Câu 1. Phân tích nguyên tắc tổ chức: “quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam? Câu 2. Phân tích vai trò của Quốc Hội trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam? Câu 3. So sánh nhà nước pháp quyền tư sản với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
Trang 1Họ và tên: ………
Đơn vị: ………
BÀI TẬP TỰ LUẬN
Chuyên Đề 1: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Câu 1 Phân tích nguyên tắc tổ chức: “quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam?
Câu 2 Phân tích vai trò của Quốc Hội trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam?
Câu 3 So sánh nhà nước pháp quyền tư sản với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa? BÀI LÀM
Câu 1 Phân tích nguyên tắc tổ chức: “quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam?
+ Cơ sở lý luận
- Bộ máy nhà nước phong kiến tổ chức theo nguyên tắc tập quyền chuyên chế -> toàn quyền lực NN tập trung vào nhà vua
- Bộ máy nhà nước Tư sản tổ chức theo nguyên tắc phân quyền, “tam quyền phân lập” -> quyền lực chia làm 3 nhánh: Nghị viện – lập pháp, Chính phủ - hành pháp, Tòa
án – tư pháp, độc lập với nhau và kiến chế đối trọng, kiểm soát lẫn nhau
- Nhà nước XHCN có bản chất, mục đích, cở sở kinh tế - xã hội khác kiển NN
PK, Tư sản, là kiểu NN nửa NN nên bộ máy nhà nước tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN -> quyền lực NN tập trung vào tay của nhân dân và nhân dân ủy thác cho cơ quan Quốc hội, HĐND thực hiện quyền lực nhà nước
+ Cơ sở Hiến định
- Điều 2 HP 2013
- Nội dung nguyên tắc
- Quyền lực nhà nước là thống nhất -> vì quyền lực nhà nước bao giờ cũng thuộc vào một giai cấp hay liên minh giai cấp nhất định Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức > quyền lợi các giai cấp có sự thống nhất và phù hợp -> nên quyền lực nhà nước là thống nhất
- Quyền lực thống nhất -> quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân sử dụng nó thông qua các cơ quan đại diện, do mình lập ra (bầu cử) như Quốc hội, Hội đồng nhân dân
- Phân công giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền LP,HP,TP -> phân công thực hiện quyền lực nhà nước là giao cho từng nhóm các cơ quan nhà nước thực
Trang 2hiện một quyền lực nhất định nào đó có tính chuyên môn Vì sao phải phân công thực hiện quyền lực nhà nước? Vì tất cả quyền lực nhà nước tập rung trong tay một người hay một cơ quan -> ôm đồm, không hiệu quả, lạm quyền Mỗi nhánh quyền lực cần có cơ quan “bản tính” khác nhau đảm nhận
- Phân công như thế nào? -> Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân,
cơ quan quyền lực nhà nước của nước CHXHCN Việt Nam chủ yếu thực hiện 3 chức năng:
∆ Lập hiến, lập pháp
∆ Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước
∆ Giám sát tối cao
- Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, chủ yếu thực hiện quyền hành pháp
- Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam chủ yếu thực hiện quyền xét xử
- Viện kiểm sát nhân dân được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát cá hoạt động tư pháp
- Phối hợp là sự hỗ trợ lẫn nhau để cùng thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước Vì sao phải phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước?
- Nhận thức đúng bản chất học thuyết phân quyền, vận dụng đúng đắn và hợp lí
mô hình tổ chức BMNN trên nền tảng văn hóa, truyền thống chính trị, nhà nước ta chỉ thừa nhận phân công và phối hợp quyền lực nhà nước chứ không phải là phân lập, kiềm chế, đối trọng
- Sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện, giải quyết một vấn đề
sẽ đảm bảo dễ dàng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi cơ quan nhà nước cũng như nhiệm vụ chung của bộ máy nhà nước
+ Phối hợp như thế nào?
- Trong lĩnh vực lập pháp;
- Trong lĩnh vực quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước;
- Thành lập, bãi nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh trong BMNN;
- Phối hợp cơ chế giám sát văn bản pháp luật;
- Chính phủ với TAND và VKSND;
+ Liên hệ thực tiễn
- Một số cơ quan không thực hiện tốt chức năng được phân công
- Sự phân công không rõ ràng, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước không chặt chẽ thường dẫn đến hiện tượng không quy kết được trách nhiệm cho các cơ quan, hoặc khó khăn trong việc phối hợp công việc giữa các cơ quan Ngoài ra, có thể có cả nguy cơ một số cơ quan sẽ chạy để được phân công những việc tốt
- Trong thực tế nhiều khi sự phối hợp chưa thật tốt
- Nhiều cơ quan nhà nước chỉ biết thực hiện xong phần việc của mình mà không
có sự phối hợp hoặc theo dõi xem phần công việc liên quan đến sự việc được thực hiện đến đâu hoặc thực hiện như thế nào, có thống nhất và phù hợp với phân công việc đã được cơ quan mình thực hiện
Trang 3Câu 2 Phân tích vai trò của Quốc Hội trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam?
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp
Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Ðại biểu Quốc hội được cử tri bầu ra tại các đơn vị bầu cử, chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nuớc cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc hội có 3 chức năng chính: chức năng lập pháp; chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước
- Chức năng lập pháp
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp
Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp
Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình
tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định
Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc hội ban hành luật, nghị quyết
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết
Quy trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật của Quốc hội bao gồm các giai đoạn :
1) Xây dựng và thông qua chương trình xây dựng văn bản pháp luật;
2) Giai đoạn soạn thảo;
3) Giai đoạn thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban;
4) Giai đoạn xem xét tại Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
5) Giai đoạn thảo luận tại các kỳ họp của Quốc hội;
6) Giai đoạn thông qua tại Quốc hội
- Chức năng giám sát
Theo quy định tại Ðiều 84 Hiến pháp 1992, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Chức năng giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua các hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội như Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội và Ðại biểu Quốc hội
Chức năng quyết định các vấn đề quan trọng
Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước; phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế
Trang 4Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt
Quốc hội quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia
Quốc hội quyết định đại xá quyết định trưng cầu ý dân
Trong lĩnh vực đối ngoại, Quốc hội quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước
Câu 3 So sánh nhà nước pháp quyền tư sản với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa?
+ Phương thức tổ chức, xây dựng và vận
hành bộ máy nhà nước phải do pháp luật
quy định Nhà nước pháp quyền là một
hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở
đó pháp luật có giá trị thực thi cao nhất
với nội dung thực hiện quyền lực của nhân
dân
+ Nhà nước và công dân phải thừa nhận
tính tối cao của pháp luật Pháp luật không
những được coi là công cụ chủ yếu để
quản lý mọi hoạt động của xã hội công
dân, mà còn xác định ở vị trí cao nhất,
tuyệt đối vượt qua mọi quyền lực của tổ
chức chính trị, xã hội mà mỗi công dân
trong xã hội đó
+ Quyền lực nhà nước được xác định
gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và
quyền tư pháp
+ Có hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng,
minh bạch, thể hiện ý chí và nguyện vọng
của nhân dân để điều chỉnh những quan hệ
pháp luật phát sinh trong xã hội Nhà nước
pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà
nước mà ở đó quyền lực Nhà nước thể
hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số
nhân dân, thực hiện chế độ dân chủ trong
việc thiết lập quyền lực nhà nước, thực
hiện chế độ trưng cầu ý dân Mỗi cá nhân
phải có nghĩa vụ, trách nhiệm quyền lợi
theo quy định của pháp luật
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
và Nhà nước pháp quyền tư sản đều phải thừa nhận phương thức tổ chức, xây dựng
và vận hành bộ máy nhà nước do pháp luật quy định Tuy nhiên, bản chất và nội dung pháp luật về tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy của hai nhà nước đó có nhiều điểm khác nhau rất cơ bản Rõ nhất
là, sự khác nhau trong các quy phạm của hiến pháp và pháp luật về tổ chức, cơ cấu nhân sự và việc xây dựng, vận hành của
bộ máy quyền lực như: Quốc hội và Nghị viện; Tổng thống và Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, v.v Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thừa nhận tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực (Quốc hội, Chính phủ…) và chỉ có nhân dân trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của Quốc hội, Chính phủ hoặc tổ chức ra Quốc hội
và Chính phủ nhiệm kỳ mới Trong khi
đó, Hiến pháp và pháp luật tư sản lại thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ…
+ Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước và công dân đều phải
Trang 5thừa nhận tính tối cao của pháp luật, vì pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí
và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Trong Nhà nước pháp quyền tư sản, nhà nước và công dân cũng phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật, nhưng pháp luật
tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân,
đó là những người giàu, là giai cấp tư sản Nói cách khác, luật pháp của Nhà nước pháp quyền tư sản chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động – những người bị áp bức bóc lột Đây là nội dung khác biệt cơ bản nhất giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản
+ Nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết
“tam quyền phân lập” là học thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà \nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không thừa nhận việc phân chia quyền lực mà coi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân; trong
đó, có sự phân công, phối hợp, để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm cho quyền lực nhà nước thống nhất, được thực hiện với hiệu quả cao nhất
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam dựa trên cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và mang bản chất giai cấp công nhân, nhà nước là công
cụ duy trì quyền lực của đa số nhân dân lao động, thực hiện dân chủ đối với nhân dân và chuyên chính đối với kẻ thù xã hội chủ nghĩa Trong khi đó, nhà nước pháp quyền tư sản dựa trên cơ sở kinh tế là chế
Trang 6độ tư hữu về tư liệu sản xuất và mang bản chất giai cấp tư sản, nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, đó là thiểu số người giàu có trong xã hội – giai cấp tư sản
+ Bên cạnh sự khác nhau về tính giai cấp, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chỉ công nhận các quy phạm pháp luật khi
nó được xác lập và thông qua theo một trình tự và thủ tục nhất định; trong khi đó, Nhà nước pháp quyền tư sản thường coi
“án lệ” hoặc “tập quán” như một loại quy phạm pháp luật “bất thành văn”