1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quốc tế hóa lịch sử dân tộc toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ và lịch sử việt nam thế kỷ xvii

38 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 473,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát kiến địa lý là tiền đề để hình thành các tuyến hàng hải quốc tế, các trung tâm thương mại liên châu lục và xuyên thế giới, đặc biệt là quá trình Toàn cầu hóa trong lịch sử nhân loại

Trang 1

TOÀN CẦU HÓA CẬN ĐẠI SƠ KỲ

PGS TS Hoàng Anh Tuấn

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

“Các phương pháp viết sử mới tìm cách tránh lịch sử dân tộc bằng cách mô tả các tương tác liên quốc gia và toàn cầu, có thể diễn ra ngay ở tầm địa phương trong khu vực biên giới […] Phương pháp sử so sánh và ngành Đông Nam Á học cho phép nhìn Việt Nam từ một nhân sinh quan khoa học mới và rộng hơn”2.

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, giới sử học ngày càng đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực nghiên cứu quá trình Toàn cầu hóa giai đoạn cận đại sơ kỳ, manh nha từ thế kỷ XVI và diễn ra mạnh mẽ trong vòng hai thế kỷ tiếp theo Ở Việt Nam, việc các nhà nghiên cứu khai thác từ các khối tư liệu lưu trữ phương Tây những thông tin mới về sự biến chuyển kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị của quốc gia Đại Việt giai đoạn

từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII cho phép khẳng định vị trí cầu nối của Việt Nam trong hệ thống kinh tế khu vực và quốc tế thời kỳ này3 Bài viết này thảo luận một số vấn đề liên quan đến quá trình Toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ và cố gắng xác lập vị trí của Việt Nam trong quá trình hình thành

1 Tác giả trân trọng cảm ơn GS TS Luise Schorn-Schuette, Goethe Universität Frankfurt

am Main - Alexander von Humboldt Foundation, hỗ trợ hoàn thành chuyên luận.

2 Trích bài trả lời phỏng vấn của GS.TS Vincent J.H Houben (Đại học Humbolt, Đức)

có tựa đề: “Việt Nam trong dòng lịch sử Đông Nam Á” đăng trên trang BBC Việt ngữ, tháng 1 năm 2009.

3 Những nguồn tư liệu lưu trữ phương Tây sử dụng trong bài viết được khai thác chủ yếu từ kho tư liệu của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) về Đàng Ngoài tại Lưu trữ Quốc gia Hà Lan (National Archief) ở thành phố Den Haag (được ký hiệu chung là

NA VOC 1.04.02) và kho tư liệu của Công ty Đông Ấn Anh về Đàng Ngoài tại Phòng

Ấn Độ và Phương Đông (OIOC) thuộc Thư viện Quốc gia Anh (British Library) ở Luân Đôn (được ký hiệu chung là BL OIOC G/12/17).

Trang 2

và phát triển của hệ thống quốc tế đó trong thế kỷ XVII Từ những phân tích về vị trí của Việt Nam trong quá trình Toàn cầu hóa đó, bài viết cũng thử đặt vấn đề về khả năng tái cấu trúc cách phân kỳ lịch sử dân tộc nhằm định vị một (tiểu) giai đoạn cận đại sơ kỳ trong diễ n trì nh lịch sử của dân tộc Việt Nam.

1 Phát kiến địa lý và giai đoạn cận đại sơ kỳ

Trong “Lời mở đầu” cuốn General History of the Indies xuất bản giữa thế

kỷ XVI, nhà sử học Tây Ban Nha Francisco López de Gómara viết: “Sự kiện

vĩ đại nhất trong lịch sử loài người cho đến hôm nay chính là việc tìm ra châu Mỹ” (Kanellos and Esteva-Fabregat, 1993: 67) Việc tác giả là người Tây Ban Nha, lại đề tặng cuốn sách lên hoàng đế Tây Ban Nha Charles V (trị vì: 1519 - 1556) khiến nhiều người cho rằng Gómara thể hiện tính dân tộc chủ nghĩa cao độ khi chỉ đề cập đến tầm quan trọng của việc tìm ra Tây Ấn

mà phớt lờ đi phía Đông bán cầu - nơi quốc gia láng giềng Bồ Đào Nha đã khám phá ra (và đang khai thác thành công cả trên phương diện thương mại và truyền giáo) tuyến hàng hải nối Tây Âu với châu Á qua Hảo Vọng Giác (Nam Phi) Hơn hai thế kỷ sau, Adam Smith - nhà kinh tế học người

Scotland - đã bổ sung vấn đề này trong cuốn The Wealth of Nations (1776)

Ông viết: “Việc tìm ra châu Mỹ và việc khám phá ra con đường sang Đông

Ấn bằng cách dong thuyền qua mũi Hảo Vọng là hai sự kiện lớn nhất và quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại” (Smith, 1976: 59-60) Rõ ràng là, trong nhận thức của các học giả phương Tây giai đoạn cận đại sơ kỳ, các phát kiến địa lý của hai dân tộc trên bán đảo Iberia đã thực sự mở ra một trang mới cho lịch sử phát triển của nhân loại

Thực tế lịch sử cho thấy, không chỉ các sử gia phương Tây - những người thường bị nhãn quan sử học và chính trị cuối thế kỷ XX phê phán

là mang quan điểm Âu châu chủ nghĩa (Eurocentrism: lấy châu Âu làm trung tâm, nhìn thế giới từ quan điểm của Âu châu) - mà ngay bản thân các sử gia phương Đông cũng hiếm khi phủ nhận tầm quan trọng của hai

sự kiện lịch sử quan trọng nói trên Gạt sang một bên thứ tình cảm dân tộc cực đoan, người ta dễ dàng nhận thấy những hệ quả tích cực (hoặc chí ít cũng không hoàn toàn tiêu cực) mà các đại phát kiến địa lý của hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cuối thế kỷ XV tác động lên các xã hội phương Đông Không chỉ thúc đẩy biến chuyển kinh tế, xã hội và mở rộng giao lưu

Trang 3

văn hóa, tôn giáo thông qua các tuyến hàng hải đường dài nối liền Đông và Tây, các phát kiến địa lý còn đưa lịch sử nhân loại bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu Phát kiến địa lý là tiền đề để hình thành các tuyến hàng hải quốc tế, các trung tâm thương mại liên châu lục và xuyên thế giới, đặc biệt là quá trình Toàn cầu hóa trong lịch sử nhân loại giai đoạn cận đại sơ kỳ.

“Cận đại sơ kỳ” (Early Modern) không phải là một khái niệm mới trên bình diện sử học thế giới và khu vực, dù vẫn còn tương đối lạc lõng trong cách phân kỳ truyền thống của sử học Việt Nam Xuất hiện từ thập niên 40 của thế kỷ XX, khái niệm “cận đại sơ kỳ” thường được gán cho một thời kỳ lịch sử sôi động của Tây Âu: giai đoạn 1500 - 1750/1789 Bên cạnh sự bùng nổ của nền thương mại đường dài (long-distance trade) sau các đại phát kiến địa lý, lịch sử Tây Âu giai đoạn này còn được ghi dấu bởi hàng loạt chuyển biến quan trọng mang tính nội tại như sự nổi lên của các trung tâm quyền lực tập trung hóa cao độ hay sự khởi đầu của quá trình hình thành các quốc gia dân tộc - nền tảng cho các quốc gia hiện đại (Wiesner-Hanks, 2006) Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, khái niệm “cận đại sơ kỳ” ngày càng được sử dụng một cách phổ biến trong giới sử học Anh, Đức, Hà Lan… Cùng với sự chấp nhận ngày càng rộng rãi của khái niệm “cận đại sơ kỳ”, khái niệm “cận đại” (Modern) cũng được đẩy lùi về giai đoạn kể từ sau Cách mạng Tư sản Pháp hoặc từ sau cuộc Cách mạng Công nghiệp ở Anh (Burke, 2007: 10).Vấn đề “cận đại sơ kỳ” sẽ chẳng trở nên phức tạp nếu người ta không đem cách phân kỳ lịch sử Tây Âu áp vào lịch sử của các quốc gia khác, nhất

là với các khu vực thuộc phương Đông Trong thực tế, tại một số quốc gia và khu vực ngoài châu Âu, việc xác lập giai đoạn cận đại sơ kỳ - xét một cách khách quan và phi cảm tính dân tộc chủ nghĩa - tương đối phù hợp xét từ các yếu tố nội sinh (biến chuyển kinh tế, xã hội, thể chế…) đến ngoại sinh (quan hệ bang giao và thương mại, xung đột, thuộc địa và đồng hóa…) Ví dụ, khó có thể phủ nhận một hiện thực lịch sử là châu Mỹ đã thay đổi mạnh mẽ kể từ sau năm 1492 (năm Christopher Columbus và đoàn thám hiểm Tây Ban Nha tìm đến Tân thế giới) Vì vậy, việc các nhà sử học sử dụng mốc niên đại đầu thế kỷ XVI làm thời điểm mở đầu cho giai đoạn cận đại sơ kỳ của lịch sử châu Mỹ hoàn toàn không phải là không

có lý Cùng với sự sụp đổ của các nền văn minh cổ xưa như Aztec, Inca, Mayan, Chibcha… dưới sự thâm nhập, khai phá và thực dân hóa của các

Trang 4

cộng đồng người châu Âu là sự nổi lên những trung tâm kinh tế, chính trị

và văn hóa mới nằm rải rác ở khắp lục địa châu Mỹ rộng lớn, mở đầu cho giai đoạn “cận đại sơ kỳ” trong lịch sử vùng Tân thế giới (Burke, 2007: 10).Lịch sử khu vực trải dài từ Đông - Nam Âu xuống Tây Á, Trung Á

và phần lớn lục địa đen cũng cơ bản bước vào giai đoạn cận đại sơ kỳ từ khoảng đầu thế kỷ XVI, với sự chi phối mạnh mẽ của đế chế Ottoman (1299 - 1923) Án ngữ con đường buôn bán Đông - Tây qua khu vực sườn đông Địa Trung Hải, đế chế Thổ hùng mạnh trải qua một giai đoạn trỗi dậy không ngừng trong suốt thế kỷ XIV và nửa đầu thế kỷ XV, tạo tiền đề vững chắc cho thời kỳ mở rộng, phát triển huy hoàng và đạt đến đỉnh cao trong giai đoạn 1453 - 1683 Giới sử học Cận Đông nhìn chung chấp nhận mốc niên đại 1501, năm thành lập triều đại Safavid hùng mạnh, là thời điểm khu vực thuộc đế chế Ottoman bước vào kỷ nguyên cận đại sơ kỳ Trang

sử mới của vùng đất rộng lớn nằm dưới sự quản lý của đế chế Ottoman được tô điểm bằng nhiều mảng màu sắc: từ quân sự và bành trướng lãnh thổ đến phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa, khoa học - kỹ thuật Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển của nền hải thương quốc tế và xu thế toàn cầu hóa, các dòng chảy thương mại qua Safavid chính là điểm nhấn chủ đạo cho khu vực này Vị trí địa-kinh tế chiến lược ở sườn đông Địa Trung Hải tiếp tục tạo điều kiện để Safavid trở thành cầu nối và trung tâm trung chuyển giữa nền văn minh Tây Âu với các nền văn minh phương Đông trong suốt thế kỷ XVI và một phần thế kỷ XVII Nói một cách hình tượng, Safavid đã bước vào kỷ nguyên cận đại sơ kỳ bằng chính con đường tơ lụa Đông - Tây mà nó đã đi trên đó từ nhiều thế kỷ trước1

Vấn đề cận đại sơ kỳ nhìn chung gai góc đối với nhiều nền sử học châu

Á Trên khu vực thuộc nền văn minh Ấn Độ cổ xưa, năm 1526 được coi là mốc lịch sử mở đầu cho thời kỳ phát triển đỉnh cao của đại đế chế Mughal Mốc thời gian nói trên cũng thường được coi là thời điểm kết thúc của thời

kỳ trung đại và bắt đầu của giai đoạn cận đại sơ kỳ với hàng loạt các dấu

ấn như sự nổi lên của nền văn hóa cung đình, sự thịnh đạt kinh tế trên quy mô lớn của đế chế, sự khoan dung tôn giáo, sự phát triển cao của nghệ thuật, kiến trúc… Thế giới Đông Nam Á hải đảo với sự thịnh trị của đế chế Majapahit (đảo Java) trong một thời gian khá dài bắt đầu cảm nhận được

1 Nhiều ý kiến cho rằng phần lớn các khu vực thuộc châu Phi bước vào thời kỳ cận đại

sơ kỳ từ khoảng đầu thế kỷ XVII (Cleveland, 2004: 37-56).

Trang 5

những thách thức và á p lự c mới sau khi Malacca xuất hiện vào đầu thế kỷ

XV Việc người Bồ Đào Nha chiếm giữ Malacca (1511) và thâm nhập ngày càng mạnh mẽ vào các khu vực khác nhau của vùng quần đảo hương liệu trong các thập kỷ tiếp theo của thế kỷ XVI, đặc biệt là sự xuất hiện của hai thế lực hàng hải Tây Âu là Hà Lan và Anh trong thế kỷ XVII, khiến lịch sử vùng Đông Nam Á hải đảo trở nên khá phức tạp trong việc phân kỳ lịch sử phát triển (Momoki, Shiro and Hasuda, Takashi 2006)

Ở những vùng còn lại thuộc miền đất Đông Á, quá trình chuyển hướng sang giai đoạn cận đại sơ kỳ có phần rõ ràng hơn Lịch sử Nhật Bản bước sang thời kỳ cận thế bằng sự kiện thống nhất đất nước sau cuộc nội chiến trăm năm và việc Mạc Phủ Đức Xuyên (Tokugawa) lên nắm quyền Trong hơn hai thế kỷ rưỡi phát triển tiếp theo (từ khoảng 1600 đến cuộc cải cách Minh Trị năm 1868), tình hình kinh tế - xã hội Nhật Bản đã có những bước tiến vững chắc, để sau cải cách Minh Trị ngày càng thêm phát triển (Momoki, Shiro and Hasuda, Takashi 2006).Một quốc gia Đông Á khác

là Trung Quốc cũng có bước chuyển mình hết sức căn bản kể từ sau cuộc chuyển giao triều chính Minh - Thanh (1644) Sau khi dẹp xong thế lực phản Thanh phục Minh Trịnh Thành Công ở Đài Loan vào đầu thập niên

1680, Trung Quốc dưới triều Thanh có bước phát triển mạnh mẽ trong suốt thế kỷ XVIII: bùng nổ dân số, phát triển kinh tế nông nghiệp thông qua những giống cây trồng mới được đưa từ Tân Thế giới vào (khoai lang, ngô, đậu…) Những biến chuyển nội tại trong vương quốc cùng với việc Hoa thương tràn ra thị trường buôn bán Đông Nam Á sau năm 1684, sau khi nhà Thanh bãi bỏ chính sách đóng cửa, góp phần hình thành “thế kỷ Trung Hoa” trong lịch sử khu vực (Crossley, Siu, and Sutton, 2006) Tại Đông Nam

Á lục địa, vương quốc Xiêm cũng trải qua những chuyển biến mạnh mẽ, nhất là dưới triều vua Prasat Thong (1630 - 1688), trên cơ sở kết hợp sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị, hưng thịnh văn hóa, và các mối quan hệ thương mại và bang giao với các thế lực hàng hải phương Tây Có thể coi cuộc “cách mạng” ở Xiêm cuối thập niên 1680 là bước ngoặt trong quá trình phát triển của xã hội truyền thống người Thái Xiêm đã có một giai đoạn cận đại sơ kỳ tương đối rõ rệt trước khi bước vào thời kỳ cận đại khoảng hai thế kỷ sau đó (Ruangsilp, 2007)

Lịch sử mỗi quốc gia - dân tộc và mỗi khu vực có những đường hướng phát triển riêng Việc phân kỳ lịch sử thế giới - nếu có - cũng chỉ mang tính

Trang 6

tương đối Vấn đề xác định giai đoạn “cận đại sơ kỳ” không phải là một

ngoại lệ Người ta có thể chất vấn rằng hà cớ gì sử học Việt Nam phải bận

tâm đến một vấn đề mang tính lý thuyết, rằng liệu có cần thiết và/hoặc có

đủ cơ sở để luận bàn đến một giai đoạn “cận đại sơ kỳ” trong lịch sử dân tộc khi mà các cách nhìn truyền thống vẫn quan niệm rằng Việt Nam trung đại kéo dài cho đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng năm 1858? Trước khi thử mạn bàn về vấn đề có phần gai góc đó, xin được tiếp tục khái quát thêm một vấn đề khác thuộc nội hàm của giai đoạn “cận đại sơ kỳ” thế giới: kỷ nguyên thương mại và toàn cầu hóa - vốn có quan hệ và tác động không nhỏ đến lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII

2 Kỷ nguyên thương mại và Toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ

Kinh tế thương mại, nhất là hải thương, có đóng góp rất lớn đến tiến trình lịch sử thế giới cổ và trung đại Từ sau Công nguyên, sự phát triển của các trung tâm thương mại và hàng hải quan trọng có đóng góp lớn vào

sự ra đời và hưng thịnh của một số các chính thể lớn, các trung tâm kinh tế hàng hải quy mô khu vực tại Tây Âu, Địa Trung Hải, Tây - Nam Á, Ấn Độ Dương - Đông Nam Á, Đông Bắc Á

Với khu vực Đông Nam Á, hải thương góp phần thúc đẩy sự ra đời

và phát triển rực rỡ của các thể chế biển lớn và các trung tâm kinh tế biển thời kỳ cổ - trung đại như Phù Nam, Srivijaya, Majapahit, Malacca… Lý thuyết của Geoff Wade về một “kỷ nguyên thương mại sớm” (Early Age

of Commerce) trong lịch sử Đông Nam Á giai đoạn 900 - 1300 ngày càng thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Theo Wade, hải thương Đông Nam Á thời kỳ này phát triển mạnh mẽ trên cơ sở sự phát triển kinh

tế và chính sách thương mại cởi mở của các triều đại Tống và Nguyên (Trung Quốc), sự phát triển tự thân của thương mại Đông Nam Á, sự lan tỏa của mạng lưới thương mại Hồi giáo ra khu vực Nam Hải… (Wade, 2006) Trước đó, từ khoảng đầu thập niên 1990, luận thuyết về mộ t “kỷ nguyên thương mại Đông Nam Á” giai đoạn 1400 - 1680 của Anthony Reid cũng đã được đông đảo giới nghiên cứu đón nhận Những phân tích định lượng và những suy luận định tính thuyết phục của Reid cho thấy một sự bùng nổ thương mại mạnh mẽ ở Đông Nam Á trong khoảng gần 3 thế kỷ, trước khi bị người Âu (chủ yếu là Hà Lan) chinh phục và thao túng từ cuối thế kỷ XVII (Reid, 1993) Từ thế kỷ XIX, lịch sử Đông Nam Á chứng kiến

Trang 7

những thay đổi hết sức căn bản dưới những chính sách thuộc địa của thực dân phương Tây.

Trong khi đó, ở châu Âu, thế kỷ XVI thường được coi là kỷ nguyên bành trướng thương mại dưới tác động của ít nhất hai nhân tố chính: 1)

sự mở rộng của tuyến buôn bán đường biển từ Địa Trung Hải qua eo biển Gibralta lên cảng Antwerp (miền bắc nước Bỉ ngày nay) và các cảng thị miền bắc Tây Âu; 2) như một hệ quả tất yếu từ các đại phát kiến địa lý của hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vào cuối thế kỷ XV, các cảng thị

và trung tâm thương mại trên bán đảo Iberia (Lisbon, Seville, Madrid…) ngày càng trở nên sầm uất, cạnh tranh và dần dần lấn lướt các cảng thị của Ý (Venice, Genoa, Florence…) Từ đầu thế kỷ XVII, trung tâm hàng hải và thương mại Tây Âu từng bước chuyển dịch từ khu vực Địa Trung Hải truyền thống sang vùng sườn đông Đại Tây Dương, nhất là ở những cảng thị và trung tâm thương mại khu vực miền bắc Tây Âu như Antwerp, Amsterdam, Luân Đôn 1 Có thể nói, sự chuyển dịch cơ cấu (đông sang tây, nam lên bắc) cùng với sự bành trướng mạnh mẽ của hải thương Tây Âu giai đoạn thế kỷ XVI - XVII ra Tây Ấn và Đông Ấn chính là tiền đề then chốt cho

sự ra đời của “kỷ nguyên thương mại toàn cầu” và rộng hơn là “quá trình Toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ”

“Toàn cầu hóa” theo cách hiểu thông thường của tư duy kinh tế học thập niên 60 của thế kỷ XX nghiêng nhiều về khía cạnh phát triển và hội nhập của các nền kinh tế lớn trên thế giới trong xu thế hình thành và mở rộng các khu vực thương mại tự do, các dòng chảy kinh tế tự do và những thị trường nhân công giá rẻ Tuy nhiên, từ góc nhìn lịch sử và văn hóa, Toàn cầu hóa là một quá trình phức thể hơn, bao hàm trong đó nhiều khía cạnh hơn là chỉ thuần túy về kinh tế2 Nayan Chanda cho rằng, trên phương diện lịch sử và nhân học, con người đã tỏa đi chiếm lĩnh các vùng đất khác nhau trên thế giới từ hàng vạn năm trước và đó có thể coi là một dạng “Sơ Toàn cầu hóa” (Proto-globalization) Tuy nhiên, điều đó chỉ có ý nghĩa khi con người ở các lục địa khác nhau được tái kết nối lại với nhau thông qua

1 Chẳng hạn, có thể xem vấn đề toàn cầu hóa qua trường hợp khảo cứu quan hệ thương mại sôi động giữa Amsterdam (Hà Lan) và Lisbon (Bồ Đào Nha) qua công trình nghiên cứu của Castia Antunes (Antunes, 2004) Về lịch sử châu Âu giai đoạn này, có thể xem thêm công trình do Pamela H Smith và Paula Findlen chủ biên (Smith and Findlen, 2002).

2 Xem, chẳng hạn, định nghĩa về toàn cầu hóa (globalization) trong bộ từ điển Webster.

Trang 8

các hoạt động trao đổi kể từ thời Columbus “Toàn cầu hóa” - Chanda kết luận - đơn thuần là “tìm đến với nhau” hoặc “tái kết nối (reconnecting) các cộng đồng người” (Chanda, 2002).

Hãy bắt đầu bằng luận điểm “tái kết nối” đầy thú vị trong quan niệm của Chanda Dưới quan điểm nhân học văn hóa, toàn cầu hóa được hiểu

là quá trình lịch sử lâu dài cùng với đó mà kinh nghiệm thường ngày, được thể hiện qua sự khuếch tán của các loại hàng hóa và các dạng tư duy, trở thành chuẩn hóa trên khắp toàn cầu1 Trên tinh thần đó, đã có nhiều nghiên cứu về lịch sử toàn cầu hóa trong lịch sử nhân loại Chẳng hạn, từ những năm cuối thế kỷ XX, người ta đã cố gắng phân chia lịch sử toàn cầu hóa của nhân loại thành những thời kỳ khác nhau David Held cho rằng có thể chia thành bốn thời kỳ chính: Toàn cầu hóa Tiền cận đại, Toàn cầu hóa Cận đại sơ kỳ, Toàn cầu hóa Cận đại, và Toàn cầu hóa Đương đại2 Nếu như giai đoạn toàn cầu hóa đầu tiên quá xa xôi và thiếu tính “tái kết nối” - như cách nói của Chanda - toàn cầu hóa giai đoạn cận đại sơ kỳ (với điểm nhấn nổi bật là các tuyến thương mại liên châu lục, các dòng chảy dân cư, biến đổi môi trường, các loại bệnh dịch giữa châu Âu, châu Mỹ và khu vực châu Đại Dương…) chính là cơ sở nền tảng cho quá trình toàn cầu hóa của các giai đoạn tiếp theo sau

Những nghiên cứu gần đây về lịch sử thương mại và toàn cầu hóa giai đoạn cận đại sơ kỳ ngày càng góp phần soi sáng sự “tái kết nối” giữa các vùng đất khác nhau kể từ sau các đại phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV Các tuyến hàng hải và thương mại quốc tế tạo ra cầu nối liên kết các châu lục với nhau (Âu - Mỹ - Á - Phi) Thương phẩm được trao đổi toàn cầu (tơ lụa Trung Quốc, thậm chí một lượng nhất định tơ lụa Đàng Ngoài trong thế

kỷ XVII, được vận chuyển trên các thương thuyền Tây Ban Nha vượt Thái Bình Dương để sang Mỹ La Tinh và về châu Âu, hoặc theo thương thuyền

Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha… qua Ấn Độ Dương và Hảo Vọng Giác để về châu Âu) Các loại cây trồng và vật nuôi (khoai lang, ngô, đậu…) từ Nam

1 Xem, chẳng hạn, định nghĩa về toàn cầu hóa dưới góc nhìn nhân học văn hóa trong

bộ từ điển khoa học Britannica.

2 Về đại thể, cách phân kỳ toàn cầu hóa trong bộ sách của David Held được tính như sau: Tiền cận đại (premodern globalization): các dòng thiên di của người hiện đại đến các khu vực Ấn - Âu và sang châu Mỹ, khoảng 10.000 TCN; Cận đại sơ kỳ (early modern globalization): khoảng 1500 - 1850; Cận đại (modern globalization): khoảng

1850 - 1945; Đương đại (contemporary globalization): từ 1945 trở về sau (Held, 1999:

418 - 421).

Trang 9

Mỹ về Đông Á, góp phần làm nên sự bùng nổ dân số và biến đổi kinh tế -

xã hội ở Trung Quốc thế kỷ XVIII, trong khi các loại dịch bệnh từ các cựu châu lục cũng theo chân người châu Âu và nô lệ da đen sang Tân thế giới, góp phần vào quá trình diệt vong của nhiều nền văn minh cổ xưa thuộc khu vực Nam Mỹ Nổi bật nhất là ảnh hưởng kinh tế của toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ đến các quốc gia trên thế giới Lần đầu tiên, người ta nhận thấy kinh tế của các châu lục bị ràng buộc và chi phối lẫn nhau: dòng chảy của bạc Tân thế giới về Tây Âu là nguyên nhân dẫn đến cuộc cách mạng giá

cả ở đây, trong khi nguồn bạc dồi dào từ Nhật Bản và Tân thế giới chính

là xung lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế hàng hóa, trao đổi thương mại, biến đổi kinh tế - xã hội… của hàng loạt các quốc gia phương Đông (Trung Quốc, Đàng Ngoài, Đàng Trong, Xiêm, Java, Bengal, Coromandel, Safavid…) Nói một cách vắn tắt, lịch sử cận đại sơ kỳ thế giới cơ bản bắt đầu sau những đại phát kiến địa lý, trong khi sự bùng nổ của kỷ nguyên thương mại thế giới chính là nền tảng của quá trình toàn cầu hóa cận đại

sơ kỳ (thế kỷ XVI-XVIII)1

Một lần nữa, người ta lại có thể băn khoăn tự hỏi, cũng như vấn đề định vị lịch sử dân tộc trong giai đoạn cận đại sơ kỳ thế giới, kỷ nguyên thương mại và toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ có tác động gì đến diễn trình lịch

sử của dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII?

3 Sự hội nhập của Đại Việt vào quỹ đạo toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ thế kỷ XVII

Những nghiên cứu gần đây về tình hình chuyển biến kinh tế - xã hội tại cả hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài giai đoạn cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVIII cho thấy quốc gia Đại Việt đã có sự dự nhập đáng kể vào hệ thống kinh tế thế giới và xu thế toàn cầu hóa giai đoạn cận đại sơ kỳ

3.1 Nội chiến và sự mở rộng nền kinh tế hàng hóa Đại Việt

Có một vấn đề lịch sử tưởng chừng như nghịch lý: quá trình mở rộng kinh tế hàng hóa và thương mại ở quốc gia Đại Việt trong bối cảnh nội chiến liên miên suốt hai thế kỷ XVI - XVII Theo lôgic lịch sử thông thường, nội chiến kéo dài thường dẫn đến khủng hoảng kinh tế và bất

1 Trong số rất nhiều công trình nghiên cứu về kỷ nguyên thương mại và vấn đề toàn cầu hóa cận đại sơ kỳ trong vài thập kỷ trở lại đây, có thể xem công trình được giới nghiên cứu đánh giá cao của Gunder Frank (1998).

Trang 10

ổn xã hội Với trường hợp lịch sử Việt Nam thời kỳ này, những bất ổn của nội tại vương quốc tạm thời được khỏa lấp bởi các yếu tố ngoại sinh: kỷ nguyên thương mại và toàn cầu hóa mà khu vực Đông Á là một bộ phận hữu cơ.

Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều (thế kỷ XVI) hầu như không chịu tác động bởi tình hình khu vực và quốc tế bởi đây là thời kỳ bắt đầu thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha (và o Trung Quốc và Nhật Bản) và người Tây Ban Nha (và o Philippines) Tuy nhiên, sang thế kỷ XVII, tình hình chính trị, kinh tế và xã hội Đại Việt ngày càng bị chi phối mạnh bởi bối cảnh khu vực và quốc tế Sau khi đã thiết lập được mạng lưới thương mại liên hoàn kết nối Nagasaki (Nhật Bản), Macao (Trung Quốc), Malacca, Goa (Ấn Độ), Lisbon (Bồ Đào Nha), người Bồ bắt đầu mở rộng quan hệ buôn bán và truyền giáo với vùng đất Đàng Trong (từ cuối thế

kỷ XVI) và Đàng Ngoài (từ đầu thế kỷ XVII)1 Cùng thời điểm đó, Nhật thương và Hoa thương cũng thường xuyên ghé thăm các thương cảng Đại Việt Với sự thâm nhập ngày càng mạnh của người Hà Lan và người Anh từ đầu thế kỷ XVII, cấu trúc truyền thống của quỹ đạo thương mại

và hàng hải khu vực Đông Á ngày càng bị khúc xạ mạnh Công ty Đông

Ấn Hà Lan (VOC) tìm cách đặt quan hệ thương mại và bang giao với vương quốc Đàng Trong trong suốt ba thập niên đầu của thế kỷ XVII, trước khi chuyển sang buôn bán với Đàng Ngoài từ năm 1637 đến năm

1700 Công ty Đông Ấn Anh (EIC) cũng lập thương điếm kinh doanh tại Đàng Ngoài trong giai đoạn 1672 - 1697 Bên cạnh đó, các nhóm thương nhân ngoại quốc khác như Nhật thương (đến trước năm 1635), Hoa thương, các thương nhân Tây Ban Nha, Xiêm và Pháp (từ cuối thế kỷ XVII)… cũng đến buôn bán với cả hai vương quốc của Đại Việt (Nguyễn Quang Ngọc, 2001: 148-158)

Sự xuất hiện của thương nhân ngoại quốc tại các trung tâm buôn bán nội địa Đại Việt chứng tỏ sự nhượng bộ hay thỏa hiệp nhất định của tầng lớp thống trị phong kiến Việt Nam - vốn duy trì cái nhìn tương đối khắt khe đối với hoạt động thương mại Trong bối cảnh nền kinh tế khu vực Đông Á và nền kinh tế toàn cầu nói chung ngày càng hội nhập mạnh mẽ,

1 Về hoạt động của người Bồ Đào Nha tại Đại Việt, xin xem từ công trình của George Souza (1986) Về quan hệ của Đàng Trong với các thế lực ngoại bang, xin xem công trình của học giả Li Tana (1998).

Trang 11

Đàng Trong và Đàng Ngoài lần lượt trở thành những trạm trung chuyển thương mại, những trung tâm sản xuất hàng hóa xuất khẩu có giá trị (nhất

là tơ lụa), đồng thời là thị trường tiêu thụ (hương liệu, kim loại, tiền tệ…) Cuộc nội chiến kéo dài và hao người tốn của buộc hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn phải tìm kiếm sự hậu thuẫn về tài chính (tiền đồng, bạc nén) và quân sự (thần công, thuốc súng, tàu chiến, binh sĩ) từ bên ngoài nhằm hỗ trợ cho các chiến lược về chính trị và lãnh thổ Từ cuối thế kỷ XVI, Nguyễn Hoàng đã thể hiện sự năng động của mình trong việc gây dựng quan hệ với Hoa thương, Nhật thương (từ đầu thế kỷ XVII trực tiếp với Mạc Phủ Đức Xuyên) và người Bồ ở Macao Dù chậm trễ hơn họ Nguyễn,

họ Trịnh cũng bắt đầu có những động thái liên hệ với Mạc Phủ từ đầu thập niên 1620, với người Bồ Đào Nha từ cuối thập niên 1620 và với người Hà Lan từ giữa thập niên 16301

Có thể nói, những biến chuyển kinh tế, chính trị và xã hội ở Đại Việt trong thế kỷ XVII chịu tác động rất mạnh từ sự hình thành và phát triển của hệ thống thương mại khu vực và quốc tế, và rộng hơn là xu thế toàn cầu hóa giai đoạn cận đại sơ kỳ, trong đó hoạt động mậu dịch tơ lụa đổi lấy bạc đóng vai trò then chốt

3.2 Thương mại Nội Á và dòng chảy “bạc Nhật Bản đổi tơ lụa Đàng Ngoài”

Cùng với các tuyến hàng hải và thương mại đường dài vượt đại dương, các công ty Đông Ấn châu Âu còn thiết lập những mạng lưới thương mại Nội Á (intra-Asian trade) để thu lợi nhuận trực tiếp từ hoạt động buôn bán nội vùng, đồng thời đảm bảo nguồn cung hàng hóa cho thị trường châu Âu Trong thế kỷ XVI, tuyến thương mại Nội Á của người Bồ Đào Nha cơ bản được thiết lập với việc hình thành tuyến buôn bán liên hoàn Goa - Malacca (và vùng quần đảo hương liệu) - Macao - Nagasaki, trong đó chặng kinh doanh tơ lụa Trung Quốc trao đổi bạc Nhật Bản giữa Macao và Nagasaki đóng vai trò then chốt Sau khi thâm nhập thành công thị trường phương Đông từ cuối thế kỷ XVI, người Hà Lan (và từ sau năm 1602 là Công ty Đông Ấn Hà Lan) đã nhanh chóng xây dựng được hệ thống buôn bán Nội Á với quy mô rộng lớn, kết nối được nhiều trung tâm sản xuất,

1 Gần đây, vấn đề thương mại và hội nhập của Việt Nam thế kỷ XVI-XVIII cũng đã được thảo luận bởi các nhà sử học Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc và Vũ Đường Luân, 2009) Khái quát về các mối liên hệ của Đại Việt với người ngoại quốc trong thời kỳ này, có thể xem từ Hoang Anh Tuan (2007c: 44-57).

Trang 12

cảng thị trung chuyển và thị trường tiêu thụ sản phẩm mà vương quốc Đàng Ngoài của Đại Việt là một mắt xích hữu cơ1

Mạng lưới thương mại Nội Á của VOC về cơ bản được tổ chức như sau: Bạc nén và các loại kim loại tiền tệ (mang từ Hà Lan sang) được đầu tư vào các loại sản phẩm vải sợi Ấn Độ - mặt hàng thiết yếu trong hoạt động trao đổi lấy hồ tiêu và các loại hương liệu của vùng quần đảo Indonesia Trong khi phần lớn hương liệu được chuyên chở về châu Âu, một lượng nhất định được đưa đến bán ở các trung tâm giao dịch khác của phương Đông như Ấn Độ, Ba Tư, Đài Loan, Nhật Bản, Đàng Ngoài…

Tơ sống và các loại vải lụa thu mua từ Bengal, Ba Tư, Trung Quốc và Đàng Ngoài được chuyên chở sang Nhật Bản (một phần về châu Âu) để tiến hành trao đổi bạc Nhật (và từ đầu thập niên 1670 là đồng và vàng) Phần lớn số bạc thu mua tại Nhật được phân phối cho các thương điếm của Công ty ở phương Đông (Đàng Ngoài, Xiêm, Java, Bengal, Ba Tư…) làm vốn kinh doanh; một số lượng nhỏ được dùng để thu mua vàng ở Đài Loan Cùng với số vàng đưa từ Hà Lan sang, vàng thu mua ở Đài Loan và các trung tâm buôn bán khác ở phương Đông (trong đó có Đàng Ngoài) được gửi sang Coromandel để duy trì việc nhập khẩu vải vóc từ Ấn Độ cho các hoạt động thu mua hương liệu tại vùng quần đảo Đông Nam Á (Gaastra, 2003; Ryuto, 2005)

Bạc Nhật Bản có vai trò lớn trong sự thành công chung của mạng lưới thương mại Nội Á của Công ty Đông Ấn Hà Lan Bởi hầu hết các nền kinh

tế châu Á lúc đó đều sử dụng bạc (và tiền đồng) làm phương tiện dự trữ

và tiền bản bộ, việc tiếp cận được nguồn bạc Nhật Bản cho phép người Hà Lan mở cửa thâm nhập vào hầu hết các thị trường buôn bán lớn ở Tây Á, Nam Á, Đông Dương, vùng quần đảo Nam Dương, thậm chí cả thị trường Trung Quốc (thông qua trung gian Đài Loan)

Để thu mua được bạc Nhật Bản, người Hà Lan cần có tơ lụa - loại thương phẩm thu lợi nhuận cao tại thị trường đảo quốc Trong suốt nửa cuối thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha thu được lợi nhuận kếch xù từ hoạt

1 Mô tả tầm quan trọng của mạng lưới buôn bán Nội Á đến sự thành bại của Công ty tại phương Đông, Toàn quyền Hà Lan ở Batavia (Jakarta) viết một cách hình tượng: “hệ thống thương mại Nội Á là linh hồn của Công ty nên cần được bảo vệ nghiêm ngặt, bởi nếu linh hồn bị hủy hoại thì thể xác tất yếu sẽ bị tan rữa” (Prakash, 1991: 131-139)

Về vai trò của mạng lưới thương mại Nội Á của VOC, xin xem những phân tích của Holden Furber (1976: 3-27).

Trang 13

động kinh doanh tơ lụa Trung Quốc đổi lấy bạc Nhật Bản Trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ XVII, nỗ lực thu mua tơ lụa Trung Quốc cho thị trường Nhật Bản của người Hà Lan thông qua các cầu buôn bán với Patani, Hội An, Ayutthaya… không thực sự thành công do sự cạnh tranh quyết liệt của người Bồ Phải đến năm 1624 khi người Hà Lan chiếm được Đài Loan và biến nơi đây thành địa điểm thu hút thuyền buôn Trung Quốc từ đại lục mang tơ lụa ra trao đổi, kim ngạch tơ lụa của ngườ i Hà Lan đưa vào Nhật Bản mới cơ bản tăng lên (Blusse, 1973) Trong khoảng hơn một thập

kỷ sau đó, Công ty Đông Ấn Hà Lan thường xuyên dành một phần lớn bạc Nhật cho thương điếm Zeelandia (Đài Loan) thu mua tơ lụa Trung Quốc Tuy nhiên, từ khoảng đầu thập niên 1640, sản lượng tơ lụa Trung Quốc ra đảo Đài Loan ngày một suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau: bất ổn chính trị và kinh tế tại đại lục cũng như sự cạnh tranh của các thế lực Hoa thương buôn bán sang Nagasaki

Nhằm tìm kiếm nguồn cung cấp tơ lụa thay thế cho thị trường tiêu thụ quan trọng Nhật Bản, Công ty Đông Ấn Hà Lan chuyển trọng tâm buôn bán từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài Năm 1637, thương đoàn Hà Lan đến Kẻ Chợ; quan hệ thương mại và bang giao được thiết lập chính thức

và kéo dài đến tận năm 1700 Trong hơn sáu thập niên tiếp theo, quan hệ

Hà Lan - Đàng Ngoài diễn ra trên nhiều lĩnh vực (bang giao, liên minh quân sự, xuất-nhập khẩu), trong đó nền mậu dịch tơ lụa đổi lấy bạc là trọng tâm của mối quan hệ, có tác động rất lớn đến sự chuyển biến kinh

tế - xã hội ở miền bắc Đại Việt trong phần lớn thế kỷ XVII (Hoang Anh Tuan, 2007b)

Những nghiên cứu gần đâycho thấy, trong suốt giai đoạn lợi nhuận cao của nền mậu dịch tơ lụa Hà Lan - Đàng Ngoài (1637 - 1654), bạc Nhật Bản thường xuyên được chuyển thẳng từ Nagasaki đến Đàng Ngoài thông qua các thương thuyền Hà Lan hoạt động giữa vùng cửa sông Thái Bình và cảng Nagasaki Khối lượng bạc Nhật Bản được Công ty Đông Ấn Hà Lan đưa sang

Kẻ Chợ hàng năm cũng tương đối ổn định, trung bình 100.000 lạng/năm Trong giai đoạn hoàng kim của nền mậu dịch tơ lụa Hà Lan - Đàng Ngoài (1644 - 1652), Công ty đưa đến Đàng Ngoài xấp xỉ 130.000 lạng mỗi năm Cho đến giữa thập niên 1650, bạc luôn chiếm khoảng 95% tổng giá trị hàng hóa ngườ i Hà Lan nhập khẩu vào Đàng Ngoài, trong khi các thương phẩm khác chỉ dao động ở mức xấp xỉ 5% (Hoang Anh Tuan, 2006)

Trang 14

Bảng 1: Nhập khẩu bạc của Hà Lan vào Đàng Ngoài (1637 - 1668) 1

(bạc: lạng; tổng giá trị nhập khẩu: guilders)

1636); 2 guilders 17 stuivers (1636-1666); 3 guilders 10 stuivers (1666 - 1743).

Từ giữa thập niên 1650 sản lượng bạc Nhật do VOC đưa vào Đàng Ngoài hàng năm có dấu hiệu đi xuống do: 1) sự suy giảm lợi nhuận của hoạt động xuất khẩu tơ lụa Đàng Ngoài sang Nhật và 2) sự khan hiếm tiền đồng ở Đàng Ngoài dẫn đến sự sụt giảm tỉ giá hối đoái bạc/tiền đồng Cùng thời điểm đó, hoạt động kinh doanh tơ lụa Đàng Ngoài tại Nhật Bản cũng ngày càng khó khăn do sự cạnh tranh của tơ lụa Bengal (Ấn Độ) nên Công ty Đông Ấn Hà Lan quyết định cắt giảm sản lượng tơ lụa Đàng Ngoài xuất khẩu sang Nhật Bản Như một hệ quả, số vốn đầu tư hàng năm cho thương điếm Kẻ Chợ cũng bị cắt giảm theo Sau năm 1655, sản lượng bạc

1 Phần lớn số liệu lưu trữ của Công ty Đông Ấn Hà Lan và Công ty Đông Ấn Anh liên quan đến Đại Việt trong phần 3.2 và 3.3 đã được công bố trong thời gian gần đây (Hoàng Anh Tuấn, 2009).

Trang 15

ngườ i Hà Lan đưa vào Đàng Ngoài hàng năm thường đứng dưới ngưỡng 100.000 lạng/năm Trong giai đoạn 1656 - 1668, ngoại trừ một vài mùa buôn bán Batavia quyết tâm phục hồi hoạt động xuất khẩu tơ lụa sang Nhật, sản lượng bạc ngườ i Hà Lan đưa vào Đàng Ngoài hàng năm đứng ở mức trung bình 60.000 lạng/năm.

Theo ước tính sơ bộ, trong giai đoạn 1637 - 1668, khoảng 2.527.000 lạng bạc (chủ yếu là bạc Nhật), tương đương 7.000.000.000 guilders Hà Lan

đã được Công ty Đông Ấn Hà Lan đưa vào Đàng Ngoài Trong những

thập kỷ còn lại, một lượng đáng kể các loại đồng bạc như provintiendaalder, kruisdaalder, Mexican rials và Surat rupees tiếp tục được ngườ i Hà Lan chuyển

vào miền bắc Đại Việt Những thông tin trích lược được từ kho tư liệu lưu trữ Hà Lan đồng thời gợi ý rằng, về đại thể, số lượng bạc Hoa thương mang vào Đàng Ngoài không kém quá xa số lượng bạc người Hà Lan đưa đến Bên cạnh đó, cho đến nửa đầu thập niên 1630 một số lượng đáng kể bạc Nhật đã chảy vào Đàng Ngoài theo thuyền buôn của Hoa thương, Nhật thương và người Bồ Đào Nha Tạm bỏ qua các số liệu còn thiếu hụt trên

và chỉ tính đến kim ngạch khập khẩu của người Hà Lan cũng đủ để cho thấy tầm quan trọng của nguồn bạc nói trên đối với hệ thống tiền tệ, và rộng hơn là nền kinh tế hàng hóa đang trên đà mở rộng, của Đàng Ngoài (Hoàng Anh Tuấn, 2009)

Bên cạnh bạc, từ đầu thập niên 1660, ngườ i Hà Lan cũng tìm cách

đưa đồng tiền đồng zeni từ Nhật Bản sang tiêu thụ ở Đàng Ngoài và thu

được lợi nhuận khá Trong bối cảnh bạc bị mất giá do sự khan hiếm tiền

đồng ở Đàng Ngoài, có thể nói việc nhập khẩu tiền zeni là một mũi tên

nhắm trúng hai mục tiêu: 1) thu lợi nhuận từ việc kinh doanh loại tiền vốn rất rẻ tại Nhật Bản và 2) cung cấp phương tiện thanh toán hợp lệ để nhân viên thương điếm Hà Lan ở Kẻ Chợ tiến hành các hoạt động giao dịch, hạn chế sự thua lỗ do bạc bị mất giá trong cuộc khủng hoảng thiếu tiền đồng tại Đàng Ngoài suốt thập niên 1650 Theo ước tính sơ bộ, trong giai đoạn 1661 - 1677, riêng ngườ i Hà Lan đưa vào Đàng Ngoài khoảng

215 triệu đồng tiền zeni (tương đương với 360.000 quan tiền, tính ở mức quy đổi 600 đồng/quan), chưa tính đến một số lượng lớn tiền zeni do

Hoa thương buôn bán giữa Đàng Ngoài và Nagasaki mang vào Kẻ Chợ (Hoàng Anh Tuấn, 2009)

Trang 16

Bảng 2: Tiền zeni Nhật do VOC nhập khẩu vào Đàng Ngoài (1660 - 1679)

(đơn vị tính: đồng; đơn vị khác sẽ được ghi chú)

3.3 Thương mại quốc tế và một số chuyển biến kinh tế - xã hội ở Đàng Ngoài thế kỷ XVII

3.3.1 Tơ lụa xuất khẩu và sự biến động cơ cấu nhân lực

Để chỉ ra được tác động của hoạt động thương mại nói chung đến sự chuyển dịch cơ cấu nhân lực trong ngành sản xuất tơ lụa, cần khái quát sơ lược tình hình sản xuất tơ lụa và vải vóc tại Đàng Ngoài thế kỷ XVII Ngay sau khi sang buôn bán tại phương Đông, người châu Âu đã biết đến chất

Trang 17

lượng và sản lượng tơ lụa Đàng Ngoài Tomé Pires - nhà hàng hải và thám

hiểm Bồ Đào Nha - viết trong cuốn du hành ký Suma Oriental đầu thế kỷ XVI

rằng Đại Việt sản xuất hàng năm một lượng lớn tơ và lụa chất lượng cao, hoa văn và màu sắc rất đẹp Vào cuối thế kỷ XVI, tơ lụa Đàng Trong hòa cùng tơ lụa Trung Quốc do Hoa thương mang đến Hội An để theo thuyền buôn châu

Ấn (shuin-sen) sang Nhật Bản Tuy nhiên, trong thế kỷ XVII, phần lớn tơ lụa

của Đại Việt được sản xuất ở Đàng Ngoài Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, đến

Kẻ Chợ năm 1627, nhận thấy tơ lụa Đàng Ngoài là sản phẩm chính hấp dẫn Hoa thương và Nhật thương đến buôn bán (Rhodes, 1651: 56-57) Vào đầu thập niên 1630, thương nhân Hà Lan ở Hirado (Nhật Bản) cũng nhận thấy

tơ lụa Đàng Ngoài được đưa sang tiêu thụ tại thị trường đảo quốc ngày càng nhiều (Dagh-register Batavia, 1634: 249-250)

Trong thế kỷ XVII, lụa được sản xuất tại rất nhiều làng xã Đàng Ngoài, tiêu biểu nhất là các vùng quanh kinh đô Thăng Long như các tỉnh Hà Tây, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Sơn Nam Theo ghi chép của người Hà Lan,

hàng năm ở Đàng Ngoài có hai vụ thu hoạch tơ lụa chính Vụ hè (somertijt)

thu hoạch vào các tháng Tư và Năm, cho sản lượng khoảng 1.500 đến 1.600

picul (khoảng 90 tấn) tơ sống kèm theo khoảng 5.000 đến 6.000 tấm lụa Vụ đông (wintertijt) thu hoạch vào các tháng Mười và Mười một, cho sản lượng

bằng khoảng 1/2 vụ hè Do đặc điểm thu hoạch như vậy, thương nhân ngoại quốc thường đến buôn bán với Đàng Ngoài vào đầu mùa hè và cố gắng dong thuyền đi Nhật Bản vào cuối mùa gió nồm nam (Dagh-register Batavia, 1636: 69-74; Valentyn, 1724-1726 (3): 6)

Phần lớn các sản phẩm tơ sống Đàng Ngoài thế kỷ XVII là loại tơ vàng Nguyên nhân của hiện tượng này nằm ở chỗ đặc điểm của cây dâu, tằm, và khí hậu nhiệt đới Giống tằm Đàng Ngoài thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và có thể nhả tơ trong điều kiện thời tiết oi bức của mùa hè Tuy

nhiên, đây là giống tằm chủ yếu cho loại tơ vàng (bogy) - thứ tơ không được

ưa chuộng trên thị trường Nhật Bản nên thường có giá thành thấp Trong một số thời điểm khi nhu cầu về tơ lụa cho xuất khẩu lên cao, thương nhân ngoại quốc nhận thấy người Đàng Ngoài tìm cách nhập khẩu từ Trung Quốc giống tằm cho loại tơ trắng - loại tơ có giá thành cao Tuy nhiên, loại tằm này thường chỉ nhả tơ trong điều kiện khí hậu mát mẻ của mùa thu, sản lượng

tơ vì thế không cao vì vào thời điểm này dâu tằm ở Đàng Ngoài đã vào cuối

vụ (Richard, 1811: 740)

Trang 18

Những ghi chép của người phương Tây cho thấy sản lượng tơ lụa sản xuất hàng năm tại Đàng Ngoài đã tăng lên đáng kể trong nửa đầu thế kỷ XVII Mặc dù có một số trung tâm tơ lụa phát triển ngay trong (hoặc gần) phạm vi kinh thành Thăng Long, một khối lượng lớn tơ sống và lụa tấm vẫn được nông dân sản xuất hàng năm ở nông thôn dưới dạng sản phẩm thủ công truyền thống (Nguyễn Thừa Hỷ, 2002: 154-169) Mặc dù phần đa các

hộ gia đình tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động sản xuất tơ lụa dưới các quy mô lớn nhỏ khác nhau, họ ít khi chủ trương chuyển đổi hoàn toàn đất canh tác từ lúa sang dâu Tuy nhiên, sản lượng tơ lụa sản xuất hàng năm vẫn rất lớn, đáp ứng đủ nhu cầu thu mua của người nước ngoài do một

số lượng lớn hộ gia đình tham gia sản xuất

Trong giai đoạn 1637 - 1699, ngườ i Hà Lan đầu tư khoảng 13.524.028 guilders chủ yếu vào sản phẩm tơ lụa Đàng Ngoài, tương đương với khoảng 215.000 guilders mỗi năm1 Thời kỳ này cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nền mậu dịch của Hoa thương với miền bắc Đại Việt Những thông tin gián tiếp từ nguồn tư liệu của Công ty Đông Ấn Hà Lan cho thấy tổng đầu tư của người Hoa vào buôn bán với Đàng Ngoài ước tính đạt 2/3 tổng vốn đầu tư của VOC Nếu ước lượng này là chính xác, khoảng 9.009.352 guilders đã được Hoa thương đầu tư chủ yếu vào tơ lụa Đàng Ngoài trong khoảng 7 thập niên cuối của thế kỷ XVII2 Như vậy, tổng đầu tư vào Đàng Ngoài, chủ yếu vào tơ lụa, của riêng người Hà Lan

và người Hoa giai đoạn 1637 - 1700 đã lên tới khoảng 22.523.380 guilders,

1 Tổng kim ngạch đầu tư của VOC tại Xiêm trong 62 năm (1633 - 1694) là 9.934.526 guilders, trung bình 160.234/năm (Smith, 1977: 63&70) Tuy nhiên, cần lưu ý một thực

tế là cấu trúc thương mại VOC - Xiêm thế kỷ XVII tương đối khác biệt với cấu trúc thương mại VOC - Đàng Ngoài cùng thời điểm Trong những năm đầu của quan hệ với Ayutthaya (từ năm 1604), VOC toan tính sử dụng Xiêm như cửa ngõ để mở quan

hệ với Trung Quốc và thu mua thương phẩm Trung Hoa Sau đó Xiêm trở thành nguồn cung cấp lương thực (chủ yếu là gạo) cho Batavia và các thương phẩm xuất khẩu sang Nhật, Formosa (Đài Loan), Malacca, Ấn Độ, châu Âu Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận thấy rằng kim ngạch của VOC trong buôn bán với Đàng Ngoài thế kỷ XVII đứng ở mức tương đối cao so với Xiêm, đặc biệt là với Lào và Campuchia Về buôn bán của VOC tại Lào và Campuchia, có thể tham khảo từ công trình của Buch (1937: 195-237).

2 Theo những thông tin trích lược được từ tư liệu VOC, trong nhiều năm số lượng vốn đầu tư vào buôn bán với Đàng Ngoài của Hoa thương thậm chí vượt qua số vốn đầu

tư của người Hà Lan Ví dụ, năm 1664 Hoa thương mang đến Đàng Ngoài 200.000 lạng bạc (xấp xỉ 570.000 guilders) để thu mua tơ lụa cho thị trường Nhật Bản, trong khi thương điếm Hà Lan ở Kẻ Chợ chỉ được cung cấp 347.989 guilders cho mùa buôn bán năm đó (NA VOC 1252, H Verdonk aan Batavia, 23 Feb 1665, fos 209-248).

Trang 19

tương đương với 350.000 guilders mỗi năm - chưa kể đến các khoản đầu tư của các thương nhân ngoại quốc khác, đáng chú ý là người Nhật và người

Bồ trong giai đoạn trước đó cũng như người Anh và Pháp trong khoảng 3 thập niên cuối thế kỷ XVII1

Vậy khối lượng lớn vốn đầu tư này đã tác động như thế nào đến ngành thủ công nghiệp tơ lụa Đàng Ngoài, cụ thể hơn là số lượng nhân công lao động? Mặc dù khó có thể đưa ra con số chính xác cho câu hỏi trên, hiện thực phát triển ngoạn mục của ngành tơ lụa Đàng Ngoài trong nửa đầu thế kỷ XVII gián tiếp cho thấy nhu cầu lớn cũng như nguồn vốn đầu tư dồ i dà o từ bên ngoài đổ vào ngành thủ công nghiệp trọng yếu này Bởi các nguồn tư liệu phương Tây không cung cấp thông tin chi tiết về sản lượng tơ lụa trung bình

do mỗi hộ gia đình sản xuất nên chúng ta phải suy luận trên cơ sở những dữ liệu liên quan và mang tính đại diện Theo kết quả khảo sát gần đây tại một

số hộ sản xuất tơ lụa truyền thống tại tỉnh Thái Bình thuộc châu thổ sông Hồng, một hộ nông dân - bên cạnh canh tác lúa - thu hoạch khoảng 10 cân tơ mỗi năm từ việc trồng dâu nuôi tằm Giả sử mỗi hộ gia đình Đàng Ngoài thế

kỷ XVII cũng thu hoạch trung bình 10 cân tơ như trên, ít nhất 9.000 hộ hoặc 45.000 nhân công (tương đương 1% dân số Đàng Ngoài lúc đó2) đã tham gia vào việc sản xuất 90 tấn (1.500 picul) tơ sống vào vụ hè Đó là chưa kể đến một

số lượng đáng kể nhân công như thợ dệt, nhuộm, tẩy, thêu tham gia vào quá trình sản xuất lụa tấm Nếu chúng ta thực hiện một phép tính đơn giản rằng mỗi hộ gia đình tham gia sản xuất tơ lụa (chưa tính đến những khoản đầu tư và chi phí trong sản xuất) thu hoạch khoảng 10 cân (tương đương 166,5 catties) tơ sống mỗi mùa, ở mức giá trung bình 3,5 guilders/catty, mỗi

hộ thu nhập khoảng 60 guilders từ hoạt động sản xuất tơ lụa Ở xứ sở thuần nông như Đàng Ngoài - nơi giá cả các mặt hàng xoay quanh giá gạo - 60 guilders có thể mua được khoảng 39 piculs (tương đương 2,3 tấn) gạo ở mức giá 15 tiền (khoảng 1,5 guilders) mỗi picul Số gạo nói trên nhìn chung tương đối dư dật cho một hộ gia đình với trung bình 5 nhân khẩu

1 Iwao Seiichi ước tính rằng mỗi thuyền Châu Ấn Nhật ra buôn bán ở Đông Nam Á mang theo trung bình 50.000 lạng bạc (tương đương 155.000 guilders) Nếu ta chấp nhận con số ước lượng trên của Iwao, khoảng 2.000.000 lạng bạc (hoặc khoảng 6.200.000 guilders) đã được thuyền Châu Ấn Nhật đưa đến Đàng Ngoài từ năm 1604 đến năm 1635 (Iwao, 1958: 49&269).

2 Theo ước tính của Li Tana, dân số Đàng Ngoài đầu thập niên 1640 vào khoảng 4.769.050 người (khoảng 953.810 hộ), phần lớn tập trung tại châu thổ sông Hồng và các vùng phụ cận (Li Tana, 1998: 171).

Ngày đăng: 18/03/2021, 19:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Antunes, Cátia. 2004. Globalisation in the Early Modern Period: The Economic Relationship between Amsterdam and Lisbon, 1640-1705. Amsterdam: Aksant Sách, tạp chí
Tiêu đề: Globalisation in the Early Modern Period: The Economic Relationship between Amsterdam and Lisbon, 1640-1705
4. Association of Vietnamese Historians & People’s Committee of Hải Hưng Province (ed.). 1994. Phố Hiến: The Centre of International Commerce in the 17 th - 18 th Centuries. Hanoi: The Gioi Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố Hiến: The Centre of International Commerce in the 17"th"-18"th" Centuries
5. Blussé, Leonard. 1973. “The Dutch Occupation of the Pescadores (1622-1624)”, Transactions of the International Conference of Orientalists in Japan, No. XVIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Dutch Occupation of the Pescadores (1622-1624)”, "Transactions of the International Conference of Orientalists in Japan
6. Buch, W.J.M. 1937. “La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine”. Bulletin de l’ẫcole Franỗaise d’Extrờme-Orient 37, 195-237 Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine”. "Bulletin de l’ẫcole Franỗaise d’Extrờme-Orient 37
7. Burke, Peter. 2007. “Can We Speak of an Early Modern World?” IIAS Newsletter 43 (spring), 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can We Speak of an Early Modern World?” "IIAS Newsletter
8. Chanda, Nayan. 2002. “What is Globalization?” YaleGlobal, 19 November 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is Globalization?” "YaleGlobal
9. Choi, Byung Wook. 2002. “The Rise of Vietnamese Overseas Traders in Southern Vietnam during the Middle of the 19 th Century”. Journal of Asian Historical Studies 78, 207-210; 230-231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Rise of Vietnamese Overseas Traders in Southern Vietnam during the Middle of the 19th Century”. "Journal of Asian Historical Studies
10. Cleveland, William L. 2004. “The Ottoman and Safavid Empires: A New Imperial Synthesis”, A History of the Modern Middle East. Westview Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Ottoman and Safavid Empires: A New Imperial Synthesis”, "A History of the Modern Middle East
11. Crossley, Pamela Kyle. 2008. What Is Global History? Cambridge: Polity Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: What Is Global History
12. Crossley, Pamela Kyle, Siu, Helen, and Sutton, Donald S. (eds.). 2006. Empire at the Margins: Culture, Ethnicity, and Frontier in Early Modern China. Berkeley:University of California Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Empire at the Margins: Culture, Ethnicity, and Frontier in Early Modern China
13. Dampier, William. 2007. Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688. Hà Nội: Nxb. Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688
Nhà XB: Nxb. Thế Giới
14. Frank, Gunder A. 1998. Reorient: Global Economy in the Asian Age. Berkeley: University of California Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reorient: Global Economy in the Asian Age
15. Furber, Holden. 1976. Rival Empires of Trade in the Orient, 1600-1800. Minneapolis: University of Minneapolis Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rival Empires of Trade in the Orient, 1600-1800
16. Gaastra, Femme. 2003. The Dutch East India Company, Expansion and Decline. Zutphen: Walburg Pers Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Dutch East India Company, Expansion and Decline
17. Held, David et al. 1999. Global Transformations: Politics, Economics and Culture. Cambridge: Polity Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al." 1999. "Global Transformations: Politics, Economics and Culture
18. Hoàng, Anh Tuấn. 2006. “Mậu dịch tơ lụa của Công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Ngoài, 1637-1670”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 3, 10-20; 4, 24-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mậu dịch tơ lụa của Công ty Đông Ấn Hà Lan với Đàng Ngoài, 1637-1670”. Tạp chí "Nghiên cứu Lịch sử
19. Hoàng, Anh Tuấn. 2007a. “Gốm sứ Đàng Ngoài xuất khẩu ra Đông Nam Á thế kỷ XVII: Tư liệu và nhận thức”. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 11, 28-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gốm sứ Đàng Ngoài xuất khẩu ra Đông Nam Á thế kỷ XVII: Tư liệu và nhận thức”. Tạp chí "Nghiên cứu Lịch sử
20. Hoang, Anh Tuan. 2007b. “The Dutch East India Company in Seventeenth- Century Tonkin”. Journal of Southeast Asian Studies, 47-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Dutch East India Company in Seventeenth-Century Tonkin”. "Journal of Southeast Asian Studies
21. Hoang, Anh Tuan. 2007c. Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, 1637-1700. Leiden-Boston: Brill Sách, tạp chí
Tiêu đề: Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, 1637-1700
22. Hoang, Anh Tuan. 2008a. “Rice Embargo on Quinam: Thai-Vietnamese Relations in the 1660s”. Paper presented at the 10 th International Conference on Thai Studies, Thammasat University, Bangkok, Thailand (9-11 January) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rice Embargo on Quinam: Thai-Vietnamese Relations in the 1660s”. Paper presented at the "10"th" International Conference on Thai Studies

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w