Khác với thống kê, đối tượng nghiên cứu của kê toán là tài sản trong môi quan hệ với nguồn hình thành và quá trình vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra và đảm bảo cho việc
Trang 1TẬP THỂ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP H ồ CHÍ MINH
NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN (LÝ THUYẾT, BÀI TẬP VÀ BÀI GIẢI)
TS Lê Thị Thanh Hà (c h ủ b iê n )
TS T rần Thị Kỳ
GV Nguyễn Quỳnh Hoa
GV Ly Hoàng Oanh
GV T rần Công Chính ThS L ê Hồ An C hâu
NHÀ XUẤT BẢN THỐNG K Ê
Năm 2007
Trang 2I MỞ ĐẦU 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thực tế, kế toán đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp
lông tin cho các đối tượng khác nhau nhằm điều hành các hoạt động
inh tế có hiệu quả nhất Do đó, các đối tượng sử dụng thông tin trong
ó có ngân hàng cần phải thông hiểu và biết sử dụng các thông tin do
ế toán cung cấp Để thực hiện được điều này cần thiết phải nghiên cứu
ế toán các ngành kinh doanh
Lý thuyết kế toán là một môn học cơ sở trong chương trình đào tạo
ử nhân kinh tế Môn học lý thuyết kế toán trang bị cho sinh viên những
' luận chung về kế toán, trên cơ sở đó giúp cho sinh viên nghiên cứu
à học tốt kế toán các ngành kinh doanh
Giáo trình lý thuyết kế toán do tập thể giảng viên Bộ môn Kế toán,
hoa Kế toán - Kiểm toán trường Đại học Ngân Hàng TP Hồ Chí Minh
iên soạn nhằm giúp cho sinh viên chuyên ngành kinh tế học tập, nghiên
'Ju n h ữ n g lý luận c ơ b ả n n h ất v ề k ế to án, làm c ơ s ở đ ể n g h i ê n cứ u c á c
lôn kế toán doanh nghiệp, kế toán ngân hàng và các môn chuyên ngành
Giáo trình được cập nhật theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC
gày 20 tháng 3 năm 2006 Giáo trình gồm có 8 chương, trong mỗi
iương, phần đầu trình bày những lý luận cơ bản liên quan đến nội dung
ị thể của từng chương Hệ thống câu hỏi ôn tập và các bài tập cuối
ôi chương sẽ tạo điểu kiện cho sinh viên thực hành, qua đó củng cô
lẩn lý luận thêm vững chắc Một số bài giải tham khảo sẽ tạo điều kiện
10 sinh viên tự nghiên cứu môn học
Tham gia biên soạn giáo trình gồm có :
1 TS Lê Thị Thanh Hà (Chủ biên)
2 TS Trần Thị Kỳ
3 GV Nguyễn Quỳnh Hoa
I
Trang 3Các ý kiến đóng góp xin gửi theo Em ail: thanhhadhnh<§yahoo.co
Tập thể tác giả xin chân thành cảm c
Trang 41.1 : BÀN CHÁT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 5
CHƯƠNG 1
HẠCH TOÁN KỂ TOÁN
^.1 BẢN CHẤT CỦA HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
1.1.1 KHÁI NIỆM VỀ HẠCH TOÁN
Sản xuất ra của cải là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội [oài người Hoạt động sản xuất của con người là hoạt động có ý thức và tự giác nhằm tạo ra sản phẩm cho ăn, mặc, ở Xét trong một quá trình liên tục và đổi mới không ngừng, quá trình sản tuất và quá trình tái sản xuất xả hội bao gồm bốn giai đoạn : ĩản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng
Để thực hiện nhịp nhàng và đạt hiệu quả cao, quá trình sản cuất cần được định hướng và tổ chức thực hiện theo những mục ỉiêu đã định Những hoạt động định hướng và tổ chức ấy gọi ĩhung là hoạt động quản lý Khi sản xuất phát triển, trình độ xã lội hóa của sản xuất và phân công lao động đạt đến trình độ cao ỉhì hoạt động quản lý cũng được tách thành hoạt động độc lập tỉệ thống quản lý bao gồm ba yếu tố :
- Khách thể quản lý (quá trình tái sản xuất xã hội) là đôi
;ƯỢng quản lý chịu tác động của hoạt động quản lý
- Chủ thế quản lý (các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý của nột đơn vị hay của một cơ quan Nhà nước) là nơi phát ra hoạt iộng quản lý
- Thông tin là những tín hiệu được phát ra và lan truyền fiữa các chủ thể và khách thể quản lý được biểu hiện ở cả hai :hiều :
Trang 56 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN I
+ Từ chủ thể quản lý (các nhà quản lý) chuyển đến khái thể quản lý gồm tất cả những quyết định, thông tư, c thị Những thông tin này gọi là thông tin chỉ thị h; thông tin ra
+ Từ khách thể quản lý đến chủ thể quản lý là những thôi tin về diễn biến và kết quả thực hiện các quyết địn Những thông tin này gọi là thông tin thực hiện hay thôi tin ngược hoặc thông tin vào Trong thực tiễn, nhữi thông tin này thu từ hạch toán được xử lý và sử dụng cl nhu cầu quản lý
Như vậy : Hạch toán là một hệ thông điều tra quan sát, tír toán, đo lường và ghi chép các quá trình kinh tế nhằm quản các quá trình đó ngày một hiệu quả hơn
1.1.2 CÁC LOẠI HẠCH TOÁN
Căn cứ vào đối tượng và phương pháp nghiên cứu, hạch toỂ được chia thành ba loại : hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật, hạc toán thống kê và hạch toán kế toán
1.1.2.1 Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật
Hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật (còn gọi là hạch toán nghiệ vụ) là sự quan sát, phản ánh và kiểm tra giám sát trực tiếp từr nghiệp vụ kinh tế, kỹ thuật cụ thể phục vụ cho việc chỉ đạo thườr xuyên kịp thời các nghiệp vụ đó Đối tượng nghiên cứu là Cí nghiệp vụ kinh tế hoặc kỹ thuật sản xuất như : tình hình thi hiện các hoạt động mua hàng, sản xuất, tiêu thụ, tình trạng k thuật của máy móc thiết bị, Đặc điểm của hạch toán nghiệp V
là tùy tính chất và yêu cầu quản lý từng nghiệp vụ mà sử dụn một trong ba loại thước đo : hiện vật, lao động và giá trị thíc hợp Hạch toán nghiệp vụ cung cấp các thông tin nghiệp vụ man tính chất rời rạc, riêng biệt là những thông tin chưa qua xử 1;
Trang 6Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ốl TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 7
tổng hợp, chọn lọc; là thông tin "hỏa tốc" có thể chỉ một phần nhỏ khách thể cần có đế lãnh đạo nghiệp vụ kỹ thuật hàng ngày một cách kịp thời Để cung cấp thông tin kịp thời hạch toán nghiệp vụ thường sử dụng các phương tiện thu thập, truyền tin giản đơn như chứng từ ban đầu, điện thoại, điện báo hoặc truyền miệng,
Với đôi tượng rất chung và phương pháp rất đơn giản, hạch toán nghiệp vụ kỹ thuật chưa trở thành môn khoa học độc lập
1.1.2.2 Hạch toán thống kê
Hạch toán thông kê, gọi tắt là thống kê, là một môn khoa học, đối tượng nghiên cứu của hạch toán thống kê là mặt lượng trong mối quan hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng kinh tế - xã hội sô lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thế nhăm rút ra bản chất và tính quy luật trong sự phát triển của hiện tượng đó Thích ứng với đối tượng này, hạch toán thống
kê đã xây dựng một hệ thôYig phương pháp khoa học riêng như điều tra thống kê, phân tổ thống kê, số tuyệt đối, số tương đôi,
số bình quân và chỉ số Hạch toán thống kê với đối tượng và phương pháp trên nên có thể sử dụng tất cả các loại thước đo : hiện vật, thời gian và giá trị Tùy theo đặc điểm hiện tượng nghiên cứu mà sử dụng thước đo cho thích hợp
Từ nhừng đặc điểm trên, thông tin thông kê không phải là những thông tin cụ thể về những nghiệp vụ hay sự kiện riêng
rẽ, việc thu nhận và cung cấp thông tin không mang tính chất thường xuyên, liên tục mà có tính hệ thống, thông tin về cả một tổng thể phức tạp (thuộc lãnh vực kinh tế - xã hội số lớn) trong môi quan hệ giữa các bộ phận câu thành nên tổng thể đó trong điều kiện thời gian và địa điểm nhất định
Trang 78 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
1.1.2.3 Hạch toán kế toán
Có nhiều tác giả đã đề cập đến khái niệm kế toán dưới nhiều khía cạnh khác nhau Theo Luật Kê toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 : "Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh
tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động." (Điều 4)
Khác với thống kê, đối tượng nghiên cứu của kê toán là tài sản trong môi quan hệ với nguồn hình thành và quá trình vận động của tài sản trong các đơn vị nhằm kiểm tra và đảm bảo cho việc sử dụng tài sản và hoạt động kinh tế tài chính của đơn
vị có hiệu quả Để nghiên cứu đôi tượng này, kê toán đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như : chứng tù
kế toán, kiếm kê kê toán, tài khoản kế toán, ghi sổ kép (còn gọi
là đối ứng tài khoản), tính giá, tổng hợp và cân đốì kế toán
Nhờ có sự sử dụng tổng hợp các phương pháp kế toán trong công tác kế toán mà thông tin do kế toán cung cấp mang tính chất toàn diện, thường xuyên, liên tục, có hệ thông và luôn là những thông tin về hai mặt của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình : tài sản và nguồn hình thành tài sản, chi phí và thu nhập, tăng
và giảm, Mỗi thông tin kế toán thu được đều là kết quả của quá trình có hai mặt : thông tin và kiểm tra (quá trình thông tin đồng thời cũng là quá trình kiềm tra : kiểm tra qua chứng
từ, qua đối ứng tài khoản, qua tính giá và qua tổng hợp và cân đối kế toán) nhằm bảo vệ tài sản của đơn vị Những thông tin này là những thông tin động về sự tuần hoàn của tài sản và có
ý nghĩa rất lớn đối với việc ứng dụng hạch toán kinh doanh (lấy thu bù chi .)
Vì yêu cầu quản lý của đối tượng sử dụng thông tin kế toán khác nhau nên kế toán ở đơn vị kế toán chia ra thành 2 hệ thông : kế toán tài chính và kế toán quản trị
Trang 8~h.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 9
- Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân
tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng các báo cáo
tài chính cho mọi đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của
đơn vị kê toán
- Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân
tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản
trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kê toán
Ba loại hạch toán trên tuy có đối tượng nghiên cứu và phương
pháp riêng, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau trong việc
ghi chép và kiếm tra, giám sát quá trình tái sản xuất xã hội
Mối quan hệ này thế hiện các mặt sau :
- Cả ba loại hạch toán đều nhằm thu thập, ghi chép và
truyền đạt những thông tin về kinh tê tài chính trong đơn vị
- Mỗi loại hạch toán đều phát huy tác dụng của mình trong
việc kiếm tra giám sát tình hình thực hiện các kê hoạch kinh tê
tài chính nên cả ba đều là công cụ quan trọng phục vụ cho việc
quản lý, điều hành và chỉ đạo của đơn vị và các đối tượng khác
- Giữa ba loại hạch toán có quan hệ cung cấp số liệu cho
nhau và thống nhất về sô' liệu trên cơ sở tổ chức công tác hạch
toán ban đầu
1.1.3 BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN
Từ tất cả những điều đã trình bày trên có thể rút ra các kết
luận thể hiện bản chât của kế toán :
- Kê toán là một bộ phận của hoạt động quản lý (hoạt động
xử lý thông tin thực hiện) có mối liên hệ mật thiết với hạch toán
nghiệp vụ và thống kê
- Kế toán nghiên cứu tài sản với tính hai mặt : giá trị tài
sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động của tài sản trong
các đơn vị dưới hình thái tiền tệ
j
Trang 910 Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ố l TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN K
- Kế toán xây dựng một hệ thống phương pháp khoa họ riêng như đã nêu ở phần trên
Như vậy, trong hệ thống quản lý, kê toán là một hệ thôn
thông tin và kiểm tra về tài sản trong các đơn vị bằng hệ thôn
phương pháp khoa học như : chứng từ và kiểm kê kế toán, đô
ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp và cân đối kế toán
Qua việc nghiên cứu bản chất của kê toán cho thấy chứ
năng chính của kế toán là cung cấp thông tin (thể hiện qua s
Ghi chép -► Phân loại, -► Báo cáo
Kế toán cung cấp thông tin sử dụng để ra các quyết địn}
cho hoạt động kinh tế, tài chính Những thông tin mà kế toái
cung cấp là kết quả sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa họi
của mình Hệ thống các thông tin sử dụng để ra các quyết địnỉ
được thu từ nhiều nguồn khác rihau nhưng thông tin kê toán đónị
vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu được Các thônị
tin của kế toán phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của xã hội
(Xem sơ đồ 1.2)
Trang 10Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ốl TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 11
- Trước hết, thông tin kế toán phục vụ cho các nhà quản lý Thông qua việc phân tích các thông tin kế toán, ban giám đốc (hoặc hội đồng quản trị, chủ doanh nghiệp) đưa ra các quyết định phù hợp (định ra các kê hoạch, dự án và kiểm tra việc thực hiện chúng )
- Đôi với những người có lợi ích trực tiếp với đơn vị kê toán như : nhà đầu tư, những chủ nợ, thông tin kế toán sẽ giúp họ lựa chọn môi quan hệ phù hợp để có các quyết định về vấn đề đầu tư, bán hàng, mua hàng đem lại hiệu quả cao
- Đối với Nhà nước, thông qua kiểm tra, tổng hợp các sô liệu kế toán giúp Nhà nước nắm được tình hình doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các đơn vị từ đó hoạch định các chính sách, soạn thảo các luật lệ về thuế, chính sách đầu tư thích hợp
Sơ đồ 1.2 : Các dôi tượng sử dụng thông tin kê toán.
1.1.4 Sự RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIEN c ủ a k ế t o á n
liền với sự hình thành và phát triển của đời sống kinh tế, xã hội loài người từ thâp lên cao mà khởi điểm là sản xuât hàng hóa
Trang 1112 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỘNG CỦA HẠCH TOÁN KT
Trong hoạt động sản xuất bất cứ ở đâu và lúc nào, con người luôn
ý thức được mục đích công việc mình làm, cũng hiếu được kết qua
và hao phí cho mỗi hoạt động sản xuât cụ thể, luôn tích lũy những kinh nghiệm nhằm rút ra những bài học cho mỗi hoạt động hữu ích này Vì vậy, trong mọi hoạt động, con người luôn tìm cách làm những dấu hiệu ghi lại kết quả những hoạt động của mình không kể đó là hoạt động xã hội hay riêng lẻ Tuy nhiên, quá trình sản xuất càng phát triển thì yêu cầu đối với kê toán ngày càng cao, điều này đã được c Mác viết : "Kế toán như là phương tiện kiểm soát và tổng kết quá trình sản xuất trên ý niệm càng trở nên cần thiết chừng nào mà quá trình càng có một quy mô
xã hội, càng mất dần tính chất thuần túy cá thể Cho nên kê toán càng cần thiết đôi với sản xuât tư bản chủ nghĩa hơn là đối với sản xuất phân tán của thợ thủ công và nông dân, líỹ càng cần thiết đối với sản xuất công cộng hơn là sản xuất tư bản chu nghĩa"* H
Ở một đoạn khác c Mác cùng khẳng định : "Trong tất cả các hình thái xã hội người ta đều phải quan tâm đến thời gian cần dùng để sản xuất tư liệu tiêu dùng nhưng mức độ quan tâm
có khác tùy theo trình độ của nền văn minh"*2*
Thật vậy, sản xuất càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất càng cao thì lượng thông tin lưu truyền càng lớn và đòi hỏi tính chính xác của các quyết định càng cao đồng thời khả năng thu nhận thông tin và kiểm tra cũng tăng lên Do đó, sản xuất càng phát triển thì kế toán cũng phát triển theo, hạch toán
kế toán ở hình thái kinh tê xã hội sau được phát triển hơn hình thái kinh tê xả hội trước
Ớ hình thái xã hội công xã nguyên thủy, nền sản xuất xã hội chưa phát triển, nhu cầu và khả năng thu nhận thông tin
(1) C.Mác, "Tư bản ", quyên 2, tập 1, trang 174 - 175.
(2) C.Mác, "Tư bản ", quyển 1, tập 1, trang 174 - 175.
Trang 12Ch 1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN KT 13
chưa nhiều, kế toán được tiến hành bằng các phương thức hết sức giản đơn như : người ta đánh dấu trên các thân cây, buộc nút trên các dây thừng đê ghi nhận những thông tin cần thiết Do trình độ sản xuất còn lạc hậu nên xã hội chưa có của cải dư thừa, chưa hình thành các giai cấp khác nhau nên trong thời kỳ này
kê toán được sử dụng phục vụ lợi ích toàn xã hội
Sản xuất xả hội phát triển, hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ hình thành thay thê hình thái kinh tế xã hội công xã nguyên thủy Trong hình thái này đã có sự phân công lao động
xã hội, sản xuất phát triển hơn, của cải làm ra đã có dư thừa, sản xuất và trao đổi hàng hóa được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng trên phạm vi ngày càng mở rộng đã dẫn đến
sự ra đời của tiền tệ Trong giai đoạn này, nhiệm vụ và ý nghĩa của hạch toán kê toán cũng thay đồi Nó được sử dụng trong các trang trại đế theo dõi kết quả sử dụng nô lệ, trong các phòng đối tiền, trong các nhà thờ và trong các lãnh vực tài chính Nhà nước, để theo dõi các nghiệp vụ về giao dịch, thanh toán và buôn bán, Số kế toán đã xuất hiện với phương pháp ghi chép ghi đơn thay cho cách đánh dấu ở hình thái kinh tế xã hội công
xã nguyên thủy
Đên hình thái kinh tê xã hội phong kiến, sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp với quy mô lớn gắn liền với sự ra đời của địa chủ và nông dân, với sự ra đời của địa tô phong kiến, với chê độ cho vay nặng lãi của địa chủ đối với nông dân, những quan hệ kinh tê mới này đã tác động đến sự phát triển của kê toán với hệ thông sổ kê toán phong phú hơn và chi tiết hơn đế ghi chép, phản ánh các hoạt động sản xuất, giao dịch, trao đổi, buôn bán đa dạng
Trong hình thái kinh tê xã hội phong kiến, nền sản xuât hàng hóa tuy phát triên nhưng còn mang tính chất phân tán nên
kê toán ở thời kỳ này cũng chỉ mới phát triển trong chừng mực
Trang 1314 Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ỗ l TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
nhất định Đáng chú ý là hình thái kinh tê xã hội tư bản chu nghĩa với sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp và sau
đó là công nghiệp đòi hỏi kế toán phải có sự phát triển mới đế hạch toán các mối quan hệ trao đổi, mua bán được mở rộng cũng như các mối quan hệ nảy sinh trong quá trình vận động cua các
tư bản cá biệt Sự xuất hiện của các đối tượng mới này của kê toán lại là nguồn gốc cho sự ra đời của phương pháp đối ứng tài khoản trong kế toán Tài liệu lịch sử đã chứng minh rằng lý luận
"ghi sổ kép" đả ra đời cùng với sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp vào giữa thế kỷ thứ XV và được ứng dụng rộng rãi trong thời kỳ tư ban chủ nghĩa thế kỷ XVI - XVII trở đi.(1)
Cũng từ đó, phương pháp kế toán đã được hình thành và ứng dụng rộng rãi gồm một hệ thông hoàn chỉnh : chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp và cân đối kế toán
Vào thê kỷ 19, việc nghiên cứu lý thuyết kê toán càng ngày càng rộng mở, có nhiều khuynh hướng không giống nhau ra đời
Vì vậy cần phải có một văn bản pháp lý thông nhất về kế toán
để phục vụ các mục đích của các nhà quản trị Chính vì vậy các chuẩn mực kế toán bắt đầu ra đời vào khoảng những năm đầu thế kỷ 20 Năm 1925, Nga đã ban hành một hệ thống tài khoản
kế toán thống nhất, trong đó thống nhất về tài khoản sử dụng,
về nguyên tắc và phương pháp kê toán cho các doanh nghiệp Theo sau Nga, chuẩn mực kế toán của các nước lần lượt ra đời như : Đức (1937), Mỹ (1939)
Vào thập kỷ 70, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế thị trường ở các quốc gia theo xu hướng mở cửa, thu hút vỗn đầu tư nước ngoài, hình thành sự liên kết kinh tê của các quốc gia và các dạng tố chức kinh tê thê giới, hoạt động kế toán không còn là vấn đề mang tính quốc gia mà cần phải được giải quyết ồ
(1) Xun - Xốp : SGK nguyên lý hạch toán kế toán, NXB CTQG, Mát-cơ-va, trang 10.
Trang 14Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ố l TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 15
tầm cỡ và quy mô quốc tế Nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất hóa các chuẩn mực kê toán quôc gia
và hình thành Chuẩn mực kê toán quốc tế làm cơ sở ghi chép kê toán, lập và trình bày Báo cáo tài chính ở các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu, giúp cho việc tống hợp báo cáo, so sánh và hiểu được thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính
Năm 1973, Chuẩn mực kê toán quốc tế (IAS - International Accouting Standard) được ban hành bởi úy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế Sau đó các chuẩn mực kế toán quốc tế được xem xét sửa đối một số lần cho phù hợp với yêu cầu thực tế Chuẩn mực
kê toán quốc tế tạo ra ngôn ngữ chung, thể hiện các quy định mang tính phổ biến, hài hòa giữa các quốc gia trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính có khả năng so sánh cao và được rông nhận trên quốc tế Do đó, Chuẩn mực kế toán quốc tế là một điều kiện vô cùng thuận lợi cho các nước trên thế giới, làm tiền tảng xây dựng Chuẩn mực kế toán của quốc gia mình
tiành với lịch sử phát triển kinh tế và chính trị của đất nước Trước năm 1945, hệ thông kê toán Việt Nam được thừa hưởng
từ thời Pháp thuộc Hệ thống đó tiếp tục tồn tại ngay cả khi thời
íỳ thực dân đô hộ đã kết thúc năm 1954
Vào những năm 1960, Việt Nam gia nhập khối các nước xã nội chủ nghĩa và du nhập hệ thống kê toán từ những nước này, đặc biệt là từ Liên Xô và Trung Quốc Vào giữa những năm 1980,
từ khi có chính sách đổi mới", hệ thống kê toán Việt Nam bắt đầu chịu ảnh hưởng từ các nước phát triển
Từ năm 1995 đến năm 2001, chính sách phát triển kinh tế theo hướng hội nhập quôc tê đòi hỏi Việt Nam phải cung câp và cho phép tiêp cận với một hệ thông luật pháp đầy đủ và những
hệ thống Báo cáo tài chính và kế toán minh bạch Trong quá
Trang 1516 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN K
trình hội nhập, thông qua các công ty đa quốc gia đầu tư vào Việ Nam, những hệ thống kế toán chuyên nghiệp của quốc tê dầi dần du nhập vào Việt Nam và cung cấp cho những nhà làm luậ
và các kế toán viên chuyên nghiệp nhiều ví dụ về mô hình k' toán quốc tế
Cải tiến hệ thống kê toán tại Việt Nam thực sự bắt đầu ti năm 1995 được thể hiện ở những mốc quan trọng sau :
- Quyết định 1141-TC/QĐ-CĐKT, ngày 01/11/1995, ba] hành hệ thống kế toán cho doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọ thành phần kinh tế
- Năm 1998, khởi động xây dựng Chuẩn mực kế toán Việ Nam (VAS - Vietnamese Accouting Standard)
- Năm 2000, thành lập Hội đồng kế toán quốc gia
Hệ thống kế toán giai đoạn này trên cơ bản đã hoàn thiệi hơn và đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin cho các bên liêi quan, và bước đầu đã tiếp cận với Chuẩn mực kế toán quôc tê Tuy nhiên, tính minh bạch và độ tin cậy của hệ thông kê toái Việt Nam chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu các nhà đầu tư nứơ< ngoài Vì thế, đòi hỏi các chuyên gia về kê toán phải tiếp tụt hoàn thiện hơn nữa hệ thống kê toán
Với sự hỗ trợ của Liên Minh Châu Âu, Bộ Tài Chính, cụ thí
là Vụ Chế độ kế toán đã soạn thảo và ban hành Chuẩn mực ké toán Việt Nam Chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành dựa trêr Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), nay gọi chung là Chuẩn mựi Báo cáo tài chính quốc tê (IFRS - International Financial Reporting Standard) Cho đến nay Chuẩn mực kế toán Việt Nain
đã ban hành 5 đợt :
- Đợt 1 : Ban hành theo Quyết định sô 149/2001/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 31/12/2001, gồm 4 chuẩn mực
Trang 16Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN KT 17
- Đợt 2 : Ban hành theo Quyết định sô 165/2002/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 31/12/2002, gồm 6 chuẩn mực
- Đợt 3 : Ban hành theo Quyết định sô 234/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 30/12/2003, gồm 6 chuẩn mực
- Đợt 4 : Ban hành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 15/02/2005, gồm 6 chuẩn mực
- Đợt 5 : Ban hành theo Quyết định sô 100/2005/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 28/12/2005, gồm 4 chuẩn mực
Sau 5 đợt ban hành Chuẩn mực kê toán Việt Nam, ngày 20 tháng 3 năm 2006, Quyết định sô 15/2006/QĐ-BTC về ban hành Chế độ Kê toán doanh nghiệp, đã hệ thông hóa lại một cách toàn diện chế độ kê toán Việt Nam
1 2 YÊU CẦU VÀ NHIỆM v ụ CỦA KẾ TOÁN
1.2.1 NHIỆM VỤ CUA KẼ TOÁN
Để cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu quản lý của các đơn
vị kinh tế, các cơ quan Nhà nước và các đối tượng khác, kê toán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau :
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng
và nội dung công việc kê toán theo chuẩn mực và chê độ kế toán
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa
vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiếm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về kê toán
- Phân tích thông tin, sô liệu kế toán; tham mưu, đề ximtcác giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và các quyết định kinh
tế, tài chính của đơn vị kê toán
- Cung cấp thông tin, số lifeiĐkểH&á^ití^Gí|WẦỈÌJ& của
Trang 1718 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỔI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN K
Quy định về nhiệm vụ của kê toán đã khẳng định kê toái trước hết phải là công cụ quản lý của từng đơn vị kế toán nhằn cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin cần thiết về toàr
bộ hoạt động của doanh nghiệp để ra quyết định quản lý Đồnị thời, những quy định trên còn cho thấy kế toán là công cụ gián sát của Nhà nước đốì với hoạt động của đơn vị kế toán
1.2.2 YÊU CẦU ĐỐI VỚI KẾ TOÁN
Để thực hiện những nhiệm vụ quy định của kế toán và nhằn đưa ra những quyết định kinh tế, kế toán cần phải đáp ứng mộ sô" yêu cầu nhất định :
phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất, nội dunị
và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Đảm bảo yêu cầu này thì kế toán mới có thể cung cấp đưự'
các thông tin kế toán đáng tin cậy phục vụ yêu cầu quản lý (giÚỊ
các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà quản lý trong và ngoà đơn vị nhận thức đúng thực trạng về hoạt động SXKD và tìrứ hình tài chính của đơn vị, từ đó đưa ra các quyết định phù hợj đảm bảo cho đơn vị hoạt động có hiệu quả hơn) Ngoài ra, thônị tin chính xác còn có ý nghĩa bảo vệ tài sản của đơn vị (vì mỗ
số liệu của kê toán đều liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ củí nhiều người)
phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyêr tạc, không bị bóp méo Thực ra, yêu cầu khách quan đã được ba( hàm trong yêu cầu trung thực
phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và bác cáo đầy đủ, không bị bỏ sót
Trang 18Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN KT 19
Chỉ khi được báo cáo đầy đủ các nhà quản lý mới có thế phân tích, đánh giá, nhận thức đúng thực trạng của đơn vị và từ
đó đưa ra quyết định thích hợp với từng mặt hoạt động cũng như toàn bộ hoạt động của đơn vị nhằm đem lại hiệu quả cao cho đơn
vị và xã hội
phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định không được chậm trễ
Tài liệu kế toán cung cấp phải kịp thời mới có tác dụng thiết thực trong công tác điều hành hoạt động SXKD, giúp các nhà quản lý kinh tê đưa ra các quyết định kinh tê sát đúng với thực
tê và xu hướng phát triển của đơn vị Để cung cấp thông tin kịp thời, bên cạnh việc tính toán, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ kê toán kịp thời, khóa sổ, lập và nộp báo cáo
kê toán theo đúng thời gian quy định, đơn vị còn cần có kế hoạch
và thực hiện tốt công tác trang bị và ứng dụng các phương tiện
kỹ thuật ghi chép, tính toán hiện đại
toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở đây được hiểu là người hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải đựơc giải trình trong phần thuyết minh
liệu kê toán giữa các kỳ kê toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh với nhau khi chúng được tính toán và trình bày nhất quán Trường hợp không nhất quán thì giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch
Trang 1920 Ch.1 : BẢN CHẤT, Đốl TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KI
Việc so sánh được giữa sô liệu kỳ này với : số liệu kê hoạch
số liệu kế toán kỳ trước, số liệu kế toán giữa các đơn vị tronị cùng một ngành, một lãnh vực sẽ giúp các nhà quản lý kiểm tri tình hình thực hiện kế hoạch, xác định được xu hướng biến độnị
và phát triển của đơn vị, giúp họ đánh giá được môi tương quar giữa các đơn vị trong cùng một ngành, một lãnh vực Đồng thờ cũng giúp cho việc tống hợp tài liệu phục vụ điều hành và quár
lý trong phạm vi ngành, lãnh vực và toàn bộ xã hội
Các yêu cầu trên đối với công tác kế toán là cần thiết khácl quan bảo đảm cho kê toán thực hiện được nhiệm vụ quy địnỉ theo Luật kế toán Những yêu cầu đó cũng phù hợp với thông l( quốc tế
1.3 ĐỐI TƯỢNG CỦA KỂ TOÁN
Nghiên cứu đối tượng của kê toán là xác định những nộ dung mà kế toán phải thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin Đô tượng của kế toán là một trong những nội dung của quá trình tá sản xuất xã hội Khác với các môn khoa học kinh tê khác, đô tượng nghiên cứu của kế toán là quá trình sản xuất kinh doanl thông qua sự hình thành và vận động của tài sản trong một đơr
vị cụ thể nhăm quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản theo phạn
vi sử dụng nhất định Có thể cụ thể hóa đặc điểm của đối tượnị
kế toán như sau :
- Kế toán nghiên cứu các yếu tố của quá trình tái sản xuấitrên góc độ tài sản và nguồn hình thành các tài sản
- Kế toán không chỉ nghiên cứu tài sản ở trạng thái tĩnh
mà còn nghiên cứu sự vận động liên tục của tài sản trong quátrình kinh doanh của các đơn vị
- Trong hoạt động kinh doanh của các đơn vị ngoài các môi quan hệ trực tiếp liên quan đến tài sản của đơn vị còn phát sinh
Trang 20Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỘNG CỦA HẠCH TOÁN KT 21
cả những mối quan hệ kinh tê - pháp lý ngoài tài sản của đơn
vị như : sử dụng tài sản cô định thuê ngoài, nhận vật liệu gia công chê biến, Những mối quan hệ này cũng đặt ra nhu cầuphải giải quyết trong kê toán
- Phạm vi biểu hiện của đối tượng nghiên cứu của kê toán
là các đơn vị kinh tế cơ sở của nền kinh tế Việc nghiên cứu quá trình tái sản xuât trong phạm vi các đơn vị kinh tê này có ý nghĩa lớn về nhiều mặt, đồng thời cho chúng ta khả năng tổng hợp những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu quá trình sản xuất trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế
- Ngoài các đơn vị kinh tế, các đơn vị sự nghiệp tuy không phải là những đơn vị kinh doanh nhưng tham gia vào từng khâu của quá trình tái sản xuất xâ hội (trực tiếp hoặc gián tiếp) được giao một sô vôn nhất định và cần sử dụng đúng mục đích có hiệu quả vì vậy các đơn vị này cũng thuộc phạm vi nghiên cứu của kê toán
Để hiểu rõ hơn đôi tượng nghiên cứu của kế toán cần đi sâu nghiên cứu hai mặt biếu hiện của tài sản là kết cấu của tài sản
và nguồn hình thành tài sản một cách cụ thể và sau đó là quá trình tuần hoàn của tài sản trong các đơn vị SXKD
1.3.1 KẾT CẤU CỦA TÀI SẢN
Bât cứ một đơn vị kinh tế nào muôn tồn tại và duy trì hoạtđộng cần có một lượng tài sản nhất định Vậy tài sản là gì ?Theo chuẩn mực kê toán 01 "Chuẩn mực chung" : Tài sản (Assets) của doanh nghiệp là nguồn lực do doanh nghiệp kiếm soát và có thể thu được lợi ích kinh tê trong tương lai
Tuy nhiên, chỉ có những nguồn lực nào thuộc quyền kiểm soát của đơn vị, mà nó được hình thành từ các giao dịch hoặc các
sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng mới được gọi là tài sản của đơn vị Các giao dịch
Trang 2122 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN K
hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làn tăng tài sản của đơn vị
Nghiên cứu tài sản của đơn vị về mặt kết cấu là xem tà sản của đơn vị gồm những gì và được phân bổ như thê nào Tù’ vào đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mà tà sản được phân chia thành các nhóm khác nhau nhưng về cơ bá ĩ tài sản được chia thành hai nhóm là tài sản ngắn hạn và tài sải dài hạn
• Tài sản ngắn hạn : là những nguồn lực do doanh nghiệ]
kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai Tà sản ngắn hạn bao gồm tiền, các khoản tương đương tiền và cá' tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền hoặc có thể bán ha;
sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bìnl thường của doanh nghiệp như các khoản đầu tư tài chính ngắi hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắi hạn khác
• Tài sản dài hạn : là những nguồn lực do doanh nghiệỊ
kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, c< thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi trên một năm hoặc hơi một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp
Chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp là khoảng thời gian ti khi mua vật liệu tham gia vào một quy trình sản xuât đến kh chuyển đổi thành tiền hoặc tài sản dễ chuyển đổi thành tiền
Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản phải thi dài hạn, tài sản cô định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu ti tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác
Có thể khái quát việc phần nhóm tài sản của đơn vị qua S(
đồ 1.3
Trang 22Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 2 3
Sơ đồ 1.3 : Kết cấu tài sản.
Trong các đơn vị sản xuất khác nhau, kết cấu các tài sản :ũng khác nhau và trong từng đơn vị kết cấu tài sản cũng thường tuyên thay đổi Để hoạt động SXKD của đơn vị có hiệu quả cao :ần phải nghiên cứu sao cho kết cấu tài sản của đơn vị hợp lý, jhù hợp với điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ hoạt động của iơn vị
Trang 2324 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỘNG CỦA HẠCH TOÁN K
Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã quí
như mua hàng hóa chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanl
toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hóa, cam kết nghĩa vụ hợj
đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác Nợ phả
trả của đơn vị được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
trả trong vòng một năm hoặc một chu kỳ hoạt động kinh doanl
bình thường của đơn vị bao gồm : vay và nợ ngắn hạn, phải tr<
người bán, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
năm hoặc hơn một chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thườnỊ
của đơn vị như phải trả dài hạn người bán, phải trả dài hạn nộ
- Vốn đầu tư của chủ sở hữu (CSH) phản ánh toàn bộ vối
của chủ doanh nghiệp, vốn góp, vốn cổ phần, vốn Nhà nước
- Thặng dư vốn cổ phần là số chênh lệch giữa giữa giá thự
tế phát hành với mệnh giá cổ phiếu
- Chênh lệch đánh giá lại tài sản là chênh lệch giữa giá tr
ghi sổ của tài sản với giá trị đánh giá lại tài sản khi có quyê
định của Nhà nước, khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp Nh;
nước hoặc các trường hợp khác theo quy định (như khi chuyểi
đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp )
- Chênh lệch tỷ giá hối đoái gồm : chênh lệch tỷ giá hô
đoái thực tế phát sinh trong kỳ của hoạt động đầu tư xây dựnj
Trang 24Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 2 5
cơ bản (XDCB) (giai đoạn trước hoạt động) và chênh lệch tỷ giá hối đoái thực tê phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh,
kể cả của hoạt động đầu tư XDCB của doanh nghiệp sản xuâ't, kinh doanh vừa có hoạt động đầu tư XDCB
- Quỹ đầu tư phát triển được trích lập từ lợi nhuận sau thuê thu nhập doanh nghiệp và được sử dụng vào việc đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư theo chiều sâu của doanh nghiệp
- Các quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu được hình thành từ lợi nhuận sau thuê thu nhập doanh nghiệp và được sử dụng vào việc khen thưởng hoặc các mục đích khác phục vụ công tác điều hành của Ban giám đốc, Hội đồng quản trị
- Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do công ty phát hành và được mua lại bởi chính công ty phát hành, nhưng nó không bị hủy bỏ
và sẽ được tái phát hành trở lại trong khoảng thời gian theo quy định của luật chứng khoán Các cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ không được nhận cổ tức, không có quyền bầu cử hay tham gia chia phần tài sản khi công ty giải thể Khi chia cổ tức cho các
cổ phần, các cổ phiếu quỹ do công ty nắm giữ được coi là cổ phiếu chưa bán
- Lợi nhuận chưa phân phôi là lợi nhuận sau thuê chưa chia cho chủ sở hữu hoặc chưa trích lập các quỹ
- Quỹ khen thưởng phúc lợi được trích lập từ lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp và được dùng để khen thưởng, khuyến khích lợi ích vật chât, phục vụ nhu cầu phúc lợi công cộng, cải thiện và nâng cao đời sông vật chất, tinh thần của người lao động
- Nguồn kinh phí, nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ
Trang 2526 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
Có thể khái quát nguồn hình thành tài sản qua sơ đồ 1.4 :
Sơ đồ 1.4 : Kết cấu nguồn hình thành tài sản.
Trong từng thời kỳ hoạt động nhu cầu vôn của đơn vị có sự khác nhau Do đó, để đảm bảo cho đơn vị hoạt động có hiệu quẩ cao, các nhà quản lý cần nhận thức và phải có biện pháp khai thác, huy động triệt để các nguồn vốn
Môi quan hệ giữa tài sán và nguồn vốn trong một đơn vị
k ế toán :
Ở mỗi đơn vị kê toán, về mặt lượng tổng giá trị tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn hình thành tài sản vì một tài sản có thể được hình thành từ một hoặc nhiều nguồn khác nhau và ngược lại một nguồn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều loại tài sản Do đó, ta luôn có phương trình kế toán sau :
TỔNG TÀI SẢN = TỔNG NGUỒN VỐN
Trang 26Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN KT 27
TỔNG NGUỒN VỐN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ s ở HỮU
TỔNG TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ s ở HỮU
VỐN CHỦ SỞ HỮU = TỔNG TÀI SẢN - NỢ PHẢI TRẢ
Phương trình kế toán này thể hiện tính cân bằng về mặt
lượng luôn được duy trì giữa giá trị tài sản và nguồn hình thành
tài sản tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình SXKD và tại
bất cứ đơn vị nào
Trong thực tế, phương trình kế toán nói trên được vận dụng
đế lập Bảng cân đối k ế toán Đây là một trong những báo cáo
tài chính quan trọng, cung cấp thông tin về tình hình tài sản và
nguồn hình thành tài sản của các đơn vị kế toán Ví dụ sau đây
sẽ làm rõ hơn về tính cân đối của tài sản và nguồn vốn
của đơn vị kê toán ABC như sau :
(ĐVT : triệu đồng)
1 Quỹ đầu tư phát triển f i V 295 12 Chi phí SXKD dở dang ' 185
3 Phải thu của khách hàng 770 14 Thuế & các khoản PN NN 580
4 Nguồn vốn kinh doanh 10.500 15 Vốn góp liên doanh 950
1
5 Hao mòn TSCĐ hừu hình 1.105 16 Tiền gửi ngân hàng 1.750
6 Phải trả người lao động 240 17 Chi phí phải trả 435
7 TSCĐ hữu hình 9.960 8 Phải trả người bán 810
8 Nguyên liệu, vật liệu
r , /
10 ThuếGTGT được khâu trừ 200
._ - .
11 Nhận ký quỹ, ký cược DH 175
ì
Trang 2728 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
2 Tiền gủi ngân hàng 1.750 2 Thuế & các khoản PN NN 580
3 Phải thu của khách hàng 770 3 Phải trả người lao động 240
4 Thuế GTGT được khấu trư 200 4.Chi phí phải trả 435
5 Tạm ứng s j 165 5 Tài sản thừa chờ giải quyết 85
6 Nguyên liệu, vật liệu 880 6 Vay dài hạn 1.850
7 Chi phí SXKD dở dang 185 7 Nhận ký quỹ, ký cược DH 175
9 TSCĐ hữu hình 9.960 9 Quỹ đầu tư phát triển 295
10 Hao mòn TSCĐ hữu hình (1.105) 10 Lợi nhuận chua phân phôi 455
1.3.3 QUÁ TRÌNH TUẦN HOÀN CỦA TÀI SÀN
Trong quá trình SXKD, tài sản của các đơn vị không ngừng vận động qua các giai đoạn khác nhau Qua mỗi giai đoạn vận
Trang 28Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỘNG CỦA HẠCH TOÁN KT 29
động, tài sản thay đối về hình thái vật chất và lượng giá trị Sự
biến đối về hình thái tồn tại của tài sản chủ yếu phụ thuộc vào
chức năng của từng đơn vị
- Đốì với đơn vị sản xuất : chức năng là sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làm ra c Mác đã nêu công thức chung về tuần
hoàn của tư bản sản xuất qua ba giai đoạn : giai đoạn cung câp
(mua hàng), giai đoạn sản xuất và giai đoạn tiêu thụ (bán hàng) :
T - H .s x H’ - T \
Trong giai đoạn cung cấp, dựa theo phuơng án sản xuất đã
lựa chọn và khả năng thực tê của thị trường, các đơn vị phải sử
dụng tiền đế mua sắm những tư liệu sản xuât cần thiết (nguyên
liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ, trang thiết bị, ) để thực hiện kế
hoạch sản xuất Kết quả là tài sản dưới hình thái tiền tệ được
chuyến thành tài sản dự trữ cho sản xuất
Giai đoạn sản xuât là giai đoạn kết hợp giữa lao động, tư
liệu lao động và đôi tượng lao động để tạo ra sản phẩm Trong
giai đoạn này luôn tồn tại hai mặt đối lập là chi phí chi ra (chi
phí về lao động sông, về khâu hao TSCĐ, về nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ) và kết quả thu được (thành phẩm hoặc khối
lượng công việc hoàn thành, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang)
Yêu cầu cơ bản của chế độ hạch toán kinh doanh là mỗi đơn vị
phải tự bù đắp chi phí bằng kết quả kinh doanh của mình và
đảm bảo có lãi Như vậy, ở giai đoạn này tài sản không chỉ biến
đổi về mặt hình thái mà còn thay đổi về lượng giá trị, tạo ra
lượng giá trị mới của sản phẩm
Cuối cùng là giai đoạn tiêu thụ : thành phẩm biến đổi thành
tiền hoặc có thể biến đổi thành khoản phải thu sau một thời gian
mới biên đối thành tiền (T’) So với sô tiền ứng ra ban đầu (T)
thông thường (T’ > T) và T’ - T = lợi nhuận Phần chênh lệch
này theo phân tích của c Mác được sáng tạo ra ở khâu sản xuất
Trang 2930 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
và được thực hiện ở khâu tiêu thụ Đây là kết quả tài chính của đơn vị kế toán Kết quả này được phân phối trên cơ sở kết hợp giữa ba lợi ích : lợi ích Nhà nước, lợi ích các đơn vị và lợi ích của người lao động Sự vận động của tài sản tại các đơn vị sản xuất theo các giai đoạn chủ yếu như trên gọi là sự tuần hoàn của tài sản
- Đối với các đơn vị kinh doanh thương mại : thực hiện
chức năng mua, bán hàng hóa Tài sản trong lãnh vực hoạt động này vận động như sau : T - H - T ’, có nghĩa là tài sản vận động qua 2 giai đoạn Giai đoạn 1, tài sản dưới hình thái tiền tệ chuyến thành hàng hóa dự trữ cho tiêu thụ và giai đoạn 2, hàng hóa chuyển thành tiền hay khoản phải thu của người mua Thông thường T’ > T và T’ - T = Lợi nhuận Theo c Mác đây là phần lợi nhuận tạo ra ở khâu sản xuất nhưng được thực hiện và chuyến nhượng ở hoạt động lưu thông qua hình thức chiết khấu Sự vận động của tài sản ở các đơn vị kinh doanh thương mại như trên cũng mang tính tuần hoàn
- Đối với các đơn vị kinh doanh tiền tệ : tài sản vận động
không thay đổi hình thái vật chất nhưng vẫn lớn lên sau các quá trình vận động T-T\ Theo c Mác đây là phần giá trị do các đơn
vị sử dụng tiền vay “nhượng lại” cho các tổ chức tín dụng Tương
tự như vậy là hoạt động tài chính công song ở đây không có mục tiêu sinh lời
Như vậy, trong bất kỳ một đơn vị kinh doanh nào, tài sản cũng vận động liên tục qua các giai đoạn khác nhau Nếu tính từ một hình thái tồn tại cụ thể nhất định, sau một quá trình vận động, tài sản trở lại hình thái ban đầu được gọi là một vòng tuần hoàn hay một vòng chu chuyển hay một chu kỳ hoạt động
Chu kỳ hoạt động của đơn vị sản xuất, thương mại và kinh doanh tiền tệ được thể hiện khái quát qua sơ đồ (1.5) ; (1.6) ;
(1.7) :
Trang 30Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 31
Sơ đồ 1.5 : Chu kỳ hoạt dộng của đơn vị sản xuất.
Quá trình cung cấp
Tiền - ► Nguyên vât liêu, công cu, dung cu
Á
Quá trình sản , xuất
Khoản phải thu 4 - Thành phẩm
Quá trình tiêu thụ
Sơ đồ 1.6 : Chu kỳ hoạt động của đơn vị thương mại.
Giai doạn mua hàng
Trang 3132 Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ố l TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
Trong quá trình tuần hoàn, tài sản không chỉ biến đôi về hình thái vật chất mà quan trọng hơn là biến đổi về lượng giá trị (trừ trường hợp huy động thêm vốn) Giá trị tăng lên của tài sản là mục tiêu của các đơn vị nhằm tăng thêm nguồn vốn chủ
sở hữu sau khi thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý của đơn vị đối với Nhà nước Những thông tin về sự biến đổi lượng giá trị
‘rất cần thiết cho việc tìm ra phương hướng và biện pháp thường xuyên nâng cao hiệu quả của quá trình tái sản xuất - quá trình vận động và lớn lên của tài sản Vì vậy, quá trình tuần hoàn của tài sản là đôi tượng của kê toán
Ngoài ra, trong hoạt động kinh doanh của mình, các đơn vị phải giải quyết hàng loạt các mối quan hệ kinh tế, bên cạnh những quan hệ kinh tế chủ yếu liên quan đến việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của đơn vị (hoặc tài sản được giao sử dụng lâu dài với đơn vị Nhà nước)
Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, các mối quan hệ kinh tế pháp lý phát sinh ngày càng nhiều
và phức tạp có liên quan và ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của hầu hết các tổ chức kinh tế Các mối quan hệ kinh tế pháp
lý này còn được quan niệm là những môi quan hệ không chuyển quyền sở hữu
Thuộc các mối quan hệ này thường bao gồm bôn loại chủ yếu sau :
- Các mối quan hệ phát sinh do hợp đồng kinh tê chuyến
giao quyền sử dụng như : nguyên vật liệu nhận gia công chế biến, sản phẩm, hàng hóa nhận giữ hộ, bao bì vật liệu đóng gói gắn liền với hàng hóa phải hoàn lại người bán
- Các mối quan hệ kinh tế gắn liền với nghĩa vụ trách nhiệm của các tổ chức kinh tê như : trách nhiệm trong việc bảo hành
Trang 32Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 33
sản phẩm, hàng hóa, trong việc bảo vệ tài sản, bản vẽ, kim loại quý hiếm,
- Các mối quan hệ thuần túy về nghĩa vụ của đơn vị trong việc sử dụng của cải xã hội như : trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường thiên nhiên, trong việc sử dụng tài nguyên và cơ sở vật chất - kỹ thuật của xã hội
- Các mối quan hệ nội bộ đặc biệt là đánh giá cống hiến và hưởng thụ từng nhóm, từng người lao động trong các lĩnh vực hoạt động thuộc các thành phần kinh tê khác nhau
Những thông tin về mối quan hệ này rất cần thiết trong việc quản lý cả ở tầm vĩ mô và ở tầm vi mô Tuy nhiên, cho đến nay chỉ có loại quan hệ thứ nhất được kế toán theo dõi ở những tài khoản ngoài bảng
Từ những điểm đã trình bày ở trên cho thấy đối tượng kế toán là tài sản và nguồn hình thành tài sản cũng như quá trình tuần hoàn của những tài sản đó qua các giai đoạn nhất định của quá trình tái sản xuất và các quan hệ kinh tế pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị
Trang 33Ch 1 : BẢN CHAT, ĐỐI TUONG CỦA HACH TOAN KI
- Mỗi đối tưựn^ cụ t h ê cua kê toán đỏu gan liền trực ÚÕỊ
đến lợi ích kinh tế, đến quyồn lợi và trách nhiệm cua nhiéu phi; khác nhau
Trôn cơ sớ phương pháp luận duy vật hiện chứng và nhữn< đặc đi êm CƯ ban cùa đôi tượng kỏ toán đù hình thành hị* t liõ II < phương pháp kế toán gổm những phương pháp sau :
- Chứng từ kê toán là phương pháp thông tin và kit‘ 111 tr,
sự hình thành các nghiệp vụ kinh tê, tài chính cụ thê
- Kiếm kê ké toán là phương pháp xác định sỏ hiện có cu; các loại tài san nhàm đám báo cho sỏ liệu kê toán phán ánl đúng tình hình tài san cua đơn vị
- Tài khoán là phương pháp phân loại và hộ thông hỏa CíI
nghiệp vụ kinh tỏ, tài chính phát sinh nham theo dõi tình lùn! biến động cùa từng loại tài sán, nguồn vôn cua đưn vị
- Ghi sô kép là phương pháp phan ánh sự biến động cu, các đối tượng kế toán theo mối quan hộ khách quan giữa chún<
do nghiệp vụ kinh tê tài chính phát sinh tạo ra vào các tài khoai
kế toán
- Tính giá là phương pháp dùng tiền đê biếu thị giá trị cu; các loại tai san trong ctưn vị trên cơ sớ số lượng và chất lượn; cùa mồi tài sán cụ thê đó
Tống hựp và cân dôi kế toán là phưưng pháp tông hự|
tình hình tài sán và k ẽ l quá hoạt động kinh doanh cùa dơn V
theo từng thời kv nhất định bằng cách lập các báo cáo kê toái (báng cán dũi kế toán, báo cáo kêt quá hoạt động kinh cloanli
Mỏi phương pháp có vị trí, chức năng nhất định và giữ; chúng lại có mỗi quan hộ chặt chẽ với nhau tạo thành một h< thòng phương pháp kê toán Do đó trong công tác kê toán cá phương pháp này được sứ dụng tónịĩ hợp
Trang 34Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN KT 35
1 5 CÁC QƯY ĐỊNH VÀ NGUYÊN TAC k ể t o á n c ơ b ả n
1.5.1 CÁC QUY ĐỊNH
1.5.1.1 Đơn vị kê toán
Đơn vị kê toán là nơi diễn ra các hoạt động về kiêm soát tài sản, tiến hành các công việc thu nhận, xử lý, tống hợp báo cáo và cung cấp thông tin Các tô chức được hình thành theo luật pháp Nhà nước quy định, có thê là tố chức kinh doanh (công ty
cô phần, công ty tư nhân ) hoặc có thê là tô chức phi kinh doanh (bệnh viện, trường học )
Theo nguyên tắc này, các tài khoản kê toán mở ra sử dụng cho các tô chức chứ không phải cho những người sở hữu, người điều hành hoặc người liên quan đến tố chức
Đơn vị kê toán là đối tượng áp dụng Luật Kế toán và có lập báo cáo tài chính
1.5.1.2 Đơn vị tính sử dụng trong kê toán
Điều 11 Luật K ế toán quy định đơn vị tính sử dụng trong
kê toán như sau :
• Đơn vị tiền tệ
- Đơn vị tiền tệ là Đồng Việt Nam (Ký hiệu quốc gia là "đ",
ký hiệu quôc tế là VND) Trường hợp nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh là ngoại tệ, phải ghi theo nguyên tệ và quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hôi đoái thực tê hoặc quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tý giá hôi đoái do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công
bô tại thời điểm quy đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Trường hợp loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với Đồng Việt Nam thì phải quy đồi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hôi đoái với Đồng Việt Nam
Trang 3536 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
- Đơn vị kế toán chủ yếu thu, chi bằng ngoại tệ thì được
chọn một loại ngoại tệ do Bộ Tài chính quy định làm đơn vị tiền
tệ để ghi sổ kế toán nhưng khi lập báo cáo tài chính sử dụng ở Việt Nam phải quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bô' tại thời điểm khóa
sổ lập báo cáo tài chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Đơn vị hiện vật và đơn vị thời gian lao động là đơn vị chính thức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Trường hợp sử dụng đơn vị đo lường khác thì phải quy đối
ra đơn vị đo lường chính thức của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Những quy định của Luật Kê toán về đơn vị tính, chữ số sử dụng trong kê toán phù hợp với thông lệ quốc tê về kế toán; bảo đảm yêu cầu dễ hiểu, nhất quán, có thể so sánh được của kế toán; bảo đảm chủ quyền quốc gia về kế toán
1.5.1.3 Quy định về kỳ kế toán
Kỳ kế toán là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm đơn vị kế toán bắt đầu ghi sổ kế toán đến thời điểm kết thúc việc ghi sổ kế toán, khóa sổ để lập báo cáo tài chính
Hoạt động của đơn vị là lâu dài và liên tục nhưng các nhà
quản lý, các nhà đầu tư, cơ quan tài chính yêu cầu đơn vị cung
cấp cho họ các báo cáo tài chính theo định kỳ Để kịp thời cung cấp các thông tin cần thiết cho việc quản lý đơn vị, cho việc đưa
ra các quyết định chính xác với các đối tượng sử dụng thông tin
kế toán của đơn vị, kê toán phải chia hoạt động lâu dài của các
đơn vị thành nhiều kỳ có độ dài về thời gian bằng nhau để dễ
Trang 36Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 37
dàng so sánh, đánh giá và kiểm soát doanh thu, chi phí và lãi (lỗ) của từng kỳ
Nguyên tắc này dựa trên giả thuyết là hoạt động của đơn vị
sẽ ngưng lại vào thời điểm nào đó để kế toán có thể lập các báo cáo có tính chất tổng kết tình hình hoạt động trong thời gian đã qua và cung cấp các thông tin về kết quả đơn vị đạt được lúc cuôi kỳ
Kỳ kê toán gồm : kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý và kỳ kê toán tháng và được quy định cụ thể như sau :
- Kỳ kế toán năm là 12 tháng tính từ đầu ngày 01 tháng
01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch Các đơn vị kế toán
có đặc thù riêng về tổ chức hoạt động được chọn kỳ kế toán năm
là 12 tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 01 tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau và thông báo cho cơ quan tài chính biết
- Kỳ kế toán quý là 3 tháng, tính từ đầu ngày 01 tháng đầu
quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý
- Kỳ kế toán tháng là 01 tháng, tính từ đầu ngày 01 đến hết ngày cuối cùng của tháng
Trong trường hợp đơn vị mới thành lập, đơn vị kế toán khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, phá sản hoặc hết thời hạn hoạt động thì kỳ kế toán năm có thể không tròn năm
Để đảm bảo ý nghĩa và tác dụng của các báo cáo kế toán, doanh thu được hưởng và chi phí được trừ của doanh nghiệp phải được xác định theo từng kỳ nhất định Nếu không chỉ tiêu lãi lỗ của các kỳ sẽ bị tính sai
Kê toán không được khóa sổ và lập báo cáo vào trước ngày kết thúc của từng kỳ kế toán
Trang 3738 Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỐI TƯỢNG CỦA HACH TOÁN KT
1.5.2 CÁC NGUYÊN TẮC kê ' t o á n cơ b ả n
Những nguyên tắc cơ bán cúa kế toán là những nguyên tắc chung được thừa nhận trong công tác kế toán nhằm đạt các mục tiêu : dễ hiếu, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh các thông tin kế toán Các nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính hừu ích của thông tin kế toán đối với người sử dụng
Những nguyên tắc này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của những người thực hiện công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng như Bộ Tài chính, tổng cục Thông kê, các chuyên gia kê toán sau đó được thừa nhận như
là một quy luật, là một trong những vấn đề có tính pháp lệnh của công tác kê toán thống kê và triển khai áp dụng thống nhất
ở tất cả các đơn vị kinh tê trong phạm vi cả nước
Những nguyên tắc kê toán cơ bản được quy định trong Chuân mực Kê toán Việt Nam (VSA - Vietnamese Standards on Accounting) số 01 - "Chuấn mực chung" :
(a) Cơ sở dồn tích (Accrual Basis)
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, vôn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phái được ghi vào sổ kê toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tê thu hoặc thực tê chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai
(b) Hoạt động liên tục (Going Concern)
Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẻ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc
Trang 38Ch.1 : BẢN CHÁT, ĐỐI TUONG CỦA HACH TOAN KT
thu hẹp đáng kê quv 111 ò hoạt động cua mình Trường hợp thực
tê khác với giá định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phai lập tròn một cư sớ khác và phai giai thích cơ sớ đã sứ dụng đô lập báo cáo tài chính
Nguyên tắc nàv dược vận dụng trong việc định giá các loại tài san đang sứ dụng trong đơn vị Vì các tài sán đang sử dụng cho nôn đưn vị chưa bán hoặc không thê bán được Do đó giá trị của những tài sán này sẽ được tính toán hoặc phán ảnh theo giá gốc, tức là theo sô tiền mà thực sự đưn vị phái tra khi mua sắm hay xây dựng chứ không phái giá có được khi bán trên thị trường Mặt khác giả thuyết vé sự hoạt động lâu dài của đơn vị còn là
cơ sớ cho các phương pháp tính khấu hao đê phán chia giá phí của các loại tài sán tính vào chi phí hoạt động của đưn vị theo thời gian sứ dụng của chúng
(c) Giá gốc (Historical Cost)
Tài sán phải được ghi nhận theo giá gốc Giá gốc của tài sán được tính theo sô tiền hoặc khoản tưưng đương tiền đã trá phai trá hoặc tính theo giá trị hợp ]ý của tài sán đó vào thời điếm tài san được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đối trừ khi có quy định khác trong chuân mực kê toán cụ thể
Theo nguyên tắc mày, kê toán tập trung chú V tới giá thành thực tê của tài sán hơn là giá thị trường cùa chúng, khi đơn vị mua vào một tài sán n;ào đó, kè toán đổu ghi chép theo giá thành hay chi phi thực tô hình thành nên tài sán đó, nói cách khác kố toán ghi chóp sô tiền mà đưn vị bó ra đê có được tài sán thuộc quyên sớ hừu và kiêm soát cua mình cho dù cùng với thời gian tròi qua giá thị trưừng cua tài sán này có thỏ thay đỏi so với giá gôc của nó Kê toán không thê dùng giá thị trường để phán ánli tài sán trong các báo cáo tài chính mà theo giá gốc, bới vì :
Trang 3940 Ch.1 : BẢN CHẤT, Đ ố l TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT
- Giá thị trường của tài sản khó ước tính Sự ước tính giá thị trường của một tài sản để lập bảng cân đối k ế toán ở mọi thời điểm là khó khăn, hơn nữa những ước tính đó thuộc về vấn
đề quan điểm, mang tính chủ quan còn giá gốc (giá phí) mang tính khách quan
- Phần lớn các tài sản của đơn vị mua về để sử dụng hoặc
để bán nhưng rất nhiều tài sản sẽ không bán ngay Vì vậy, đơn
vị không cần biết giá thị trường của tài sản, nói các khác theo nguyên tắc hoạt động liên tục làm cho việc ước tính giá thị trường
là không cần thiết
- Trong SXKD, mục đích chủ yếu là kiếm lời, người ta phải
so sánh giữa giá bán với giá thành (hay sô" vốn bỏ ra) để xác định phần lãi đem lại được bao nhiêu Do đó việc quan tâm đến
(e) Nhất quán (Consistency)
Nguyên tắc này quy định : Các chính sách và phương pháp
kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính
Trang 40Ch.1 : BẢN CHẤT, ĐỔI TƯỢNG CỦA HẠCH TOÁN KT 41
sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do
và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính
Trong kế toán có nhiều phương pháp tính khấu hao TSCĐ, tính giá trị hàng tồn kho cuối kỳ Mỗi phương pháp sẽ mang lại một con số khác nhau về chi phí và lợi nhuận thuần Áp dụng phương pháp nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng đơn
vị vì tất cả các phương pháp đó đều được công nhận là hợp lý Theo nguyên tắc này, khi đã chọn phương pháp nào thì kế toán phải áp dụng đúng phương pháp đó, không nên thay đổi theo từng thời kỳ để người đọc báo cáo tài chính không bị nhầm lẫn
và có thể so sánh được Tuy nhiên, khi cần thiết phải thay đổi phương pháp đã chọn phải có lý do hợp lý và phải giải thích cho những người sử dụng số liệu kế toán của đơn vị biết
(g) Thận trọng (Prudence)
Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết
để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi :
- Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn
- Không đánh giá cao hơn giá tri của các tài sản và các khoản thu nhập
- Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí
- Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có khả năng phát sinh
Theo nguyên tắc này, kế toán hãy chọn giải pháp nào ít ảnh hưởng tới quyền lợi của chủ sở hữu Muốn vậy, kế toán phải có