Câu 1.Các định nghĩa về: phản ứng có hại của thuốc (ADR), biến cố bất lợi (AE), sai sót liên quan đến thuốc (ME).Câu 2.Mục tiêu, vai trò, nguyên tắc hoạt động cảnh giác dượcCâu 3. Nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của hệ thống cảnh giác dược Việt Nam
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP IS 437
Câu 1.Các định nghĩa về: phản ứng có hại của thuốc (ADR), biến cố bất lợi (AE), sai sót liên quan đến thuốc (ME).
- ADR: (WHO) phản ứng có hại của thuốc là pư độc hại , không được định trước,
xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chuẩn đoán, hay chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý Đn này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu,quá liều lạm dụng thuốc, không tuân thủ và sai sót trong trị liệu
- AE: là bất kỳ mọt biến cố nào xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc nhưng không
nhất thiết do phác đồ điều trị bằng thuốc gây ra , đồng nghĩa có thể không có mối liên hệ nhân quả giữa thuốc và biến cố
- ME: là bất kỳ biến cố có thể phòng tránh nào có khả năng gây ra hoặc dẫn đến việc
sử dụng thuốc không hợp lí , hoặc gây hại cho người bệnh trong khi thuốc được kiểm soát bởi nhân viên y tế, người bệnh, hoặc người sử dụng
Câu 2.Mục tiêu, vai trò, nguyên tắc hoạt động cảnh giác dược.
- Mục tiêu của cảnh giác dược (EU Good Vigilance Practice 2014):
o Dự phòng tác động có hại của biến cố bất lợi trong quá trình sử dụng thuốc
o Thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, đặc biệt thông qua cung cấp thông tin
kịp thời về tính an toàn của thuốc cho người bệnh , cán bộ y tế và cộng đồng
o Trước khi thuốc được lưu hành trên thị trường, các mjc tiêu của cảnh giác dược
khá khác vs chức nắng y tế cộng đồng
o Thu thập thông tin về ADR để dánh giá và lập kế hoạch giám sát an toàn sau khi
thuốc đc cấp phếp lưu hành
- Mục tiêu chính:
1 Nâng cao chất lượng công tác điều trị và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn đối với tất cả các can thiệp y tế
2 Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe và đảm bảo sử dụng thuốc an toàn trong cộng đồng
3 Nhận diện kịp thời các vấn đề bất thường liên quan đến sử dụng thuốc và liên lạc với người phát hiện trong thời gian sớm nhất
4 Góp phần đánh giá lợi ích, tác hại, hiệu quả và nguy cơ của thuốc, tăng cường sử dụng thuốc an toàn , hợp lý và hiệu quả hơn
5 Tăng cường hiểu biết, tổ chức giáo dục, huấn luyện về cảnh giác dược , tuyên truyền về lợi ích của cảnh giác dược đối với cán bộ y tế và người dân
Trang 2- Vai trò của cảnh giác dược:
o Vai trò của cảnh giác dược ngày càng được khẳng định trong đảm bảo tính an
toàn và hiệu quả trong sử dụng thuốc
o WHO xếp cảnh giác dược là một trong những yếu tố quan trọng trong chính sách
quốc gia về thuốc
o Hoạt động cảnh giác dược có vai trò quan trọng nhằm giảm thiểu những nguy cơ
liên quan đến thuốc trong quá trình sử dụng thuốc của người bệnh Trong đó,
nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động cảnh giác dược là phát hiện, xử trí, báo cáo, đánh giá, quản lý và dự phòng những phản ứng có hại của thuốc
- Vai trò chính:
1 Dự phòng các nguy cơ trong điều trị y học
Thuốc giúp cải thiện việc điều trị và kiểm soát bệnh tật, nhưng chúng cũng gây ra các phản ứng phụ trên cơ thể người
Thuốc tấn công chính xác nguyên nhân gây bệnh, nhưng cũng tác động nhỏ tới
cơ thể, hoặc gây phản ứng tiêu cực đối với cơ thể người, gây tương tác thuốc, tác dụng kém, hoặc không có tác dụng
Mỗi tác động vào cơ thể người đều có nguy cơ, dù về mặt hóa học hay phẫu thuật
2 Nguy cơ về thuốc trong điều trị:
Các biến cố lâm sàng có hại liên quan đến dược phẩm
Không có điều gì hoàn toàn chắc chắn vì sự tương tác giữa các hóa chất và cơ thể
Nguy cơ về thuốc trong điều trị: chất lượng sản phẩm, thuốc kém chất luongj, thuốc giả
Độ an toàn và/hoặc hiệu quả của sản phẩm: các tác dụng đã biết và chưa biết
Các hành vi của nhà cung cấp và bệnh nhân: kê đơn, diễn giải điều trị cấp phát, giám sát sử dụng, tuân thủ
Kê đơn, diễn giải đơn thuốc , cấp phát, sử dụng, giám sát, tuân thủ => các hành vi của nhà cung cấp và bệnh nhân
Thuốc kém chất lượng, thuốc giả => chất lượng sản phẩm
các tác dụng đã biết , các tác dụng chưa biết => độ an toàn và or hiệu quả của sản phẩm
3 Theo dõi thuốc sau khi được thử nghiệm lâm sàng
Hội đồng an toàn của thuốc đã khẳng định: “ không phải tất cả các nguy cở của thuốc đều được biết trước khi thuốc được đưa ra ngoài thị trường”
Thứ nhất: do hạn chế của cỡ mẫu, nghĩa là giới hạn về số lượng người tham gia vào thử nghiệm lâm sàng trước khi thuốc được cấp phép
Thứ hai: do hạn chế về độ tuổi và tình trạng bênh của đối tượng tham gia nghiên cứu
Trang 3 Thứ ba: do giới hạn về thời gian nghiên cứu
- Các nguyên tắc hoạt động của cảnh giác dược:
o Các đối tượng tham gia:
Chính phủ
Hãng sản xuất và phân phối dược phẩm
Bệnh viện và các trường đại học
Cơ sở nghiên cứu
Các hiệp hội hành nghề y và dược
Các trung tâm chống độc và thông tin thuốc
Các bộ y tế
Bệnh nhân, người tiêu dùng
Phương tiện thông tin đại chúng và quan trọng là có sự hỗ trợ tích cực của Tổ chức WHO
o Nguyên tắc giám sát tính an toàn của thuốc
Nhiều cơ quan xét duyệt và đăng ký thuốc (FDA, EMEA) cũng có những yêu cầu rất chặt chẽ về theo dõi CGD trong hồ sơ và quy trình đăng ký thuốc
Trong thực hành lâm sàng, tại nhiều nước đã có các trung tâm CGD vùng và quốc gia, hoạt động theo điều phối chung của các bác sĩ chuyên ngành dược và dược sĩ chuyên ngành dịch tễ học, chịu trách nhiệm thu thập, xử lý và phản hồi thông tin liên quan đến tác dụng phụ và tính an toàn của thuốc
o Nguyên tắc phối hợp quốc tế trong lĩnh vực cảnh giác dược: là theo quy định cơ
bản của chương trình giám sát thuốc quốc tế của WHO; hơn 90 quốc gia thành viên
có hệ thống ghi chếp và báo cáo; các báo cáo này được đánh giá và có thể đưa ra hành động cụ thể tại quốc gia; thành viên của WHO các báo cáo giống nhau gửi đi khắp nơi; cộng đồng châu âu cũng có kế hoạch riêng; thành viên các quốc gia gửi báo cáo của họ đến trung tâm giám sát thuốc Uppsala, Thụy điển => xử lý , đánh giá và đưa vào bộ cơ sở dữ liệu; khi có 1 vài báo cáo về phản ứng có hại của thuốc gửi đi, quá trình xử lý này có thể phát đi tín hiệu để phát hiện các rủi ro, mối nguy hiểm để thông tin đến các quốc gia thành viên
Câu 3 Nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của hệ thống cảnh giác dược Việt Nam
Nhiệm vụ:
- Thu thập và quản lý các báo cáo về vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc
bao gồm: báo cáo phản ứng có hại của thuốc, báo cáo về sai sót liên quan đến
thuốc và báo cáo nghi ngờ thuốc giả, thuốc kém chất lượng
- Phối hợp các hoạt động khác liên quan đến thu thập báo cáo về biến cố bất lơi của
thuốc
Trang 4- Phát hiện, thông báo kịp thời và xử lý tín hiệu về tính an toàn của thuốc.
- Cung cấp thông tin về các biến cố bất lợi xảy ra liên quan đến chất lượng thuốc
và hỗ trợ conng tác quản lý chất lượng thuốc
- Phát hiện và góp phần giảm thiểu các sai sót trong kê đơn, sao chép y lệnh, cấp
phát và sử dụng thuốc
- Đánh giá nguy cơ và quản lý nguy cơ liên quan đến thuốc.
- Truyền thông có hiệu quả các vấn đề an toàn thuốc bao gồm cả việc bác bỏ những
thông tin sai lệch về độc tính của thuốc
- Củng cố và phát triển hoạt động thông tin thuốc cập nhật thông tin có được từ hệ
thống cảnh giác dược vào các chính sách quốc gia, dược thư quôc sgia và các
hướng dẫn điều trị để mang lại lợi ích cho người bệnh và cộng đồng
Phạm vi hoạt động:
Hoạt động CGD VN hiện nay tập trung vào việc theo dõi các vấn đề liên quan đến tính an toàn cuả thuốc, bao gồm: thuốc hóa dược, vắc xin, sinh phẩm y tế dùng trực tiếp trên người, thuốc YHCT và thuốc có nguồn gốc dược liệu các vấn đề liên quan đến tính an toàn của thuốc bao gồm phản ứng có hại của thuốc, sai sót liên quan đến thuốc, các vấn đề về chất lượng thuốc (thuốc giả, thuốc kém chất lượng) và 1 số vấn đề liên quan đến thuốc như điều trị thất bại
Câu 4 Các phương pháp thu thập thông tin về tính an toàn của thuốc
Phương pháp báo cáo tự nguyện: (phương pháp chính)
o Là phương pháp chính được áp dụng để theo dõi phản ứng có hại của thuốc ở
tất cả các quốc gia
o Ưu điểm:
Đơn giản, chi phí thấp
Phạm vi áp dụng rộng rãi: tất cả các thuốc, tại mọi thời điểm, trên mọi đối
tượng bệnh nhân
Phát hiện nhanh những nghi ngờ lâm sàng, hỗ trợ tốt cho hệ thống cảnh báo sớm
o Nhược điểm:
Tình trạng báo cáo thấp hơn so với thực tế
Không tính được tần suất và đo lường các yếu tố nguy cơ liên quan tới ADR
Thường chỉ báo cáo những ADR đã biết hoặc nghi ngờ
Trang 5 Phương pháp báo cáo tự nguyện có chủ đích
o Báo cáo tự nguyện có chủ đích chỉ tập trung theo dõi và báo cáo theo một số tiêu
chí nhất định: một nhóm người bệnh cụ thể, một số phản ứng có hại cụ thể của thuốc, phác đồ điều trị
o Ưu điểm
Đơn giản, chi phí thấp, dễ áp dụng
Tập trung vào đối tượng cần theo dõi, nâng cao chất lượng báo cáo
Giảm bớt khối lượng cho nhân viên y tế so với báo cáo tự nguyện
Biết được mẫu số nên có thể xác định được tần suất
o Nhược điểm
Vẫn tồn tại hiện tượng báo cáo thiếu và thiên vị trong báo cáo
Tử số không trọn vẹn nên đánh giá nguy cơ không cho độ tin cậy cao
Phương pháp giám sát chủ động
o Việc thu thập báo cáo được thực hiện một cách thường xuyên, định kỳ từ các cơ
sở khảm bênh, chữa bệnh, trung tâm y tế, phòng khám ngoại trú, hoặc các cơ sở điều trị được lựa chọn
o Giám sát chủ động được thực hiện giống như một nghiên cứu dịch tễ học:
Xây dựng đề cương nghiên cứu trong đó bao gồm mục tiêu, đối tượng, phương pháp nghiên cứu,
Thiết kế mẫu thu thập thông tin
Tập huấn cho nhân viên y tế tham gia nghiên cứu
Triển khai thu nhận người bệnh và theo dõi người bệnh
Ghi nhận thông tin về biến cố bất lợi tại các lần tái khám
Gứi báo cáo cho Trung tâm DI & ADR để tổng hợp, đánh giá và phân tích số liệu
Tổng kết, nghiệm thu kết quả và đưa ra kiến nghị
Câu 5.PHÂN LOẠI ADR: 5 cách phân loại
Phân loại theo mức độ nặng nhẹ
o Theo Tangrea et al (1991):
- Nhẹ: ít ảnh hưởng, giảm khi trị triệu chứng
Trang 6- Trung bình: khó chịu, ảnh hưởng sinh hoạt,thuyên giảm một phần khi điều trị triệu
chứng
- Nặng: ngăn cản sinh hoạt, không giảm khi điều trị triệu chứng
o Theo ECDEU:
- Nhẹ: Triệu chứng xảy ra không làm thay đổi chức năng sống bình thường của bệnh
nhân
- Trung bình: Triệu chứng ảnh hưởng đến chức năng sống nhưng không nguy hiểm.
- Nặng: Triệu chứng gây nguy hiểm đến tính mạng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng
chức năng sống hoặc làm mất hết năng lực
Phân loại theo thời gian khởi phát: Thời gian khởi phát được tính từ khi dùng
thuốc lần cuối cho đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên
- Cấp: 0-60p ( chiếm 4.3 %)
- Bán cấp: 1-24h ( chiếm 86.5%)
- Muộn: 1 ngày- nhiều tuần ( chiếm 3.5%)
Phân loại theo tần suất xảy ra ADR
- Rất thường gặp : ≥ 1/10
- Thường gặp: <1/10 nhưng ≥ 1/100
- Ít gặp : <1/10 nhưng ≥ 1/100
- Hiếm gặp : <1/1000 nhưng ≥ 1/10 000
- Rất hiếm gặp : <1/10 000
Phân loại theo tác dụng dược lý
- Type A ( quá mức )
o Bao gồm những đáp ứng bình thường và gia tăng phản ứng không mong muốn với
thuốc, chiếm khoảng 75% các phản ứng có hại; bao gồm các đáp ứng dược lý tăng thêm quá mức tại vị trí tác động, tác dụng dược lý mong muốn xảy ta tại một vị trí tác động khác và tác dụng dược lý thứ phát
o Các phản ứng này thường phụ thuộc liều, dự đoán được và thường phát hiện
được trước khi thuốc ra thị trường Tuy nhiên, có một số tác dụng xảy ra muộn như tác dụng gây ung thư vú hoặc tác dụng có hại trên hệ sinh sản
- Type B ( Lạ thường )
o Các phản ứng không liên quan đến tác dụng dược lý đã biết của thuốc, thường do
cơ chế miễn dịch hoặc di truyền
o Thường không liên quan đến liều, có thể xảy ra ở liều rất thấp.
o Mặc dù hiếm, nhưng khi xảy ra thường đột ngột, gây bệnh nặng hoặc tử vong.
Trang 7Tiêu chuẩn so sánh Loại A Loại B
Phân loại theo tác dụng dược lý mở rộng
- Type A (gia tăng)
- Type B (lạ thường)
- Type C (Mạn tính)
- Type D (muộn)
- Type E (hội chứng ngưng thuốc)
- Type F (Thuốc mất hiệu lực)\
Câu 6.Quy trình đánh giá thông tin về phản ứng có hại của thuốc.
Bước 1: Thu thập thông tin:
- Đối với các phản ứng xảy ra đơn lẻ: hồi cứu các thông tin liên quan đến người bệnh trong
bệnh án hoặc hỏi trực tiếp người bệnh (trong trường hợp cần thiết), các thông tin cần thiết
để đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và phản ứng xảy ra
- Đối với các phản ứng xảy ra theo dạng chuỗi cùng lô trong thời gian ngắn: ngoài các thông
tin liên quan trên, cần rà soát:
Phản ứng tương tự có xảy ra tại các khoa khác trong bệnh viện không?
Kiểm tra số lượng thuốc nghi ngờ thực tế đã được sử dụng ở bệnh viện tính đến thời điểm xảy ra phản ứng Từ đó ước lượng tỷ lệ xảy ra phản ứng tại bệnh viện
Bước 2: Tra cứu y văn:
- Tra cứu thông tin liên quan đến phản ứng có hại trong các tài liệu, các tài liệu cần tra cứu
bao gồm:
Sách tra cứu thông tin chung và sách chuyên khảo về phản ứng có hại của thuốc
Tờ thông tin sản phẩm được các cơ quan quản lý dược phẩm tham chiếu phê duyệt
- Đối với các phản ứng đơn lẻ: xác định phản ứng xảy ra đã được ghi nhận trong tài liệu y
văn chưa?
Nếu có: tra cứu các thông tin liên quan (yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng xuất hiện phản ứng có hại? Tỷ lệ xảy ra phản ứng?)
Nếu chưa: tiếp tục tra cứu thông tin từ các nghiên cứu và từ các cơ sở dữ liệu báo cáo phản ứng có hại của Việt Nam và trên thế giới
Trang 8- Đối với các phản ứng xảy ra theo chuỗi cùng lô trong thời gian ngắn:
Tương tự như trên
Xác định phản ứng xảy ra thuộc typ A (phản ứng có khả năng dự đoán trước) hay typ
B (phản ứng không thể dự đoán được dựa trên tác dụng dược lý của thuốc)
Bước 3: Đánh giá thông tin:
- Đối với các phản ứng đơn lẻ : Đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng thuốc
nghi ngờ và phản ứng có hại xảy ra theo thang đánh giá của WHO hoặc sử dụng thang Naranjo
- Đối với các phản ứng xảy ra theo dạng chuỗi cùng lô trong thời gian ngắn:
Đánh giá mối quan hệ nhân quả của từng phản ứng được ghi nhận
Đánh giá tỷ lệ xảy ra phản ứng trong bệnh viện: nếu phản ứng thuộc loại không thể dự đoán trước dựa trên tác dụng dược lý đã biết của thuốc, tỷ lệ xảy ra phản ứng trong bệnh viện có vượt quá tỷ lệ đã được ghi nhận trong y băn về phản ứng này không?
Cảnh giác về việc chuỗi phản ứng xảy ra theo một “kịch bản” đã được xây dựng trước (Ví dụ: bịa đặt, báo cáo sai sự thật với mục đích giảm uy tín sản phẩm thuốc của đối thủ cạnh tranh)
Bước 4: Kết luận và khuyến cáo:
- Kết luận về mức độ liên quan giữa việc sử dụng thuốc nghi ngờ và phản ứng có hại xảy
ra
- Trong trường hợp người bệnh sử dụng nhiều thuốc đồng thời, lưu ý dựa vào thông tin
được ghi nhận trong y văn (tỷ lệ xảy ra, các yếu tố nguy cơ có liên quan), để đánh giá liệu thuốc nào có khả năng gây ra phản ứng có hại cao hơn các thuốc khác
- Khuyến cáo nhận viên y tế về việc sử dụng thuốc, các yếu tố nguy cơ làm tăng nguy cơ
xuất hiện phản ứng, biện pháp dự phòng và xử trí phản ứng
- Đối với các phản ứng không thể sự đoán trước dựa trên tác dụng dược lý đã biết của
thuốc, xảy ra theo dạng chuỗi trong thời gian ngắn:
Kiểm tra quy trình, kỹ thuật sử dụng thuốc và bảo quản thuốc tại bệnh viện
Cân nhắn việc tạm ngừng hay tiếp tục sử dụng lô thuốc dựa trên tỷ lệ xảy ra và mức độ nghiêm trọng của phản ứng
Khuyến cáo nhân viên y tế giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp tiếp tục sử dụng lô thuốc trên
Câu 7.Các tiêu chí đánh giá ADR của WHO
Quan hệ
Trang 9Chắc chắn
Phản ứng được mô tả (biểu hiện lâm sàng hoặc cận lâm sàng bất thường) có
mối liên hệ rất chặt chẽ với thời gian sử dụng thuốc nghi ngờ
Không thể giải thích bằng tình trạng bệnh lý của người bệnh hoặc các thuốc sử
dụng đồng thời với thuốc nghi ngờ
Ngừng sử dụng thuốc thì các biểu hiện của phản ứng được cải thiện Phản ứng là tác dụng bất lợi đặc trưng đã được biết đến của thuốc (có cơ chế
dược lý rõ ràng) Tái sử dụng thuốc (nếu có thể) cho phản ứng lặp lại một cách tương tự
Có khả năng
Phản ứng được mô tả có mối liên hệ hợp lý với thời gian sử dụng thuốc nghi
ngờ Nguyên nhân gây ra phản ứng không chắc chắn là do bệnh lý hiện tại của
người bệnh hoặc các thuốc sử dụng đồng thời Ngừng sử dụng thuốc thì các biểu hiện của phản ứng được cải thiện Không cần thiết phải có thông tin về tái sử dụng thuốc
Có thể
Phản ứng được mô tả có mối liên hệ hợp lý với thời gian sử dụng thuốc
Có thể giải thích nguyên nhân xảy ra phản ứng bằng tình trạng bệnh lý của
người bệnh hoặc các thuốc sử dụng đồng thời
Thông tin về việc ngừng sử dụng thuốc có thể thiếu hoặc không rõ ràng
Không chắc chắn
Phản ứng được mô tả có mối liên hệ không rõ ràng với thời gian sử dụng thuốc
( nguyên nhân do thuốc nghi ngờ là không chắc chắn)
Có thể giải thích nguyên nhân xảy ra phản ứng bằng tình trạng bệnh lý của
người bệnh hoặc các thuốc sử dụng đồng thời
Có điều kiện
hoặc chưa phân
loại
Phản ứng bất thường đã xảy ra, nhưng cần thêm thêm thông tin để đánh giá,
hoặc Những dữ liệu bổ sung đang được đánh giá Không có mối
quan hệ hoặc
không thể phân
Báo cáo đưa ra 1 phản ứng nghi ngờ là phản ứng có hại của thuốc; nhưng không thể đánh giá vì thông tin không đầy đủ hoặc không thống nhất; không
thể thu thập thêm thông tin bổ sung hoặc xác thực lại dữ liệu
Trang 10Câu 8 Định nghĩa, Nguyên nhân, đặc điểm sai sót liên quan đến sử dụng thuốc
- Định nghĩa: (WHO) thất bại trong việc thực hiện một việc làm(không theo như ý
định được vạch ra lúc ban đầu), hay sai lầm trong lúc lên kế hoạch hành động để hoàn tất một mục tiêu
- Nguyên nhân:
1 Sự qua tải và mệt mỏi trong công việc của cán bộ y tế
2 Cán bộ y tế thiếu kinh nghiệm làm việc hoặc không được đào tạo đầy đủ, đúng chuyên nghành
3 Trao đổi thông tin không rõ rang giữa các cán bộ y tế
4 Các yếu tố về môi trường như thiếu ánh sáng, quá nhiều tiếng ồn hay thường xuyên bị gián đoạn trong công việc
5 Số lượng thuốc dùng cho một người bệnh quá nhiều
6 Việc kê đơn, cấp phát hay thực hiện thuốc phức tạp
7 Sử dụng nhiều chủng loại thuốc và nhiều dạng dùng gây ra nhiều sai sót liên quan đến thuốc
8 Nhầm lẫn về danh pháp, quy cách đóng gói hay nhãn thuốc
9 Thiếu các chính sách và quy trình quản lý thuốc hiệu quả sót trước đây hoặc thất bại hay thiếu chiến lược giám sát
- Đặc điểm sai sót liên quan đến sử dụng thuốc:
o Sai sót liên quan đến thuốc có thể phòng tránh được: đây là đặc điểm quan trọng nhất và vì vậy, việc ngăn chặn và giảm thiểu sai sót liên quan đến thuốc
trở thành một mục tiêu quan trọng trong chính sách an toàn thuốc của mỗi Quốc gia cũng như của các cơ sở y tế
o Sai sót liên quan đến thuốc có thể gây ra bởi những sai sót trong giai đoạn lên kế hoạch hoặc giai đoạn thực hiện kế hoạch Như vậy sai sót liên quan đến
thuốc có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào và việc hạn chế sai sót phải mang tính chất hệ thống
o Sai sót liên quan đến thuốc bao gồm cả sai sót do quên thuốc (omission-quên
liều hoặc không kê đơn thuốc thích hợp) hoặc sai sót do sử dụng sai
(commission-đưa sai thuốc)
o Sai sót liên quan đến thuốc có thể đã gây hại cho người bệnh hoặc chưa