trường đất
Để khắc phục tình trạng này, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam
đã chủ động trong việc xây dựng một hệ thống pháp luật khá đồng bộ để quản
lý vấn đề ô nhiễm môi trường, cụ thể như: Luật BVMT (2014) trong đó có quy định cụ thể về công tác quản lý, xử phạt về chất thải rắn đô thị; Nghị định
số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu; Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại; Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT - BYT-TNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường, quy định về quản lý chất thải y tế Mặc dù vây, hiện nay công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn tại các đô thị Việt Nam nói chung và ở Kon Tum nói riêng vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn Tình trạng ô nhiễm môi trường do các loại chất thải rắn gây ra đã trở nên phổ biến và ngày càng trở nên trầm trọng tại nhiều đô thị, là một trong chủ đề nóng thường được đề cập trên các diễn đàn xã hội cũng như trên nghị trường và Thành phố Kon
Trang 10quản lý thu gom và xử lý hợp vệ sinh các loại chất thải rắn vẫn đang là bài toán nan giải cho các cấp chính quyền Thành phố Công tác thu gom và vân chuyển chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu được giao cho Công ty TNHH một thành viên đô thị và Môi trường Kon Tum và Công ty TNHH MTV Song Nguyên Kon Tum đảm nhân, chất thải rắn nguy hại như rác thải y tế nguy hại được đốt tại các lò đốt của Bệnh viện Tuy nhiên, một số chất thải rắn nguy hại của các cơ sở y tế tư nhân và các cơ sở sửa chữa, sản xuất nhỏ chưa được kiểm soát chặt chẽ đã để lẫn vào rác thải sinh hoạt và được xử lý chung cùng với các loại rác thải khác Đây là nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
và ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe cộng đồng
Để thành phố ngày càng phát triển, trở thành một thành phố xanh, sạch, đẹp, văn minh hiện đại, xứng đáng là trung tâm kinh tế, xã hội, văn hoá của toàn tỉnh cũng như của cả vùng Tây Nguyên, trong những năm tới, ngoài việc phải đẩy mạnh đầu tư nhằm phát triển toàn diện cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và văn hóa xã hội, Thành phố còn cần phải quan tâm mạnh mẽ đến công tác bảo vệ môi trường trong đó quan trọng nhất là đề ra các chính sách quản
lý, thu gom và xử lý chất thải rắn trên toàn địa bàn Việc quản lý và tái sử dụng hợp lý thì rác thải sinh hoạt cũng là nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú, mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần rất lớn trong việc bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên
Nhằm mục đích tư vấn cho các cấp lãnh đạo chính quyền Thành phố trong việc xây dựng các chính sách, giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề này trong tương lai, tác giả đã chọn đề nghiên cứu " Quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum" nhằm góp phần giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn nói trên
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trang 11Liên quan đến quản lý chất thải đã có nhiều nghiên cứu, đề án thực hiện, có thể dẫn ra một số tài liệu sau: Quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên
Luận văn Thạc sĩ: “Quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên” của tác giả Bùi Thị Nhung đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quản lý chất thải nói chung, và cứu việc quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên
là việc làm rất cần thiết Trên cơ sở phân tích hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên sẽ đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên Đề tài nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên” nhằm góp phần giải quyết các vấn đề nói trên Đề tài mang tính thực tiễn cao, kết quả của đề tài sẽ giúp cho những nhà quản lý tham khảo để đưa ra các quyết định phù hợp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn tại thành phố Hưng Yên nhằm giảm thiểu các tác động tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
Luận văn Thạc sĩ: “Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị” của tác giả Đậu Hồng Cảnh Minh Phương đã nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, đánh giá những ưu điểm và hạn chế bất cập còn tồn tại và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật
về xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Quảng Trị để tìm ra những sai sót, vướng mắc, những vấn đề phát sinh, các vi phạm pháp luật để từ đó phân tích nguyên nhân của tình trạng này
Luận văn Thạc sĩ: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các định hướng quản
lý chất thải rắn tại thành phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Minh Phương đã nghiên cứu và đánh giá tình hình phát sinh chất thải rắn, khối lượng, thành phần chất thải rắn và các biện pháp thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Cũng như tác giả đã đưa ra một số định
Trang 12thu gom rác thải theo giờ trên toàn địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm hạn chế trên 50% số lượng các th ng rác đặt trên các đường phố khu nội thị và hạn chế tối đa 80% việc đặt th ng rác trên đ ờng phố chính; xây dựng và phát triển mô hình “Tổ dân phố không rác” tại 7 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng Lồng ghép tuyên truyền việc thực hiện mô hình vào ch ơng trình xây dựng nông thôn mới (Nguyễn Minh Phương, 2012)
Luận án: “Nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn thành phố Hà Nội” của tác giả Nghiêm Xuân Đạt đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quản lý chất thải nói chung, chất thải rắn nói riêng ở Hà Nội Tác giả đã xác định ph ơng h ớng đổi mới công tác vệ sinh môi tr ờng đô thị, đề xuất mô hình tổ chức và cơ chế quản lý chất thải rắn ở thành phố; đồng thời kiến nghị các giải pháp chủ yếu và khả thi để thực hiện mô hình đó, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực của việc quản lý môi trường đô thị nói chung, quản lý chất thải rắn nói riêng ở Hà Nội và các thành phố lớn khác, nhằm bảo vệ sức khỏe và nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống nhân dân giữ cho môi
tr ờng đô thị trong lành, cảnh quan tự nhiên và nhân tạo của Thủ đô phong phú, đa dạng, hấp dẫn (Nghiêm Xuân Đạt, 2012)
Tuy nhiên, những bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá hay gợi mở một khía cạnh của pháp luật quản lý chất thải nói chung, quản lý chất thải nguy hại nói riêng còn hầu như không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về chất thải rắn Vì vậy, với đề tài “Quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum” tác giả mong muốn đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện vấn đề quản lý của nhà nước đối với chất thải rắn, đặc biệt là tại thành phố Kon Tum
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích: Trên cơ sở các kiến thức quản lý nhà nước về chất thải
rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, phân tích thực trạng quản lý nhà nước
Trang 13về chất thải rắn ở Thành phố Kon Tum trong thời gian qua Đề tài luận văn đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quản lý nhà nước về chất thải rắn và hạn chế chi phí xử lý chất thải rắn, giảm thiểu mức độ ô nhiễm môi trường
3.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn cụ thể như sau:
+ Hệ thống hóa kiến thức về các vấn đề pháp lý khoa học và yêu cầu từ thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về chất thải rắn
+ Phân tích thực trạng của quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum
+ Đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề pháp lý khoa học và thực trạng công tác quản lý Nhà nước đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Các chính sách của Nhà nước, các giải pháp của các
đơn vị chức năng trong lĩnh vực quản lý môi trường đối với việc thu gom, vân chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum
+ Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến năm 2018
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước về chất thải rắn trong thời
kì đổi mới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 14- Khảo sát cụ thể chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; đánh giá và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tế tại một số vị trí nhằm nắm bắt các thông tin về thực trạng chất thải rắn và tình trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn
- Khảo sát tư liệu: Khảo cứu kinh nghiệm các tỉnh, thành phố có hệ thống quản lý nhà nước về chất thải rắn, các thiết chế đặc trưng, tương đồng
và những tỉnh có điều kiện đặc thù giống thành phố Kon Tum
- Phương pháp phân tích: Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, cũng như thực trạng của hoạt động quản lý nhà nước về chất thải rắn hiện nay, định hướng hướng phát triển của địa phương, luận văn sẽ phân tích những điểm mạnh, những hạn chế để chỉ ra những thuận lợi và thách thức trong hoạt động quản lý nhà nước về chất thải rắn Từ đó, tác giả luận văn có thể bước đầu đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum trong những điều kiện phát triển hiện nay
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh các mô hình quản lý tại các địa phương để tìm ra các điểm mạnh, hạn chế để khắc phục trong việc xây dựng tổ chức bộ máy một cách hợp lý và có hiệu quả cao
- Phương pháp tổng hợp tài liệu, số liệu: sử dụng tổng hợp các tài liệu dưới dạng các văn bản, sách, tạp chí liên quan đến quản lý nhà nước về chất thải rắn; các số liệu, thống kê và phân loại, các nguồn lực cho việc quản lý nhà nước về chất thải rắn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Sau khi hoàn thành, luận văn có những đóng góp về các mặt sau:
6.1 Về lý luận
Trang 15Góp phần làm rõ cơ sở khoa học quản lý nhà nước về chất thải rắn, vận dụng vào hoạt động quản lý nhà nước về chất thải rắn tại một tỉnh Tây nguyên
- Các giải pháp quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum được đề xuất sẽ trở thành những cứ liệu khoa học quan trọng
để tham khảo trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước tại địa phương
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu về lịch sử địa phương, tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ quản lý nhà nước về chất thải rắn ở cơ sở
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về chất thải rắn trên địa
bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Chương 2: Thực trạng chất thải rắn tại đô thị và quản lý nhà nước đối
với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Chương 3: Quan điểm của Đảng và một số giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước đối với chất thải rắn trên địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
Trang 16Chất thải hay còn gọi là rác thải có thể là bao bì, túi nilon, túi đựng thức
ăn, giấy… Như vậy, rác thải là là tất cả những gì chúng ta không dùng tới và thải ra môi trường xung quanh Theo cách hiểu khái niệm này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vứt bỏ vương vãi, làm bẩn và đồ vật không
có giá trị, không có tác dụng nên không giữ lại Mỗi ngày, hàng ngàn tấn rác thải được thải ra ngoài môi trường gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của chúng ta
1.1.2 Chất thải rắn
Chất thải rắn (Soild Waste): Theo Điều 3 khoản 1 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý chất thải và phế liệu thì " Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là
b n thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác" Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại
Chất thải rắn thông thường: Thuật ngữ Chất thải rắn thông thường được
sử dụng nhiều trên thực tế và tại một số văn bản quy phạm pháp luật có nhiều điều, khoản đề cập đến thuật ngữ chất thải rắn thông thường, nhưng chưa có văn bản nào trực tiếp định nghĩa Chất thải rắn thông thường Chất thải rắn
Trang 17thông thường có thể được hiểu là: một dạng vật chất ở thể rắn, không phải là thể lỏng, thể khí, không phải là chất thải nguy hại và được thải ra từ các hoạt động khác nhau của con người như sinh hoạt, tiêu d ng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phân loại Chất thải rắn thông thường: Theo Luật Bảo vệ môi trường, Chất thải rắn được phân loại thành hai nhóm chính: Chất thải có thể d ng để tái chế, tái sử dụng và chất thải phải tiêu hủy hoặc chôn lấp
Chất thải rắn nguy hại: Là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác Chất thải rắn do hoạt động sinh hoạt, đô thị được gọi là chất thải rắn đô thị; Chất thải rắn do hoạt động công nghiệp được gọi là chất thải rắn công nghiệp; chất thải rắn do hoạt động phòng bệnh và chữa bệnh được gọi là chất thải rắn y tế; Chất thải rắn do hoạt động sản xuất nông nghiệp được gọi là chất thải rắn nông nghiệp
1.1.3 Các khái niệm về quản lý
- Quản lý: Theo Từ điển Tiếng Việt, "quản lý" được hiểu là việc tổ
chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định
- Quản lý chất thải: Theo Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2014 thì
“quản lý chất thải” là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vân chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải Còn theo Cô ng ước Basel (1989) về kiểm soát, vân chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hại và tiêu hủy chúng thì "quản lý chất thải” là việc thu thập, vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy hiểm hoặc các phế thải khác, bao gồm cả việc giám sát các địa điểm tiêu hủy Như vây, có thể hiểu quản lý chất thải nói chung là một quy trình khép kín và tuần tự, chúng luôn chịu sự giám sát chặt chẽ ở tất cả các khâu Việc quản lý chất thải được thực hiện bởi nhiều hoạt động khác nhau Những hoạt động này phải luôn đảm bảo có sự gắn kết, chặt
Trang 18phát sinh đến giai đoạn xử lý và tiêu hủy hoàn toàn [10]
- Quản lý chất thải rắn: Theo Điều 3 khoản 1 Nghị định số
59/2007/NĐ- CP thì "Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vân chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối vói môi trường và sức khoẻ con người"
- Quản lý chất thải rắn thông thường: Sau khi đã tìm hiểu các định
nghĩa khác nhau về quản lý chất thải, ta có thể đưa ra định nghĩa ph hợp về quản lý CTRTT như sau: Quản lý chất thải rắn thông thường là một quá trình thực hiện liên tục các hoại động phân loại, thu gom, vân chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải rắn thông thường
- Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi
- Theo Điều 3 - Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 về quản lý
CTR [5] đưa ra các định nghĩa sau: Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
+ Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
+ Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến
cơ sở xử lý
Trang 19+ Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối c ng
+ Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn
+ Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp ph hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh
- Quản lý nhà nước về chất thải rắn: Là một cơ cấu tổ chức nhà nước quản lý chuyên trách về chất thải rắn có vai trò kiểm soát các vấn đề có liên quan đến chất thải rắn về quản lý hành chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và
Trang 20thường được phân loại dựa vào khả năng phân hủy nhanh hoặc chậm Sự phát sinh mùi hôi Mùi hôi có thể sinh ra khi chất thải được chứa trong khoảng thời gian dài trong nhà, trạm trung chuyển và ở bãi đỗ M i hôi phát sinh đáng kể
ở các thùng chứa bên trong nhà vào mùa khô có khí hậu nóng ẩm Sự hình thành mùi hôi là do sự phân hủy kị khí của các thành phần hữu cơ dễ phân hủy nhanh tìm thấy trong chất thải rắn Sự sản sinh các côn trùng vào thời gian hè ở những vùng khí hậu nóng ẩm Sự sinh sản của ruồi trong chất thải
rắn là vấn đề đáng quan tâm Sự chuyển đổi lý - hóa sinh của chất thải rắn là
những biến đổi lý học cơ bản có thể xảy ra trong quá trình vận hành quản lý chất thải rắn gồm: Phân loại, giảm thể tích cơ học, giảm kích thước cơ học phân loại quá trình này có thể tách riêng các thành phần CTR nhằm tách riêng
từ hỗn hợp sang dạng tương đối đồng nhất để thu hồi các thành phần có thể tái sinh, tái sử dụng của CTR đô thị Sự chuyển đổi hóa học: Quá trình chuyển hoá của CTR bao gồm quá trình chuyển pha : từ rắn sang lỏng, lỏng sang khí
… Để làm giảm thể tích và thu hồi sản phẩm của quá trình chuyển hoá hoá học thường sử dụng các phương pháp sau: Đốt (hay sự oxy hoá hoá học): là phản ứng hỗn hợp có sự tham gia của oxy với các thành phần hữu cơ trong chất thải sinh ra các hợp chất bị oxy hoá cùng với sự phát sáng và toả nhiệt
Sự chuyển đổi sinh học: Dựa trên đặc điểm của CTR đô thị có các thành phần
rác hữu cơ, có thể bị phân huỷ bởi vi sinh vật như : vi khuẩn, nấm men
Tóm lại, đăc điểm của chất thải rắn: Có khả năng phân hủy sinh học của các thành phần hữu cơ trong chất thải rắn, chuyển đổi lý - hóa sinh của chất thải rắn: có thể xảy ra trong quá trình vận hành quản lý chất thải rắn, sự chuyển đổi hóa học trong quá trình chuyển hoá của CTR bao gồm quá trình chuyển pha: từ rắn sang lỏng, lỏng sang khí và sự chuyển đổi sinh học: Dựa trên đặc điểm của chất thải rắn đô thị có các thành phần rác hữu cơ, có thể bị
Trang 21phân huỷ bởi vi sinh vật như: vi khuẩn, nấm men Có tác hại ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
1.2.2 Tác hại của chất thải rắn
Việc quản lý CTR không hợp lý, xử lý CTR không hợp kỹ thuật vệ sinh
là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Trong phần này sẽ đề cập đến các tác động của chất thải rắn đến môi trường đất, nước, không khí, sức khỏe con người và sự
phát triển kinh tế, xã hội
1.2.2.1 Tác hại của chất thải rắn đối với môi trường
Tại Việt Nam, hoạt động phân loại CTR tại nguồn chưa được phát triển rộng rãi, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế, phần lớn phương tiện thu gom CTR không đạt quy chuẩn kỹ thuật và không đảm bảo
vệ sinh môi trường Các điểm tập kết CTR (điểm hẹn, trạm trung chuyển) chưa được đầu tư xây dựng đúng mức, gây mất vệ sinh Tại nhiều khu vực, hệ thống vận chuyển chưa đáp ứng nhu cầu vận chuyển CTR hàng ngày, gây tình trạng tồn đọng CTR trong khu dân cư Nhìn chung, tất cả các giai đoạn quản
lý CTR từ khâu thu gom, vận chuyển đến khâu xử lý (chôn lấp, đốt) đều gây ô nhiễm môi trường
- Ô nhiễm môi trường không khí do CTR: CTR, đặc biệt là CTR sinh
hoạt, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm
và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4 – 63.8%, CO2 – 33.6%, và một số khí khác) Trong đó, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 – 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo m a Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượng khí phát thải trong m a hè cao hơn m a
Trang 22trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào Khi vận chuyển và lưu giữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong CTR: Amoni có m i khai, phân có m i hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ m i bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin m i cá ươn, Diamin m i thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi
ốc đặc trưng Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTR, việc xử lý CTR bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu CTR có thể bao gồm các hợp chất chứa Clo, Flo, lưu huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lượng không nhỏ các chất khí độc hại hoặc có tác dụng ăn mòn Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho CTR không được tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con người Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trường Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì
dễ nhận biết bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các hợp chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí
- Ô nhiễm môi trường nước do CTR: CTR không được thu gom, thải vào
kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm
DO trong nước Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen, có m i khó chịu Thông thường các bãi chôn lấp chất thải
Trang 23đúng kỹ thuật có hệ thống đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải ra môi trường Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật, các thức ăn thừa…; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm) Nếu không được thu gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng Vấn đề ô nhiễm amoni ở tầng nông (nước dưới đất) cũng là hậu quả của nước rỉ rác và của việc xả bừa bãi rác thải lộ thiên không có biện pháp xử lý nghiêm ngặt
- Ô nhiễm môi trường đất do CTR: Các chất thải rắn có thể được tích lũy
dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê-tông… trong đất rất khó bị phân hủy Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi… thường có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Các chất thải có thể gây ô nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất…Tại các bãi rác, bãi chôn lấp CTR không hợp vệ sinh, không có hệ thống xử lý nước rác đạt tiêu chuẩn, hóa chất
và vi sinh vật từ CTR dễ dàng thâm nhập gây ô nhiễm đất Nghiên cứu của Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường cho thấy các mẫu đất xét
Trang 24Coliform CTR đặc biệt là chất thải nguy hại, chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng, phóng xạ… nếu không được xử lý đúng cách, chỉ chôn lấp như rác thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao Trong khai thác khoáng sản, quá trình chế biến/làm giàu quặng làm phát sinh chất thải dưới dạng quặng đuôi, chứa các kim loại và các hợp chất khác ảnh hưởng đến môi trường Một vài mỏ hiện vẫn thải quặng đuôi trực tiếp xuống đất, làm đất bị ảnh hưởng xấu
1.2.2.2.Tác hại của chất thải rắn đối với con người
Việc quản lý và xử lý CTR không hợp lý không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người, đặc biệt đối với người dân sống gần khu vực làng nghề, khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải… Người dân sống gần bãi rác không hợp vệ sinh có tỷ lệ mắc các bệnh
da liễu, viêm phế quản, đau xương khớp cao hơn hẳn những nơi khác Một nghiên cứu tại Lạng Sơn cho thấy tỷ lệ người ốm và mắc các bệnh như tiêu chảy, da liễu, hô hấp… tại khu vực chịu ảnh hưởng của bãi rác cao hơn hẳn so với khu vực không chịu ảnh hưởng Hiện tại chưa có số liệu đánh giá đầy đủ
về sự ảnh hưởng của các bãi chôn lấp tới sức khỏe của những người làm nghề nhặt rác thải Những người này thường xuyên phải chịu ảnh hưởng ở mức cao
do bụi, mầm bệnh, các chất độc hại, côn trùng đốt/chích và các loại hơi khí độc hại trong suốt quá trình làm việc Vì vậy, các chứng bệnh thường gặp ở đối tượng này là các bệnh về cúm, lỵ, giun, lao, dạ dày, tiêu chảy, và các vấn
đề về đường ruột khác Các bãi chôn lấp rác cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác đối với cộng đồng làm nghề này Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ,… có thể là mối đe dọa nguy hiểm với sức khoẻ con người (lây nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như AIDS,…) khi họ dẫm phải hoặc bị cào xước vào tay chân,… Một vấn đề cần được quan tâm là, do chiếm tỷ lệ lớn trong những người làm nghề nhặt rác, phụ nữ và trẻ em đã trở thành nhóm đối tượng dễ bị tổn thương Hai thành phần chất thải rắn được liệt vào loại cực kỳ
Trang 25nguy hiểm là kim loại nặng và chất hữu cơ khó phân hủy Các chất này có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản, thực phẩm cũng như trong mô tế bào động vật, nguồn nước và tồn tại bền vững trong môi trường gây ra hàng loạt bệnh nguy hiểm đối với con người như vô sinh, quái thai, dị tật ở trẻ sơ sinh; tác động lên hệ miễn dịch gây ra các bệnh tim mạch, tê liệt hệ thần kinh, giảm khả năng trao đổi chất trong máu, ung thư và có thể di chứng di tật sang thế
hệ thứ 3…Chất thải nông nghiệp, đặc biệt chất thải chăn nuôi đang là một trong những vấn đề bức xúc của người nông dân Có những vùng, chất thải chăn nuôi đã gây ô nhiễm cả không khí, nguồn nước, đất vàtác động xấu đến sức khoẻ người dân ở nông thôn
1.2.2.3 Tác hại của chất thải rắn đối với kinh tế - xã hội
- Chi phí xử lý chất thải rắn ngày càng lớn: Trong 5 năm qua, lượng CTR của cả nước ngày càng gia tăng Chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý CTR
vì thế cũng tăng lên, chưa kể đến chi phí xử lý ô nhiễm môi trường liên quan đến CTR Các chuyên gia về kinh tế cho rằng, với điều kiện kinh tế hiện nay (năm 2011) thì mức phí xử lý rác là 17 – 18 USD/tấn CTR dựa trên các tính toán cơ bản về tổng vốn đầu tư, chi phí vận hành, chi phí quản lý, khấu hao, lạm phát, v.v…Hàng năm ngân sách của các địa phương phải chi trả một khoản khá lớn cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR Chi phí xử lý CTR tuỳ thuộc vào công nghệ xử lý: Mức chi phí xử lý cho công nghệ hợp vệ sinh là 115.000đ/tấn – 142.000đ/tấn và chi phí chôn lấp hợp vệ sinh có tính
đến thu hồi vốn đầu tư 219.000 – 286.000đ/tấn (Thành phố Hồ Chí Minh tổng chi phí hàng năm cho thu gom, vận chuyển, xử lý CTR sinh hoạt khoảng 1.200 – 1.500 tỷ VNĐ) Chi phí xử lý đối với công nghệ xử lý rác thành phân vi sinh khoảng 150.000đ/tấn – 290.000đ/tấn (Thành phố Hồ Chí Minh 240.000đ/tấn; thành phố Huế đang đề nghị 230.000đ/tấn; thành phố Thái Bình 190.000đ/tấn, Bình Dương 179.000đ/tấn) Chi phí đối với công nghệ chế biến
Trang 26Hạ tầng kỹ thuật – Bộ Xây dựng, 2010) Chỉ tính riêng chi phí vận hành lò đốt CTR y tế đối với các bệnh viện có lò đốt, mỗi tháng bệnh viện tuyến trung ương chi phí trung bình khoảng 26 triệu đồng, bệnh viện tuyến tỉnh 20 triệu đồng, bệnh viện huyện 5 triệu đồng Đối với các bệnh viện thuê Trung tâm thiêu đốt chất thải y tế vận chuyển và đốt rác, chi phí khoảng 7.500 đồng/kg Chi phí vận hành lò đốt cho xử lý chất thải cho cụm bệnh viện là khoảng 10.000 – 15.000 đồng/kg CTR y tế nguy hại Đối với một số bệnh viện đa khoa lớn, chi phí cho xử lý CTR y tế lên tới 100 triệu đồng/tháng
- Ảnh hưởng đến du lịch và nuôi trồng thuỷ sản do chất thải rắn
Việc xả rác bừa bãi, quản lý CTR không hợp lý còn gây ô nhiễm môi trường tại các địa điểm danh lam thắng cảnh, các khu di tích lịch sử văn hoá và các địa điểm du lịch, ảnh hưởng đến tiềm năng phát triển du lịch Các địa danh thu hút khách du lịch như ch a Hương, vịnh Hạ Long, các bãi biển,… cũng đang gặp phải vấn đề ô nhiễm môi trường do tình trạng xả rác thải bừa bãi Phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống đang là một hướng phát triển kinh tế được nhiều địa phương lựa chọn Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường tại chính các làng nghề đã gây cản trở lớn tới các hoạt động phát triển
du lịch làng nghề, làm giảm lượng khách du lịch,… dẫn đến giảm nguồn thu
từ hoạt động này tại các địa phương có làng nghề Các bãi trung chuyển rác lộ thiên và bãi chôn lấp rác không đảm bảo vệ sinh thường xuyên gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản
- Xung đột môi trường do chất thải rắn: Xung đột môi trường xảy ra
trong xã hội khi vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế chưa dung hòa được với nhau Trong những năm gần đây, khi xã hội càng phát triển, nhận thức của cộng đồng càng cao, trong khi đó, lợi ích kinh tế vẫn được đặt lên trên vấn đề BVMT và sức khỏe cộng đồng thì số các vụ xung đột môi trường càng nhiều Trong quản lý CTR, xung đột môi trường chủ yếu phát sinh do
Trang 27việc lưu giữ, vận chuyển, xả thải chôn lấp CTR không hợp vệ sinh Những xung đột giữa các doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường với cộng đồng bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sinh hoạt và sức khoẻ, hoặc ảnh hưởng đến các hoạt động văn hoá, du lịch vàcảnh quan khác cũng là loại xung đột môi trường có tính phổbiến Trong quá trình hoạt động, sản xuất, các làng nghề sản sinh nhiều chất thải rắn gây ảnh hưởng tới môi trường không những tại nơi diễn ra các hoạt động sản xuất mà còn ảnh hưởng tới các vùng lân cận Chính vì vậy, tại đây đã nảy sinh nhiều vấn đề xung đột môi trường Xung đột môi trường giữa các nhóm xã hội trong làng nghề, giữa cộng đồng làm nghề và không làm nghề, giữa các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và hoạt động nông nghiệp, giữa hoạt động sản xuất và mỹ quan, văn hoá,…
Như vậy, tác hại của chất thải rắn có ảnh hưởng rất nhiều đối với môi trường, con người và kinh tế xã hội Nếu chúng ta quản lý không tốt
1.3 Sự cần thiết, Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về chất thải rắn
1.3.1 Sự cần thiết QLNN đối với chất thải rắn
Hiện nay, do tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, vấn đề hội nhập quốc tế kéo theo nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh như sự quá tải của thành thị đối với các an sinh xã hội, vấn đề nhập khẩu rác thải ồ ạc của các nước phát triển trong thời gian qua làm cho đất nước có nguy cơ quả tải về xử lý chất thải rắn Trong khi đó công nghệ xử lý lạc hậu Bên cạnh, đó chất thải rắn hiện đang là một trong những nguyên nhân lớn gây ra ô nhiễm môi trường, không khí, sức khỏe con người và sự phát triển kinh tế, xã hội Quản lý chất thải rắn là một trong những vấn đề bức xúc tại khu vực đô thị và công nghiệp tập trung ở nước
ta Việc quản lý CTR không hợp lý, xử lý CTR không hợp kỹ thuật vệ sinh là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Đồng thời dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường phá vỡ
Trang 28diện rộng ngày càng trầm trọng hơn Trước những tái hại của chất thải rắn ảnh hưởng đến mọi thứ xung quanh ta Chính vì thế, QLNN đối với chất thải rắn là rất cần thiết nhằm quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản
lý, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người Đồng thời, tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về vấn đề xuất nhập khẩu rác thải trái phép thời gian qua để vệ môi trường xanh sạch đẹp
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về chất thải rắn
1.3.2.1 Ảnh hưởng ý thức chính trị và chính sách
Nhận thức, quyết tâm chính trị của Đảng về bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Ban hành nhiều văn bản như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 Bộ Chính trị (Khóa IX) “Về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Nghị quyết số 41-NQ/TW là một bước quan trọng trong việc thể hiện các quan điểm của Đảng về BVMT ở nước ta trong thời kỳ CNH
- HĐH đất nước Hệ thống chính sách, pháp luật về BVMT đã được xây dựng
và từng bước hoàn thiện, đang ngày càng phát huy hiệu lực trong các hoạt động quản lý BVMT Nhưng bên cạnh đó vẫn còn chồng chéo về quản lý Ví dụ theo Luật Bảo vệ Môi trường, Bộ TNMT được giao chỉ đạo, hướng dẫn và thực hiện hoạt động quản lý chất thải nói chung; các Bộ: Xây dựng, Y tế và GTVT được giao chủ trì, phối hợp với Bộ TNMT tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về môi trường trong phạm vi, lĩnh vực ngành quản lý Trách nhiệm
cụ thể của từng bộ được quy định trong các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Tuy nhiên, các văn bản dưới luật như Nghị định số 36/2017/NĐ-
CP, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, Nghị định 38/2015/NĐ-CP… lại đang có
sự phân đoạn và không rõ ràng trong phân công chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về CTR; chưa quy định, phân luồng quản lý
Trang 29CTR một cách thống nhất; giao trách nhiệm cho nhiều bộ, ngành khác nhau hướng dẫn việc thực hiện Ý thức chính trị của những người thực thi chính sách chưa cao Ví dụ một lượng lớn chất thải nguy hại vẫn đang vận chuyển trái phép qua biên giới từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Trong khi đó lực lượng chức năng đều thực hiện nhưng rác nhập khẩu trái phép thì vẫn cứ nhập trái phép Tính thờ ơ chính trị của thực hiện nhiệm vụ chưa cao Bên cạnh đó, Hiện tại, luật lệ về xuất nhập khẩu được luật pháp quy định, bao gồm Luật Bảo vệ Môi trường, Luật Thương mại, Luật Hải quan và Luật Hàng hải Tuy nhiên, không có chính sách hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát việc nhập khẩu chất thải
Tóm lại, đứng trước vấn đề điểm nóng rác thải nhập khẩu đến Việt Nam nhưng hiện nay, Mặc d Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng đã
nỗ lực tìm giải pháp trong thời gian qua Nhưng trong thời gian tới, Chính phủ tiếp tục chỉ đạo đối với Tổng cục Hải quan, cơ quan này tang cường thực hiện nhiều biện pháp mạnh, trong đó chú trọng ngăn chặn tối đa ngay từ khi hàng chưa vào đến lãnh thổ Việt Nam kết hợp với các biện pháp tăng cường kiểm tra Nếu hãng tàu không thực hiện, cơ quan hải quan sẽ kiến nghị Bộ Giao thông Vận tải có biện pháp cưỡng chế, xử lý hoặc dừng cấp phép ra, vào cảng biển Việt Nam
Trang 30Chất thải được vận chuyển đến Việt Nam
Nguồn: Tổng cục Hải quan 1.3.2.2 Ảnh hưởng phát triển kinh tế
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, kinh tế xã hội phát triển mạnh Các ngành nghề sản xuất ngày càng phát triển Tuy nhiên, sự phát triển đó đã kèm theo các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường, đặc biệt là vấn đề về chất thải rắn Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển, do
đó vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đang là một thách thức với các nhà quản lý C ng với sự phát triển kinh tế, việc gia tăng dân số và dân di
cư tự do từ các vùng trong 05 năm trở lại đây đặc biệt là quá trình đô thị hóa cũng gây ra những sức ép lớn đến môi trường do phải đáp ứng về nhu cầu nhà
ở, lương thực, thực phẩm Sự gia tăng dân số đô thị và sự hình thành các đô thị mới làm cho môi trường khu vực đô thị có nguy cơ bị suy thoái Sự gia tăng dân số c ng với phát triển kinh tế - xã hội đã làm gia tăng nhu cầu tiêu
Trang 31d ng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lượng, đồng thời làm gia tăng lượng phát sinh chất thải rắn, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý chất thải rắn Chất thải rắn sinh hoạt đô thị năm
2015 đã tăng gấp 1,6 lần so với năm 2010; dự đoán năm 2020 sẽ tăng gấp 2,37 lần và năm 2025 là 3,2 lần của năm 2010 Bình quân chất thải rắn/đầu người tăng từ 0,95kg/người/ngày năm 2009 lên l,6kg/người/ngày năm 2025 Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn là vấn đề lớn đối với các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương
Nguồn: Ngày 14/8/2019 Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội thảo quốc
tế “Quản lý chất thải rắn đô thị đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tuần hoàn
1.3.2.3 Ảnh hưởng trình độ dân trí và phong tục tập quán
Mỗi địa phương, v ng miền có các đặc th của nhóm dân cư, các tầng lớp trong xã hội, phong tục tập quán, điều kiện KT-XH khác nhau Do vậy, QLNN về chất thải rắn cần căn cứ trên thực tiễn này để đưa ra những quyết định ph hợp nhất Chẳng hạn, cư dân, ngư dân ven biển phải bám biển để kiếm sống; cư dân miền núi bám rừng để sống đa số có học vấn rất thấp, nhận thức của cư dân còn nhiều hạn chế Còn cư dân khu đô thị sống theo kiểu công nghiệp hóa hiện đại hóa, trình độ ảnh trí cao Chính vì thế quản lý nhà nước phải tính đến các yếu tố về nhân văn và ổn định xã hội Chuyển dịch các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ phát triển mạnh Đây chính là một yếu tố tạo nên sức ép ngày càng lớn đối với QLNN về BVMT Các yếu tố văn hóa, xã hội như: Tập tục, tập quán, văn hóa bản địa cũng có tác động lớn đến QLNN Ý thức BVMT của người dân chưa thực sự trở thành thói quen, nếp sống hàng ngày, vẫn còn hành vi xả thải, gây
ô nhiễm môi trường nơi công cộng
1.3.2.4 Ảnh hưởng công nghệ
Trang 32Theo Cục Hạ tầng kỹ thuật - Bộ Xây dựng, hiện nay, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc là 61.500 tấn/ngày (thành thị là 31.000 tấn/ngày, nông thôn 30.500 tấn/ngày Có tới 85% đô thị từ thị xã trở lên sử dụng phương pháp chôn lấp chất thải không hợp vệ sinh Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, khối lượng CTR trên địa bàn tăng trung bình 15%/năm Lượng CTR đô thị phát sinh đã tới hơn 6.500 tấn/ngày Ước tính, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng 95%, các huyện ngoại thành chỉ đạt khoảng 65% Lượng CTR công nghiệp được thu gom đạt khoảng 85-90% và chất thải nguy hại được thu gom mới chỉ đạt 60-70% Các hoạt động nông nghiệp mỗi năm phát sinh khoảng 8.600 tấn các chất tồn dư thuốc bảo vệ thực vật độc hại và các loại bao bì, th ng chứa thuốc trừ sâu Công nghệ xử lý chất thải công nghiệp nguy hại và y tế hiện nay chủ yếu là công nghệ đốt, hóa rắn, tái chế một phần và chôn lấp an toàn, và chỉ 10% lượng rác thải này được xử lý triệt để
Công nghệ xử lý rác thải hiện có của cả nước phần lớn chưa thật sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại chất thải nguy hại
và thường ở quy mô nhỏ Công nghệ xử lý không đồng bộ, một số chất thải chỉ áp dụng công nghệ tiền xử lý, xử lý sơ bộ bước đầu, chưa giải quyết triệt để Bên cạnh đó các đơn vị hành nghề xử lý chất thải nguy hại hầu hết
là những công ty công ích tại địa phương hoặc các đơn vị tư nhân nên quy
mô đầu tư công nghệ không đồng đều dẫn đến việc cạnh tranh chưa thực sự công bằng Các đơn vị này vì lợi nhuận quên môi trường dẫn tới tình trạng cạnh tranh giành giật thị trường bằng mọi giá, điều này có thể dẫn đến việc xử lý không tuân thủ theo đúng giấy phép hành nghề quy định, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho môi trường, một số đơn vị tiến hành xử lý chỉ mang tính chất đối phó
1.3.2.5 Ảnh hưởng hội nhập
Trang 33Hội nhập của Việt Nam sâu rộng với thế giới có nhiều cơ hội để phát triển đất nước nhưng cũng phải đối mặt với không ít những thách thức của đất nước, đi kèm với nó là ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Bao gồm những vấn đề nóng trong thời gian qua như nhập khẩu rác thải, mua các thiết
bị máy móc cũ từ những nước phát triển về Việt Nam sau thời gian trở thành bãi sắt rỉ Người ta ước tính mỗi năm có 3 triệu tấn phế liệu và chất thải nguy hại được nhập khẩu vào Việt Nam Chất thải này được làm từ khoảng 1.000 hợp chất chứa kim loại nặng và các chất hữu cơ phân tử đại phân có hại cho sức khoẻ con người Còn thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, có 23.453 container phế liệu đang lưu giữ tại các cảng biển, trong đó 9.825 container lưu trữ trên 90 ngày, chưa làm thủ tục hải quan tính đến đầu tháng 4/2019 Lượng hàng phế liệu tồn nhiều nhất tại Cục Hải quan Bà Rịa - Vũng Tàu với 9.468 container, tiếp theo là Hải Phòng và TP.HCM lần lượt 6.082 và 4.689 container Không còn là nguyên liệu, các nước nhập khẩu rác đang phải đối mặt với những loại rác thải nhiễm độc, vốn khó có thể tái chế dễ dàng Thông thường, chỉ 70% số rác thải nhập khẩu được tái chế 30% còn lại không thể
d ng vào việc gì vì bị ô nhiễm Trong đó, đã kiểm tra được 1.353 th ng chứa
và 104 th ng chứa đã được tìm thấy có chứa phế liệu, máy tính cũ và các thiết
bị điện tử
Tóm lại, Trong bối cảnh Hội nhập quốc tế Việt Nam cần phải tính toán thận trận trong vấn đề phát triển đất nước, hạn chế mua những trang thiết bị, công nghệ cũ của các nước phát triển để sau thời gian trở thành bãi thải gây ô nhiễm môi trường của đất nước Cũng phải có hệ thống cấp phép
và cơ chế hạn ngạch đối với hàng hoá có thể gây hại cho môi trường phải hạn chế nhập khẩu
Trang 34Nguồn: Tổng cục Hải quan về Chất thải được vận chuyển đến Việt Nam
1.4 Nội dung quản lý quản lý nhà nước đối với chất thải rắn
Nội dung quản lý nhà nước về chất thải rắn được quy định tại Nghị định
số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính Phủ
1.4.1 Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật về hoạt động quản
lý chất thải rắn Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn và hướng dẫn thực hiện các văn bản này
1.4.1.1 Ban hành các chính sách, văn bản pháp luật quản lý chất thải rắn
Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến
thuật từng giai đoạn (Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030), nhằm giải quyết một
nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một giai đoạn nhất định Ở các cấp địa phương, việc xây dựng chính sách môi trường thường có 02 loại
Trang 35Loại thứ nhất là cụ thể hóa các chính sách do các bộ, ngành liên quan ban hành vào thực tế tại địa phương Loại thứ hai là các chính sách đặc th nhằm triển khai thực hiện các mục tiêu cụ thể của chiến lược bảo vệ môi trường do địa phương xây dựng Việc xây dựng các chính sách này phải đảm bảo tính nhất quán nhằm hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tránh tình trạng các chính sách chồng chéo nhau gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện và gây lãng phí nguồn lực của xã hội Trong đó, sự đúng đắn và thành công của chính sách cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của chính sách cấp trung ương Ngược lại, các chính sách cấp trung ương lại là cơ sở, tiền đề để xây dựng các chính sách địa phương Trước đây, các chính sách về môi trường chưa được chú trọng nên dẫn đến hâu quả là ô nhiễm môi trường tăng cao, làm ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế xã hội tại nhiều đô thị lớn trong cả nước Tuy nhiên, hiện nay vấn đề môi trường đã được chính quyền nhiều địa phương đặt lên hàng đầu, nó là điều kiện thiết yếu cần phải có khi xây dựng các dự án phát triển kinh tế, xã hội cả nước Khi xây dựng chính sách các nhà quản lý cần nghiên cứu các khía cạnh cụ thể mà chính sách sau khi xây dựng sẽ tác động trực tiếp lên các lĩnh vực này như: Các khía cạnh thuộc chính trị cũng được xác định các mục tiêu của xã hội và thứ tự ưu tiên liên quan đến việc bảo vệ môi trường và tính công bằng của mức thu phí dịch
vụ phải được xác định rõ ràng dưới nhiều hình thức khác nhau (bằng ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn xã hội hóa) Xác định rõ ràng quyền lực và
nhiệm vụ quan trọng, để hệ thống quản lý chất thải rắn được bền vững Các quy định về quản lý chất thải rắn phải ít về số lượng, trong sáng, rõ ràng và
công bằng Các khía cạnh tổ chức liên quan đến việc phân bố chức năng,
trách nhiệm và quan hệ giữa các tổ chức, quy trình, phương pháp, khả năng của các tổ chức (kể cả các tổ chức tư nhân) tham gia vào việc quản lý chất
Trang 36của các hộ và những người sử dụng dịch vụ, việc quản lý chất thải rắn trên cơ
sở cộng đồng và các điều kiện xã hội của các công nhân vệ sinh Các khía
cạnh về kinh tế được quan tâm đến các tác động của dịch vụ đến các hoạt động kinh tế, hiệu quả đầu tư cho một hệ thống quản lý chất thải rắn, các khía cạnh kinh tế vĩ mô của việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên và tạo thu nhập Các khía cạnh kỹ thuật quan tâm đến việc quy hoạch, đầu tư, khai thác vân hành và bảo trì các hệ thống thu gom và vận chuyển, thu hồi các chất thải, thải bỏ các chất thải và quản lý chất thải độc hại
Như vậy, quản lý ban hành các chính sách, văn bản pháp luật quản lý chất thải rắn từ Trung ương đến địa phương cũng được quan tâm thực hiện trên cơ sở văn bản quy định của pháp luật Nhưng một số văn bản chính sách còn chồng chéo, chưa ph hợp với thục tế
1.4.1.2 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý chất thải rắn và hướng dẫn thực hiện các văn bản này
Trong gần hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đường lối, nghị quyết và các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT như Khoản 1 Điều 6, Luật BVMT năm 2014 nêu rõ một trong những hoạt động được khuyến khích là “truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và
đa dạng sinh học” hay “phổ biến, giáo dục pháp luật về BVMT phải được thực hiện thường xuyên và rộng rãi” (Điều 154) Khoản 1 và 2 Điều 155 của Luật quy định cụ thể quản lý giáo dục về môi trường, đào tạo nguồn nhân lực: “Chương trình chính khóa của các cấp học phổ thông phải có nội dung giáo dục về môi trường”, “Nhà nước ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực BVMT;khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về môi trường
và đào tạo nguồn nhân lực BVMT” Có nhiều biện pháp để nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn
Trang 37đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường, bằng cách: Tổ chức các chiến dịch truyền thông gây ấn tượng mạnh nhằm phát động phong trào toàn dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và chỉ thị: “tăng cường quản lý bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” Tiếp tục đẩy mạnh phong trào: xanh - sạch - đẹp, tuần lễ nước sạch, vệ sinh môi trường, phong trào phụ nữ không vứt rác ra đường và chiến dịch làm sạch thế giới Tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực tiếp thông qua đội ngũ những người tình nguyện đến từng đoàn viên, hội viên, từng hộ gia đình và vân động toàn dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường Tổ chức tuyên truyền thông qua sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức quần chúng cơ sở, tạo ra phong trào thi đua hình thành thói quen mới, xây dựng nếp sống mới trong tập thể cư dân ở
đô thị và các khu công nghiệp Tổ chức tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Tổng liên đoàn lao động, Hội nông dân và của địa phương để tạo ra dư luận xã hội khuyến khích, cổ vũ các hoạt động bảo vệ môi trường Phối hợp với các ngành liên quan và các chuyên gia để xuất bản và phổ biến sâu rộng các tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn bảo vệ môi trường nói chung, quản lý chất thải rắn nói riêng, cho ph hợp với từng đối tượng và từng địa phương Giáo dục và đào tạo nâng cao nhân thức cho cộng đồng thông qua các chương trình học ở các bậc học như: Giáo dục môi trường ở các cấp học mầm non, phổ thông, đại học và sau đại học; Huấn luyện, đào tạo phục vụ quản lý quản lý CTR; Các hoạt động phong trào mang tính tuyên truyền giáo dục Đưa quản lý quản lý CTR phải là một phần trong chương trình giảng dạy môi trường đang được kiến nghị đưa vào khuôn khổ giáo dục hiện hành Những chương trình như vây đang là xu thế ở nhiều nước trên thế giới hiện nay
Tóm lại, quản lý tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý
Trang 38các chiến dịch truyền thông gây ấn tượng mạnh nhằm phát động phong trào toàn dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường và chỉ thị Các hoạt động tuyên truyền trực tiếp thông qua đội ngũ những người tình nguyện đến từng đoàn viên, hội viên, từng hộ gia đình và vân động toàn dân thực hiện Luật Bảo vệ môi trường Tuyên truyền thông qua sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức Tổ chức tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Tổng liên đoàn lao động, Hội nông dân Nhưng chất lượng quản lý tuyên truyền một số địa phương còn mang tính hình thức, chưa sâu một số v ng sâu v ng xa chưa tiếp cận được
1.4.2 Ban hành quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng cho hoạt động quản lý chất thải rắn
Trong các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, hệ thống tiêu chuẩn môi trường được xem là công cụ hữu hiệu để phục vụ cho quản lý quản lý môi trường Đó là hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật trong đó quy định, ngưỡng chấp nhân của các tác nhân gây ô nhiễm môi trường như: tiếng ồn tối đa; mức phát thải khí CO2 tối đa; hàm lượng chất rắn lơ lửng tối đa Do hệ thống các tiêu chuẩn này có tính pháp lý rất cao nên thường do Chính phủ thống nhất quy định chung, chính quyền các đô thị không có quyền ban hành các tiêu chuẩn riêng, trừ những trường hợp đặc biệt Vì vây, chính quyền các thành phố chỉ thực hiện việc tuyên truyền, phố biến hệ thống tiêu chuẩn môi trường này và tổ chức việc giám sát, thực hiện trong thực tế Sau khi chính sách được xây dựng hoàn chỉnh, được cấp thẩm quyền phê duyệt thì các chính sách đó cần phải được truyền thông rộng rãi để tất cả mọi người biết, hiểu, thực hiện và giám sát quá trình thực hiện đó
1.4.3 Quản lý việc lập, thẩm định, phê duyệt và công bố quy hoạch quản lý chất thải rắn
Quy hoạch quản lý chất thải rắn là quản lý điều tra, khảo sát, dự báo
Trang 39nguồn và tổng lượng phát thải các loại chất thải rắn; xác định vị trí quy mô các điểm thu gom, trạm trung chuyển, tuyến vân chuyển và các cơ sở xử lý chất thải rắn; xác định phương thức thu gom, xử lý chất thải rắn; xây dựng kế hoạch và nguồn lực nhằm xử lý triệt để chất thải rắn Quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp v ng, liên tỉnh, liên đô thị, v ng kinh tế trọng điểm do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hoặc ủy quyền cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với ủy ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương và các ngành liên quan tổ chức lập quy hoạch quản lý chất thải rắn cấp v ng, liên tỉnh, liên đô thị và v ng kinh tế trọng điểm Quy hoạch quản lý chất thải rắn các cấp phải được công bố công khai theo quy định của pháp luật về quy hoạch xây dựng
1.4.4 Quản lý quá trình đầu tư thu gom, vận chuyển, xây dựng công trình xử lý chất thải rắn
Nhà nước khuyến khích mọi hình thức đầu tư cho lĩnh vực chất thải rắn: Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), xây dựng - khai thác - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - khai thác (BTO), mua lại doanh nghiệp, mua trái phiếu, đầu tư chứng khoán và các hình thức đầu tư khác theo Luật đầu tư Nội dung đầu tư hoạt động thu gom, vân chuyển chất thải rắn bao gồm: Đầu tư mua sắm trang thiết bị, xe chuyên dụng, các phương tiện khác phục vụ quản lý thu gom và vận chuyển chất thải rắn Đầu tư xây dựng các trạm trung chuyển chất thải rắn Các nội dung đầu tư xây dựng cơ sở xử
lý chất thải rắn: Đầu tư xây dựng toàn bộ hoặc từng hạng mục công trình thuộc cơ sở xử lý chất thải rắn Mua sắm công nghệ trang thiết bị, vật tư phục
vụ hoạt động xử lý chất thải rắn
1.4.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật trong quá trình hoạt động quản lý chất thải rắn
Trang 40và xử lý các vi phạm về quản lý chất thải rắn Tổ chức hoạt động và chức năng nghiệp vụ của Thanh tra Tài nguyên Môi trường được căn cứ theo Nghị định số 35/2009/NĐ-CP Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có hành vi
vi phạm về quản lý chất thải rắn sẽ bị xử phạt theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Các công cụ pháp lý được lựa chọn để thực hiện mục tiêu môi trường sẽ có những mối quan hệ với các cơ quan chức năng phụ trách kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải bao gồm: Các cơ quan chuyên ngành cấp quốc gia như các Bộ Y tế, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài Nguyên và Môi trường và các cơ quan chuyên ngành cấp thành phố, tỉnh Không có các quy định cụ thể có sẵn về phân chia trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải ở các cấp chính quyền.Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia đều cố gắng thiết lập sự phân quyền và ủy quyền cho các cơ quan chức năng Các hoạt động cần được giao cho các cơ quan tương ứng của các cấp như sau: Cấp chính phủ trung ương: Các cơ quan chuyên ngành cấp quốc gia như các Bộ Y tế, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên Môi trường chịu trách nhiệm vạch ra các chính sách kiểm soát ô nhiễm Các chức năng điển hình gồm xây dựng và thực hiện giám sát các chương trình trên phạm vi toàn quốc Bộ Giáo dục và đào tạo có thể xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ ở mọi cấp của Chính phủ Bộ Tài chính tham gia vào việc lập ra các nguồn quỹ quốc gia phục vụ cho quản lý cưỡng chế, thực thi, kiểm soát môi trường và quản
lý chất thải Cấp chính quyền và tỉnh: Các cấp này tham gia vào việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng môi trường của quốc gia hoặc chủ động xây dựng và duy trì tiêu chuẩn chất lượng môi trường, tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật cho các phương tiện tiêu hủy chất thải, xây đựng và thực hiện các chương trình giáo dục cộng đồng về kiểm soát ô nhiễm cấp tỉnh, thành