1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình luật tố tụng hành chính việt nam

60 42 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 24,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài phán hành chính, theo quan niệm của các quốc gia này, là việc giải quyết tất cả các tranh chấp hành chính phát sinh giữa công dân và công quyển thuộc thấm quyền của rất nhiều cơ qua

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HẢ NỘI• • • *

Giáo trình

(Tái bản lần thứ ba có sủa chữa, bo sung)

NHÀ XUẤT BẢN CỔNG AN NHẢN DÂN

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Luật lõ tụng hành chính là một môn học trong chương

trình âào tạo cứ nhan luật của Trường Đại học Luật Hù

Nội Từ nhiều năm Iiay, môn học này dã cung cấp và làm sáng tò nhữníỊ vấn LỈê lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn vế giải quyết nliững khiêu kiện chính dáng của công dán, góp phấn xúy dựng và củng cô thiết c h ế xù cơ chê giải quyết các khiếu kiện (hông qua thủ tục tư pháp ỏ nước ta Luật tô tụng hành chính lù một ngành luật bao gồm tổng

th ể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh troníỊ quá trình giải quyết vụ án hành chính nhằm bảo vệ qnvên và lợi ích chính đáng của công dân, tổ chức và

cơ quan nhừ nước cũng như trật tự pháp luật của nhà nước

tư Bằní> ( ác quy liịnli của pháp luật tô tụng hành chính,

nạ ười dàn íroiìỊi xã liội có thêm phương tiện hữu hiệu đ ể lùm chu xã hội vù xây dựng hộ máy nhà nước của mình.

Đ ể phục vụ clio công tác giàng dạy và học tập theo chương trìnli dào tạo cử nhân luật, năm 2001, Trường Đại

học Luạt Ha Nọi dữ cho xuất bán cuốn giáo trình "Luật tô tụng hành chính " Từ dó đến nay cuốn giáo trình này thật

sự hữu ích cho cả lìịỊiửn dạy và người học Tuy nhiên, so với hiện nay, nhiều quy định của pháp luật liên quan đến

5

Trang 4

quyên và nghĩa vụ của côiiíi dán troniỊ quan hệ 1ụữa COIIIỈ dân và cơ quan công quyền d ã có nhiêu thay dổi, (lòi liói phải có giáo trình mới pliù hợp với VCII cầu của sự n Ạ iệ p

dổi mới dào tạo luật trong lình hình hiện nay.

Giáo trình "Luật tô tụng hành chính Việt Nam" dược

tái bản lần Iiừx trên cơ sà nliững yêu cầu ( lia Hiến plìáp

1992 (sửa đổi nám 2001), cập nhật nliữm> quy định mới của pháp luật vù sự k ể thừa, tổng kết kinh nghiệm nghiên cứu, giáng dạy môn học luật tỏ lụni> hành chính trong nhiêu năm qua cũng Iiliư những bài học từ thực tiễn xét vù giải quyết khiếu nại, tố cáo của CỎMỊ dân, thực tiễn xét xử hành chính của Toà án nlìân dân ở nước lư.

Mặc dù các tác giả dỡ rất cô gắng biên soạn cuốn íỊÍáo trình này, song không tránli khỏi những thiêu sót ChiuiiỊ tôi rất hoan nghênh những V kiên íịóp V, phê bình đ ể trong lần tái bản, giáo trình sẽ được hoàn thiện hơn.

TRUỒNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỎI

Trang 5

KHOA HỌC LUẬT T ổ TỤNG HÀNH CHÍNH • • •

VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VIỆT NAM• t •

I KHOA HỌC LUẠT TO TỤNC HANH CHINH

Khoa học luật tổ tụng hành chính là một ngành khoa học

pháp lý nghiên cứu các khái niệm, quan điểm, tư tường pháp

lý đối với các vấn đề của luật tô tụng hành chính Với tư cách là một ngành khoa học, khoa học luật tô tụng hành chính

có đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu riêng.Đối tượng nghiên cứu của khoa học luật tỏ tụng hành chính là những vấn đề lý luận về quvết định hành chính, hành vi hành chính với tư cách là đối tượng xét xử hành chính, nội dung cơ bán của ngành luật tô tụng hành chính; các quy phạm pháp luật tô tụng hành chính; các nguyên tắc xét xử hành chính: các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính do quy phạm pháp luật

tô tụng hành chính diều chinh Ngoài ra, khoa học luật tô tụng hành chính còn nghiên cứu những nội dung khác có liên quan đến hoại động xét xử hanh chính như tố chức và hoạt động của Toà hành chính; các biện pháp pháp lv bảo đảm cho hoạt động xét xử hành chính ở Việt Nam và nước ngoài nhằm góp phần hoàn thiện ngành luật tô tụng hành chính

7

Trang 6

Khoa học luật tố tụng hành chính có nhiệm vụ làm sáng

tỏ tìmg hước những vấn đề lý luận về quyết định hành chính, hành vi hành chính, hoạt động xét xử hành chính, đương sự (người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan), quy phạm pháp luật tố tụng hành chính, quan

hệ pháp luật tô tụng hành chính; đưa ra những khái niệm cũng như xác định phạm vi của các khái niệm thuộc hoạt động xét xử hành chính; nghiên cứu, tổng kết thực tiễn hoạt động xét xử hành chính, thực tiễn áp dụng pháp luật tô tụng hành chính Trên cơ sớ đó, rút ra những kết luận khoa học về

lý luận cũng như thực tiễn nhăm hoàn thiện ngành luật tỏ' tụng hành chính

Cơ sở lý luận của khoa học luật tố tụng hành chính Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin Đối với khoa học luật tổ tung hành chính Việt Nam các tác phẩm kinh điển của C.Mác - Ph.Ảnghen về nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa có vai trò đặc biệt quan trọng Trong khoa học luật tô tụng hanh chính, những tri thức khoa học của Chú nghĩa Mác-Lênin được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam kết hợp với tư tướng

Hổ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về hộ thống cơ quan

tư pháp, về hoạt động xét xử Khoa học luật tô tụng hành chính cũng nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luật tô tụng hành chính Việt Nam trên cơ sớ tiếp thu những tinh hoa trí tuệ nhân loại về tổ chức bộ máy cơ quan tư pháp và sự điều chỉnh pháp luật đôi với hoạt động xét xử các vụ án hành chính

Phương pháp luận của khoa học luật tố tụng hành chính

là phương pháp duy vật hiện chứng, trên cơ sở phương pháp luận đó, khoa học luật tô tụng hành chính kết hợp với các phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử phưttng pháp

Trang 7

phán tích và tổng hợp

Khoa học luật tố tụng hành chính có liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa học pháp lý và ngành khoa học xã hội khác, đặc biệt là khoa học luật hành chính, các kết luận khoa học của lý luận về nhà nước và pháp luật, của khoa học luật nhà nước cùng những luận điểm khoa học, các khái niệm của triết học kinh tê chính trị học được vận dụng trong khoa học luật tô tụng hành chính

II KHÁI NIỆM LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1 Một sỏ quan Iiiệm vẻ tài phán hành chính

Nghiên cứu vé tô tụng hành chính và Luật tố tụng hành chính Việt Nam hiện nay, cần thiết phải hiểu rõ những quan niệm về tài phán nói chung và tài phán hành chính nói riêng; tìm hiểu mối quan hệ giữa hành chính tài phán với hành chính quản lv (vốn được xem là hai mặt đối lập và thông nhất trong khái niệm hành chính nói chung'l)); đặc biệt là tìm hiểu về tài phán hành chính theo quan niệm của một sô quốc gia trên thế giới

a Quan niệm c ủa một sô nước trên th ế giới vê tài phún hành cliính

“Tài phán hành chính” được xem là một nội dung của hoạt động “tài phán” nói chung, bên cạnh “tài phán tư pháp” Thuật ngữ “tài phán” có gốc tiếng La-tinh là “ ịurisdictio”; thuật ngữ này cũng được tìm thấy trong tiếng Anh với cách

(1) L.Neville Brovvn và John S.Beỉl, Luật Hành chính cùa Pháp (Prench

A dm inistrative Law), 46 (1998).

9

Trang 8

phát âm tương tự là “jurisdiction'\ Theo Iiạliĩa rông, thuật

ngữ “tài phán” (jurisdiction) có nghĩa là phán quyén tức là quyền lực của Chính phủ (bên cạnh sử dụng quyền điều hành hành chính) trong việc phán xét tính đúng sai cúa các hoạt động hành chính diễn ra trên phạm vi một lãnh thổ nhất

định; theo Hiịhĩa hẹp, thuật ngữ này được sứ dụng để chỉ

thẩm quyền đặc thù của cơ quan Toà án trong việc lắng nghe, xem xét đánh giá và ra các phán quvốt được thế hiện trong các bản án hay quyết định của Toà đối với một vụ việc

cụ thể và với các đôi tượng xác định.<1)

Với cách hiểu như trên, khái niệm “tài phán” không chỉ

là hoạt động xét xử của Toà án mà còn hao hàm cá hoạt động giải quyết các tranh chấp thuộc thẩm quyền của các cơ quan hành chính Khái niệm tài phán rộng hưn khái niệm xét

xử Tuy nhiên, cần tránh sự hiểu lầm khi nói tắt “tài phán tư pháp” có nghĩa là thẩm quyền phán xét một vụ việc của Toà

án (tư pháp), còn “tài phán hành chính” là chỉ thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính

Thuật ngữ “tài phán hành chính” được sứ dụng trong tiếng Anh là “Judicial revievv of administrative action” , có nghĩa là quyền pháp luật trao cho Toà án được tuyên bố về một hành vi hay quyết định hành chính nào đó có hiệu lực hay không, có bảo đảm tính hợp hiến hay không.(2) Toà án này

có thê là toà án tư pháp, cũng có thể là toà án hành chính độc lập Như vậy, tài phán hành chính hiểu theo nghĩa là quyền

(1) Bryan A.Garner, Từ điển Luật Black của M ỹ (Bỉack'Law Dictionary),

8 5 ( 1 9 9 9 ).

(2) Samuel Jarman, Từ điển Pháp lý N hật - Anh (English - Japanese Legal

Dictionary), 284 (1995).

Trang 9

phán xét tính đúng sai của một quyết định hành chính hay hành vi hành chỉnh nào đó không chí thuộc Ihâm quyền của

cơ quan hành chính mà còn thuộc thẩm quyền của Toà án

Quan niệm vé tài phán hành chính trên thế giới là quan niệm hốt sức phong phú nhimg đổi khi chưa có sự đổng nhất Sự không thông nhất của các nước trên thế giới về tài phán hành chính xuất phát từ những hệ thống luật khác nhau nên có những quan niệm khác nhau vé tài phán hành chính

và do đó có sự khác nhau trong việc tìm kiếm mô hình để thực hiện quycn phán xét đôi với các quvết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan công quyén khi bị khiếu kiện Theo đó việc nghiên cứu vé tố tụng hành chính, xây dựng luật tố tụng hành chính có là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật hay không, cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau này

* Quan niệm của các nước theo hệ thống Inậí chung ịcommon lan’)

Hệ thông luật chung (common law), tiền thân là Luật Anglo - Saxon, là hệ thông luật được sinh ra ớ Anh, kể từ năm 1066 sau khi nước Anh bị chinh phục bởi xứ Normans Các nước theo hệ thông luật này bao gồm Hợp chủng quốc

Anh, Mỹ, Canađa, ú c , Na Uy, A ilen , ngoài ra còn có mộtsô' nước Đông Nam Á như Malaysia, Singapore1" như là kết quả của quá trình thuộc địa hoá Hệ thông luật này được phát triển dựa trên cơ sở của án lệ, nghĩa lù các bản án, quyẻì định đã được ban hành trước đó được xem như là chuẩn mực

(1) Rene David và John E.CBrirley, C ác hệ ỉhốììg pháp luật cơ bản trên

th ế giới (Major legal systems in the Worỉd today), 307- 311 (1995).

11

Trang 10

để các Toà án xem xét giải quyết các vụ việc lir(ifng tự Chính

vì các nước thuộc hệ thống luật này không có sự phân biệt rạch ròi giữa luật công và luật tư, do đó, các tranh chấp hành chính cũng không được xác định rõ là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực công hay không và cần phủi phân biệt vê tính chất và thẩm quyến giải quyết đối với các tranh chấp dãn sự

ở những điểm nào

Các tranh chấp hành chính ờ các nước này được giải quyết trước hết bới các cơ quan đã ban hành ra quyết định hành chính bị khiếu nại, hoặc bới các cơ quan cấp trên của

cơ quan đó Trong trường hợp không thoả mãn với việc giải quyết khiếu nại này, người dân được quyền kiện ra Toà án Tuy nhiên, các nước này không thành lập hệ thống Toà hành chính chuyên trách giải quyết các tranh chấp kê trên, hệ thông toà án thường (ordinary ịudicial court) được trao quyển xét xử các tranh chấp hành chính Do vậy, thủ tục được áp dụng để giải quyết các vụ kiện hành chính tại các toà án tư pháp giống như thủ tục tỏ tụng dán sự Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ kiện này thường là Toà án cấp phúc thẩm (Courts of Appeals )

Tài phán hành chính, theo quan niệm của các quốc gia

này, là việc giải quyết tất cả các tranh chấp hành chính phát sinh giữa công dân và công quyển thuộc thấm quyền của rất nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau như: hệ thống cơ quan toà

án tư pháp, cơ quan hành chính, các tổ chức trọng tài hành chính và cả các tổ chức luật sư tư cũng có thẩm quyén giải quyết theo thủ tục hoà giải Như thế, các quốc gia này quan niệm tài phán hành chính là hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền của toà án tư pháp, nhàm

Trang 11

đảm bảo chức năng xét xử chung của một loại cơ quan tài phán Như vậy, xét dưới góc độ tài phán, các quốc gia theo

hệ thống luật chung này hợp thành một nhóm “nhất hệ tài phán” , tức là chi cóng nhận duy nhất một hệ thống cơ quan xét xử là toà án tư pháp, đê phán biệt với nhóm “lưỡng hệ tài phán", tức là công nhận sự tồn tại độc lập của hai hệ thống

cơ quan tài phán: tài phán tư pháp và tài phán hành chính

Tuy nhiên, trong xu hưứng quốc tế hoá, hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu pháp lý, các nước thuộc các hệ thống luật khác nhau cũng chịu nhiều ảnh hưởng của nhau

và có những thay đổi nhất định Nhận rõ những đặc thù khác biệt của việc giải quyết khiếu kiện hành chính, các nước theo

hệ thông luật chung này cũng bắt đầu thành lập những bộ phận chuyên trách trong toà án thường để giải quyết các vụ kiện hành chính trong các lĩnh vực đặc biệt quan trọng như lĩnh vực đất đai, thuế, bảo hiểm và trợ cấp xã h ộ i

* Quan niệm của các nước theo hệ thông cháu Âu lục địa (Continental law hay civil law)

Hệ thống luật châu Âu lục địa mà tiền thân là Luật La

mã (Romano - Germanic), được xuất hiện ở lục địa châu Âu vào thế kỷ XIII Các nước theo hệ thống luật này bao gồm các nước nằm trong châu Âu lục địa, điển hình là Pháp, Đức, Thụy Điển, Bi, Hà L an ; ngoài ra, với kết quả của quá trình chinh phạc và thuộc địa hoá trước đây, nhiều quốc gia không phải ở châu Âu cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống luật này như loàn bọ các nước châu Mỹ La tinh, một phần lớn các nước châu Phi các nước Trung cận Đông và nổi bật nhất làIndonexia (thuộc Đóng Nam Á) chịu nhiều ảnh hưởng của luật pháp Hà Lan

13

Trang 12

Cac nước theo hệ thông luật này có sự phân biệt rạch ròi giữa luật công và luật tư, và chính sự phân hiệt này dần đến các tranh chấp pháp lý xảy ra cũng được phân định rõ ràng

về tính chất, cũng như thám quyền xem xét, giái quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sông xã hội như tranh chấp dân sự, hình sự, kinh tố, hành chính Tranh chấp hành chính được xác định là một tranh chấp trong lĩnh vực luật công, phát sinh giữa các tổ chức, cá nhân công dân với các cơ quan, tổ chức công quyén Xuất phát từ đặc thù của các tranh chấp hành chính, bén cạnh việc cho phép các cơ quan công quyền được “tự xem xét” các quyết định hay hành vi hành chính của mình khi bị khiếu nại, để đảm bảo tính độc lập khách quan trong việc giải quyết, cũng như bảo đảm sự thông nhất giữa hai nội dung hành chính quản lý và hành chính tài phán tập trung trong tay Chính phủ, các quốc gia này đã thành lập hệ thông cơ quan tài phán hành chính độc lập (toà án hành chính) bén cạnh hệ thống toà án tư pháp để chuyên thực hiện chức năng xét xử các khiếu kiện hành chính Hình thức này được gọi là hình thức “lưỡng hệ tài phán” , đối lập với hình thức “nhất hệ tài phán” duy trì chỉ có một hệ thống cơ quan tư pháp có chức năng xét xử như các nước thuộc hệ thông luật chung.Các quốc gia thừa nhận hình thức ‘iưỡng hệ tài phán” , xuất phát từ những điều kiện và thực tiễn khác nhau của mình, trong quá trình xây dưng, tổ chức mô hình xét xử kiện tụng hành chính đã có sự khác biệt nhất định Chắng hạn, một số nước đã thành lập hệ thông cơ quan tài phán hành chính hoàn chỉnh (toà án hành chính) chuyên thực hiện chức nàng xét xử hành chính như: Đức, Thụy Điển, Hà Lan,

Trang 13

Indonexia Một sỏ nước thành lập hệ ihống toà án hành chính độc lập, nhưng xuất phát từ quan điểm tài phán hành

chính gán liên với hoạt động quản lý hành chính, do đó, ở

cấp trung ương thành lập ra Hội đồng nhà nước có thêm chức năng tư vấn pháp lý cho Chính phủ như: Pháp Bi, Italia, Ai Cập Thái Lan là một quốc gia ngoại lệ chưa từng bị thuộc địa hoá bới châu Ầu, nhưng sự phát triển của hệ thông pháp

lý lại chịu nhiều ảnh hưcmg của Pháp, vì vậy, đến nay vẫn đang còn tranh luận có nên phát triển Hội đồng nhà nước ở Thái Lan theo hướng trở thành Hội đồng nhà nước (Conseil

đ ’Etat) như ớ Pháp, tức là vừa với tư cách là Toà án hành chính tối cao vừa là cơ quan có chức năng tư vấn cho Chính phủ hành pháp hay không

Như vậy tài phán hành chính, theo quan niệm của các

quốc gia theo hệ thống luật lục địa, là hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công dân và tổ chức của họ vói các tổ chức, cá nhân công quyền và hoạt động tư vấn pháp luật cho Chính phủ Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hành chính được trao cho hệ thống cơ quan tài phán hành chính độc lập trong nền hành chính quốc gia (hệ thống toà

án hành chính), bên cạnh thẩm quyền “tự xem xét” giải quyết theo thú tục khiếu nại của cơ quan hành chính

* Quan niệm của các nước theo hệ thống luật x ã hội chủ nghĩa ịXHCN) trước đây

So sánh với sự phát triển của hệ thống luật chung và luật lục địa, hệ thông luật XHCN được hình thành muôn hơn, được đánh dấu kể từ thành công của Cách mạng Tháng 10 Nga và sự ra đời của Nhà nước Xô Viết nãm 1917 Các nước thuộc hệ thống luật này bao gồm Liên Xô và các nước XHCN trước đây

15

Trang 14

Được xây dụng bới ý thức hệ tư tướng Mác-Lênin nên các nước XHCN irước đây đểu chung quan niệm “Nhà nước XHCN là nhà nước của đại diện tất cả các tầng lớp nhân dân lao động”, “các quyén và lợi ích chính đáng của họ đều được nhà nước tôn trọng và hảo vệ” và do đó “khó có thể tồn tại các tranh chấp giữa Nhà nước với công dân” Trong hệ thông pháp luật, không có sự phân chia giữa luật công và luật tư Khái niệm tài phán hành chính theo nghĩa hiện đại chưa, được sử dụng Các thuật ngữ như “kiện nhà nước”, “kiện cơ quan, tổ chức cóng quyền”, “toà án hành chính” , “xung đột” giữa tổ chức, cá nhân cóng quyền với tổ chức, cá nhân công dân cũng không được sử dụng phổ biến, thay vào đó là các thuật ngữ như quyển “khiếu nại” , quyển “tự xem xét” các quyết định hay hành vi hành chính của cơ quan nhà nước khi

bị khiếu nại bởi người dân được sử dụng để nhấn mạnh đặc trưng của cơ chế “Bộ trướng - Quan toạ” trong việc giải quyết khiếu nại của người dân

Tuy nhiên, quan niệm về tài phán hành chính hay “hành chính tư pháp” (administrative justice), mà theo đó, nên

“trao quyền cho Toà án xem xét tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính” đã xuất hiện trong luật của Nga trước Cách mạng nãm 1917, nhưng đã bị từ chối trong giai đoạn Stalin.(1) Sau giai đoạn này, một số nước XHCN Đông

Âu, thậm chí cả Nhà nước Liên Xô cũ đã nhận thấy sự cần thiết phải tiến hành cải cách để thực hiện quá trình dân chủ XHCN nén đã thành lập lại eáe Tơà án hành chính trước đây

và ban hành luật về thú tục giải quyết kiện tụng hành chính

%

(1) George Ginsburgs, Luật hành chính Xô Viết (Soviet Administrative

Lavv: Theory and Policy), 65 (1989).

Trang 15

như ở Hungary (1957), Bungary (1970 ), Rumani (1967), Ba Lan (1980) Nhà nước Liên xô cũ sau việc ban hành Hiến pháp năm 1977 và với các cuộc cải tổ mạnh mẽ kể từ năm

1986, Luật sô 26 ban hành ngày 30/06/1987 đã cho phép người dân được kiện ra toà các quyết định và hành vi hành chính của cơ quan công quyền mà họ cho là bất hợp pháp

Sau khi các nhà nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của các cuộc cải cách theo hướng phát triển nền kinh tê thị trường diễn ra ở các nước này vào cuối những nãm 1980 và quá trình hội nhập quốc tế, các nước thuộc hệ thông luật XHCN trước đây đã phát triển hệ thống pháp luật của mình theo những chiều hướng khác nhau Một điểm nhấn mạnh là các nước thuộc hệ thống luật XHCN trước đây phần lốm đều có nguồn gốc từ hệ thống luật châu Âu lục địa, do đó sau khi tan rã, các nước này đều quay trở về “gia đình luật” truyền thống của mình với việc công nhận sự tổn tại của hai hệ thống tài phán: tài phán hành chính

và tài phán tư pháp; và quan niệm về tài phán hành chính giống như các nước thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa

* Quan niệm của N hật Bản, Trung Quốc và các nước theo giải pháp trung gian

Hệ thống luật pháp của Trung Quốc giai đoạn đầu, kể từ khi Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa được thành lập ngày 01/10/1949, chịu nhiều ảnh hướng của hệ thống luật XHCN Liên Xô cũ Mô hình của chính quyền Xô Viết, đặc biệt là nguyên tắc pháp chế XHCN có thể nói là nền tảng cơ bản của hệ thống pháp luật Trung Quốc được thể hiện ngay trong Hiến, pháp năm 1954 (Nội đụng của Hiến pháp này cơ bản dựa vào Hiến pháp cùa.Liên Xồ năm 1936)

* l m i IM ĩ A !\ / r TMrV\]C-~> U N ỉ M U V ítL lN ị

Trang 16

Tuy nhiên, kể từ năm 1960, sau một loạt những cải cách lớn, Trung Quốc chính thức quyết định theo đuổi con đường riêng tiến lên CNXH khác với Liên Xô trước đây Hiến pháp nãm 1978 được ban hành đánh dấu sự phát triển của quá trình lập pháp ở Trung Quốc, rất nhiều vãn bản luật mới được ban hành sau đó liên quan đến bầu cử, tổ chức của toà án, chính quyển địa phương, đầu tư, môi trường và lĩnh vực chống tội phạm và chịu nhiều ảnh hưởng của lý luận lập pháp phương Tây Tuy nhiên, đối với lĩnh vực tài phán hành chính,

sự ảnh hưởng này không được rõ nét, các tranh chấp hành chính vẫn chú yếu được giải quyết bằng con đường hành chính, tức là được giải quyết bởi cơ quan hành chính có thẩm quyền Sự ra đời và bắt đẩu có hiệu lực của Luật kiện tụng hành chính vào tháng 10/1990 đánh dấu một bước ngoặt trong

sự phát triển của hệ thống kiện tụng hành chính ở Trung

Quốc,(l) trong đó cho phép người dân được quyến khởi kiện

vụ án hành chính tại toà án nhân dân có thẩm quyền để kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính của các tổ chức, cơ quan công quyền Trung Quốc thuộc nhỏm các nước chọn giải pháp trung gian, không theo hình thức

“nhất hệ tài phán” cũng như “lưỡng hệ tài phán” bởi vì Trung Quốc không chọn mô hình toà án hành chính độc lập bên cạnh hệ thống toà án thường, mà thành lập những toà chuyên trách xét xử các tranh chấp hành chính bèn cạnh các toà dân

sự, hình sự, lao động, kinh tế nằm trong cơ cấu Toà án nhân dân Các nước chọn giải pháp trung gian này còn có

(1) Xem: Yong Zhang, Kiện tụng hành chính ỏ Trung Q uốc (So sánh hé

thống tài phán ò các nuớc Đỏng và Nam Á ) (Admimstrative litigation systems in China), 45 (1997).

Trang 17

Cônggo, Madagaxca, Senegan Việt Nam cũng lựa chọn giải pháp trung gian này trong việc xây dựng mô hình Toà hành chính nằm trong hệ thõng toà án nhân dân chuyên thực hiện chức năng xét xử các khiếu kiện hành chính.

Hệ thống luật pháp của Nhật Bản, do yếu tố lịch sử để lại, là sự pha trộn của hai hệ thống luật châu Âu lục địa (chịu ảnh hư('mg của Đức và Pháp trước Chiến tranh Thê giới lần thứ I) và hệ thông luật chung (chịu ảnh hưởng của Mỹ từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II ) Theo Hiến pháp Vua Minh Trị năm 1889, toà án hành chính độc lập được thành lập ớ Tokyo chuyên để giải quyết các vụ kiện hành chính bên cạnh

hệ thống toà án tư pháp Sau thất bại trong Đại chiến Thế giới lần thứ II Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản (năm 1947) đã thay đổi hệ thông tài phán của Nhật từ hệ ihông luật châu Âu lục địa được đặc trưng bởi sự tồn tại của Toà án hành chính độc lập sang hệ thống luật Anh - Mỹ, trong đó các vụ kiện hành chính được giải quyết ở toà án thường Như vậy tài phán hành chính ở Nhật Bản không phải là một lĩnh Vực pháp lý mới mẻ, bởi vì đã trải qua hơn 110 năm kinh nghiệm kể từ khi toà án hành chính đầu tiên được thành lập ở

Tokyo Thuật ngữ tiếng Nhật “Shiho shinscT được sử dụng

để chỉ tài phán hành chính ở Nhật Bản, tuy nhiên, chưa được phát triển trở thành một khái niệm pháp lý và vẫn còn có những tranh cãi nhất định xuất phát từ đặc điểm hỗn hợp của hai hệ thống tài phán cùng tổn tại ở Nhật Bản Giông với các nước thuộc hệ thống luật Anh - Mỹ, Nhật Bản công nhận tranh chấp hành chính là một dạng tranh chấp pháp lý được giải quyết tại toà án thường và thủ tục tố tụng dân sự được áp dụng đổ giải quyết, nhimg điểm khác là, Nhật Bản xác định

19

Trang 18

rõ ràng đây là một dạng tranh chấp đặc biệt phát sinh giữa công quyền và công dân nên có các quy định rất rõ về đối tượng, thẩm quyển, một sô trình tự áp dụng giải quyết được quy định trong một vãn bản luật có giá trị pháp lý cao

đó là Luật kiện tụng hành chính (ban hành ngày 16/5/1962) Toà án thường như vậy sẽ vừa phải dựa vào luật tố tụng dân

sự (về mặt thủ tục) và luật kiện tụng hành chính (vể mặt thủ tục và nội dung) để giải quyết các tranh chấp hành chính phát sinh tại Toà Như vậy, quan niệm về tài phán hành chính ở Nhật Bản hiện nay cũng giống với các nước thuộc hệ thống luật chung, tức là việc xét xử hành chính sẽ do toà án thường giải quyết để đảm bảo chức nãng xét xử chung của một loại cơ quan tài phán, nhưng lại áp dụng một thủ tục đặc biệt để giải quyết theo Luật kiện tụng hành chính (Luật này giống với, Luật kiện tụng hành chính trong giai đoạn Vua Minh Trị khi Toà án hành chính được thành lập) Điều này được các nhà luật gia thế giới đánh giá là sự thất bại của quá trình Mỹ hoá Luật hành chính ở Nhật Bản xem xét ở lĩnh vực

tố tụng.(1) Hàn Quốc là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của Nhật Bản và Mỹ, trong hệ thống pháp luật nói chung và quan niệm về tài phán hành chính nói riêng cũng mang những đặc trưng giống Nhật Bản; các tranh chấp hành chính bên cạnh việc được giải quyết bởi hệ thống cơ quan hành chính theo luật khiếu nại hành chính, còn được giải quyết bởi hệ thống toà án thường theo luật tố tụng dân sự và luật kiên tụng hành chính

(1) Shuichi Sugai và It suo Sonobe, Luật hành chính N hật Bàn (Nihon Gyo

seiho), 5 8 (1 9 9 9 ).

Trang 19

b Quan niệm của Việt Nam

* Những hoạt động có lính chất tài phán trước đây ỎViệt Nam

Hành chính tài phán và hành chính điều hành vốn là hai mặt luôn tổn tại song song trong hoạt động quản lý nói chung của cơ quan hành pháp Tài phán hành chính, theo nghĩa rộng,

là hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính giữa công quyền và công dân, giữa một bên là các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền với một bên là công dân và tổ chức của họ trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước Tài phán hành chính là hoạt động gắn liền với quản lý hành chính và sự xuất hiện của nó cũng gắn liền với

sự ra đời và phát triển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam Xuất phát từ quan điểm này, tài phán hành chính không phải là quá mới mẻ ở Việt Nam, tó i vì nhìn lại quá trình phát triển của các thời đại phong kiến, trong từng giai đoạn, đã xuất hiện rất nhiều hoạt động mang tính chất tài phán

Đòfi nhà Lý (1010-1225), năm 1010, sau khi lên ngôi và quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thãng Long, Vua Lý Thái

Tổ đã thi hành nhiều chính sách nhằm củng cô quyền lực của Nhà nước trung ương tập quyền, bảo đảm quyền lợi của giai cấp thống trị nhưng cũng chăm lo đến sự phát triển kinh tế,

xã hội, đời sống của nhân dân Xét dưới góc độ tài phán, mặc đù giai đoạn này chưa có cơ quan độc lập, chuyên trách việc giải quyết kiện tụng của dân, nhưng Vua Lý Thái Tông khi lên ngôi (1028) đã kiện toàn một bưức bọ máy nhà nước,

cho phép “đặt hai bên tả hữu thềm rồng hai lầu chuông” để

người dân khi muôn kiện một quan lại nào đó thì đánh chuông đế Vua hoặc các quan lại triều đình phán xét Trong

21

Trang 20

nội dung pháp luật thời này đã có những chê định ngăn ngừa những người có quyền thế chiếm đất đai của người dân nếu

ai dựa vào quyền thê làm trái quy định của Nhà nước khi bị kiện sẽ bị phạt 80 trượng hoặc bị phạt tù khổ sai

Đời nhà Trần (1226-1400), bên cạnh các cơ quan và chức quan đã có dưới thời Lý, nhà Vua đã đặt thêm nhiều cơ quan

và chức quan mới chuyên trách giải quyết việc kiện tụng hành chính, chẳng hạn: Tam ty viện được thành lập có chức năng giám sát việc thi hành pháp luật của các quan lại; Bình bạc ty ở Thăng Long trông coi việc hình án và kiện tụng; chức Ngự sử đài đại phu và Trung tán nắm phép tắc nhà nước

có nhiệm vụ chuyển giấy tờ trình nhà Vua, chuyển đơn khiếu

tố của tất cả các nơi lên nhà Vua, kiểm tra, giám sát và phát hiện lầm lỡ của các quan lại lên nhà Vua Đặc biệt, quan lại hành chính ở địa phương được giao phụ trách việc giải quyết kiện tụng ở khu vực mình quản lý

Đời nhà Lê sơ (1428-1527), với sự ra đời của Bộ luật Hổng Đức năm 1483 đánh dấu một bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Nhà nước phong kiến Bộ luật gồm 722 điều Irong đó có nhiều chế định liên quan đến luật hành chính và tô tụng hành chính, ví dụ như quy định về các hành vi vi phạm của quan lại triều đình và địa phương khi thực thi cổng vụ (nhận hối lộ, cố ý làm trái phép nước, lạm quyền, thiếu trách nhiệm trong khi đảm đương nhiệm v ụ ) với các mức độ chế tài như bãi chức, xuy, trượng, tử; người dân có thể thực hiện việc kiện tụng theo 4 cấp lừ xã quan, huyện quan, phủ quan đến triều đình, có thể tự minh thưc hiện việc khiếu kiện hoặc cử người hầu kiện thay với những điều kiện nhất định

Trang 21

Dưới triều Nguvẽn (1802-1858), Vua Gia Long năm

1804 đã lập ra Đô sát viện là nơi tiếp nhận việc tố cáo, buộc tội các quan lại táu trình Vua những điều hay nên làm, điều

dở nên tránh; năm 1832, Vua Minh Mạng đã lập ra Tam pháp ty, định kỳ hội đồng của Tam pháp ty có nhiệm vụ nhận đơn khiếu nại, bàn bạc và làm tờ trình Vua, được giải quyết khi Vua uỷ quyền Ngoài ra, nhà Vua còn cử các viên quan khâm sai đi thanh tra nám tình hình và tiếp nhận khiếu nại, tỏ cáo của người dân đối với các quan lại địa phương Bộ luật Gia Long ban hành năm 1815 với 938 điều là sản phẩm lập pháp cao nhất dưới thời Nguyễn, trong đó cũng có nhiều điều khoản quy định hành vi phạm pháp của quan lại trong khi thi hành nhiệm vụ công với các hình thức chế tài như xuy, trượng, phạt bổng, giáng cấp, bãi chức; quy định về thủ tục kiện tụng của người dán trong đó thủ tục hoà giải được

để cao hoà giải vẫn không thoả đáng mới xét xử theo luật.Tóm lại, dưới chế độ phong kiến, mặc dù những hoạt động có tính chất tài phán hành chính đã xuất hiện, nhưng nói chung vẫn nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị phong kiến, vẫn còn những biểu hiện thiên vị được quy định trong pháp luật khi xử lý những quan lại vi phạm (như thay phạt xuy, trượng bằng phạt bổng; giáng cấp hoặc bổ đi chức khác thay cho phạt trưtTng hoặc tù), khiếu kiện của người dân khó được giải quyết bởi gặp sự cản trở của đội ngũ quan lại tham nhũng, kiện quan vẫn là một điều xa vời với người dân

Kể từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời (02/9/1945), các hoạt động có tính chất tài phán hành chính

do các cơ quan nhà nước mới đảm nhiệm Quyền khiếu nại,

tô cáo của công dân là quyén cơ bản, được ghi nhận trong Hiến pháp - đạo luật cơ bản của quốc gia

23

Trang 22

* Tài phán hành chính ờ Việt Nam trước khi Tó hành chính được thành lập (01/7/1996)

Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hồ ra đời, Chính phủ mới đã đặc biệt quan tâm tới việc giải quyết khiếu

nại, tố cáo của cơng dân đối với các hành vi, quyết định hành

chính của cơ quan cơng quyền xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của họ, cũng như việc xử lý nghiêm khắc đĩi với các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ nhà nước cĩ thẩm quyền khi thực thi cơng vụ bị người dân tố cáo Tuy nhiên, chịu nhiều ảnh hưởng của mơ hình pháp luật Xơ Viết trước đây, cũng như lý luận lập pháp XHCN của Liên Xơ và Đơng

Âu, pháp luật nước ta lúc này mới chỉ thừa nhận khiếu nại

mà khơng thừa nhận các khiếu kiện hành chính phát sinh giữa các cá nhân và cơ quan cơng quyền được giải quyết theo trình tự tố tụng tại Tồ Như vậy, quan niệm về tài phán hành chính chỉ được hiểu theo nghĩa rộng, đĩ là hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính phát sinh giữa cơng quyền và cồng dân theo con đường khiếu nại hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính nhà nước cĩ thẩm quyền và hệ thống cơ quan thanh tra mà tiền thân là Ưỷ ban thanh tra đặc biệt (được thành lập ngày 23/11/1945 theo Quyết định số 64 của Chù tịch nước)

Tài phán hành chính ở Việt Nam trong giai đoạn này mang những đặc điểm sau đây:

- Cá nhàn cống dân và tỏ chức của họ cĩ quyồn khiếu nại

đối với các quyết định hoặc hành vi của các cơ quan, tổ chức cơng quyền và cán bộ cĩ thẩm quyền phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của quản lý hành chính, ví dụ như: đất đai

Trang 23

chính sách xã hội thuê, kinh doanh, giao thông, dân số, lao động, khoa học và công n g h ệ

- Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành các quyết định hoặc thực hiện các hành vi bị khiếu nại, các cơ quan nhà nước cấp trên được trao quyền giải quyết các khiếu nại của công dân và tổ chức của họ Cơ chế giải quyết nằy được xem là cơ chê “ Bộ trưởng - Quan toà" nghĩa là cơ quan hành chính vừa là người bị khiếu nại, vừa là người có thẩm quyển giải quyết khiếu nại [Thiếu một

cơ quan tài phán độc lập (Toà án) được trao quyền xét xử tính hợp pháp của các quyết định, hành vi bị kiện]

- Hệ thống cơ quan thanh tra được trao quyền giải quyết khiếu nại nhưng quyển lực thực tế bị hạn chế

- Rất nhiều văn bản pháp luật quy định quyền và nghĩa

vụ khiếu nại và giải quyết khiếu nại, do đó, công dân cùng một lúc có thê khiếu nại tới nhiều cơ quan khác nhau, sau đó các khiếu nại này sẽ được chuyển tới cơ quan có thẩm quyền giải quyết, người dân phải mất rất nhiều thời gian chờ đợi kết quả giải quyết vụ việc

- Có nãm loại cơ quan nhà nước được trao quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, nhưng trách nhiệm của từng cơ quan chưa được quy định rõ ràng

- Quá trình giải quyết không được thông báo công khai, nên công dân không biết chính xác cơ quan nào đang có thẩm quyền giải quyết khiếu nại của họ

* Quan niệm vê tài phán hành chính ở nước ta hiện nay

Việc thành lập Toà hành chính nằm trong hộ thống toà án nhân dân và được trao quyền xét xử các vụ kiện hành chính

25

Trang 24

kể từ ngày 01/7/1996 đánh dấu một hước phát triển mới cua Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thông các khái niệm pháp

lý, phù hợp với xu hướng phát triển của khoa học pháp lý vé tài phán trên thế giới Quan niệm tài phán hành chính với nghĩa là hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính giữa công quyền và công dân được thực hiện bởi một cơ quan tài phán độc lập (Toà án) được chấp nhận ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cô và hoàn thiện bộ máy nhà nước, đảm bảo nguyên tắc pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền nhàm làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tuyệt đôi tôn trọng và bảo vệ có hiệu quá.Tài phán hành chính ở nước ta hiện nay có những đặc điểm sau đây:

- Tài phán hành chính là tổ chức và hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính phát sinh khi có đơn khởi kiện vụ án hành chính giữa công dân và tổ chức của họ với các cơ quan,

tổ chức và cá nhân công quyền

- Cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam là Toà hành chính thuộc hệ thống toà án nhân dân

- Đối tượng của tài phán hành chính ở Việt Nam lá các quyết định hành chính cá biệt hoặc các hành vi hành chính của

cơ quan, cá nhân công quyền bị công dán khởi kiện sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục khiếu nại

- Hoạt động tài phán hành chính tuân theo trình tự thủ tục

do pháp luật tô' lụng hành chính quy định

Tóm lại, tài phán hành chính ở Việt Nam hiện nay

mang những đậc điểm của tài phán hành chính nói chung, đồng thời có những nét đặc thù phù hợp với bản chất nhà

Trang 25

nước ta được khái quát như sau: Tài phán Hành chính Việt

Nam lừ hoạt dộng xét xử các vụ án hành chính, theo quy

định của Luật to'lụng hành chính, do Toà án nhân dân (các ttìà hành chính chuyên trách) và cúc thẩm phán hành chính thực hiện nhảm bảo vệ quy én vù lợi ích hợp pháp của công dán, lổ chức của họ vù cơ quan nhà nước, nhầm bảo đảm nguyên tắc pháp c h ế X H C N , góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhừ nước.

2 Khái lược quá trình hình thành và phát triển của ngành luật tô tụng hành chính

Khái niệm tố tụng hành chính và luật tố tụng hành chính

là các khái niệm mới mỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn của hoạt động tư pháp ớ Việt Nam trong hơn 50 năm qua Các nước trên thế giới xuất phát từ sự khác nhau của các hệ thòng pháp luật, từ sự phân biệt hay không phân biệt rạch ròi giữa luật công và luật tư, nên việc giảng dạy về tố tụng hành chính trong các trường đào tạo luật cũng có sự khác biệt nhất định Chẳng hạn, các nước có hệ thổng tài phán hành chính phát triển thường xây dựng ngành luật tố tụng hành chính với tư cách là một ngành luật độc lập trong

hệ thống pháp luật và được giảng dạy trong trường luật như một môn học bắt buộc Tuy nhiên, các nước theo quan điểm coi việc giải quyết kiện tụng hành chính tại Toà như là một hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính nói chung, không xây dựng tố tụng hành chính thành một ngành luật độc lập mà xếp thành một nội dung của luật hành chính với ý nghía hoạt động này cũng là một nội dung của hoạt động quản lý hành chính Ví dụ, Luật hành chính của Nhật Bản

27

Trang 26

bao gồm 3 nội dung cơ bản như: những vấn đề chune nhất liên quan đến hoạt động quản lý hành chính; giải quyết tranh chấp hành chính bởi các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyến và giải quvết khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền của Toà án.

Luật tố tụng hành chính của Việt Nam được xác định là một ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta; mốc đánh dấu được tính kể từ khi toà hành chính được thành lập trong

hệ thông toà án nhân dân và được trao quyền xét xử các khiếu kiện hành chính kể từ ngày 01/7/1996

Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của luật tố tụng hành chính Việt Nam cần thiết phải gắn nó với quá trình phát triển của luật hành chính ở nước ta, đặc biệt liên quan đến chế định giải quyết tranh chấp hành chính Luật hành chính Việt Nam từ nãm 1945 đến nay có thể chia thành các giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1 (1945-1954) và giai đoạn 2 (1954-1975): Ỏ các giai đoạn này, luật hành chính góp phần xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân của một nước dân chủ, xây dựng chính quyền cách mạng và cán bộ cách mạng; xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Xét dưới góc độ giải quyết tranh chấp hành chính, chính quyền cách mạng ngay từ khi ra đời đã quan tâm tới việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo của người dân đối với các cơ quan và cán bộ nhà nước xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Điều này đã được thế hiện trong tinh thần của Hiến pháp năm 1946, Điều 29 Hiến pháp năm 1959 Ban thanh tra đặc biệt đã được thành lập vào tháng 11/1945 với hai chức năng: giám sát việc thi hành

Trang 27

pháp luật và chinh sách của Nhà nước ở các cấp hành chính

và giải quyết khiếu nại, tỏ cáo của người dân Sự ra đời của Ban thanh tra đặc hiệt với hai chức nãng này càng khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đôi với công tác giải quyết khiếu nại, tô cáo của dân, coi đó như là một yêu cầu quan trọng để xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân Tuy

nhiên, nhiệm vụ chủ yếu của cả nước lúc này là “tất cả cho

tiền tuyến vì mục đích xảy dựng Chủ nghĩa x ã hội ở miên

Bắc, đấu tranh giải phóng miền N am ” , nén nhiệm vụ của

luật hành chính giai đoạn này phải tập trung phục vụ sự nghiệp cách mạng, giải phóng và thống nhất đất nước Vì vậy, việc giải quyết các tranh chấp hành chính phát sinh giữa công dân và công quyền còn rất hạn chế, các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề này chưa đầy đủ.Giai đoạn 3 (từ 1975 đến nay): Luật hành chính được quan tâm đúng mức hơn, không chỉ phát triển bề rộng mà còn bề sâu Luật hành chính góp phần cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản và quốc hữu hoá các tài sản tư hữu ở miền Nam, xây dựng chính quyền của một nhà nước Việt Nam thống nhất, xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động , tạo cơ sở cho việc xây dựng Hiến pháp năm 1980 Quyền khiếu nại, tô cáo của người dân được quy định cụ thể trong Điều 73 của Hiến pháp năm 1980 và cụ thể hoá trong Pháp lệnh giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm

1981, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết khiếu nại, tô' cáo của người dân Đạc biệt, sau nãm 1986, luật hành chính được xây dựng với định hướng mới về nội dung đã góp phần xây dựng cơ chê quản lý mới thay thế cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng quyền tự chủ của nhiều đơn vị cơ sở, gắn

29

Trang 28

bó với nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyển làm chủ của nhân dân lao động Nhiểu chê định luật hành chinh ra đời nhàm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và

của công dân trong cơ chê đổi mới và mớ cửa Ví dụ: quyền

khiếu nại, tô cáo của công dân đối với các tổ chức, cơ quan công quvền được nhấn mạnh không chỉ trong Hiến pháp năm

1992 (Điều 74) mà còn trong Pháp lệnh giải quyết khiếu nại,

tô cáo của công dân nãm 1991, Pháp lệnh thanh tra năm 1990

và nhiều vãn bản khác Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp hành chính theo cơ chế “Bộ trưởng - Quan toà”, không phải

dễ dàng được xoá bỏ ngay, hoạt động giải quyết tranh chấp hành chính tại toà án vẫn chưa được nhiều người đồng ý

Cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tê thị trường định hướng XHCN vào những năm 90, nhu cầu bức thiết thành lập một cơ quan tài phán hành chính độc láp (Toà án) đã được đặt ra, nằm trong nhu cầu chung của tiến trình đổi mới theo xu hướng dân chủ hoá, xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dán Các khái niệm về tài phán hành chính, tố tụng hành chính, kinh nghiệm giải quyết khiếu kiện hành chính ờ các nước trên thế giới đã được các nhà khoa học pháp lý tập trung nghiên cứu và tiến hành khảo sát thực tế để đưa ra một mô hình phù hợp với điểu kiện thực

tế của Việt Nam Tại Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành

trung ương Đảng khoá VII (1995), Đảng ta đã chỉ rõ: “cần

đẩy mạnh việc giải quyết các khiếu kiện của dán xúc liến việc thành lập hệ thống toà hành chính đ ể xét xử các khiếu kiện của dân đòi với các quyết định hành chinh" Ngày

28/10/1995, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá

Trang 29

IX, tại kỳ hợp thứ 8 dã thõng qua Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật tổ chức tồ án nhân dân (được ban hành ngày 06/10/1992 và sửa đổi, hổ sung ngày 28/12/1993) trong

đĩ “ím<> cho tồ ủn nhân dân chức năng xét x ử những vụ án

hành chinh và thiết lập Tồ hành chính trong tồ Ún nhân dân tỏi cao vủ các tó ớn nhân dân cấp tỉnh bén cạnh các tồ hình sự, dân sự, kinh tế, lao động đ ể thực hiện chức năng này" Ngày 21/5/1996, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thơng

qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (cĩ hiệu lực từ ngày 01/7/1996), làm cơ sở pháp lý cho tồ án nhân dân thực hiện hoạt động xét xử hành chính giữa cơng quyền và cơng dán đánh dâu một bước phát triển mới của luật

tố tụng hành chính theo hướng phân nhánh tách biệt giữa việc giải quyết tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền của cư quan hành chinh nha nước với thẩm quyền của tồ án, đồng thời cũng đánh dấu sự ra đời của một ngành luật mới trong hệ thống pháp luật Việt Nam - Luật tơ tụng hành chính

Như vậy, luật tố tụng hành chính ra đời và trở thành một ngành luật trong hệ thống pháp luật ở nước ta, gắn liền với

sự phát triển của luật hành chính và chế định giải quyết tranh chấp hành chinh ở Việt Nam Cùng với việc hồn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết các khiếu kiện hành chính trong thời gian qua như việc ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thú tục giải quyết các vụ án hành chính ngày 25/12/1998, Luật khiếu nại,

tố cáo nãm 1998, Hiến pháp sửa đổi nam 2001, Luật tổ chức tồ án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh về thẩm phán và hội thẩm nhản dân năm 2003 , luật tơ tụng hành chính Việt Nam ngày càng khẳng định vai trị của nĩ trong hệ thống

31

Trang 30

pháp luật ở nước ta, góp phần vào việc bảo đảm và bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của cõng dân, bảo đảm việc thực hiện tốt nguyên tắc pháp chế XHCN trong quán lý hành chính nhà nước cũng như trật tự nhà nước trong mọi mặt đời sống xã hội.

3 Đỏi tượng điều chỉnh của luật tô tụng hành chính

Đối tượng điều chỉnh của ngành luật bao giờ cũng là các quan hệ xã hội, tuy nhiên, mỗi ngành luật chỉ điều chinh một

sô nhóm quan hệ xã hội cùng loại có đặc tính cơ bản giống nhau Để phân biệt các ngành luật, chủ yếu là dựa vào đối tượng điều chỉnh

Đối tượng điều chỉnh của luật tô' tụng hành chính là các

quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính Những quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật

tố tụng hành chính điều chỉnh sẽ trở thành quan hệ pháp luật

tố tụng hành chính Các quan hệ này có nội dung là quyến và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết các vụ án hành chính được pháp luật tố tụng hành chính quy định Nếu lấy tiêu chí phân biệt là các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hành chính thì các quan hệ xã hội thuộc đôi tượng điều chỉnh của luật tố tụng hành chính có thể chia thành các nhóm như sau:

Nhóm một, gồm những quan hệ xã hội phát sinh giữa các

chủ thể được trao quyền lưc nhà nước để thực hiện các hoạt động nhàm giải quyết vụ án hành chính (các chủ thể tiến hành tố tụng) Quá trình giải quyết vụ án hành chính được diễn ra theo một trình tự nhất định do luật tô tụng hành chính

Ngày đăng: 18/03/2021, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w