1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019

91 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019(Luận văn thạc sĩ) Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 20162019

Trang 1

NGUYỄN VĂN HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THEO

MÔ HÌNH MỘT CẤP TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2016 - 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

NGUYỄN VĂN HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THEO

MÔ HÌNH MỘT CẤP TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2016 - 2019

Ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thế Huấn

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS Nguyễn Thế Huấn là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Bình và các cơ quan ban ngành khác

có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó!

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Hải

Trang 5

5 TN&MT Tài nguyên và Môi trường

6 UBND Ủy ban nhân dân

7 VPĐKĐĐ Văn phòng đăng ký đất đai

8 VPĐK QSDĐ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Nguồn nhân lực của VPĐK Việt Nam 24

Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2010 – 2015 32

Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất huyện Phú Bình năm 2018 44

Bảng 3.3 : Kết quả cấp GCN QSD, QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019 51

Bảng 3.4 : Kết quả cấp GCN QSD, QSH nhà ở và tài sản 53

gắn liền với đất do biến động trên địa bàn huyện Phú Bình, 53

tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019 53

Bảng 3.5 : Kết quả đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất 56

trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019 56

Bảng 3.6 : Kết quả xóa thế chấp bằng quyền sử dụng đất 57

trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019 57

Bảng 3.7: Hiện trạng hệ thống bản đồ địa chính trên địa bàn 59

huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 59

Bảng 3.8: Hiện trạng các loại sổ trong hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 61

Bảng 3.9: Tình hình cập nhật, chỉnh lý các loại tài liệu trong 64

Hồ sơ địa chính trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 64

Bảng 3.10: Tình hình cung cấp thông tin, số liệu địa chính 65

trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 65

Bảng 3.11 Mức độ công khai thủ tục hành chính 66

Bảng 3.12: Đánh giá thời gian giải quyết hồ sơ so với thời gian cho phép 67

theo quy định của pháp luật tại CN VPĐK đất đai 67

Bảng 3 13: Thái độ của cán bộ chuyên môn khi thực hiện các thủ tục tại CN VPĐKĐĐ 68

Bảng 3.14: Kết quả đánh giá thực trạng hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Bình thông qua ý kiến của các cán bộ 70

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Error! Bookmark not defined 1.1 Đất đai, bất động sản 4

1.1.1 Đất đai 4

1.1.2 Bất động sản 4

1.2 Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 5

1.2.1 Khái niệm về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 5

1.2.2 Vai trò, lợi ích của đăng ký nhà nước về đất đai 6

1.2.3 Cơ sở đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 6

1.2.4 Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 7

1.3 Văn phòng đăng ký đất đai 9

1.3.1 Khái quát về hệ thống văn phòng đăng ký đất đai Việt Nam 9

1.3.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký 12

1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của VPĐK đất đai 15

1.4 Đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước trên thế giới 18

1.4.1 Mô hình đăng ký đất đai ở Malaysia 18

1.4.2 Mô hình đăng ký đất đai ở Thụy Điển 19

1.4.3 Mô hình đăng ký đất đai tại Australia 21

1.5 Thực trạng hoạt động của VPĐK đất đai ở Việt Nam 23

1.5.1 Tình hình thành lập VPĐK đất đai 23

1.5.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai 23

1.5.3 Nguồn nhân lực của VPĐK đất đai 24

1.5.4 Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vai trò của VPĐK đất đai 25

Trang 8

1.6 Đánh giá chung về tổng quan 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Phạm vi nghiên cứu 26

2.2.1 Không gian nghiên cứu 26

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 26

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 26

2.3.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 26

2.3.3 Thực trạng và kết quả hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Bình 26

2.3.4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp 26

2.4.2 Phương pháp điều tra các số liệu sơ cấp 27

2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 28

2.4.4 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan Error! Bookmark not defined Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 29

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

3.2 Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 35

3.2.1 Tình hình thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 35

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 43

Trang 9

3.3 Thực trạng và kết quả hoạt động của CN VPĐK đất đai huyện Phú Bình 45

3.3.1 Thực trạng động của CN VPĐK đất đai 45

3.3.2 Kết quả hoạt động của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai 49

3.3.3 Đánh giá thực trạng hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai 65

3.4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai 72

3.4.1 Thuận lợi 72

3.4.2 Khó khăn, tồn tại và nguyên nhân 73

3.4.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai 74

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 77

1 Kết luận 77

2 Đề nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quản lý nhà nước về đất đai, việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, đăng ký biến động đất đai, và các quyền về đất đai được bảo đảm bởi nhà nước, trong đó dữ liệu địa chính

có có ý nghĩa rất quan trọng nó được đảm bảo, nhất quán, tập trung và thống nhất Mặt khác, đăng ký đất đai cũng là một công cụ để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội và lợi ích của người sử dụng đất

Cụ thể, đối với nhà nước và xã hội: Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản,

thuế sản xuất nông nghiệp, thuế chuyển nhượng; Cung cấp tư liệu phục vụ các chương trình cải cách đất đai, bản thân việc triển khai một hệ thống đăng ký đất đai

cũng là một cải cách pháp luật; Giám sát giao dịch đất đai; Phục vụ quy hoạch; Phục vụ quản lý trật tự trị an

Lợi ích đối với công dân (người sử dụng đất): Tăng cường sự an toàn về chủ quyền đối với bất động sản; Khuyến khích đầu tư cá nhân; Mở rộng khả năng vay vốn (thế chấp); Hỗ trợ các giao dịch về bất động sản; Giảm tranh chấp đất đai

Hiện nay, hệ thống đăng ký đất đai hiện tại của Việt Nam đang chịu một sức

ép ngày càng lớn, từ yêu cầu hỗ trợ sự phát triển của thị trường bất động sản và cung cấp khuôn khổ pháp lý để tăng thu hút đầu tư Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cơ bản hoàn thành, nhưng nhu cầu giao dịch đất đai thì ngày càng cao Một nguyên tắc cơ bản cho hệ thống đăng ký đất đai là đảm bảo tính pháp lý, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính

Luật Đất đai 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định: “Cơ quan quản

lý đất đai ở địa phương có Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc sở Tài nguyên và Môi trường có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai ; cung cấp thông ti đất đai theo quy định cho các

tổ chức, cá nhân có nhu cầu”

Sự hình thành của hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai cùng với việc thực

Trang 11

hiện chủ trương cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”,“một cửa liên

thông” đã góp phần đổi mới nâng cao chất lược công tác đăng ký đất đai, cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng công khai, minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho các chủ sử dụng đất đã phát được huy hiệu quả góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đất đai; Tuy nhiên hoạt động của VPĐK đất đai còn nhiều bất cập, việc cung cấp các dịch vụ về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện vẫn là một trong những vấn đề bức xúc, đặc biệt là khu vực đô thị có số lượng giao dịch bất động sản ngày càng cao

Là một huyện trung du nằm ở phía đông nam tỉnh Thái Nguyên, Phú Bình hiện có 20 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 1 thị trấn, 19 xã Trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã dẫn đến nhiều biến động mạnh mẽ về sử dụng đất Mặt khác, các bộ phận đăng ký đất ở cấp huyện khắc phục tình trạng quá tải thì ở cấp xã, thị trấn đang trong tình trạng dồn việc, dồn hồ sơ có liên quan đến việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng ký biến động đất đai

Chính vì lý do trên, trong khuôn khổ yêu cầu thực hiện luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Quản lý đất đai, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tác giả lựa

chọn thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả hoạt động của Chi nhánh Văn phòng

đăng ký đất đai theo mô hình một cấp tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019” nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp

nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của VPĐK đất đai, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện Phú Bình

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019

- Đánh giá hiệu quả hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2016 - 2019

- Xác định nhưng thuận lợi, khó khă và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn tới

Trang 12

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Bổ sung những kiến thức đã học , tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lí Nhà nước về đất đai, cụ thể là các hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra được những thuận lợi, khó khăn khi thực thiện các giao dịch tại Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình, đồng thời rút

ra những bài học và đề xuất một số giải pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu quả khi cán bộ và người dân thực hiện các giao dịch tại Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình nói riêng và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Đất đai, bất động sản

1.1.1 Đất đai

Đất đai là tiền đề ban đầu, là cái nôi và là cơ sở quan trọng nhất của sự tồn

tại và phát triển của xã hội loài người, Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi

với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu không có đất

đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay

Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (CHXHCN)

Việt Nam có ghi:“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản

xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” (Quốc hội nước CHXHCN

Việt Nam, 1993)

Ngoài ý nghĩa về kinh tế, đất đai còn có ý nghĩa về mặt chính trị, vốn đất đai

mà một quốc gia có được thể hiện sức mạnh của quốc gia đó, ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia Đất đai còn là nguồn của cải, quyền sử dụng đất đai là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ

1.1.2 Bất động sản

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất xác định bất động sản (BĐS) là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất Tuy nhiên, mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về những tài sản “gắn liền“ với đất đai được coi là BĐS

- Điều 520 Luật Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là BĐS, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản“ Tương tự, quy định

Trang 14

này cũng được thể hiện ở Luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ

- Điều 100 Luật Dân sự Thái Lan quy định: “BĐS là đất đai và những vật gắn liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”

- Luật Dân sự Đức đưa ra khái niệm BĐS bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất (Nguyễn Đình Bồng, 2014)

Như vậy, có hai cách diễn đạt chính: thứ nhất, miêu tả cụ thể những gì được coi là “gắn liền với đất đai” được gọi là BĐS; thứ hai, không giải thích rõ về khái

niệm này và dẫn tới các cách hiểu rất khác nhau về những tài sản “gắn liền với đất đai”

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam, tại Điều 174

có quy định: “BĐS là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn

liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định” (Quốc hội

nước CHXHCN Việt Nam, 2005)

Như vậy, khái niệm BĐS rất rộng, đa dạng và cần được quy định cụ thể bằng pháp luật của mỗi nước và có những tài sản có quốc gia cho là BĐS, trong khi quốc gia khác lại liệt kê vào danh mục BĐS Hơn nữa, các quy định về bất động sản trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất đai và vật kiến trúc Bất động sản có những đặc tính sau đây: có vị trí cố định, không di chuyển được, tính lâu bền, tính thích ứng, tính dị biệt, tính chịu ảnh hưởng của chính sách, tính phụ thuộc vào năng lực quản lý, tính ảnh hưởng lẫn nhau (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005)

1.2 Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1.2.1 Khái niệm về đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014)

Việc đăng ký nhà nước về đất đai có ý nghĩa đảm bảo các quyền về đất đai được nhà nước công nhận, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung,

Trang 15

thống nhất của dữ liệu địa chính Đem lại những lợi lợi ích không chỉ cho người sử dụng mà cả cho nhà nước và xã hội

1.2.2 Vai trò, lợi ích của đăng ký nhà nước về đất đai

Đăng ký đất đai là một công cụ của nhà nước để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích công dân Trong đó lợi ích đối với nhà nước và xã hội được thể hiện trong các lĩnh vực sau (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005]:

+ Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế chuyển nhượng

+ Giám sát giao dịch đất đai, hỗ trợ hoạt động của thị trường BĐS

+ Phục vụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, thu hồi đất

+ Cung cấp tư liệu phục vụ các chương trình cải cách đất đai, bản thân việc triển khai một hệ thống đăng ký đất đai cũng là một cải cách pháp luật

+ Đảm bảo an ninh kinh tế, trật tự xã hội

Đăng ký quyền sử dụng đất cũng đem lại những lợi ích đối với công dân như sau:

+ Tăng cường sự an toàn về chủ quyền đối với BĐS

+ Khuyến khích đầu tư cá nhân

+ Mở rộng khả năng vay vốn xã hội

1.2.3 Cơ sở đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1.2.3.1 Hồ sơ đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Hồ sơ đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi là hồ sơ địa chính)

là tài liệu chứa đựng thông tin liên quan tới thuộc tính, chủ quyền và chủ thể có chủ quyền đối với đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Hồ sơ đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được lập để phục vụ cho lợi ích của nhà nước và phục

vụ quyền lợi của công dân

- Đối với Nhà nước: để thực hiện việc thu thuế cũng như đảm bảo cho việc quản lý, giám sát, sử dụng và phát triển đất đai một cách hợp lý và hiệu quả

- Đối với công dân, việc lập hồ sơ đảm bảo cho người sở hữu, người sử dụng

có các quyền thích hợp để họ có thể giao dịch một cách thuận lợi, nhanh chóng, an toàn và với một chi phí thấp (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005)

1.2.3.2 Nguyên tắc đăng ký đất đai, bất động sản

Trang 16

Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất dựa trên những nguyên tắc (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005):

- Nguyên tắc đăng nhập hồ sơ;

- Nguyên tắc công khai;

- Nguyên tắc chuyên biệt hoá;

- Nguyên tắc đồng thuận

1.2.3.3 Đơn vị đăng ký đất đai

Đơn vị đăng ký đất đai là thửa đất, thửa đất được hiểu là một phần bề mặt trái đất, có thể liền mảnh hoặc không liền mảnh, được coi là một thực thể đơn nhất

và độc lập để đăng ký vào hệ thống hồ sơ với tư cách là một đối tượng đăng ký có một số hiệu nhận biết duy nhất Việc định nghĩa một cách rõ ràng đơn vị đăng ký là vấn đề quan trọng cốt lõi trong từng hệ thống đăng ký (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005)

Trong các hệ thống đăng ký giao dịch cổ điển, đơn vị đất trong đăng ký không được xác định một cách đồng nhất, đúng hơn là không có quy định Lý do của việc này là trong sổ đăng ký, các thông tin đăng ký được ghi sổ một cách độc lập theo từng vụ giao dịch Trong hệ thống đăng ký văn tự giao dịch, nội dung mô tả ranh giới thửa đất chủ yếu bằng lời, có thể kèm theo sơ đồ hoặc không Các hệ thống đăng ký giao dịch nâng cao đã có đòi hỏi cao hơn về nội dung mô tả thửa đất, không chỉ bằng lời mà còn đòi hỏi có sơ đồ hoặc bản đồ với hệ thống mã số nhận dạng thửa đất không trùng lặp Với hệ thống địa chính đa mục tiêu ở Châu Âu, việc đăng ký quyền và đăng ký để thu thuế không phải là mục tiêu duy nhất, quy mô thửa đất có thể từ hàng chục m2 cho đến hàng ngàn ha được xác định trên bản đồ địa chính, hệ thống bản đồ đia chính được lập theo một hệ toạ độ thống nhất trong phạm vi toàn quốc Trong hệ thống HSĐC của Việt Nam quy định: “Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô

tả trên hồ sơ” (Nguyễn Văn Chiến, 2006)

1.2.4 Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1.2.4.1 Đăng ký văn tự giao dịch

Trang 17

Giao dịch đất đai là phương thức mà các quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến đất đai được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, bao gồm thế chấp, nghĩa

vụ, cho thuê, quyết định phê chuẩn, tuyên bố ban tặng, văn kiện phong tặng, tuyên

bố từ bỏ quyền lợi, giấy sang nhượng, và bất cứ sự bảo đảm quyền nào khác (Nguyễn Đình Bồng,Tôn Gia Huyên, 2007)

Đăng ký quyền dựa trên các nguyên tắc: Phản ánh trung thực; khép kín vào bảo hiểm (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005)

1.2.4.3 Các trường hợp đăng ký và người phải đăng ký quyền sử dụng đất

Đăng ký đất đai (hay đăng ký quyền sử dụng đất) được hiểu là việc ghi nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào HSĐC nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bao gồm 2 nhóm hoạt động: Đăng ký QSDĐ lần đầu và đăng ký biến động về sử dụng đất

Đăng ký QSDĐ lần đầu được thực hiện khi người sử dụng đất được Nhà

nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng hoặc đang sử dụng mà thửa đất đó chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) Sau khi đăng ký được ghi nhận, người sử dụng đất sẽ được cấp GCNQSDĐ, được thừa nhận và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trong sử dụng đất của mình

Theo Luật Đất đai 2013, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhưng thực tế, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà trao đất đai và QSDĐ thay mình khai thác đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất và công nhận QSDĐ cho những người đang sử dụng ổn định Theo đó, QSDĐ của người sử dụng đất được xác lập khi có quyết định giao đất, quyết định

Trang 18

cho thuê đất hay quyết định công nhận QSDĐ bằng việc cấp GCNQSDĐ cho người

sử dụng đất ổn định Kể từ thời điểm này, người sử dụng đất chính thức có các quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, để thực hiện các quyền giao dịch QSDĐ, người sử dụng đất phải tiến hành thủ tục tiếp theo là đăng ký QSDĐ để được cấp GCNQSDĐ, chính thức được ghi vào hồ sơ của Nhà nước những thông tin cần thiết đối với việc phát sinh quyền và sử dụng quyền, cũng như công bố thông tin về quyền Chỉ sau khi đăng ký, được cấp GCNQSDĐ, người sử dụng đất mới đáp ứng điều kiện thực hiện các giao dịch QSDĐ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013)

Đăng ký biến động về sử dụng đất được thực hiện khi người sử dụng đất đã

được cấp GCNQSDĐ, nhưng có sự thay đổi trong sử dụng đất Sau khi đăng ký, GCNQSDĐ và HSĐC sẽ được điều chỉnh hoặc GCNQSDĐ được cấp mới theo sự thay đổi đó

Những thay đổi trong sử dụng đất phải được đăng ký bao gồm các trường hợp cụ thể: người sử dụng đất thực hiện quyền giao dịch QSDĐ (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ, thế chấp, góp vốn bằng QSDĐ); người sử dụng đất được phép đổi tên; có thay đổi về hình dạng, kích thước, diện tích thửa đất, chuyển mục đích sử dụng đất; thay đổi thời hạn sử dụng đất …

Người phải đăng ký QSDĐ là người sử dụng đất và những tổ chức được Nhà nước giao để quản lý Họ có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mặt mình đăng ký QSDĐ

1.3 Văn phòng đăng ký đất đai

1.3.1 Khái quát về hệ thống văn phòng đăng ký đất đai Việt Nam

1.3.1.1 Giai đoạn trước khi có Luật đất đai

Sau khi hiến pháp 1980 ra đời quy định hình thức sở hữu toàn dân về đất đai Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ “Về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước” đã lập được hệ thống hồ sơ đăng ký cho toàn bộ đất nông nghiệp và một phần diện tích đất thuộc khu dân cư nông thôn (Đặng Anh Quân, 2011)

1.3.1.2 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 1987 đến Luật đất đai 1993

Trang 19

- Luật Đất đai 1987 quy định “Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép chuyển quyền sử dụng, thay đổi mục đích sử dụng hoặc đang sử dụng đất hợp pháp mà chưa đăng ký phải xin đăng ký đất đai tại cơ quan Nhà nước

- UBND quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và UBND xã thuộc huyện lập, giữ sổ địa chính, vào sổ địa chính cho người sử dụng đất và tự mình đăng ký đất chưa sử dụng vào sổ địa chính” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1987)

Kế thừa và phát huy kết quả đo đạc, đăng ký đất đai theo Chỉ thị số 299/TTg, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 về việc cấp GCNQSDĐ và Thông tư số 302 - ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thực hiện Quyết định 201- QĐ/ĐKTK đã tạo ra một sự chuyển biến lớn đối với hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam

Thời kỳ này do đất đai ít biến động, Nhà nước nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức và với phương thức quản lý đất đai theo cơ chế bao cấp nên hoạt động đăng ký đất đai ít phức tạp (Nguyễn Đình Bồng và Tôn Gia Huyên, 2007)

1.3.1.3 Đăng ký đất đai từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến trước khi có Luật Đất đai 2003

Luật Đất đai 1993 (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1994) quy định:

“Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp GCNQSDĐ”

“Người đang sử dụng đất tại xã, phường, thị trấn nào thì phải đăng ký tại xã, phường, thị trấn đó - UBND xã, phường, thị trấn lập và quản lý sổ địa chính, đăng

ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về việc sử dụng đất”

Luật sửa đổi bổ sung Luật Đất đai (1998, 2001) tiếp tục phát triển các quy định về đăng ký đất đai của Luật Đất đai 1993, công tác đăng ký đất đai được chấn chỉnh và bắt đầu có chuyển biến tốt Chính quyền các cấp ở địa phương đã nhận thức được vai trò quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nhiệm vụ đăng ký đất đai với công tác quản lý đất đai, tìm các giải pháp khắc phục, chỉ đạo sát sao nhiệm vụ này (Đặng Anh Quân, 2011)

1.3.1.4 Đăng ký đất đai từ khi có Luật Đất đai 2003 đến trước khi có Luật Đất đai năm 2013

Trang 20

Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào HSĐC nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2004)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng

cơ bản có hiệu lực cơ bản thống nhất một loại GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thay cho các loại GCNQSDĐ, Giấy chứng nhận quyền

sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp tách biệt với QSDĐ và tài sản gắn liền với đất trước đây; và giao cho cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường làm đầu mối tiếp nhận hồ sơ và thực hiện các thủ tục trình UBND cấp Giấy chứng nhận mới này (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2009)

Luật dành riêng một chương quy định các thủ tục hành chính trong quản lý

và sử dụng đất đai theo phương châm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người sử dụng đất hợp pháp thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của mình

Hệ thống Đăng ký đất đai có hai loại: đăng ký ban đầu, đăng ký biến động

+ Đăng ký ban đầu được thực hiện khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cấp GCNQSDĐ cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân; đăng ký quyền sở hữu tài sản hợp pháp…

+ Đăng ký biến động: đăng ký những biến động đất đai trong quá trình sử dụng đất do thay đổi diện tích (tách, hợp thửa đất, sạt lở, bồi lấp …), do thay đổi mục đích sử dụng, do thay đổi quyền và các hạn chế về QSDĐ

- Cơ quan đăng ký đất đai: Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có VPĐKQSDĐ là đơn vị sự nghiệp công thực hiện chức năng quản lý HSĐC gốc, chỉnh lý thống nhất HSĐC, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa

vụ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2003)

1.3.1.5 Đăng ký đất đai theo quy định của Luật Đất đai năm 2013

Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào HSĐC” (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014)

Trang 21

Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; đăng ký quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu

Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gồm đăng ký lần đầu

và đăng ký biến động, được thực hiện tại tổ chức đăng ký đất đai thuộc cơ quan quản lý đất đai, bằng hình thức đăng ký trên giấy hoặc đăng ký điện tử và có giá trị pháp lý như nhau

Đăng ký lần đầu được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

Thửa đất được giao, cho thuê để sử dụng;

Thửa đất đang sử dụng mà chưa đăng ký;

Thửa đất được giao để quản lý mà chưa đăng ký;

Nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chưa đăng ký

Đăng ký biến động được thực hiện đối với trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận hoặc đã đăng ký mà có thay đổi

Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đã kê khai đăng ký được ghi vào Sổ địa chính, được cấp GCN nếu có nhu cầu và có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp đăng ký biến động đất đai thì người sử dụng đất được cấp GCN hoặc chứng nhận biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp

Các trường hợp đăng ký biến động thì trong thời hạn không quá 30 ngày, kể

từ ngày có biến động, người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục đăng ký biến động; trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất thì thời hạn đăng ký biến động được tính từ ngày phân chia xong quyền sử dụng đất là di sản thừa kế

Việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng

ký vào sổ địa chính (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2014)

1.3.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đăng ký

1.3.2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính

Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX (tháng 4/2001), đã xác định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá, chủ trương tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính trong đó có giải pháp tách cơ quan hành chính công quyền với

Trang 22

tổ chức sự nghiệp: “Đổi mới và hoàn thiện thể chế, thủ tục hành chính, kiên quyết

chống tệ cửa quyền, sách nhiễu, “xin - cho” và sự tắc trách vô kỷ luật trong công việc”

Nghị quyết số 38/1994/NQ-CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức

Quyết định số 136/2001/QĐ-TTG ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu là: xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Thông báo 347/TB-VPCP ngày 27/8/2014 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

Quyết định số 1839/QĐ-BTNMT ngày 27/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Về việc công bố thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường

1.3.2.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐK đất đai

Luật Đất đai 2003 quy định:

+ Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại VPĐKQSDĐ trong các trường hợp sau đây: Người đang sử dụng đất chưa được cấp GCNQSDĐ; Người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại QSDĐ; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ theo quy định của Luật này; Người nhận chuyển quyền sử dụng đất; Người sử dụng đất đã có GCNQSDĐ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đổi tên, chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất hoặc có thay đổi đường ranh giới thửa đất; Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân,

Trang 23

quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành

+ Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có VPĐKQSDĐ là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng quản lý HSĐC gốc, chỉnh lý thống nhất HSĐC, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2004)

Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ: Hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất có quy định:

“VPĐKQSDĐ cấp tỉnh thuộc Sở TN&MT, do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập theo đề nghị của Giám đốc Sở TN&MTvà Giám đốc Sở Nội vụ; chịu sự quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Sở TN&MT

VPĐKQSDĐ cấp huyện thuộc Phòng TN&MT, do UBND cấp huyện quyết định thành lập theo đề nghị của Trưởng Phòng TN&MT, Trưởng Phòng Nội vụ - Lao động, Thương binh và Xã hội; chịu sự chỉ đạo, quản lý của Phòng TN&MT theo phân cấp quản lý của UBND cấp huyện

VPĐKQSDĐ hoạt động theo loại hình sự nghiệp có thu, có con dấu riêng, được mở tài khoản theo quy định hiện hành” (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, 2004)

Luật Đất đai 2013 quy định: Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ

Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 quy định: Thực hiện dịch vụ trong lĩnh vực đất đai có VPĐKĐĐ với quy định (Chính phủ, 2014):

“VPĐKĐĐ là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở TN&MT do UBND cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên cơ sở hợp nhất VPĐKQSDĐ trực thuộc Sở TN&MT và các VPĐKQSDĐ trực thuộc Phòng TN&MT hiện có ở địa phương; có

Trang 24

tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật

VPĐKĐĐ có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất HSĐC và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu;

VPĐKĐĐ có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Chi nhánh VPĐKĐĐ được thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của VPĐKĐĐ theo quyết định của UBND cấp tỉnh;

Kinh phí hoạt động của VPĐKĐĐ thực hiện theo quy định của pháp luật về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập” (Chính phủ, 2014)

- Về tổng thể thì việc Nhà nước ban hành các quy định liên quan đến VPĐK trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tuy không nhiều nhưng được xem là tương đối đầy đủ Đây là căn cứ pháp lý ban đầu để thành lập và đưa các VPĐK đi vào hoạt động Tuy nhiên, các văn bản pháp quy liên quan đến VPĐK còn những hạn chế như:

+ Thiếu các quy định hướng dẫn tổ chức hoạt động của VPĐK và việc phổ biến, tổ chức tập huấn cho công tác này chưa được tiến hành đồng bộ do vậy tình trạng hoạt động chồng lấn hay phụ thuộc vào Phòng TN&MT là cơ bản

+ Chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí và tác dụng của

tổ chức này đối với nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai

Tình hình trên cho thấy việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đưa VPĐK đi vào hoạt động hiệu quả là nhiệm vụ bức thiết nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý, sử dụng đất phục vụ phát triển kinh tế đất nước

1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của VPĐK đất đai

1.3.3.1 Chức năng của Văn phòng đăng ký đất đai

Thông tư liên tịch Số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 4/4/2015 đã quy định chức năng của văn phòng đăng ký đất đai, cụ thể như sau (Bộ TN&MT,

Bộ Nội Vụ, Bộ Tài Chính, 2015):

Trang 25

VPĐK đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường có chi nhánh tại các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có chức năng thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân

có nhu cầu, thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật

1.3.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng đăng ký đất đai

Tại Điều 2 Thông tư liên tịch Số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 4/4/2015 đã quy định chức năng và quyền hạn của văn phòng đăng ký đất đai, cụ thể như sau (Bộ TN&MT, Bộ Nội Vụ, Bộ Tài Chính, 2015):

1 Thực hiện việc đăng ký đất được Nhà nước giao quản lý, đăng ký quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

2 Thực hiện việc cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận)

3 Thực hiện việc đăng ký biến động đối với đất được Nhà nước giao quản lý, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

4 Lập, chỉnh lý, cập nhật, lưu trữ và quản lý hồ sơ địa chính; tiếp nhận, quản

lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật

5 Cập nhật, chỉnh lý, đồng bộ hóa, khai thác dữ liệu đất đai; xây dựng, quản

lý hệ thống thông tin đất đai theo quy định của pháp luật

6 Thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; chỉnh lý bản đồ địa chính; trích lục bản đồ địa chính

7 Kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất; kiểm tra, xác nhận sơ đồ nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do tổ chức, cá nhân cung cấp phục vụ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận

8 Thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật

Trang 26

9 Cung cấp hồ sơ, bản đồ, thông tin, số liệu đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật

10 Thực hiện việc thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật

11 Thực hiện các dịch vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ phù hợp với năng lực theo quy định của pháp luật

12 Quản lý viên chức, người lao động, tài chính và tài sản thuộc Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện hành và tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được giao

1.3.3.3 Mối quan hệ giữa Văn phòng đăng ký đất đai với chính quyền địa phương

Trước khi thành lập VPĐKĐĐ: Sự phối hợp giữa VPĐKQSDĐ cấp tỉnh với VPĐKQSDĐ cấp huyện (hoặc Phòng TN&MT) còn lỏng lẻo, nhiều nơi còn lúng túng do chưa xây dựng được quy chế phối hợp giữa các cấp trong việc lập HSĐC ban đầu hoặc lập bổ sung HSĐC; giải quyết thủ tục chuyển quyền giữa cá nhân với

tổ chức; việc tổ chức chỉnh lý thường xuyên HSĐC còn nhiều bất cập

Sau khi VPĐKĐĐ được thành lập trên cơ sở hợp nhất nguyên trạng VPĐKQSDĐ trực thuộc Sở TN&MT và các VPĐKQSDĐ trực thuộc Phòng TN&MT các huyện, thị xã, thành phố thì sự phối hợp giữa VPĐKĐĐ cấp tỉnh với các Chi nhánh VPĐKĐĐ đã nhiều thay đổi nguyên nhân chủ yếu là do đã xây dựng được quy chế phối hợp giữa các cấp

Mối quan hệ giữa VPĐK đất đai với chính quyền địa phương được thể hiện theo sơ đồ sau:

Trang 27

Hình 1.1: Sơ đồ vị trí của VPĐK trong hệ thống quản lý đất đai

1.4 Đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước trên thế giới

1.4.1 Mô hình đăng ký đất đai ở Malaysia

Tại Malaysia, cơ quan đăng ký đất đai được thành lập theo 1 cấp ở các bang

và có một số rất ít chi nhánh trực thuộc, có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền thực hiện tất cả các công việc của các thủ tục đăng ký đất đai và bất động sản, cấp Giấy chứng nhận; quản lý, cập nhật dữ liệu đất đai; lưu trữ toàn bộ hệ thống hồ sơ đăng

ký đất đai; đồng thời thực hiện thu các khoản phí, lệ phí liên quan đến thủ tục đăng

ký, kể cả lệ phí trước bạ

Trang 28

Giám đốc cơ quan đăng ký và chi nhánh cùng có thẩm quyền ký, cấp Giấy chứng nhận cho mọi tổ chức và cá nhân

Thủ tục đăng ký chuyển nhượng đất đai thông thường phải qua các bước:

Người mua và người bán thỏa thuận, thuê luật sư của mình để tìm hiểu thông tin và thương thảo Hợp đồng Trường hợp bên mua vay tiền ngân hàng để mua (là hình thức rất phổ biến tại Malaysia) thì bên mua thông qua Luật sư thương thảo với ngân hàng về việc cho vay tiền mua đất;

Sau khi Hợp đồng đã được ký kết, hai bên mua bán thông qua Luật sư của mình làm đại diện đến cơ quan thuế trực thuộc Bộ Tài chính để thực hiện đánh giá tài sản và làm thủ tục nộp thuế;

Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, hồ sơ được chuyển sang cơ quan đăng ký và làm thủ tục chuyển đổi quyền sở hữu tài sản ở cơ quan đăng ký đất đai trực thuộc nơi có tài sản

Có thể thực hiện đăng ký trực tiếp tại cơ quan đăng ký hoặc đăng ký trên mạng (online), việc đăng ký trên mạng có ưu điểm rút ngắn thời gian nộp và chuyển

hồ sơ đến bộ phận xử lý (thời gian từ 08 ngày xuống còn 01 ngày); thời gian chờ xử

lý hồ sơ (đánh giá tài sản, chuyển thông tin nghĩa vụ tài chính…) từ 08 ngày xuống còn 01 ngày (Quách Văn Chiến, 2010)

1.4.2 Mô hình đăng ký đất đai ở Thụy Điển

Ở Thụy Điển, đất đai được chia thành những đơn vị BĐS Tất cả những đơn

vị BĐS đều được đăng ký Hoạt động đăng ký đất đai bao gồm hoạt động địa chính (sự hình thành và đăng ký bất động sản) và việc đăng ký quyền (quyền sở hữu và những hạn chế trong thực hiện quyền) Những hoạt động này được duy trì và kế thừa từ hệ thống đăng ký trước đây với một vài thay đổi cho phù hợp xã hội hiện đại Hoạt động đăng ký được tiến hành chủ yếu bởi Cơ quan Đo đạc đất đai quốc gia

Cơ quan Đo đạc đất đai quốc gia là tổ chức thuộc Bộ Môi trường, với lực lượng nhân sự khoảng 2.400 người làm việc tại 90 văn phòng trên khắp Thụy Điển

Cơ quan này giữ vai trò chủ yếu và chịu trách nhiệm trên phạm vi toàn quốc trong lĩnh vực bản đồ, địa chính và đăng ký quyền thông qua bốn bộ phận là dịch vụ địa

Trang 29

chính, đăng ký quyền, dịch vụ thông tin địa lý và đất đai và bộ phận thương mại cung cấp dịch vụ thông tin địa lý và sản xuất bản đồ Cụ thể:

Bộ phận Dịch vụ địa chính chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hoạt động địa chính và các thủ tục địa chính liên quan đến sự hình thành, thay đổi của bất động sản; sự hình thành tài sản chung; xác định và điều chỉnh ranh giới bất động sản; xác định những hạn chế về quyền (như quyền đi qua bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng các tiện ích công cộng) Bộ phận này có tổng số khoảng 860 nhân sự làm việc tại 80 văn phòng trên khắp Thụy Điển

Bộ phận Đăng ký quyền chịu trách nhiệm kiểm tra các đơn đăng ký liên quan đến quyền sở hữu, thế chấp và những quyền khác, ghi nhận những thông tin này vào phần đăng ký quyền trong Sổ đăng ký bất động sản Đây là bộ phận mới được thành lập từ khi Cơ quan Đo đạc đất đai quốc gia tiếp nhận trách nhiệm đăng ký quyền từ Tòa án Tổng số nhân sự của Bộ phận Đăng ký quyền khoảng 200 người

Bộ phận Thông tin địa lý và đất đai chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý, phát triển và cung cấp thông tin về địa lý và đất đai Ngoài ra, bộ phận này còn có trách nhiệm đối với vấn đề chuẩn hóa và phát triển, ứng dụng kỹ thuật vào lĩnh vực đăng

ký, lập bản đồ và xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) Tổng số nhân sự của Bộ phận Thông tin địa lý và đất đai xấp xỉ 550 người

Bộ phận thương mại và sản xuất bản đồ (Metria) cung cấp một chương trình

mở rộng của các dịch vụ trong lĩnh vực đo đạc đất đai và cung cấp thông tin mô tả

cơ bản cho Bộ phận Thông tin địa lý và đất đai Metria còn cung cấp những dịch vụ

và sản phẩm khác như dịch vụ tư vấn trong việc đo đạc, lập bản đồ và kỹ thuật thông tin địa lý; chịu trách nhiệm xuất bản hàng loạt bản đồ quốc gia và những sản phẩm bản đồ khác cũng như thực hiện công tác đo vẽ bản đồ theo hợp đồng Tổng

số nhân sự của Metria xấp xỉ 425 người, làm việc tại 40 văn phòng trên toàn Thụy Điển (Đặng Anh Quân, 2011)

Thủ tục đăng ký đất đai bao gồm hai nhóm hoạt động: địa chính và đăng ký quyền

- Hoạt động địa chính được thể hiện thông qua các hoạt động như:

Chia nhỏ đất đai: một diện tích đất được tách ra từ một đơn vị bất động sản

để tạo thành một đơn vị bất động sản mới;

Trang 30

Phân phối lại đất đai: một mảnh đất được tách rời từ một đơn vị bất động sản

và sáp nhập vào đơn vị khác, kèm theo đó là sự tạo lập, thay đổi hoặc hủy bỏ quyền

đi qua bất động sản liền kề;

Hợp thửa: hai hoặc nhiều đơn vị bất động sản được sáp nhập lại, hình thành nên một đơn vị bất động sản mới;

Tách thửa: một đơn vị bất động sản thuộc sở hữu chung của hai hoặc nhiều người được phân chia thành từng đơn vị bất động sản mới tương ứng với phần sở hữu của từng người;

Xác định ranh giới bất động sản: được tiến hành khi ranh giới, hoặc cột mốc của một đơn vị bất động sản không xác định được rõ ràng, cần được xác định lại;

Di chuyển hoặc tháo dỡ công trình/tài sản gắn liền trên đất;

Sự thiết lập những tiện ích chung (như lối đi, nhà để xe, hệ thống cấp - thoát nước); Thủ tục xác lập quyền đi qua bất động sản liền kề

Những hoạt động này được gọi chung là sự hình thành bất động sản

- Đăng ký quyền được thực hiện thông qua những hoạt động:

Đăng ký quyền sở hữu (đối với bất động sản có được thông qua hoạt động mua bán);

Đăng ký thế chấp: được thực hiện nhằm bảo vệ nguồn vốn của tổ chức tín dụng đã cho vay;

Đăng ký đất thuê: đây là trường hợp đất thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương được cho thuê với thời hạn lâu dài Người thuê tiến hành đăng ký việc thuê đất của mình tương tự như đăng ký quyền sở hữu;

Đăng ký quyền thuê mặt bằng;

Đăng ký quyền sử dụng của người sử dụng;

Đăng ký những hạn chế đối với bất động sản: như quyền đi qua bất động sản liền kề, quyền sử dụng những tiện ích công cộng có trên khu đất; (VII) Đăng ký bất động sản gắn liền trên đất (Đặng Anh Quân, 2011)

1.4.3 Mô hình đăng ký đất đai tại Australia

Cơ quan đăng ký đất đai là tổ chức dịch vụ công, thực hiện tất cả các công việc của thủ tục đăng ký đất đai và bất động sản (kể cả việc ký cấp Giấy chứng

Trang 31

nhận); thực hiện quản lý, cập nhật dữ liệu đất đai; lưu trữ toàn bộ hệ thống hồ sơ đăng ký đất đai; thực hiện thu các khoản phí, lệ phí liên quan đến thủ tục đăng ký,

Tổng số nhân viên có 900 người, trong đó: tại Văn phòng chính có khoảng

500 người, tại chi nhánh có 200 người, ngoài ra còn có khoảng 300 người ở rải rác trên toàn Bang Cơ cấu nhân viên chủ yếu thuộc lĩnh vực đăng ký 350 người, lĩnh vực đo đạc khoảng 250 người, lĩnh vực định giá 100 người

Kinh phí cho toàn bộ hoạt động của LPI đều dựa trên các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ của cơ quan (gồm các khoản phí đăng ký và phí cung cấp thông tin,

dữ liệu đất đai); hàng năm LPI thu được khoảng 200 - 250 triệu USD, trong đó thu

từ cung cấp thông tin khoảng 30 triệu/năm Lợi nhuận nộp ngân sách khoảng 30 triệu/năm, chưa kể thuế; còn lại LPI được quyền sử dụng Tuy nhiên, toàn bộ kinh phí thu được đều phải nộp kho bạc và được phân bổ lại theo kế hoạch hoạt động hàng năm của LPI

Cơ quan đăng ký có 6 bộ phận gồm:

+ Dự án đăng ký điện tử: thực hiện các giao dịch bằng điện tử;

Việc đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận lần đầu ở các bang thuộc Australia đều đã hoàn thành; hoạt động đăng ký đất đai hiện nay chủ yếu là đăng ký các giao dịch về chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp bất động sản và chia tách thửa đất

Trang 32

để tạo thành bất động sản mới Mức độ thực hiện đăng ký các giao dịch về đất đai hàng năm tại mỗi cơ quan đăng ký (mỗi bang) là rất lớn

Hệ thống đăng ký đăng ký tại Sydney cũng như trên toàn lãnh thổ Australia thực hiện theo hệ thống Torren với đặc trưng chủ yếu là cấp Giấy chứng nhận (Certificate of title) cho từng thửa đất mà không lập sổ địa chính như ở Việt Nam

Hồ sơ địa chính được lưu trữ chỉ bao gồm bản đồ hoặc bản trích đo thửa đất, Giấy chứng nhận (bản lưu) và tờ đăng ký đất (dùng cho chủ đất kê khai và nhân viên đăng ký ghi kết quả kiểm tra hồ sơ; có15 loại mẫu khác nhau cho mỗi loại thủ tục; trường hợp chuyển nhượng không phải nộp hợp đồng)

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của Bang New South Wales được thực hiện từ năm 1983 và đã hoàn thành từ hàng chục năm nay Việc đăng ký giao dịch điện tử đã được thực hiện từ năm 2011

Thông tin đất đai được cung cấp cho mọi tổ chức, cá nhân có yêu cầu mà không giới hạn; nhưng người được cung cấp phải trả phí, kể cả các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương;

Việc đăng ký đất đai tại các Bang của Australia thường không do chủ sở hữu đất trực tiếp thực hiện mà do luật sư đại diện cho chủ sở hữu đất thực hiện (Quách Văn Chiến, 2010)

1.5 Thực trạng hoạt động của VPĐK đất đai ở Việt Nam

1.5.1 Tình hình thành lập Văn phòng đăng ký đất đai

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính đến năm 2018 cả nước

đã có 55/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập VPĐK đất đai một cấp, còn 8 tỉnh đã xây dựng đề án và đang trình UBND tỉnh phê duyệt (tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An) Các tỉnh đã thành lập 596 chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai/602 đơn vị hành chính cấp huyện (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018)

1.5.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai

VPĐKĐĐ có Giám đốc và không quá 02 Phó Giám đốc Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc VPĐKĐĐ thực hiện theo quy định của

Trang 33

pháp luật và phân cấp của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là UBND cấp tỉnh), phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định

VPĐKĐĐ cấp tỉnh được thành lập một số phòng chuyên môn nghiệp vụ; số lượng phòng chuyên môn nghiệp vụ căn cứ vào đặc điểm của từng địa phương và theo nhiệm vụ của VPĐKĐĐ cấp tỉnh

Giám đốc Sở TN&MT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của VPĐKĐĐ và các Chi nhánh trực thuộc VPĐKĐĐ; thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng của VPĐKĐĐ và Giám đốc, Phó Giám đốc Chi nhánh VPĐKĐĐ theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý cán bộ của UBND cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định (Bộ TN&MT, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, 2015)

1.5.3 Nguồn nhân lực của VPĐK đất đai

* VPĐK đất đai trung tâm

Theo báo cáo Tổng Cục quản lý đất đai, số lượng lao động của các VPĐK trung tâm hiện còn hạn chế, tổng số cán bộ của 55 VPĐK trung tâm tính đến tháng

4 năm 2018 là 2.509 người, trung bình mỗi VPĐK trung tâm có 47 người, cụ thể:

Bảng 1.1: Nguồn nhân lực của VPĐK Việt Nam Chia theo vùng

Tổng

số

Biên chế

Hợp đồng

Tổng

số

Biên chế

Hợp đồng

Miền núi phía Bắc 402 240 162 1087 671 416 Đồng Bằng Bắc Bộ 473 232 241 583 267 316 Bắc Trung Bộ 121 57 64 441 180 261 Nam Trung Bộ 344 117 227 1308 376 932 Tây Nguyên 139 52 87 567 172 395 Đông Nam Bộ 532 327 205 3085 1389 1696 Tây Nam Bộ 498 229 269 1635 628 1007

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018)

Trang 34

* Chi nhánh VPĐK đất đai

Tổng số lao động của 596 chi nhánh VPĐK đất đai tính đến tháng 4 năm

2018 có 8.706 người, trung bình mỗi chi nhánh VPĐK đất đai có 15 người

1.5.4 Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vai trò của VPĐK đất đai

Theo quyết định thành lập thì hầu hết các VPĐK hiện nay đều có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số: 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ TNMT, bộ Nội vụ và Bộ Tài chính

1.6 Đánh giá chung về tổng quan

Tôi nhận thấy việc nghiên cứu về hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng

ký đất đai mô hình một cấp là rất cần thiết Các Văn phòng đăng ký đất đai theo mô hình 1 cấp đã giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các

tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục đất đai nhanh chóng và đúng với chuyên ngành Không những thế, việc quản lý hoạt động chuyên môn cũng chuyên nghiệp hơn, giải quyết thủ tục ĐKĐĐ, tài sản gắn liền với đất đơn giản theo cơ chế “một cửa”, chất lượng thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận được nâng cao và thời gian thực hiện nhanh gọn, tránh những sai sót, chồng chéo Bên cạnh những thuận lợi trên mô hình văn phòng đăng ký đất đai một cấp vẫn còn tồn tại những khó khăn, bất cập như việc kiện toàn mô hình Văn phòng đăng ký một cấp còn một số nội dung ở một số địa phương chưa được thực hiện đầy đủ, lượng nhân lực chuyên môn của Văn phòng đăng ký một cấp và một số chi nhánh của của các tỉnh, thành còn ít;

bộ máy của Văn phòng đăng ký chưa đầy đủ, điều kiện thiết bị máy móc, nhà làm việc và kho lưu trữ của Văn phòng, đặc biệt là tại các chi nhánh còn nhiều khó khăn Xuất phát từ thực tế trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: Đánh giá hiệu quả hoạt động của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai mô hình một cấp tại huyện Phú Bình giai đoạn 2016 - 2019

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Kết quả hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

2.2 Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Không gian nghiên cứu

Chi nhánh VPĐK đất đai huyện Phú Bình thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Thái Nguyên

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thu thập số liệu, tài liệu từ sau khi thành lập Chi nhánh VPĐK đất đai (ngày 01/4/2016 đến tháng 12/2019)

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

2.3.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

2.3.3 Thực trạng và kết quả hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Phú Bình

- Thực trạng hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai

- Kết quả hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai

- Đánh giá thực trạng hoạt động của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai

2.3.4 Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp

Trang 36

- Phòng Tài nguyên và Môi trường: Thu thập các tài liệu số liệu về hiện trạng

sử dụng đất và tình hình quản lý sử dụng đất của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên từ năm 2016 đến 2019:

- Phòng Tài chính, Phòng Thống kê: Thu thập các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện, các xã thị trấn nghiên cứu, số liệu thống kê về kinh tế

xã hội từ năm 2016 đến 2019

- Chi nhánh VPĐK đất đai: Thu thập các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của Chi nhánh VPĐK đất đai; các báo cáo về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ qua các năm từ 01/4/2016 đến tháng 12 năm 2019

2.4.2 Phương pháp điều tra các số liệu sơ cấp

Khảo sát thực địa thu thập số liệu sơ cấp nhằm kiểm chứng các thông tin, số liệu đã thu thập được từ điều tra nội nghiệp

- Phỏng vấn các hộ gia đình, cá nhân tham gia giao dịch tại Chi nhánh VPĐK đất đai theo mẫu phiếu soạn sẵn

+ Vùng 1: Gồm thị trấn Hương Sơn, xã Kha Sơn, Xuân Phương, Lương Phú, Tân Hoà, Dương Thành, Thanh Ninh, Tân Đức… Điều tra thực hiện với 50 phiếu:

Trên địa bàn thị trấn Hương Sơn điều tra 30 phiếu vì đây là trung tâm kinh tế

- xã hội của huyện; xã Xuân Phương điều tra 20 phiếu vì là xã có nghề gỗ mỹ nghệ khá phát triển

+ Vùng 2: Gồm xã Điềm Thuỵ, Thượng Đình, Nhã Lộng, Úc Kỳ, Nga My,

Hà Châu

Trên địa bàn xã Điềm Thuỵ điều tra 30 phiếu vì đây là địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp và dịch dụ rất nhanh; xã Nga My điều tra 20 phiếu vì đây là địa phương kinh tế phát triển thấp hơn so với khu vực

+ Nội dung điều tra:

Trang 37

- Phỏng vấn các cán bộ, nhân viên, viên chức tham gia giao dịch tại Chi nhánh VPĐK đất đai theo mẫu phiếu soạn sẵn

+ Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai: 10 phiếu

+ Phòng Tài nguyên và Môi trường: 2 phiếu

+ Nội dung điều tra:

++ Lực lượng nhân sự

++ Trình độ chuyên môn

++ Trang thiết bị kỹ thuật

++ Sự đồng nhất của các Văn bản

++ Đồng bộ của hồ sơ địa chính

++ Công tác cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính

2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Các thông tin thu thập thông qua phỏng vấn được xử lý chủ yếu theo hướng định tính Thông tin thu được từ điều tra xã hội học được xử lý chủ yếu theo hướng định lượng thông qua thống kê mô tả bằng Excel Hệ thống hoá các kết quả thu được thành thông tin tổng thể, để từ đó tìm ra những nét đặc trưng, những tính chất

cơ bản của đối tượng nghiên cứu

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Phía Đông giáp huyện Yên Thế và huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang

- Phía Tây giáp thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên

- Phía Nam giáp huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Trang 39

Phú Bình có diện tích tự nhiên 24.139,00 ha, chiếm 7,13% diện tích tự nhiên của tỉnh, là huyện có diện tích lớn thứ 7/9 huyện, thành phố, thị xã Trung tâm huyện cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 25 km, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 70 km, Phú Bình có 20 đơn vị hành chính gồm: 19 xã và 01 thị trấn có 7 xã được xếp vào diện miền núi Phú Bình là huyện có vị trí quan trọng và thuận lợi, có khả năng giao lưu kinh tế xã hội và giao lưu hàng hóa với các tỉnh, thành phố và các huyện trong tỉnh tạo mối quan hệ vùng và hợp tác đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển

3.1.1.2 Địa hình địa mạo

a Địa hình:

Địa hình huyện Phú Bình thuộc 2 loại cảnh quan chính:

- Loại cảnh quan địa hình đồng bằng: Có diện tích không lớn phân bố chủ yếu ở phía Nam của huyện, thuộc các xã vùng nước máng sông Cầu và các xã phía tây nam thuộc vùng nước kênh hồ Núi Cốc Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn gò đồi thấp có độ cao trung bình từ 20  30 m Bao gồm các xã: Thượng Đình, Điềm Thụy, Nhã Lộng, Úc Kỳ, Nga My, Hà Châu, Xuân Phương, Kha Sơn, Lương Phú, Tân Đức, Dương Thành, Thanh Ninh và thị trấn Hương Sơn

- Loại cảnh quan hình thái địa hình gò đồi và miền núi: Loại cảnh quan này chủ yếu phân bố ở phía Đông - Bắc của huyện, kéo dài dọc theo ranh giới giữa huyện Phú Bình với huyện Đồng Hỷ và huyện Phú Bình với tỉnh Bắc Giang Địa hình này chủ yếu ở các xã niền núi của huyện như Tân Hòa, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Bàn Đạt, Bảo Lý và một phần xã Đào Xá, phía Bắc thị trấn Hương Sơn

b Địa mạo, địa chất: Cấu trúc địa tầng của huyện Phú Bình khá đa dạng, các quá trình thành tạo địa chất, hình thành trầm tích, các loại đá gốc, đều có tuổi phong hoá khá cao Sớm nhất cũng có tuổi cách đây 2300 triệu năm Các đá gốc chủ yếu là các đá mắc ma xâm nhập, đá sét, đá cát, cấu trúc khối tảng, bở rời, dạng bột kết, sét kết, cát kết, các trầm tích phong hoá Gắn liền với thành tạo địa chất là một số các đứt gẫy nhỏ được hình thành trong khu vực, như đứt gãy sông Cầu, đứt gãy sông Thương , theo hướng Tây Bắc - Đông nam, Đông Bắc - Tây Nam và một số ít theo hướng Bắc - Nam (Theo tài liệu bản đồ địa chất Đông Dương quốc gia Việt Nam xuất bản năm 1996)

Trang 40

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Phú Bình lần thứ XXVI, trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Huyện Uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện, tập thể cán bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện đã và đang thực hiện chương trình đổi mới, phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo nghị quyết đã đề ra Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm, tạo điều kiện của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, các Sở, Ban, Ngành của tỉnh Kinh tế của huyện đã đạt được những thành tích đáng khích lệ

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng Bộ huyện Phú Bình lần thứ XXVI tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXVII Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm (2015 - 2019) đạt 15,7%/ năm hoàn thành mục tiêu đề ra Trong đó: Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 4,5%, công nghiệp tăng 54,0% Xây dựng tăng 16,8%, dịch vụ tăng 18,5 % Đến năm 2015 tỷ trọng giá trị nông, lâm nghiệp, thủy sản là 30,8%, công nghiệp và xây dựng 37,3%, dịch vụ 32,0%

Giá trị sản xuất đến năm 2019 đạt 9.217 tỷ đồng tăng bình quân giai đoạn 28,4%, gấp 3,5 lần so với năm 2015

Các chỉ tiêu kinh tế của huyện đều vượt so mục tiêu nghị quyết đại hội Đảng

Bộ huyện đề ra, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, GDP bình quân đầu người là 5,1 triệu đông/người/ năm vào năm 2010; năm 2015 và năm 2019 là 9,3 triệu đồng/ người/ năm

Huyện tập trung mọi nguồn lực, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Đến năm 2020 tỷ trọng giá trị nông, lâm nghiệp, thủy sản là 4,5%, công nghiệp tăng trưởng 54% vượt 10% so với mục tiêu, Xây dựng tăng 16,8%, dịch vụ tăng 18,5 % Phú Bình đã có bước chuyển biến toàn diện, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày được nâng cao, kinh tế tiếp tục phát triển mạnh trong những năm tới

Ngày đăng: 18/03/2021, 19:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Nguyễn Đình Bồng (2014). Hệ thống pháp luật về Quản lý đất đai và thị trường bất động sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống pháp luật về Quản lý đất đai và thị trường bất động sản
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2014
15. Nguyễn Văn Chiến (2006). Nghiên cứu các mô hình và phương thức hoạt động của tổ chức đăng ký đất đai của một số nước trong khu vực và một số nước phát triển. Tạp chí Luật học số 03/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các mô hình và phương thức hoạt động của tổ chức đăng ký đất đai của một số nước trong khu vực và một số nước phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 2006
17. Đặng Anh Quân (2011). Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển. Luận án tiến sỹ luật học. Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai Việt Nam và Thụy Điển. Luận án tiến sỹ luật học
Tác giả: Đặng Anh Quân
Năm: 2011
19. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1987). Luật Đất đai năm 1987. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 1987
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 1987
20. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1994). Luật Đất đai năm 1993. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 1993
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 1994
21. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003). Luật Đất đai năm 2003. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2003
22. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005). Bộ Luật dân sự năm 2005. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật dân sự năm 2005
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2005
23. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2009). Luật sửa đổi bổ sung một số điều liên quan đến Luật đầu tư xây dựng cơ bản. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều liên quan đến Luật đầu tư xây dựng cơ bản
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2009
24. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014). Luật Đất đai năm 2013. Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2013
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2014
25. Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng (2005). Thị trường bất động sản. Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bất động sản
Tác giả: Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Nông nghiệp
Năm: 2005
28. UBND huyện Phú Bình (2016), Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch huyện Phú Bình.II. WEBSITE Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch huyện Phú Bình
Tác giả: UBND huyện Phú Bình
Năm: 2016
29. Quách Văn Chiến (2010), Đăng ký đất đai và Bất động sản ở một số nước Đông Nam Á và Australia, ngày 14/05/2010, http://www.tnmtphutho.gov.vn Link
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ (2004), Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất và Tổ chức phát triển quỹ đất Khác
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính (2010), Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính (2015), Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng Đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018), Báo cáo tình hình nguồn nhân lực của Văn phòng đăng ký đất đai Khác
5. Nguyễn Đình Bồng, Tôn Gia Huyên, (2007), Quản lý đất đai và thị trường bất động sản, Nhà xuất bản Bản đồ Khác
7. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Phú Bình (2016), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2016, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2017 Khác
8. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Phú Bình (2016), Đánh gia công tác đăng ký giao dịch đảm bảo trên địa bàn huyện Phú Bình năm 2016 Khác
9. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Phú Bình (2017), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2017, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2018 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm