1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa gia đình và gia tộc việt nam qua tư liệu hán nôm

80 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 614,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua những văn bản này, chúng tôi thấy tồn tại thực sự một quan niệm về người phụ nữ truyền thống, vẻ đẹp chuẩn mực, vị trí cũng như yêu cầu đặt ra với họ, đồng thời cũng cho thấy một phư

Trang 1

PGS.TS NGUYỄN VĂN THỊNH (Chủ biên)

ThS Phạm Ánh Sao – ThS Phạm Vân Dung

VĂN HÓA GIA ĐÌNH

VÀ GIA TỘC VIỆT NAM

QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC

Lời nói đầu 5

1 Vài nét về nữ huấn trong gia đình truyền thống Việt Nam tài liệu Hán Nôm 7

2 Trích dẫn các văn bản phiên Nôm  Huấn nữ tử ca 48

 Cảnh phụ châm 77

Huấn nữ diễn âm ca 88

 Nữ huấn ca 110

 Bút hương trai khuê huấn ca 126

 Tân nữ huấn 135

Tài liệu tham khảo 207

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã để sức sưu tầm tư liệu Hán Nôm

về đề tài văn hóa gia đình và gia tộc Việt Nam Đó là những gia huấn, gia quy, tộc ước, gia lễ v.v…Ngoài tư liệu có trong các thư viện có lưu trữ tư liệu Hán Nôm, chúng tôi còn sưu tầm được các tư liệu trong quá trình điền dã và đã tham gia các đề tài Hội thảo khoa học, công bố các kết quả nghiên cứu của mình với mong muốn đóng góp cho xã hội Lần này, chúng tôi muốn giới thiệu một số văn bản nữ huấn tới bạn đọc trong phạm vi Đại học Quốc gia Hà Nội

Công việc của chúng tôi đến nay, đã thu được những kết quả bước đầu nhưng vẫn còn một chặng đường dài và đầy hấp dẫn ở phía trước Do thời gian còn hạn chế nên các tài liệu mà chúng tôi muốn giới thiệu mới được thực thi phần phiên âm, dịch nghĩa và phần chú thích, chưa giới thiệu được phần nguyên văn chữ Hán, chữ Nôm Chúng tôi tự thấy còn nhiều thiếu sót và sẽ cố gắng để công trình sách đầy đủ sớm ra mắt bạn đọc Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Thay mặt nhóm tác giả

PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh

Trang 7

VÀI NÉT VỀ NỮ HUẤN TRONG GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

QUA TƯ LIỆU HÁN NÔM

Trong suốt mười thế kỷ trung đại sử dụng chữ Hán và chữ Nôm, ông cha ta đã để lại một kho tàng thư tịch Hán Nôm đồ sộ, nguồn di sản quý giá giúp chúng ta ngày nay trong việc tìm hiểu về truyền thống dân tộc trên nhiều lĩnh vực Từ góc độ những người làm công tác nghiên cứu Hán Nôm, trong quá trình sưu tầm và khai thác thư tịch, chúng tôi nhận thấy di sản Hán Nôm hiện cũng lưu giữ một khối lượng văn bản rất

đáng chú ý: những văn bản gia huấn - loại sách làm ra để giáo dục con

em trong gia đình xưa Trong đó, phần dành riêng giáo dục nữ giới mà

chúng tôi gọi chung là nữ huấn chiếm một vị trí quan trọng

Như chúng ta đã biết, xã hội phong kiến với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã qui định người phụ nữ không được đến trường, không được học hành, không được tham gia các hoạt động xã hội Và như vậy, phải chăng yêu cầu “giáo hóa” không đặt ra với đối tượng này? Khi đi

vào các văn bản gia huấn, chúng tôi bắt gặp một thực tế hoàn toàn khác:

Gia huấn được làm ra để dạy bảo con em nói chung trong gia đình, nhưng

ở lĩnh vực này, các bậc cha anh dường như đã dành cho nữ giới sự “ưu ái” đặc biệt, đã dày công phu, giàu nhiệt huyết khi biên soạn một hệ thống điều qui giáo dục, những lời chỉ dẫn, khuyên bảo rất tỉ mỉ, tận tình

Với một số lượng văn bản đáng kể hiện khảo được, chúng tôi xem đây là

một hiện tượng văn hóa đặc sắc, một thể loại trước tác khá đặc thù cần phải được khảo sát một cách hệ thống cả trên phương diện hình thức và nội dung, từ đó nhằm tìm ra những cái chung, cái phổ biến, cái xuyên suốt ở những văn bản đó, đồng thời thấy được cái riêng, cái độc đáo của những văn bản khác nhau, của những thời kỳ khác nhau và ở những loại văn bản khác nhau

* Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 8

Qua những văn bản này, chúng tôi thấy tồn tại thực sự một quan niệm về người phụ nữ truyền thống, vẻ đẹp chuẩn mực, vị trí cũng như yêu cầu đặt ra với họ, đồng thời cũng cho thấy một phương thức giáo dục hết sức độc đáo dành cho nữ giới trong gia đình truyền thống Việt Nam Sau một thời gian vai trò của gia đình bị coi nhẹ, xã hội hóa được đề cao quá mức, cá nhân đòi được khẳng định, đòi thoát khỏi mọi ràng buộc của gia đình, ngay lập tức gia đình rơi vào khủng hoảng, đạo đức

xã hội suy thoái nghiêm trọng, cả nhân loại phải giật mình thức tỉnh, nhìn nhận lại vấn đề này Liên Hợp Quốc đã chọn năm 1994 làm năm Quốc tế gia đình Tại Việt Nam, ngày 28- 6- 2000, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 55 CT/TW nêu rõ yêu cầu “Tổ chức ngày gia đình trong tháng hành động về trẻ em hàng năm” Rõ ràng, gia đình không chỉ là mối quan tâm của một vài người, một vài ngành hay một vài nước mà đã trở thành vấn đề mang tầm quốc gia, quốc tế Giáo dục gia đình, đặc biệt đối với lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi đang hình thành nhân cách, hình thành nếp ban đầu là vấn đề của mọi xã hội, mọi thời đại, vấn đề muôn thuở của Đông – Tây kim cổ mà loài người luôn phải trở lại Và như vậy, có

thể nói, gia huấn nói chung, nữ huấn nói riêng là một đề tài vẫn giàu ý

nghĩa thời sự trong xã hội ngày nay, cần thiết được triển khai nghiên cứu một cách thích đáng

Nếu ai đó từng nói “đằng sau mỗi gia đình hạnh phúc đều có bóng dáng người phụ nữ tốt ở đó”, hay khái quát như câu nói của Ta-go, nhà thơ, bậc triết gia lớn của Ấn Độ: “Giáo dục một người đàn ông được một người đàn ông Giáo dục một người phụ nữ được một gia đình” thì

trong những văn bản nữ huấn, chúng tôi đã bắt gặp sự hoà chung một

nhịp cùng dòng tư tưởng đó

Với tất cả những ý nghĩa như trên, chúng tôi chọn nữ huấn trong di

sản Hán Nôm Việt Nam làm đề tài khảo sát, nghiên cứu trước hết, nhằm góp phần phát huy những giá trị truyền thống, nhằm làm rõ một vấn đề, một hiện tượng, một vốn quý trong di sản Hán Nôm và hơn nữa, theo chúng tôi, để hiểu truyền thống thì giáo dục chính là sự thể hiện đầy đủ

định hướng giá trị, sự lựa chọn của một thời mà nữ huấn cũng là một

nhánh quan trọng Bên cạnh đó, với những đóng góp về dịch thuật, chúng tôi cũng muốn cung cấp cho người hiện đại một sự hiểu biết về quá khứ, một tài liệu tham khảo để cùng suy ngẫm, chiêm nghiệm

Trang 9

Vậy cần phải quan niệm cụ thể về nữ huấn như thế nào? Theo chúng tôi, việc đưa ra một quan niệm thống nhất về nữ huấn như một

tiêu chí cho việc định hướng khảo sát văn bản, từ đó tìm ra những đặc

điểm về tình hình các văn bản nữ huấn là cần thiết

1 Thuật ngữ Nữ huấn

Trong các tác phẩm gia huấn, bên những nội dung về đạo lý làm con

nói chung trong gia đình, các soạn giả đã rất chú ý tới lối thức giáo dục theo giới tính khi biên soạn riêng biệt thành hai phần: huấn nam tử (dạy con trai) và huấn nữ tử (dạy con gái) Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy,

nhiều tác phẩm gia huấn đã dành một dung lượng khá lớn cho phần

huấn nữ tử, thậm chí đã có một số lượng đáng kể các tác phẩm được biên soạn dành riêng cho đối tượng này Những tác phẩm soạn riêng

dành giáo dục nữ giới trong gia đình có nhiều tên gọi khác nhau như: nữ

huấn, nữ giới, nữ tắc, phụ châm, khuê huấn…Trong đó, chúng tôi khảo sát

thấy nữ huấn là tên gọi có tần số xuất hiện cao nhất ngay từ nhan đề tác

phẩm cho tới trong nội dung tác phẩm, mặt khác đây cũng là cách gọi vừa thể hiện rõ đối tượng giáo dục (nữ giới), tính chất khuyên dạy

(huấn), vừa dễ hình dung tính chất bộ phận của gia huấn

Chính vì vậy, nếu như gia huấn đã được sử dụng với tính chất như một thuật ngữ khá phổ biến ở cả Trung Quốc và Việt Nam thì ở đây,

chúng tôi mạnh dạn đưa ra cách gọi nữ huấn như một thuật ngữ chỉ riêng cho các văn bản Hán Nôm có nội dung giáo dục nữ giới trong gia đình truyền thống, trước hết có tư cách là một bộ phận thuộc lĩnh vực gia huấn

2 Tình hình văn bản nữ huấn Việt Nam

Phạm vi khảo sát các văn bản nữ huấn được chúng tôi chọn Thư

viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trung tâm lưu trữ sách Hán Nôm lớn nhất hiện nay của Việt Nam làm trọng điểm khảo sát Tất nhiên, ngoài

ra, chúng tôi cũng mở rộng phạm vi khảo sát tới một số thư viện trung ương như Thư viện Quốc gia, thư viện Viện Sử học, thư viện Viện Văn học, và những văn bản chúng tôi sưu tầm được qua công tác điền dã địa phương Thông qua đây, chúng tôi hy vọng sẽ bước đầu tổng kết sơ bộ

và phần nào mô phỏng được diện mạo về tình hình hệ thống văn bản nữ

huấn Việt Nam

Trang 10

Chúng tôi tiến hành khảo sát văn bản theo trình tự như sau:

Trước hết, chúng tôi thống kê hệ thống gia huấn Việt Nam trong

phạm vi tư liệu đã khảo sát Từ bảng thống kê đó, chúng tôi bóc tách

những tác phẩm gia huấn có dung lượng nữ huấn riêng biệt đáng kể và những tác phẩm gia huấn có nội dung chuyên về nữ huấn, lập bảng thống

kê và từ đó rút ra những đặc điểm về các văn bản nữ huấn Việt Nam

Trên cơ sở phân loại này, chúng tôi sơ bộ thống kê được 51 văn bản

gia huấn Việt Nam Từ đó, chúng tôi tách được 26 văn bản có nội dung

nữ huấn theo tiêu chí đã qui loại như trên, lập bảng thống kê kèm kí hiệu

thư viện hay sưu tầm, niên đại biên soạn hay khắc in, hình thức văn tự, tác giả, thể loại, hình thức chế bản khắc in hay chép tay

Từ thống kê trên, chúng tôi phân tích và rút ra những đặc điểm về

tình hình văn bản nữ huấn Việt Nam như sau:

Xét về mặt niên đại, có 20/26 văn bản xác định được niên đại biên soạn hay ấn hành, sao chép Trong đó, văn bản có niên đại biên soạn vào loại sớm nhất là vào thế kỉ thứ XVIII và chiếm tỉ lệ rất ít (2/26 văn bản) Văn bản có niên đại vào thế kỉ XIX chiếm 6/26 văn bản (trong đó, 4 văn bản là niên đại biên soạn, 2 văn bản là niên đại khắc in) Còn lại 12/26 văn bản có niên đại vào đầu thế kỉ XX (5 văn bản là niên đại biên soạn, 8 văn bản là niên đại ấn hành, sao chép)

Như vậy, những văn bản nữ huấn trong phạm vi chúng tôi khảo sát

tồn tại từ thế kỉ XVIII tới thế kỉ XX Mặc dù số văn bản lưu hành vào đầu

thế kỉ XX cao hơn thế kỉ XVIII, XIX nhưng do điều kiện khảo sát và sự mất mát thư tịch nói chung khiến chúng tôi khó có thể khảo sát được triệt để, đồng thời, một lý do dễ hiểu là những văn bản ra đời càng gần thời kỳ sưu tập thì càng dễ sưu tập hơn, cho nên không vì vậy mà chúng

tôi kết luận nữ huấn ở giai đoạn sau phát triển mạnh hơn ở giai đoạn trước Nhưng điều đó cũng chứng tỏ, hiện tượng nữ huấn được kéo dài cho

tới những thập kỉ đầu thế kỉ XX, không những thế hiện tượng này còn phát triển khá mạnh ngay khi xã hội Việt Nam đã bước vào thế giới hiện đại, với hàng loạt những biến đổi lớn về hệ tư tưởng, về phương thức giáo dục

Về hình thức chế bản: Có 11/26 văn bản được khắc in và 15/26 văn bản viết tay Con số chênh lệch không quá lớn giữa các văn bản khắc in viết tay cho thấy đó là những văn bản được đề cao giá trị và có sức lưu truyền rộng rãi

Trang 11

Số văn bản gia huấn có bố cục phân loại nội dung dành riêng cho

giáo dục nữ trong tổng thể giáo dục cả nam chiếm 9/26 văn bản; số văn

bản dùng chuyên giáo dục nữ chiếm 17/ 26 văn bản dường như đã thể

hiện xu hướng muốn tách nội dung nữ huấn trong tổng thể gia huấn thành một thể loại chuyên biệt dành cho giáo dục nữ giới trong gia đình của lối thức giáo dục truyền thống

Khảo sát vào nội dung các văn bản chúng tôi thấy, ngoài 11 văn bản

là đơn bản, số còn lại có thể chia làm 5 nhóm đa dị bản:

- Nhóm thứ nhất gồm 2 văn bản: Huấn nữ tử ca mang kí hiệu VNb.1 của Nguyễn Huy Oánh ra đời vào thế kỉ XVIII và Nữ tắc diễn âm

mang kí hiệu AN.47, khuyết danh, được khắc in vào năm 1868 So sánh

giữa 2 văn bản thấy lời lẽ, nội dung cơ bản giống nhau, nhưng Nữ tắc diễn âm thiếu phần khuyên người phụ nữ khi chồng mất và đoạn kết thúc có lời hơi khác so với Huấn nữ tử ca, chúng tôi phỏng đoán Nữ tắc diễn âm chính là một dị bản đời sau của Huấn nữ tử ca

- Nhóm thứ hai gồm 4 văn bản: Phụ châm tiện lãm; Cảnh phụ châm; Phụ nữ bảo châm và Bài ca dạy vợ dạy con (trong Lê triều Nguyễn tướng công gia huấn ca) Bốn văn bản này tuy mang những tên gọi khác nhau

nhưng có nội dung gần như trùng nhau Và nó được biết tới rộng rãi qua

các lần xuất bản bằng chữ Quốc ngữ trong tập Gia huấn ca gắn liền với tên tuổi Nguyễn Trãi, hay trong Lê triều Nguyễn tướng công gia huấn ca

thì xác định tác giả là Nguyễn tướng công triều Lê Điều đó đã kéo theo

sự tranh luận hơn 30 năm về vấn đề tác giả Tới năm 1984, trong bài Ai viết Gia huấn ca? (Nghiên cứu Hán Nôm), Hoàng Văn Lâu dựa trên cơ sở

khảo sát trực tiếp văn bản đã kết luận những văn bản này đều xuất phát

từ một tác phẩm của Lý Văn Phức với tên ban đầu là Phụ châm, và “cho

rằng Phụ châm được tác giả viết vào cuối đời mình, khoảng những năm

40 của thế kỉ trước” (tức thế kỉ XIX- P.V.D) [62: 118 – 119]

- Nhóm thứ ba gồm 3 văn bản: Cổ huấn nữ ca; Huấn nữ diễn âm ca tân đính; Huấn nữ diễn âm ca Trong đó, Cổ huấn nữ ca; Huấn nữ diễn

âm ca tân đính là hai văn bản hiện tàng trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Huấn nữ diễn âm ca là văn bản chúng tôi sưu tầm được

từ địa phương

Về mặt câu chữ diễn Nôm, cả ba bản không khác nhau nhiều, có điều cả hai bản tàng trữ tại thư viện Hán Nôm đều thiếu 6 câu so với

Trang 12

bản sưu tầm Từ những phân tích trên phương diện văn bản học, chúng tôi kết luận, những văn bản của nhóm này là những dị bản xuất phát từ

tác phẩm Huấn nữ diễn âm ca do Nguyễn Đình Tứ và Lê Viết Huyến

diễn Nôm, Đặng Trung Trai giám định, viết lời dẫn và được lưu truyền rộng rãi từ cuối thế kỉ XIX

- Nhóm thứ tư gồm 4 văn bản: Giáo huấn ca, Giáo huấn diễn ca, Nam nữ giáo huấn ca, Cổ huấn tử ca đều không cho biết tác giả Riêng Nam nữ giáo huấn ca không để lại thông tin về niên đại, ba bản còn lại

đều là những bản in hay chép tay lưu hành vào thế kỉ XX, điều đó cho thấy sức lưu truyền rộng rãi của văn bản Trong nhóm này, chúng tôi

tạm coi Giáo huấn ca là văn bản có niên đại in sớm nhất làm bản nền

- Nhóm cuối cùng gồm hai văn bản: Nữ huấn ca mang kí hiệu A.1777 và Huấn nữ diễn ca kí hiệu AB.18 đều là những văn bản diễn

Nôm theo thể lục bát từ một bản chữ Hán thể tứ ngôn Cả phần chữ Hán

và phần diễn Nôm đều không đề tên tác giả nhưng chúng tôi muốn lưu

ý và xếp hai văn bản này vào loại hai bản dịch từ một tác phẩm nữ huấn

được đề cao giá trị

Cùng với 12 tác phẩm đã đề tên tác giả rõ ràng, bằng những thao tác văn bản học, chúng tôi đã xác định được tên tác giả thêm cho ba tác

phẩm đang ở tình trạng khuyết danh (Nữ tắc diễn âm; Phụ nữ bảo châm;

Cổ huấn nữ ca); đính chính lại tên tác giả Bài ca dạy vợ dạy con trong Lê triều Nguyễn tướng công gia huấn ca là Lý Văn Phức chứ không phải

Nguyễn tướng công triều Lê như chính văn bản “nguỵ tạo” Cũng trên

cơ sở đó, chúng tôi qui 26 văn bản về 17 đơn vị tác phẩm có nội dung nữ

huấn như sau (chúng tôi xếp theo thứ tự chữ cái):

Bút Hương Trai khuê huấn ca; Châu Xuyên gia huấn; Bài ca dạy con gái ở cho có đức (trong Lê triều Nguyễn tướng công gia huấn ca); Giáo huấn ca; Hành Tham quan gia huấn; Huấn nữ diễn ca; Huấn nữ diễn âm ca; Huấn nữ

tử ca (kí hiệu VNb.1)(3); Huấn nữ tử ca (kí hiệu AB.85)(4); Nữ học diễn ca;

Nữ huấn ca (bản sưu tầm); Nữ huấn truyện; Nữ tử tu tri; Nguyễn thị gia huấn; Phụ châm tiện lãm; Tiểu học tân thư; Xuân Đình gia huấn

Những hiện tượng trên giúp chúng ta hình dung phần nào những

biến động trong quá trình truyền bản của nữ huấn: Có thể để tăng uy

vọng, tăng sức thuyết phục cho những lời giáo huấn, đã xuất hiện tình trạng “nguỵ thư”, gán tác phẩm cho một tác gia có danh vọng (trường

Trang 13

hợp Gia huấn ca); hoặc có khi giá trị nội dung được chú trọng hơn cả,

trong quá trình truyền bá rộng rãi đã vượt khỏi khuôn khổ một gia đình, một họ tộc truyền từ vùng này sang vùng khác, từ đời này sang đời khác, nhiều tác phẩm vốn có tên tác giả rất rõ ràng, thậm chí là những đại gia (như Nguyễn Huy Oánh) thì hiện tượng “vô danh hoá” hay nói khác đi là “dân gian hoá” tác phẩm (trường hợp các nhóm dị bản trên) là

xu thế tất yếu khi con đường truyền tụng nữ huấn chủ yếu là khẩu thuật,

qua đối tượng tiếp nhận hầu như không biết chữ, thì điều quan tâm trước hết vẫn là nội dung giáo dục

Như vậy, trong địa bàn chúng tôi đã khảo sát, con số 26 văn bản nữ

huấn mà thực chất có nguồn gốc từ 17 tác phẩm hiện chúng tôi tìm được

chưa phải là nhiều, lại chỉ có niên đại tập trung vào các thế kỉ XVIII, XIX,

XX cũng chưa phản ánh được đầy đủ diện mạo của nữ huấn Việt Nam

theo chiều dài lịch đại Nhưng cũng chỉ với bằng ấy lượng văn bản thì những đặc điểm như tình trạng đa dị bản lấn át số đơn bản, số bản khắc

in không quá thấp so với số bản chép tay; xu hướng “vô danh hoá”,

“dân gian hoá” tác phẩm; hiện tượng vẫn ra đời và lưu truyền rầm rộ vào đầu thế kỉ XX, khi người phụ nữ Việt Nam đã được biết tới một hệ thống đào tạo khác - đào tạo chính qui trong môi trường học đường -

cũng đủ chứng tỏ sức sống khá mãnh liệt, sự bám rễ khá sâu sắc của nữ

huấn trong đời sống xã hội Việt Nam từ thời trung đại cho tới giai đoạn

giao thời với thế giới hiện đại

3 Nữ huấn – Tài liệu giáo dục chuyên biệt dành cho nữ giới

trong gia đình truyền thống

Trong số 26 văn bản nữ huấn Việt Nam chúng tôi đã khảo sát dù ra

đời ở những thời điểm khác nhau, nhưng đều khá thống nhất về đặc điểm hình thức cũng như nội dung, tư tưởng giáo dục của thời trung đại Chính vì vậy ở đây, những đặc trưng về thể loại mà chúng tôi đi sâu

phân tích, đánh giá đều tiêu biểu cho nữ huấn thời trung đại.(5)

3.1 Chủ thể giáo dục

Trong phạm vi những văn bản gia huấn nói chung, nữ huấn nói

riêng của Việt Nam mà chúng tôi đã khảo sát, cho thấy hầu hết các tác giả đều là nam giới Điều đó chủ yếu được nhận biết qua những dòng lạc khoản hay lời bạt, lời dẫn nêu chính xác tên, lai lịch tác giả Trong số

Trang 14

26 văn bản mang nội dung nữ huấn Việt Nam mà chúng tôi thống kê ở

bảng trên, có 17 văn bản xác định được tác giả đã khẳng định thực tế đó Điều này hoàn toàn có thể lý giải được khi thực tế “nữ học xưa” luôn ở trong tình trạng “nhà có nhà không như mặc ý”, con gái “ví không đẻ vào nhà giàu sang, còn đời nào biết mùi bút giấy” [71: 4b], và do vậy

“khách quần thoa son phấn mà chịu để sức xem xét, ra công trước thuật

như nàng Thái, ả Tạ thì thực là hiếm lắm” (Lời tựa Phụ châm) Thực tế,

xã hội phong kiến Việt Nam cũng từng có một Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, một Cung trung giáo tập Nguyễn Thị Hinh hay những nữ sĩ tài hoa như Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương nhưng hiện không thấy nói

tới việc trước tác một tác phẩm nữ huấn nào

Không chỉ vậy, các tác giả nữ huấn ở đây đều là những người được

học hành, đỗ đạt, làm quan to (như Lại bộ hữu đường tham tụng Bùi Huy Bích; Thượng thư Bộ hộ Nguyễn Huy Oánh; Tham tri bộ Lễ Lý Văn Phức; Quốc tử giám tế tửu Đặng Văn Thuỵ…), hay làm quan huấn đạo chuyên trông coi việc giáo dục của một vùng (trường hợp Trịnh Giản), hoặc nếu đó chỉ là tác phẩm của những kẻ học trò chưa thành đạt thì phải qua sự giám định, đề từ của một ông giáo thụ một phủ hay tổng

đốc một tỉnh (trường hợp Huấn nữ diễn âm ca và Tân nữ huấn) Điều đó

cho thấy việc biên soạn, trước tác các tác phẩm nữ huấn không phải việc

làm tuỳ tiện ở tất cả các gia đình, hay nói đúng hơn, chỉ có tác phẩm của những vị đại quan, những người có vị trí xã hội, học vấn và đạo đức, có

uy vọng trong lĩnh vực giáo dục mới có khả năng trở thành khuôn phép chung, gây ảnh hưởng rộng cho cả vùng hay lưu truyền từ đời này sang đời khác Có lẽ cũng bởi vậy mà đã xuất hiện tình trạng “nguỵ thư”,

mượn danh Nguyễn Trãi nhằm tăng giá trị cho Gia huấn ca từng gây

nhiều tranh cãi cho học giới đời sau Từ đây có thể kết luận, gia huấn là

sản phẩm văn hoá đặc trưng của gia đình nhà Nho, hơn nữa phải là những nhà Nho vào loại danh gia vọng tộc, bởi hơn bất cứ một học thuyết nào, Nho giáo đặc biệt coi trọng gia đình, lấy gia đình làm đơn vị gốc của xã hội, thế giới quan trong Nho giáo cũng là thế giới quan xuất

phát từ gia đình; và sáng tác gia huấn cũng là biện pháp tích cực đầu tiên

nhằm xây dựng “cái gốc của thiên hạ”, “cái gốc của quốc gia” được vững bền

Tuy nhiên, chủ thể giáo dục trong mỗi bài nữ huấn lại không xuất

hiện với tư cách một ông quan lớn, một ông huấn đạo đặt ra khuôn

Trang 15

phép áp đặt cho những hộ dân trong vùng Dấu ấn chủ thể xuất hiện

trong nữ huấn chỉ giản dị với tư cách những người cha, người chồng,

“người thày con gái” gần gũi và thân thương Trong phạm vi chừng ấy

văn bản cũng đủ để chúng tôi khẳng định chủ thể giáo dục trong nữ huấn

Việt Nam chủ yếu là nam giới, đóng vai trò gia trưởng đồng thời cũng là những người đã “đạt đạo”, đủ tư cách dạy dỗ thiên hạ và mọi thành viên trong gia tộc

Mặc dù như chúng tôi đã nhận định, chủ thể giáo dục trong các tác

phẩm nữ huấn (và cũng là gia huấn nói chung) chủ yếu là nam giới, bậc

gia trưởng trong gia đình, hay như GS Đặng Thanh Lê nhấn mạnh:

“quyền uy giáo dục trong cuộc sống gia đình thuộc về nam giới” “người phụ

nữ không thể là một lực lượng chủ trì giáo dục trong gia đình truyền thống”

[26: 179], nhưng chúng tôi vẫn muốn lưu ý rằng, dù không là “lực lượng chủ trì” thì người phụ nữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực giáo dục gia đình, đặc biệt với con gái, nói như cố giáo sư Trần Đình

Hượu: “người mẹ có vai trò quyết định trong việc giáo dục con gái; con trai

được cho đi học, còn con gái chỉ học ở mẹ” [19: 337] Những nội dung giáo

dục được đề cập trong các văn bản nữ huấn đã khẳng định điều đó: nội

dung giáo dục con cái được chú trọng hướng dẫn cho người phụ nữ một

cách tỉ mỉ và có mặt hầu khắp trong các bài nữ huấn Về điểm này chúng

tôi sẽ bàn kỹ hơn trong phần nội dung giáo dục

3.2 Đối tượng giáo dục

Nếu chủ thể giáo dục trong nữ huấn chủ yếu là nam giới thì bản

thân thuật ngữ này đã chỉ rõ đối tượng giáo dục duy nhất là nữ giới Khi bắt tay vào công việc biên soạn, trước tác, chủ thể giáo dục

trong nữ huấn đều xác định rõ đối tượng giáo dục của mình Theo quan

niệm Nho gia, người phụ nữ bị coi là đối tượng “khó giáo hoá”, cánh

cửa học đường luôn khép chặt với họ Tuy nhiên, trong các văn bản gia

huấn, tình hình dường như có chiều hướng đi ngược lại: Giáo dục nam

giới vẫn đặt ra, nhưng nữ giới gần như là đối tượng chủ đạo trong giáo dục gia đình Nho giáo chủ trương “nam chủ ngoại, nữ chủ nội”, và

thực tế, các nhà biên soạn nữ huấn cũng ý thức một cách sâu sắc về vai

trò của người phụ nữ đối với gia đình: Xưa nay, sự hưng thịnh của gia đạo chưa bao giờ không do người phụ nữ hiền thục tạo nên, mà sự suy vong của gia đạo cũng chưa bao giờ không do người đàn bà ương ngạnh

Trang 16

mang lại (Cổ lai gia đạo chi thịnh vị hữu bất hiền phụ nhi thành; nhi gia đạo

chi suy diệc vị bất hữu do ngoan phụ nhi trí giả) [76: 1a] Như vậy, sự thịnh

hay suy của một gia đình gắn liền với phẩm cách của người phụ nữ Người phụ nữ là nhân tố chủ chốt trong xây dựng gia đình Muốn tạo

nên gia đình tốt trước hết phải tạo nên người phụ nữ tốt Và nữ huấn

được làm ra trên cơ sở quan niệm, nhận thức về vai trò của người phụ

nữ với gia đình của nhà Nho như vậy

Ý thức được vai trò của người phụ nữ, đồng thời các tác giả cũng ý thức rõ sự thiếu hụt về tri thức của họ trong xã hội đương thời, mà nguyên nhân chính là do không được đến trường, không biết chữ nên

không thể tự mở rộng tri thức cho bản thân Cũng ở lời dẫn Huấn nữ diễn âm ca, Đặng Trung Trai viết: “Phụ nữ nước ta không quen văn tự,

tuy sách xưa còn nhưng ít người giải nghĩa” (Bản quốc phụ nữ bất tập văn

tự, cổ thư tuy tồn nhi hãn hữu giải kỳ nghĩa giả) [76: 1a] Cùng suy nghĩ ấy,

kết thúc Huấn nữ tử ca, Nguyễn Huy Oánh cũng lưu ý:

Cứ trong Nữ tắc, Hiếu kinh,

Nữ nhi có dễ học hành được ru

Dầu cho sách có dặn dò, Nào hoà ai giảng để cho được tường [77: 28a]

Xuất phát từ đó, những người làm nữ huấn tự đặt ra trách nhiệm

giáo hoá, trang bị tri thức cho người phụ nữ

Ở một phương diện khác cũng cần phải thấy rằng, giáo dục người phụ nữ đồng nghĩa với việc bảo vệ gia thanh, gia đạo trong gia đình Nho giáo Một người phụ nữ không được giáo dục, nhà Nho lường trước hết đến hậu quả:

Vậy nên cư xử lỗi thường,

Hổ trong gia đạo cùng đường tề gia [77: 28a]

Quá trình giáo dục người phụ nữ khi còn tại gia cho tới khi xuất giá

là quá trình cần được rèn dũa, nhào nặn nên “sản phẩm trao cho xã hội” Người phụ nữ ấy được ca ngợi hay chê trách đều không khỏi ảnh hưởng tới thanh danh gia đình - điều các nhà Nho đặc biệt coi trọng

Như vậy, đối tượng tiếp nhận giáo dục trong nữ huấn được xác định là

những kẻ ít học, ít hiểu biết nhưng lại đóng vai trò quyết định trong việc gây

Trang 17

dựng nên mái ấm gia đình, bảo vệ gia thanh, gia đạo, từ đó cho thấy rằng, nữ

huấn chính là nguồn tài liệu đặc biệt, cung cấp cho người phụ nữ truyền thống những tri thức ứng xử, những tri thức tề gia trong suốt cuộc đời họ

3.3 Nội dung giáo dục

Kết thúc Huấn nữ tử ca, Nguyễn Huy Oánh đã tổng kết bài huấn

của mình thành 6 nội dung chủ yếu:

Một là ba vuông bảy tròn,

Hai là thuở trẻ ép ôn hiếu nghì

Ba là phép dạy gia tề,

Bốn là dạy dỗ sửa bề tòng phu

Năm là phụng dưỡng công cô,

Sáu là chỉ bảo dặn dò dưỡng sinh [77: 28a, 28b]

Hay mở đầu mỗi bài huấn trong Bút Hương Trai khuê huấn ca, tác

giả đều nêu rõ nội dung giáo dục: Khuyên thờ phụng cha mẹ mình và

cha mẹ chồng (khuyến sự phụ mẫu cập công cô); Khuyên thờ phụng chồng (khuyến sự phu); Răn về chuyện chia rẽ anh em (giới huynh đệ); Răn nết tham lam, dối trá (giới tham trá); Răn nết kiêu căng, đố kị (giới kiêu đố) Tuy nhiên, một đặc trưng dễ nhận thấy trong hầu khắp các bản nữ

huấn là sự hiện diện của tứ đức, tam tòng thường được nêu lên ngay từ

những lời mở đầu.Và nhiều khi, tứ đức, tam tòng không còn dừng lại ở

mặt tên gọi mà đã hoà tan trong tất cả mọi lời giáo huấn Điều đó không

thể khác khi tác giả của nữ huấn hầu hết đều là những sĩ tử đã qua cái

học “cửa Khổng sân Trình”, và đó cũng là quan niệm mang tính qui định của thời đại về người phụ nữ trong xã hội phong kiến

Nhưng tóm lại, dù nội dung giáo dục trong nữ huấn rất phong phú,

rất chi tiết và tỉ mỉ, thậm chí “lôi thôi” như cách nói của Phạm Quỳnh, hay dù nó có tồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau như “tứ đức” hay “ba vuông bảy tròn”; hoặc không dừng lại ở ba mối quan hệ với “phụ” (cha), với “phu” (chồng), với “tử” (con) như “tam tòng”đề ra mà là hàng loạt quan hệ phức tạp trong suốt cuộc đời người phụ nữ cùng với những phép ứng xử khác nhau…, theo chúng tôi, có thể khái quát thành bốn

nội dung cơ bản sau: Tứ đức; hệ thống quan hệ và cách ứng xử; phép tề gia;

Trang 18

phép dưỡng sinh Chính vì vậy, về đại cục, chúng tôi phân tích nội dung

giáo dục trong nữ huấn theo những mối cơ bản này

3.3.1 Giáo dục về tứ đức, yêu cầu đầu tiên và suốt đời đối với người phụ nữ

Có mặt trong hầu khắp các tác phẩm nữ huấn, tứ đức có vai trò như

một nội dung không thể thiếu trong cách thức đào tạo người phụ nữ

truyền thống Chúng tôi cũng muốn bàn thêm về tứ đức từ quan niệm khởi thuỷ trong kinh điển Nho gia tới khi đi vào cách dạy của nữ huấn

Khái niệm tứ đức được biết đến từ thời Tiên Tần, trong sách Chu Lễ, thiên Thiên quan, chương Chủng tể hạ đã nêu: Quan Cửu tần nắm phép

học của phụ nữ, dạy Cửu ngự phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ công

(Cửu tần chưởng phụ học chi pháp, dĩ giáo Cửu ngự phụ đức, phụ ngôn, phụ

dung, phụ công) [101: 69] Nhưng phải tới thời Đông Hán, khi Ban

Chiêu(6) soạn Nữ giới để răn dạy con gái trước khi về nhà chồng thì tứ

đức mới được lồng vào những nội hàm thật cụ thể:

Đức của người phụ nữ không ắt phải tài đức khác thường Ngôn của người phụ nữ không ắt phải tranh luận sắc sảo Dung của người phụ nữ không ắt phải nhan sắc mĩ lệ Công của người phụ nữ không ắt phải khéo léo hơn người U nhàn, trinh thục, giữ tiết chỉnh tề, làm việc

có xấu hổ, động tĩnh có phép tắc, đó là đức của người phụ nữ Chọn lời

mà nói, không nói lời xấu, lựa đúng lúc rồi mới nói thì không bị người chán, đó là ngôn của người phụ nữ Tẩy giặt ô uế, trang phục sạch sẽ, chỉnh tề, tắm gội phải thời, thân không cáu nhơ, đó là dung của người phụ nữ Chuyên tâm canh cửi, không ham cợt đùa, cơm rượu tươm tất

để đãi tân khách, đó là công của người phụ nữ [79: 5b, 6a]

Theo nhà nghiên cứu Trung Quốc Trương Minh Kỳ, đây cũng

chính là nội hàm cơ sở mà sau này Trịnh Huyền dùng để chú về tứ đức

trong Chu Lễ cũng như trong việc giảng thuật về tứ đức trong cái học

của phụ nữ đời sau [101: 69] Như vậy, rõ ràng nữ huấn đã có vai trò như

một nẻo đường cụ thể hoá nguyên lý của Nho gia, và đồng thời chính nó cũng

có khả năng quay lại bổ sung cho nguyên lý ấy Từ đời Tống về sau, do ảnh

hưởng của Lý học, tứ đức bị tuyệt đối hoá, cực đoan hóa, coi đó là những phẩm chất áp đặt cho người phụ nữ, phủ định tất cả những gì ngoài tứ

đức, dù là những tài năng đặc biệt Cái đẹp ở người phụ nữ được đo

bằng đạo lý, và cái đẹp đạo lý lấn át tất cả: Tứ đức đầy đủ tuy tài vụng,

Trang 19

tính ngu, nhà nghèo, mặt mũi xấu xí cũng không thể luỵ đến đức hạnh

Tứ đức mất, tuy tài năng đặc biệt, nhan sắc diễm lệ cũng không thể che

nổi cái xấu (Tứ đức bị, tuy tài chuyết, tính ngu, gia bần, mạo lậu, bất năng

luỵ kì hiền Tứ đức vong, tuy kì năng dị tuệ, quý nữ phương tư bất năng yểm

kỳ ác- Lã Tân Ngô khuê phạm) [79: 22b] Đó cũng là quan niệm “không

có tài là đức”, “không có tài là phúc” của Lý học đời Tống

Tứ đức trong nữ huấn Việt Nam tất nhiên cũng lấy thiên Phụ hạnh

của Ban Chiêu làm tinh thần căn bản Có khi nó được giải thích tỉ mỉ như những định nghĩa, cũng có khi nó hiện diện dưới hình thức những lời khuyên răn cụ thể về lời ăn tiếng nói, nết ở, việc làm hàng ngày Trong số những văn bản chúng tôi đã khảo được, thì định nghĩa về “tứ

đức” trong Huấn nữ tử ca của Nguyễn Huy Oánh được coi là định nghĩa

công phu nhất Với 632 câu lục bát của toàn tác phẩm, riêng phần giáo

dục về tứ đức chiếm tới 124 câu, trong đó “dung” gồm 20 câu, “ngôn”

gồm 16 câu, “công” gồm 18 câu và riêng “hạnh”chiếm tới 72 câu Đây

cũng là định nghĩa mang bóng dáng của Phụ hạnh nhiều nhất Nếu lập

một bảng so sánh về những nội dung “dung”, “công”, “ngôn”, thì chúng ta dễ thấy Nguyễn Huy Oánh gần như đã diễn Nôm lại quan

điểm trong Phụ hạnh

Riêng nết “hạnh”, để đạt được yêu cầu “u nhàn, trinh thục, giữ tiết

chỉnh tề, làm việc có xấu hổ, động tĩnh có phép tắc”, Huấn nữ tử ca đã

đặt ra một loạt những điều ngăn cấm, phòng phạm đầy áp đặt: Từ cách ngồi thì không “động chân”, đi không “động quần”, không “đoái lại thẫn thờ”, bước không “đổ giẹo đổ xiêu nghiêng mình”, không mím miệng, không nghiêng vai, nghiêng tóc, nghiêng tai, không miệng bĩu môi dề, không khi ngửa mặt, khi cúi đầu, không liếc trước trông sau, cau đầu mày, vin lưng, hay thở dài, nói hở hàm răng, chưa nói đã cười, nói năng xô bồ, không tham ăn, tham uống… [77: 11a – 12b] Người phụ

nữ phải chuyên tâm trong mọi lúc, mọi nơi, phải luôn giữ mình ở trạng thái đoan chính, không khác thường Người phụ nữ phải hạn chế bước chân ra tới ngoài, không coi cửa, không ngồi chơi sân, “ở thì náu tiếng náu hình, Chớ cho kẻ lạ dòm hình biết ta” Đến khi có bước chân ra đến ngoài, phải giữ vẻ nghiêm nghị, uy nghi, tránh lẳng lơ, cợt ghẹo dễ sinh thói loàn đơn Dầu có ai trêu đùa, cũng phải giữ thái độ “làm thinh cài tóc, đắp tai sá nào” [77: 12b] Trong cách đối xử với bạn bè, chủ trương:

Trang 20

Trai nào chẳng phải họ hàng, Chớ hề chào hỏi, lánh đường hiềm nghi

Gái nào nết chẳng nhu mì, Chớ hề làm bạn sớm khuya ở gần [77: 11a]

Đặc biệt, trong quan hệ gái trai phải hết sức cẩn trọng:

Gái trai nghiêm cẩn trong ngoài, Cửa phòng chẳng khả để ai đến gần

Chữ rằng nam nữ dị quần,

Phòng xa cho khỏi lửa gần bén rơm [77: 12a]

Tất cả những điều ngăn cấm, răn đe trên cuối cùng cũng chỉ nhằm bảo vệ người con gái tránh khỏi “mắc tiếng bờm xơm”, để “vững một bề tiết trinh” Đó cũng là giá trị cao nhất để đảm bảo hạnh phúc sau này cũng như trong việc báo đáp công ơn sinh thành của cha mẹ Và để giữ gìn điều đó, không có cách nào hơn là buộc họ luôn phải giam kín mình sau những tấm bình phong nhằm che chắn mọi “gió bụi”, mọi “cám dỗ” bên ngoài

Tuy nhiên, trong hầu khắp các văn bản nữ huấn Việt Nam, ngoài

Huấn nữ tử ca của Nguyễn Huy Oánh, những lời khuyên về tứ đức

không phải lúc nào cũng nặng nề như vậy Có khi nó được định nghĩa rất giản đơn và đầy tinh thần khích lệ:

Công là đủ mùi xôi, thức bánh,

Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim

Dung là nét mặt ngọc trang nghiêm, Không tha thướt, không chiều lả tả

Ngôn là dạy trình thưa vâng dạ, Hạnh là đường ngay thảo kính tin

Xưa nay mấy kẻ dâu hiền, Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần [48: 28]

Và phần lớn nó hoá thân vào những lời khuyên nhủ, chỉ bảo rất ân cần, gần gũi từ cách gọi dạ thưa vâng, ăn nói nhu hoà, biết chào mời bậc tôn trưởng, không nên nhiều lời khôn ngoan; hay trong việc lấy nước

Trang 21

têm trầu, kim chỉ cửi canh, buôn bán sao cho thành thạo, nhanh nhẹn, chuyên cần; hay từ cách ăn mặc giản dị, dịu dàng không ưa phấn hương chải chuốt; và đặc biệt khi bước chân ra tới đường, biết chào già yêu trẻ nhưng phải hết sức đoan chính, tránh tiếp xúc với con trai, cẩn thận khi

đi đêm, nơi bến đò, nhà hàng… Chúng tôi nhận thấy, tứ đức đề ra trong

nữ huấn Việt Nam dù vẫn chịu sự chi phối bởi quan niệm của Ban

Chiêu, nhà nữ huấn gây ảnh hưởng mạnh đầu tiên của Trung Quốc; dù

cũng có khi nặng về ngăn cấm (như trường hợp Huấn nữ tử ca của

Nguyễn Huy Oánh là tiêu biểu) nhưng nó được cụ thể hoá, chi tiết hoá hơn, nó gắn liền chặt chẽ với những biểu hiện thường ngày trong cuộc sống, nó mang đậm tính khuyên nhủ và khích lệ, khiến nó linh hoạt, phong phú và dễ cảm hoá mà không phải những công thức, nguyên tắc khô cứng, ép buộc

Giáo dục về tứ đức được coi là một yêu cầu thiết yếu, nó thường được đặt ra ở vị trí khuyên răn đầu tiên trong mỗi bài nữ huấn, từ quá trình người con gái còn tại gia, nó là sản phẩm do sự dạy dỗ công phu của cha mẹ Và thực chất, tứ đức chính là thước đo, là tiêu chuẩn hàng đầu để người con gái có thể đi xuất giá Tuy nhiên, những lời răn dạy về

tứ đức vẫn đi theo người phụ nữ cho tới suốt đời Dù đã là một người

vợ, người mẹ thì vẫn rất cần đến vẻ đẹp của nữ dung ấy

Từ lời ăn tiếng nói phải luôn giữ gìn dù là với con cái:

Làm mẹ chớ ăn càn, nói dở, Với con đừng chửi rủa quá lời, Hay chi thô tục những người, Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà bà

Gieo tiếng ra chết cây, gãy cối,

Mở miệng nào có ngọn có ngành, Đến tay bụt cũng không lành, Chồng con khinh rẻ, thế tình mỉa mai! [48: 22- 23]

Dạy dỗ về “công” chính là sự chuẩn bị để phát huy cao độ trong vai trò “tề gia” sau này

Đặc biệt nết “hạnh” mà chủ yếu là liên quan đến vấn đề trinh tiết được thường xuyên đặt ra trong suốt cuộc đời người phụ nữ: Khi chưa

Trang 22

lấy chồng, khuyên phải giữ gìn như một phẩm chất tất yếu để có thể xây dựng hạnh phúc tương lai; lấy chồng rồi phải chuyên nhất, nhưng nếu không may chồng mất sớm, người phụ nữ vẫn phải giữ gìn “thờ người

nơi chín suối” Nữ huấn lên án gay gắt những kẻ “khát khao duyên mới,

lạnh lùng nghĩa xưa”, coi đó là “phá giới ra tình xấu xa”, là “thất tiết để người chê bôi” Dầu còn trẻ trung cũng nên ở vậy thay chồng nuôi con; khi con đã trưởng thành “cầm sắt đủ đôi” thì lấy “cảnh con lắm cháu nhiều”, dâu rể dập dìu, dạy con dạy cháu làm vui Ăn ở thuận hoà, đối

xử công bằng, nhẫn nại chịu thua chịu thiệt, trăm cay ngàn đắng, không kêu tranh, không bo bo giữ của, lo tu nhân tích đức Còn trẻ thì chăm tụng kinh niệm Phật tại nhà, không đến cửa chùa, tránh “Kẻ mắt liếc, người miệng dò - Ra tình trêu ghẹo, ra trò gió trăng” Khi về già, qui y, trông về một cõi nhàn cực lạc chốn niết bàn [76: 13a – 16a]

Như vậy, để đạt được tứ đức, người con gái phải qua một quá trình

tu thân tới khắc nghiệt Nó là yêu cầu đặt ra từ khi họ còn là một cô bé gái, đồng thời cũng là yêu cầu luôn luôn cần nhắc nhở trong suốt quá trình họ đã là một người vợ, một người mẹ hay một người bà Đó là sự kết tinh của một vẻ đẹp nền nã, giản dị, đoan trang toát lên từ cách ăn mặc, nói năng, từ điệu đi dáng đứng, cách cư xử, tới những việc làm

thường ngày trong nhà Và giáo dục về tứ đức chính là yêu cầu đầu tiên

và suốt đời đối với người phụ nữ

3.3.2 Từ tam tòng mở ra các mối quan hệ sinh động trong thực tiễn gia đình và những cách ứng xử

Nói về tam tòng, sách Nghi Lễ, thiên Tang phục, chương Tử Hạ truyện viết:

Phụ nữ có nghĩa tam tòng, đạo không chuyên chế Cho nên chưa

lấy chồng, theo cha; đã lấy chồng, theo chồng; chồng chết, theo con (Phụ

nhân hữu tam tòng chi nghĩa, vô chuyên chế chi đạo Cố vị giá tòng phụ, kí giá tòng phu, phu tử tòng tử) (Dẫn theo [101: 69])

Trong nữ huấn, ba giai đoạn của cuộc đời người phụ nữ không chỉ

dừng ở ba mối quan hệ đó, thực tế sống động đã đặt họ trong một mạng

lưới các mối quan hệ dày đặc mà các tác giả nữ huấn bằng kinh nghiệm

sống đã lường tính trước đối tượng giáo dục của mình sẽ phải trải qua: Với cha mẹ; với anh em; với cha mẹ chồng; với chồng; với vợ cả, vợ lẽ của chồng; với con cái mình; với con riêng của chồng; với con dâu, con

Trang 23

rể; với anh em chồng; với chị em dâu; với họ hàng bên mình; họ hàng bên chồng; với kẻ ở; với tân khách; với láng giềng; với tăng ni

Sự liệt kê trên cho thấy, tuy giáo dục người phụ nữ được đặt trong tầng tầng lớp lớp các mối quan hệ rườm rà phức tạp bởi gia đình, họ tộc nhưng những quan hệ cơ bản thuộc Ngũ luân như vua- tôi, bằng hữu hay quan hệ quan- dân, làng xã mà ở phần huấn nam tử không thể thiếu lại nghiễm nhiên bị gạt bỏ ở phạm vi này Chủ trương giáo dục của các

soạn giả nữ huấn cũng chính là qui định của thời đại về vị thế người phụ

nữ: Họ hầu như không xuất hiện với tư cách một quốc dân trong các mối quan hệ làng nước, họ chủ yếu xuất hiện ở thế phụ thuộc giữa các mối quan hệ trong gia đình

Mặc dù, các mối quan hệ được rút ra từ tất cả các giai đoạn trong cuộc đời người phụ nữ nhưng đó không phải sự phân bố trải đều Trong

giai đoạn vị giá, môi trường giao tiếp của người phụ nữ hầu như thu gọn

trong quan hệ với cha mẹ, với anh em, các mối quan hệ với bạn trai hay bạn gái chỉ đưa ra nhằm răn đe, cảnh giới Trong khi quan hệ với bạn gái chỉ nhắc tới rất thoảng qua ở đôi câu, thì trong quan hệ với bạn trai, các lời răn đe đặt ra rất nghiêm khắc Và như vậy, dù các quan hệ như với bạn trai hay bạn gái có đề cập thì rõ ràng đây là một thái độ lảng tránh, gần như cự tuyệt, hòng phòng phạm mọi điều bất trắc xảy ra.Trong quan hệ đối với cha mẹ, hạt nhân cơ bản của cách ứng xử đặt

ra cho người phụ nữ chính là “đạo hiếu”, bổn phận tất yếu của người làm con:

Nữ nhi nết đủ trăm đường, Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay [72: 2b]

Đạo hiếu trước hết biểu hiện ở những công việc chăm sóc, phụng sự

hàng ngày như: “Tối thì giải đệm sửa chăn”, khi mẹ cha gần nghỉ thì “Ra

vào kín tiếng náu hơi/ Chớ hề động địa để người ngơi say”, sáng ra “sắp đồ rửa mặt rửa tay sẵn sàng”, dọn dẹp phòng the, gấp đệm vắt chăn, cất gối,

ba ngày dâng nước tắm lau, năm ngày dâng nước gội đầu, rét thì thêm

áo, nóng thì bớt áo, xem chiều ấm lạnh thì quạt hay đắp chăn, dâng miếng ăn bùi ngọt, gần bữa đứng lại xem miếng gì người ưa thì làm;

Sớm tối thăm viếng, “mỏi thì đấm bóp, ngứa thì gãi xoa”; Đứng ngồi khi trước mẹ cha khép nép ôn hoà, “Chớ ho chớ thở mè hè/ Ngứa thì chớ gãi,

Trang 24

mỏi thì chớ dang” Khi cha mẹ cảm nắng sương thì kề bên chăm sóc, chú ý

cả từ nét mặt “không hớn hở vui cười” [77: 13a – 14b] Đạo hiếu còn biểu

hiện ở sự thuận tòng cha mẹ tới tuyệt đối dù những việc nhỏ nhất cho tới những việc hệ trọng nhất của đời người cũng do cha mẹ quyết định:

Tới tuần đôi tám tròn trăng, Ễng tơ định chốn xích thằng xe duyên

Lời cha lời mẹ nghe tin, Chớ nên núi nọ đứng nhìn non kia [76: 2b]

Lời khuyên dạy về cách thức ứng xử, thờ phụng cha mẹ ở đây theo khá sát với những qui định đề ra về đạo của người làm con trong thiên

Nội tắc, sách Lễ ký Và như vậy, “Lễ” không phải lúc nào cũng “bất hạ

thứ dân”(không xuống tới dân thường), mà theo con đường nữ huấn, nó

đã giáo hoá tới cả những đối tượng bình dân nhất

Nếu như trong giai đoạn tại gia, nội dung giáo dục chỉ dừng lại trong vài ba mối quan hệ nhà mình thì từ khi xuất giá, hàng loạt mối

quan hệ mới với những yêu cầu, trách nhiệm mới đặt ra, đòi hỏi người phụ nữ phải thích nghi, ứng xử

Mối quan hệ cơ bản đầu tiên là quan hệ chồng - vợ Nữ huấn khuyên

người phụ nữ phải làm tròn bổn phận của người “nâng khăn sửa túi”, chăm lo miếng ăn thức uống cho chồng, hơn nữa phải làm những việc đó với một thái độ tôn kính từ cả cách xưng hô đúng phận danh, từ cách

“dâng mâm ngang mày” Người phụ nữ cũng giữ vai trò “nội trợ”, góp phần đốc giúp chức nghiệp cho chồng, hi vọng về một tương lai rạng rỡ:

Khuyên chồng gắng sức Thi Thư, Khuyên chồng đèn sách sớm trưa học hành

May nhờ phận có công danh,

Mà chồng phú quí ấy mình vẻ vang [76: 3a]

Người vợ còn là người đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh, cùng chia sẻ mọi buồn vui sướng khổ trong bước đường đời với chồng

Hay có khi là sự ý tứ, giữ gìn:

Vợ chồng lề ở đạo thường, Lấy trong đạo ở bớt đường ái ân

Trang 25

Trước là chức nghiệp chuyên cần,

Sau là thọ khảo ngàn xuân lâu dài [77: 17a]

Nữ huấn cũng đặt ra cả những tình huống xấu nhất: Hoặc chồng là

kẻ tiêu pha hoang phí; hoặc rượu chè, cờ bạc; hoặc ngang ngược vũ phu;

hoặc ham “trai gái lăng quàng”những bất hạnh không dễ gì vượt qua

Mặc dù vậy, trong hoàn cảnh nào cũng đòi hỏi người phụ nữ phải kiên trì, khéo léo can ngăn, hoặc có khi phải cắn răng chịu đựng, hoặc thậm chí phải chấp nhận cảnh “chồng chung” một cách chủ động

Trong xã hội mà tình cảnh “năm thê bảy thiếp” là phổ biến, nữ huấn

dự đoán những mâu thuẫn, phân tích những cảnh huống dễ gặp phải và đưa ra những cách ứng xử cụ thể:

Khi người phụ nữ là vợ kế, nữ huấn chú ý tới cách cư xử với con chồng- mối quan hệ vốn khó hoà hợp Khuyên người phụ nữ đừng “điều

phỉ bạc khắt khe”, đừng phân biệt “con chồng như vấn, con mình như hoa”,

hãy nghĩ đến người đã khuất, thương yêu thật lòng và có trách nhiệm với con chồng

Khi là vợ cả, phải thể tình kẻ “ăn cạnh nằm ngoài”, phải lấy tư cách người trên mà “dong kẻ dưới”, tránh ghen tuông tức tối mà nên chấp nhận cảnh sẻ chia tình cảm

Khi ở phận vợ lẽ, dầu người vợ cả ngu hèn, hay hiếm hoi con cái

mà mình giỏi giang, “gái tốt trai lành”, làm “nổi danh cho chồng” cũng nên

giữ phận đàn em, ăn ở cho phải đạo

Những lời khuyên giải cho thấy, để đổi lấy sự hoà thuận, êm ấm cho gia đình, người phụ nữ phải cam tâm, hứng chịu mọi thiệt thòi, san

sẻ, hy sinh dù đó là tình yêu, hạnh phúc của chính bản thân

Đi liền mối quan hệ với chồng là mối quan hệ với con cái Nữ huấn

yêu cầu người phụ nữ một phương cách đối xử:

Sinh con ta phải yêu thương, Yêu thương ta phải tìm đường dạy răn [76: 5a]

Dạy con là cả một công trình tỉ mỉ: từ “điều trình dạ”, “phương tế

nhường”, từ cách cười, cách nói, cách ăn Trai thì khuyên “trung hiếu thực thà”, chuyên cần đèn sách, mong tới ngày “phong vân gặp hội tay vin cánh

Trang 26

rồng”; gái thì “Làm ăn canh cửi mọi nghề/ Có bề yểu điệu, có bề đoan trang”

[76: 5b] Và người mẹ trước hết cần trở nên tấm gương mẫu mực cho con cái, bởi dạy con cũng là để sửa mình

Người mẹ còn góp phần tích cực trong việc gây dựng cuộc sống tương lai cho con cái Trong việc chọn dâu, kén rể, khuyên cho hãy nên coi trọng đức tín, coi nhẹ tiền bạc màu mè

Và như vậy, nếu kinh điển có từng nhấn mạnh: “Dưỡng bất giáo, phụ

chi quá”(Nuôi không dạy là lỗi của cha- Tam tự kinh) hay dân gian có

đúc kết “mẹ đánh trăm roi không bằng cha răn một tiếng” để khẳng định uy quyền giáo hoá của người làm cha, thì với những lời khuyên răn trên, nữ

huấn đã chủ trương trao trách nhiệm dạy con cho người mẹ Bởi yêu cầu

về người mẹ ở đây rõ ràng là yêu cầu về người thầy đầu tiên đặt nền tảng tâm hồn, tư duy, nhân cách, góp phần quyết định hạnh phúc cả cuộc đời cho con cái, và con cái là sản phẩm đích thực của người mẹ trên nhiều phương diện

Ngoài những mối quan hệ cơ bản giữa vợ chồng, mẹ con, nữ huấn

còn đề cập sâu sắc tới các mối quan hệ giữa nàng dâu với cha mẹ chồng; anh em họ tộc nhà chồng; các chị em dâu; với nô bộc; khách khứa, những mối quan hệ tuy nguyên lý không đề ra nhưng rất dễ nảy sinh trong thực tế nhiều vấn đề phức tạp có ảnh hưởng không nhỏ tới hạnh phúc gia đình

Quan hệ giữa nàng dâu với cha mẹ chồng là một trong những nội

dung được đặc biệt chú ý trong nữ huấn Hầu hết các tác phẩm nữ huấn

đều đòi hỏi cách cư xử của nàng dâu đối với cha mẹ chồng như với cha

mẹ mình, tất nhiên, có khi còn đòi hỏi phải khéo léo tế nhị

Lòng hiếu kính với cha mẹ chồng thể hiện ở những hành động cụ thể:

- Rét thì sắm sửa áo quần, Sáng thường coi sóc đôi lần trà thang

Thanh minh, đoan ngọ, trung thu, Với ngày lễ thọ công cô đấy rày

Ngọt bùi gọi của riêng tây,

Lấy lòng thành kính kẻo khuây đạo thường [77: 21a]

Trang 27

- Khi chén thuốc khi lưng cơm, Tiền nong phụng dưỡng nào còn tiếc đâu [76: 4a]

Làm dâu phải khéo léo trăm bề, chiều chuộng, không gây phiền hà cho cha mẹ chồng: Đồ ăn thức làm toan lo đầy đủ, khi có khách không nhờ vả tới cha mẹ chồng, đồ dùng mang về thuở hồi phòng đem ra dùng chung không nề hà; nhà mình đưa của gì cho cũng đem đến trước công cô trình bày

Để làm đẹp lòng cha mẹ chồng, nàng dâu phải đối xử phân biệt, thiên lệch cả giữa chị em nhà mình và thân thích của cha mẹ chồng, thậm chí phải làm đẹp lòng tới cả kẻ hầu con ở của cha mẹ chồng

Phận làm dâu là phận phục tòng, cam chịu mọi đắng cay trước thái

độ của cha mẹ chồng:

- Dầu khi người có quở quang, Phải chăng ta cũng nhún nhường chớ tranh [77: 20b]

- Ghét đâu cũng chịu, thương đâu cũng nhờ [76: 4a]

Đến việc ma chay, tang tế cho cha mẹ chồng, nàng dâu phải cùng chồng lo liệu sao cho hợp lễ: không keo kiệt, không xa hoa, cốt ở lòng thành thương tiếc

Trong quan hệ với các anh em họ tộc nhà chồng, nữ huấn khuyên

người phụ nữ nên ăn ở nhường nhịn, chấp nhận mọi thua thiệt, không

so đo, suy bì, không vì lợi ích riêng mà xúi bẩy chồng gây chia rẽ anh

em Hơn nữa, người vợ phải là sợi dây liên kết tình nghĩa giữa anh em bên chồng Và nhiều khi họ còn đóng vai trò trung tâm hoà giải những mối quan hệ bất đồng trong gia đình nhà chồng: Giữa chồng và cha mẹ chồng; giữa anh em, chú bác trong nhà; với chị em dâu, không suy bì tị nạnh, ganh ghé nhau

Như vậy, khi xuất giá, yêu cầu với người phụ nữ đâu chỉ có “tòng

phu”, thực tế họ đã “tòng” cả gia đình nhà chồng

Trong cách đối xử với khách khứa, bạn hữu của chồng, nữ huấn lên

án những người vợ có thái độ bất nhã, làm nhơ uế danh giá của chồng,

mà khuyên nên hết sức tế nhị, tiếp đón chu đáo, nồng hậu Những lời khuyên biểu lộ một nếp sống mang đậm phong thái tinh thần nhà Nho:

Trang 28

trọng tân khách Và thực chất, trọng tân khách cũng là trọng chồng, trọng gia thanh, gia đạo

Trong cách đối xử với con hầu kẻ ở, nữ huấn khuyên đừng cay nghiệt, hành hạ, “đè đầu bóp cổ” mà nên lấy tình người làm trọng

Bên cạnh những mối quan hệ là trọng tâm giáo dục của hầu khắp

các bản nữ huấn như trên, có những mối quan hệ tưởng chừng thưa nhạt

nhưng cũng được một số tác giả lưu ý nhắc tới, đòi hỏi ở người phụ nữ một cách cư xử khéo léo, tế nhị như với anh em rể hay với đầy tớ trai Những lời khuyên về cách ứng xử trong những mối quan hệ này rõ ràng không phải chỉ vì sự câu thúc cứng nhắc của cái lẽ “nam nữ thụ thụ bất thân” mà Nho giáo đề ra, nó không đơn thuần chỉ là những lời áp đặt;

nó chính là sự đúc kết từ những trải nghiệm cuộc đời mà các bậc cha anh muốn khuyên nhủ con gái phòng tránh, giữ gìn

Và không chỉ dừng lại ở những mối quan hệ trong gia đình, liên

quan đến gia đình, các văn bản nữ huấn Việt Nam ít nhiều cũng đã đề cập đến những quan hệ khi người con gái “bước chân ra đường” như: với

như bề trên phải lễ phép, nhún mình; với nam giới nên làm thinh; với chị em, cụ già cũng không nên dập dìu tụ họp; với hàng xóm láng giềng,

khuyên ăn ở thảo hiền, ngay tin, vì tình “tối đèn tắt lửa nhờ nhau”, giúp

đỡ khi hoạn nạn, túng thiếu, không vì chút mất mát mà nghi ngờ, “cả

tiếng rậm lời” chửi bới gia đường nhau; với chị em làm ăn buôn bán, phải

giữ lòng tín thực không lọc lừa, tham lợi, đó cũng là cách “tích phúc cho

mình”, “tạo phúc để dành cho con” [72: 5b] Còn với đối tượng tăng ni, sư

sãi thì là một thái độ muốn cách li nhằm tránh nhiễm phải “thói tà”,

“mối lạ”

Như vậy, dù là những mối quan hệ bên trong hay bên ngoài gia

đình, cách ứng xử chung nhất mà nữ huấn yêu cầu người phụ nữ vẫn là

sự hiếu kính, ôn hoà, sự cam chịu, hy sinh, sự nhường nhịn, giúp đỡ, sự ngay thẳng, thực thà, sự khôn khéo, tế nhị, sự giữ gìn, ý tứ Và có thể

nói, về phương diện này, những người làm nữ huấn đã đóng vai trò như

những nhà đạo đức học, xã hội học Tất nhiên, đây không phải nội dung

riêng có dành cho nữ huấn Ở những phần nam huấn, yêu cầu về cách “trị

gia”, “xử thế” qua những mối quan hệ cũng đặt ra thiết yếu, nhưng có

sự phân biệt với nữ huấn: quan hệ trong gia đình khá đơn giản hơn với

những mối quan hệ cơ bản như với cha mẹ, anh em, vợ con, họ hàng;

Trang 29

còn quan hệ ngoài xã hội lại mở rộng tới vua, quan, thầy học , bạn bè, làng nước Đó cũng là sự thể hiện tư tưởng “nam chủ ngoại, nữ chủ nội” của Nho gia

Mặt khác, so sánh giữa nữ huấn Trung Quốc và nữ huấn Việt Nam, chúng tôi thấy hầu như nữ huấn Trung Quốc chỉ tập trung vào các mối

quan hệ của người phụ nữ từ khi đi làm dâu với những mối quan hệ trong nhà chồng, phạm vi hoạt động của họ chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình chồng Do đó có thể kết luận, dù những mối quan hệ ngoài gia

đình đặt ra trong nữ huấn Việt Nam mới ở mức độ thưa thớt, sơ mỏng

thì cũng đã là một điểm riêng khác, một biểu hiện trong cách nhìn cởi

mở hơn, rộng rãi hơn về vị trí của người phụ nữ trong xã hội nói chung

Xét về nguyên tắc ứng xử trong các mối quan hệ thì nữ huấn Trung Quốc có xu hướng nặng về lễ, mà nữ huấn Việt Nam thường nặng về tình

nhiều hơn

Tóm lại, dù phạm vi quan hệ rộng - hẹp có khác nhau, nguyên tắc

cư xử có mềm - chặt khác nhau, nhưng chung qui, nữ huấn vẫn là một

thể loại bao chứa một khuôn mẫu, một “kho kinh nghiệm” về các bài học ứng xử dành cho người phụ nữ trong suốt cuộc đời

3.3.3 Phép tề gia hay vai trò người nội tướng

Bên cạnh yêu cầu về những cách thức ứng xử, nữ huấn còn đặt ra

yêu cầu rất quan trọng với người phụ nữ trong gia đình: trách nhiệm tề

gia Nếu khái niệm tề gia đối với các bậc nam tử nằm trong hệ thống “tu

thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” mà nhiệm vụ chủ yếu là sắp đặt gia đình theo một trật tự phận vị trên - dưới bình ổn, thì với người phụ nữ,

tề gia thực chất là bắt tay trực tiếp đảm đương, lo trông coi, thu vén mọi

công việc nhà

Từ chuyện “sửa gối nâng khăn”, “gióng giả tôi người”, “xem sóc kho

tàng”, liệu lường tính toán “ở cho có mực, có liều chớ sai”, tới những công

việc dưa cà, tương muối, cất giữ đồ ăn thức làm đều cần đến bàn tay tỉ

mỉ, sát sao của người phụ nữ Việc cúng giỗ tổ tiên cũng là một yêu cầu quan trọng, phải lo cho chu toàn, thành kính

Ngoài những công việc mang tính chất vun thu, quản lý việc nhà

ấy, những yêu cầu cụ thể về cấy gặt, cửi canh, mua bán cho thấy rõ hình

Trang 30

ảnh tảo tần của người phụ nữ với vai trò đóng góp tích cực vào kinh tế phụ gia đình, làm ổn định cuộc sống gia đình

Như vậy, yêu cầu về tề gia là yêu cầu về mẫu hình một người phụ

nữ chuyên cần khuya sớm, biết tích luỹ dành dụm, không xa hoa lãng phí, biết đảm đương, quán xuyến mọi công việc nhà, khiến cho gia đình được nền nếp, no đủ Đó cũng chính là vai trò đích thực của một người

“nội tướng” gia đình

3.3.4 Phép dưỡng sinh, những tri thức giáo dục đặc trưng về giới

Trong các văn bản nữ huấn, chúng tôi đặc biệt chú ý tới một nội

dung giáo dục: đó là về phép dưỡng sinh Chúng tôi cho rằng, những

yêu cầu về cách tu thân, về đạo cư xử, về phép tề gia, dù với mỗi đối

tượng sẽ có những nội hàm khác nhau nhưng đó đều là những yêu cầu chung chịu sự chi phối của những chuẩn mực mà nguyên lý Nho gia đề

ra, tức là nó có tính chất của những luân lý đạo đức, thì những kiến thức

về dưỡng sinh đã thực sự như một cuốn cẩm nang cung cấp những tri thức kinh nghiệm phong phú, tỉ mỉ, thực sự cần thiết cho cuộc sống của người phụ nữ mà tới nay vẫn còn không ít yếu tố khoa học

Người phụ nữ được chỉ bảo cặn kẽ từng bước trong quá trình làm

mẹ: Từ những kiêng kị ban đầu cho tới suốt thời kì mang thai, nữ huấn

khuyên người phụ nữ giữ gìn hết sức cẩn thận từ điệu đi dáng đứng,

tắm gội, nghỉ ngơi, đối tượng tiếp xúc, âm thanh tai nghe: “Ngoài ba

tháng phải nằm riêng”, không đứng chiếu lệch, ngồi ghế nghiêng, không

“cúi ngửa, với lôi”, không để “hơi nắng hơi sương lọt mình”, thấy loài khỉ

vượn làm thinh, thấy người lạ tướng không nhìn; ăn ngủ điều độ, không

đói quá, không ăn hơn, “canh khuya lạnh lẽo chớ nên dậy trần”, nằm thì

“khép nép tay chân”, không “dầm dề tắm gội” khi “hôm tối chiều trời”, không tới nơi ồn ã, “ao sâu đầm cả”, cầu xiêu đò nát, bậc cao, không nói

sự hoang đường, nghe lời dâm tà, ngửi vật tanh hôi, “tay đừng nhắc cái

nặng nề”, “lòng đừng cưu oán thương vui lo lường”, nên làm việc dễ dàng,

xem “thức ngọc vàng cung tên”, đêm “nghe học thánh hiền”, nói rõ ràng

ngay tin [77: 25b, 26a] Việc ăn uống cũng kiêng khem tỉ mỉ

Trong quá trình mang thai, ngoài những lời khuyên nhủ nhằm đảm

bảo sự an toàn cũng như sức khoẻ của cả người mẹ và thai nhi, nữ huấn

đã rất chú ý tới cả vấn đề thai giáo qua những tác động của âm thanh,

hình dáng, màu sắc, tâm trạng bên ngoài mà người mẹ sẽ truyền tới con,

Trang 31

hy vọng đến ngày “sinh con như phượng như lân khác thường” [76: 5a] Có

lẽ những lời khuyên ở đây đã không xa lắm với những phương pháp dạy con nghe nhạc ngay từ trong bào thai để kích thích trí thông minh của trẻ sau này mà khoa học ngày nay đưa ra

Sinh con ra trong giai đoạn thơ bé, nữ huấn hướng dẫn người mẹ

từng bước tỉ mỉ: Trong ba năm bú mớm, nuôi vú phải chọn người ngay

tin; trong ba tháng giữ gìn, không cho kẻ lạ vào, “kiêng mùi nhơ uế tanh

tao”, không chuyện trò xôn xao; trong năm tháng chỉ cho bú sữa; ngoài

sáu tháng mớm hồ cháo; đầy năm cho ăn cơm; khi biết đi không cho đeo

đồ vòng hột, phòng kẻ rình mò dỗ dành; ăn “chọn miếng cho lành”, không cho “cầm đũa tay chiêu”, “chẳng nên chỉ bảo dông dài, lấy điều dối trá làm bài

thử con” [77: 26b – 27b]

Những chỉ dẫn về dưỡng sinh như trên thực sự là những tri thức, những kinh nghiệm rất bổ ích, thiết thực giúp người phụ nữ có thể đảm nhiệm tốt vai trò làm mẹ của mình Ở phương diện này, những nhà làm

nữ huấn lại đóng vai trò của những nhà y học

Từ những nội dung giáo dục trên, có thể nói nữ huấn đã đem lại

một cái nhìn khá trọn vẹn về người phụ nữ trong xã hội phong kiến Nó tái hiện một cách sâu sắc chân dung người phụ nữ từ khi họ là một thiếu

nữ tới khi là người vợ, người mẹ, người bà

So sánh về nội dung giáo dục giữa phần nữ huấn và nam huấn trong tổng thể gia huấn nói chung, chúng tôi thấy sự phân biệt rất rõ trong

quan niệm giáo dục giữa con trai và con gái:

Với con trai, học vấn được đặt lên hàng đầu, mục tiêu thi đỗ làm quan là mục tiêu cao cả nhất, nên ngoài những quan hệ, trách nhiệm với cha mẹ, anh em, chồng vợ là quan hệ, trách nhiệm với vua- tôi, quan – dân, bạn bè, làng xóm Đó là lối giáo dục theo xu thế hướng ngoại Còn đào tạo con gái là đào tạo theo xu thế hướng nội Học vấn và những mối quan hệ xã hội không đặt ra lớn lao với họ Nhiệm vụ chính

là nhiệm vụ làm dâu, làm vợ, làm mẹ, nhiệm vụ “trì gia”, giữ gìn sự ổn định, yên ấm cho gia đình Những cách thức ứng xử đặt ra trong hàng loạt mối quan hệ ràng buộc là yêu cầu đặt ra cho người phụ nữ lý tưởng trước thực tế gia đình Để đạt được điều đó, họ phải tu thân, tu thân

Trang 32

không ngừng vì hạnh phúc của người khác, hạnh phúc một cộng đồng, thậm chí tới quên cả hạnh phúc bản thân

Trong các văn bản nữ huấn Việt Nam, các soạn giả thường tự nhận

công việc của mình đơn thuần chỉ là “tá” (mượn), là “diễn”(giải) từ sách của cổ nhân

So sánh trong phạm vi khảo sát, chúng tôi cũng bắt gặp sự “tá”,

“diễn” ấy từ các tác phẩm nữ huấn Trung Quốc mà trường hợp Huấn nữ

tử ca của Nguyễn Huy Oánh là tiêu biểu Đó cũng là điểm thường thấy

trong các trước tác thời trung đại Nữ huấn Trung Quốc có lịch sử ra đời

rất sớm và tương đối phát triển; trong khi đó, một đặc điểm nổi bật của

nữ huấn cũng như gia huấn nói chung là sự “thống nhất giữa kinh

nghiệm và giá trị truyền thống”[99: 13] thì sự vay mượn đây đó một vài

nội dung đã được thời đại qui chuẩn làm khuôn mẫu cho một bài nữ

huấn dạy cho con em mình trong gia đình cũng không có gì lạ

Tuy nhiên cũng phải thấy rõ rằng, “tá”, “diễn” và tiếp thu chọn lọc,

sáng tạo luôn đồng hành trong quá trình biên soạn của những nhà nữ

huấn Việt Nam Huấn nữ tử ca cũng như các bài nữ huấn khác của Việt

Nam nói chung không phải sự sao chép nguyên xi từ một bài nữ huấn

Trung Quốc nào; hơn thế, nó vẫn mang đậm những nét đặc thù riêng khác Chỉ xét riêng về phương diện nội dung giáo dục, nếu phần lớn các

bài nữ huấn Việt Nam đều chú ý giáo dục người phụ nữ ở cả ba giai đoạn tại gia, xuất giá và thậm chí sau khi phu tử (14/17 tác phẩm= 82,3%) thì hầu khắp các bài nữ huấn Trung Quốc chỉ tập trung giáo dục trong giai đoạn xuất giá với nhiệm vụ lớn nhất là cách làm dâu (11/17 tác phẩm

= 64,7%) Các mối quan hệ đòi hỏi người phụ nữ ứng xử trong giai đoạn

này ở nữ huấn Trung Quốc phức tạp hơn so với nữ huấn Việt Nam: “các

mối quan hệ trong gia đình nhà chồng nhiều khi còn mở rộng tới mẹ kế chồng, mẹ thứ chồng, các chú em con mẹ kế, mẹ thứ chồng; khi đóng vai trò dâu trưởng, khi đóng vai trò dâu thứ, đối với con của các em chồng;

kẻ ở của phòng mình, kẻ ở của phòng bố mẹ chồng, của phòng các anh chị em chồng khác Tất cả những mối quan hệ ấy cho thấy một mô hình

đại gia đình Trung Quốc như Tòng Dư đã miêu tả trong lời dẫn Trung

Quốc lịch đại danh môn gia huấn: Mọi người trong một nhà, ít thì mười

mấy khẩu, mấy chục khẩu, thậm chí hơn nghìn khẩu Đại gia đình thường có đất đai nhà cửa, tài sản của nhiều người, ruộng đất của một

Trang 33

số hào tộc có thể nhiều đến mấy mươi vạn mẫu, phòng ốc có thể nhiều đến mấy nghìn gian”[99: 5], rất khác với mô hình tương đối nhỏ hẹp của gia đình người Việt Điều đó cũng qui định sự khác biệt về nội dung

giáo dục giữa nữ huấn Trung Quốc và nữ huấn Việt Nam, nhằm đào tạo

những mẫu người phụ nữ đảm đương công việc, biết cách ứng xử ở hai

mô hình gia đình khác nhau

Cũng chính vì Trung Quốc với mô hình đại gia đình có tính chất là

“một đơn vị tự chủ tổ chức của xã hội” [99:5] với những tầng bậc quan

hệ trong gia đình đã là quá phức tạp, nên nữ huấn Trung Quốc chỉ chú

trọng đặt người phụ nữ trong phạm vi những mối quan hệ thuộc môi trường gia đình Còn gia đình Việt Nam mang tính chất tiểu nông trồng lúa nước với mô hình nhỏ, sự đoàn kết và nương tựa vào nhau là rất cần thiết nên “cuộc sống gia đình truyền thống người Việt không thể tách

rời làng và họ” [56:26] Có lẽ vì thế mà người phụ nữ trong nữ huấn Việt

Nam chủ yếu vẫn chỉ thuộc về gia đình, nhưng ở một mức độ nhất định, những mối quan hệ khi người phụ nữ “bước chân ra đường” đã được

quan tâm giáo dục Đây chính là một trong những nét đặc thù của nữ

huấn giữa hai dân tộc

3.4 Tư tưởng giáo dục và cách thức giáo dục

3.4.1 Tư tưởng giáo dục

Như trong phần Chủ thể giáo dục chúng tôi đã nhận định, nữ huấn

là sản phẩm của những người đã qua cái học “cửa Khổng sân Trình”, đã bao năm dùi mài kinh sử, đã từng đỗ đạt, làm quan, cho nên dù muốn

dù không, Nho giáo vẫn là hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu sắc tới nhân sinh quan, thế giới quan của họ Ảnh hưởng đó đã để lại dấu ấn đậm nét trong nội dung giáo dục, cách thức ứng xử, những lời khuyên răn của

nữ huấn Nhưng đó là ảnh hưởng xét từ khía cạnh tự nhiên Từ một góc

độ khác, chúng tôi nhận thấy rằng, gia huấn nói chung, nữ huấn nói riêng

dù trước hết được làm ra để dạy dỗ con em mình trở nên những thành viên tốt trong gia đình, cách thức ứng xử và cách thức xây dựng một gia đình êm ấm thì còn cần được hiểu như một phương tiện truyền bá, cụ thể hoá tư tưởng Nho giáo, khiến nó có thể tiếp cận một cách sớm nhất tới mỗi thành viên trong gia đình ngay từ lứa tuổi thơ ấu, dưới hình thức những bài hát ru thấm đượm, ngấm lòng, phát huy tác dụng sâu

Trang 34

sắc và liên tục Đặc biệt với loại hình nữ huấn, nhà Nho có đủ “đất” để

thoả sức diễn giải cặn kẽ, chi tiết và trực diện nhất tư tưởng chính thống trong quan niệm về người phụ nữ ở xã hội đương thời Và có lẽ đây cũng là thể loại truyền bá một cách tập trung nhất tư tưởng của Nho gia tới người phụ nữ, đối tượng không được đến trường lớp, hầu như không biết tới những tri thức qua sách vở

Với hệ thống điều qui giáo dục xoay quanh tứ đức, tam tòng, nên cái nhìn trong nữ huấn không tránh khỏi màu sắc “nam tôn nữ ti”, mà đặc

biệt nặng nề trong nữ huấn Trung Quốc Trong bảy thiên Nữ giới của Ban Chiêu thì thiên Ti nhược được đưa lên hàng đầu, xác định rõ cho

người phụ nữ về thân phận, về địa vị thấp hèn, yếu đuối của mình

Nữ huấn Việt Nam với Nữ tử tu tri cũng mở đầu bằng những lời

khuyên đầy tự ti, tủi phận:

Liễu bồ hổ phận thơ ngây, Tủi câu thập nữ cho rày viết vô

Ơn sinh dưỡng tựa hồ non Thái, Dải thịt xương khó nỗi báo đền

Hổ cùng nam tử bậc trên, Hiếu trung sẵn nết khôi nguyên rạng nhà

Nên giả được công cha nghĩa mẹ,

Hội thanh bình vui vẻ giàu sang

Còn mình là bậc nữ nương,

Đã thua thua cả mọi đường tức thay [97: 1b]

Từ thân phận thấp hèn, nữ huấn chủ trương người phụ nữ phải

chấp nhận sự bất bình đẳng trong mọi mối quan hệ mà họ luôn ở vị trí

phục tòng, cam chịu và hi sinh Hầu khắp các nữ huấn Trung Quốc đều

đẩy tới mức tột cùng trong phân biệt khi đề ra yêu cầu cho người phụ

nữ phải tôn kính chồng, cha mẹ chồng như với trời vậy Và người phụ

nữ khi đi lấy chồng phải toàn tâm toàn ý vì nhà chồng, thậm chí phải coi nhẹ đằng nhà mình Xác định hiếu với nhà chồng là trên hết, coi đó cũng chính là cách báo hiếu với nhà mình

Trang 35

Ở nữ huấn Việt Nam, sự phân biệt địa vị chồng - vợ cũng rất rõ rệt

Trong khi, yêu cầu “thủ tiết”, “chuyên nhất” đặt ra cho người phụ nữ

trong suốt cuộc đời thì chế độ “đa thê” lại được chấp nhận như một “tinh

thần duy lý, hợp lẽ phải, một hành vi đạo đức” [26:196] Và không chỉ là sự

chấp nhận một cách thụ động, người vợ nhiều khi còn phải chủ động gây dựng “hạnh phúc mới” cho chồng, đặc biệt trong trường hợp muộn

đường con cái Giáo sư Đặng Thanh Lê đã gọi đây là “bi kịch mất chồng của

vợ cả, mất con của vợ lẽ” [26: 196] Tư tưởng “nam chủ ngoại, nữ chủ nội”

cũng bó hẹp hoạt động của người phụ nữ trong khuôn khổ gia đình Trách nhiệm hay hạnh phúc của họ cũng chỉ nằm trong yêu cầu phục vụ lợi ích cho mọi thành viên trong gia đình Hạnh phúc cá nhân hay những hưởng thụ tinh thần ngoài cánh cửa gia đình đều bị khép chặt

Tư tưởng giáo dục theo quan điểm Nho giáo nhiều khi được phát biểu trực tiếp:

- Chữ rằng nam nữ dị quần

- Chữ rằng giới kính vô vi

- Chữ rằng phu xướng phụ tuỳ [72]

Hay có khi là sự chuyển dịch những trích đoạn cần thiết trong kinh điển

Có thể nói, mọi nội dung giáo dục, mọi lời khuyên răn, mọi cách ứng xử đều dựa trên cơ sở tư tưởng Nho gia là chủ đạo, đều coi Nho giáo như chuẩn mực, khuôn mẫu cho mọi hành động

Tuy nhiên, những vấn đề mà nữ huấn đề ra đều dựa trên cơ sở thực

tiễn nảy sinh từ cuộc sống gia đình Chính vì vậy dù có lấy Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo, làm khuôn mẫu trong mọi hành vi ứng xử thì để

giải quyết những tình huống cụ thể, nữ huấn không thể không thâu nạp

trong mình những yếu tố phi Nho, thậm chí đối lập với tư tưởng chính thống nhằm đạt hiệu quả giáo dục cần thiết Trong rất nhiều tác phẩm

nữ huấn Trung Quốc và Việt Nam, với chủ trương “tu tại gia”, tư tưởng

nhằm cách li người phụ nữ khỏi ảnh hưởng của dị đoan mà tiêu biểu là Phật giáo đã đề ra yêu cầu hạn chế tuyệt đối sự gần gũi, giao tiếp với

“tam cô lục bà” Tuy nhiên khi cần phục vụ cho một yêu cầu giáo dục nào đó, Phật giáo lại đóng vai trò một công cụ bổ khuyết cho sự thiếu hụt trong tư tưởng Nho gia: Răn sát sinh, thuyết “nhân hồi quả báo”

Trang 36

được sử dụng như một biện pháp giáo dục nhằm cảnh tỉnh con người

ăn ở cho có nhân có đức, răn làm ăn đứng đắn Đặc biệt khi khuyên răn người phụ nữ ở vậy thủ tiết thờ chồng thì việc đêm ngày niệm Phật tụng kinh, mơ về một cõi nhàn cực lạc lại trở nên một giải pháp đặc biệt

Có một điểm mà chúng tôi cho rằng nữ huấn Việt Nam đã làm nên nét đặc sắc của mình khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính nguyên lý bác học

của tư tưởng chính thống với tính thực tiễn dân gian từ nguồn kinh nghiệm bình dân Điều đó đặc biệt hữu dụng khi nữ huấn đặt cho người phụ nữ

cách ứng xử trong những tình huống tưởng như gay cấn nhất Tính giáo

lí trở nên mềm mại, linh hoạt hơn bên những triết lí dân gian thấu lí đạt tình Có thể nói, sức tiếp biến văn hoá đã thể hiện rất rõ ngay trong

những văn bản nữ huấn này

Như chúng tôi đã nhận định, gia huấn, nữ huấn là sản phẩm tất yếu của Nho giáo Trung Quốc là quê hương của Nho giáo, và gia huấn cũng

được khởi nguồn từ đây Khi Nho giáo du nhập tới Việt Nam, nó mang

theo những sản phẩm văn hoá của mình, trong đó gia huấn là một hiện tượng đặc sắc Các nhà gia huấn Việt Nam thường khiêm tốn tự nhận công việc của mình là vay mượn, diễn dịch,và thực tế những văn bản gia

huấn Việt Nam đã ảnh hưởng gia huấn Trung Quốc khá đậm Tuy nhiên,

ngay như chính bản thân học thuyết Nho giáo khi từ Trung Quốc sang

Việt Nam đều đã trải qua sự “khúc xạ”, gia huấn Việt Nam cũng không

phải một sự dập khuôn, mô phỏng máy móc, nó thực hiện sự tiếp biến

trên cơ sở thực tế bản địa của mình “Gia đình Việt Nam truyền thống trên

nền cảnh Đông Nam Á là kiểu gia đình nhỏ, không giống với gia đình lớn của văn hoá Hán Gia đình nhỏ hai hay ba thế hệ không giống như gia đình lớn phụ quyền gia trưởng Trong gia đình nhỏ phổ biến là quan hệ ngang vợ - chồng có

ý nghĩa quan trọng Trong gia đình lớn, quan hệ cha mẹ con cái, ông bà - con cháu tạo một trục đứng có ý nghĩa quyết định” [8: 92] Chính vì vậy, dù nữ huấn Việt Nam cũng vẫn mang cái nhìn “tôn ti”, cái khuôn phép của

“tam tòng”, “tứ đức”, sự đòi hỏi chịu đựng và hi sinh, nhưng dường như đó vẫn chỉ là yêu cầu xét về mặt lý thuyết, nguyên lý Khi đụng vào những mâu thuẫn trực tiếp, muốn giải quyết một cách thuyết phục, Nho giáo phải kết hợp hài hoà với những yếu tố “bản địa”, “cái khôn ngoan” dân gian ở đây được tận dụng triệt để Người vợ một mặt phải ở thế phục tòng, nhưng một mặt lại đóng vai trò “nội tướng”, “tay hòm chìa khoá” cai quản kinh tế gia đình, chuẩn bị tích cực cho việc tiếp tân, đối

Trang 37

nội, và dù không “xuất đầu lộ diện” trong các mối quan hệ đối ngoại, nhưng bộ mặt gia đình được đánh giá thịnh hay suy cũng bởi sự “ngoan đạo” của người đàn bà trong gia đình ấy Trong công việc “tề gia”, tinh thần “đồng thuận”, sẻ chia, chung vai gánh sức giữa chồng và vợ nhiều khi cũng thể hiện rõ, sợi dây duy trì tình cảm cũng được gìn giữ một cách êm thấm, hay sự nhường nhịn, điều hoà một cách khôn khéo:

Chồng giận thì vợ bớt lời,

Cơm sôi bớt lửa chẳng dời hết nao

Lửa cháy lại đổ dầu vào, Đương giận nói tức, khác nào dừ xương [86: 7a]

Triết lí dân gian cũng tham gia điều hoà mâu thuẫn dễ nảy sinh trong mọi mối quan hệ khác Nó khiến người ta dễ nhận thức, dễ động lòng, dễ cảm hoá, vì nó gần gũi, vì nó thiết tha chí tình, vì nó ân sâu nghĩa nặng, vì nó hợp với đạo lí làm người, hợp với lẽ sống trọng nghĩa trọng tình của người dân Việt Nó hoà quyện cùng giáo lí, có lúc như xoá nhoà tính sáo rỗng, áp đặt và giáo điều: Hiếu với cha mẹ là bởi thấu

lẽ đáp đền; thân với anh em vì tình máu mủ, ruột rà; xót thương kẻ ở con hầu vì nỗi vất vả truân chuyên; giúp đỡ với láng giềng vì còn nương cậy nhau

Như vậy, nếu nữ huấn Trung Quốc với lối giáo dục dành cho mô

hình đại gia đình trong các mối quan hệ theo trục đứng và người phụ

nữ ở vị trí dưới cùng, trong công việc luôn phải tuân theo qui tắc “không

được tự ý làm chủ” (Tân phụ phả bổ) thì nữ huấn Việt Nam với lối giáo

dục dành cho mô hình tiểu gia đình trong các mối quan hệ theo chiều ngang, người phụ nữ dường như đóng vai trò chủ động và ngang bằng

hơn khi “gánh vác giang sơn nhà chồng” Nếu người phụ nữ trong nữ

huấn Trung Quốc thuần tuý bó mình trong những mối quan hệ gia tộc

thì người phụ nữ trong nữ huấn Việt Nam dường như cởi mở hơn trong

những quan hệ với láng giềng, với bạn buôn trong không gian làng xã

Nói như thế, không có nghĩa nữ huấn Việt Nam đã mang tinh thần bình

đẳng với người phụ nữ Nhưng với một dân tộc khởi nguồn từ chế độ mẫu hệ thuộc dòng Nam Á, dù khi tiếp xúc với văn hoá Trung Hoa đã chuyển dần sang chế độ phụ hệ thì chắc chắn những ảnh hưởng còn lại

của “văn hoá mẹ” không thể lập tức dứt bỏ, điều đó khiến: “đàn bà ở xã

hội nước ta không đến nỗi bị khinh miệt quá như theo đạo đức Nho giáo” và

Trang 38

“địa vị đàn bà như thế cũng là cao hơn địa vị do luân lí chỉ định” [3: 127] là

điều hoàn toàn xác thực

3.4.2 Cách thức giáo dục

Trong số các văn bản chúng tôi khảo sát, có duy nhất trường hợp

Bút Hương Trai khuê huấn ca của Nguyễn Hoà Hương đã nêu rõ cách

thức giáo dục ở lời đề dẫn từng bài huấn của mình như sau:

- Bài thứ nhất: Khuyên phụng thờ cha mẹ mình và cha mẹ chồng Nói về đạo hiếu thì đem riềng mối của trời đất ra mà chỉ bảo con

(Khuyến sự phụ mẫu cập công cô, thuyết hiếu nhi dĩ thiên địa chi cương thị chi)

- Bài thứ hai: Khuyên phụng thờ chồng, nói về lẽ trinh tiết, thuận tòng thì đem lời dạy của thánh hiền mà bảo ban con gái (Khuyến sự

phu, thuyết trinh thuận nhi dĩ thánh hiền chi huấn thị chi)

- Bài thứ ba: Răn về chuyện chia rẽ anh em, nói về lẽ khi về nhà chồng thì đem những thói tục ra để đe con (Giới huynh đệ ly gián,

thuyết nghi gia dĩ tục kinh chi)

- Bài thứ tư: Răn nết tham lam, dối trá, nói về tính thiện mà đem

chuyện các bậc thần để cảnh giới con gái (Giới tham trá, thuyết tính

thiện nhi dĩ thần sở cảnh chi)

- Bài ca thứ năm: Răn về nết kiêu căng, đố kị, nói đức của người vợ thì đem gương người xưa mà khuyến khích con gái (Giới kiêu đố,

thuyết phụ đức nhi dĩ cổ nhân miễn chi)

Như vậy, với mỗi một nội dung giáo dục, tác giả đều có sự lựa chọn một cách thức giáo dục sao cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất: Với những điều hay lẽ phải thì dùng “riềng mối của trời đất”,

“lời của thánh hiền” để chỉ bảo, khuyên nhủ, khiến con cảm hoá mà nghe theo; Với những thói hư tật xấu thì dùng lẽ đời, dùng uy linh của thánh thần răn đe, khiến con “kinh sợ” mà phải tránh; hoặc dùng những tấm gương cụ thể của đời xưa khiến con gắng gỏi mà học tập

Và những cách thức giáo dục trên cũng là những cách thức được vận dụng thường xuyên, đan xen, linh hoạt trong hầu khắp các văn bản

nữ huấn Trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý tới cách “đem thói tục ra để

đe con” xuất hiện phổ biến trong nữ huấn Việt Nam Bằng kinh nghiệm

Trang 39

sống, sự trải đời, từng chứng kiến nhiều điều tai nghe mắt thấy, những bậc cha anh đã rút ra những hiện tượng ngang trái nhưng có thực và dễ xảy ra trong cuộc sống nhằm khuyên răn, giúp con gái phòng tránh Như trong cách đối xử với cha mẹ, không chỉ dựa vào “riềng mối của trời đất”, viện dẫn tới “lời thánh hiền” xa xôi để chỉ dẫn về đạo hiếu,

có nghĩa là chỉ đưa ra cái khuôn mẫu theo một chiều, nữ huấn còn nêu ra

những hiện tượng bất hiếu, đùn đẩy trách nhiệm nuôi dưỡng, hắt hủi cha mẹ trong tuổi già của con cái; cảnh nàng dâu đối xử tệ bạc với cha

mẹ chồng sẽ bị chính con dâu mình tệ bạc lại; thậm chí, sẽ bị chính chồng ruồng bỏ

Hay trong cách đối xử với chồng:

Sách có chữ nhập gia vấn huý, Khi nói năng phải kỹ kiêng khem

Dịu dàng tiếng thuận lời mềm,

Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà

Chớ nên cậy mình ta tài sắc,

Chồng nói ra nhiếc móc chê khen

Nói càn như ở bậc trên, Thường khi động đến tổ tiên quá lời

Cơn giận đến, sự đời ngang ngửa,

Dở dói ra nát cửa tan nhà, Chữ tuỳ là phận đàn bà,

Nhu mì để dạ, chua ngoa gác ngoài [48: 17]

Như vậy, chính việc dẫn ra những “thói tục” thường thấy khiến cho đối tượng giáo dục “kinh sợ” mà tránh, từ đó dễ bị thuyết phục trước

những lời khuyên nhủ theo đạo lý Đây cũng là cách thức chứa đựng nhiều

yếu tố hiện thực, nó chứng tỏ nữ huấn không chỉ là những lời bàn soạn lại những nguyên lý giáo điều từ sách vở, kinh điển mà đã bám sát những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, mang hơi thở của cuộc sống, là những bức xúc, trăn trở từ tâm can người làm nữ huấn nên nó dễ lay động, cảm hoá, và thuyết phục

Ngoài ra, khi cần thiết, cách thức giáo dục còn mang tính pháp chế,

tuy nhiên yếu tố này trong các nữ huấn Việt Nam khá mờ nhạt so với các

nữ huấn Trung Quốc

Trang 40

Cũng có khi là sự khôn khéo đánh vào tâm lí, tình cảm yếu mềm, bao dung của người phụ nữ khi khuyên họ phải chấp nhận cảnh đa thê, xót thương cảnh lẽ mọn

Một điểm rất đáng chú ý nữa trong cách thức giáo dục của gia huấn

là lối giáo dục theo giới tính: Các nhà làm gia huấn đã chú ý biên soạn rất

cụ thể, riêng biệt những nội dung dành cho con trai và con gái sao cho

phù hợp với từng giới Và nữ huấn chính là hệ quả trực tiếp cho cách

thức giáo dục này

Giáo dục trong nữ huấn cũng là lối giáo dục mang tính thường

xuyên và liên tục Chính vì vậy, những nội dung giáo dục ở đây không phải những yêu cầu chung chung về đạo làm con, về lẽ sống làm người

mà nó đặt ra cho người phụ nữ trong mỗi giai đoạn cụ thể của đời người: từ khi còn là một bé gái, một thiếu nữ, tới khi đi lấy chồng thành

vợ, thành mẹ rồi thành bà

So sánh cách thức giáo dục giữa nữ huấn Việt Nam với nữ huấn

Trung Quốc, chúng tôi thấy, “khuyên” và “răn” là hai cách thức chung

thường xuyên kết hợp với nhau, nhưng ở nữ huấn Việt Nam, trong lời

khuyên và răn, tính hiện thực cao hơn tính kinh viện, tính tình cảm cao hơn tính pháp chế, điều đó khiến cho nữ huấn Việt Nam phần nào đã gần gũi với cuộc sống đời thường hơn, dễ đi vào cảm hoá đối tượng hơn, khiến cho đối tượng tự thấy hợp lý mà theo hơn là sự gò ép khiên cưỡng

Và như vậy có thể thấy, lối giáo dục theo giới tính, lối giáo dục mang tính thường xuyên và liên tục thông qua những biện pháp

“khuyên”, “răn” cụ thể, mềm dẻo và linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính truyền thống và kinh nghiệm, giữa tính luân lý và thực tiễn, giữa tính chính thống và dị đoan, chính là những đặc trưng cho cách

thức giáo dục của nữ huấn mà tới ngày nay vẫn hàm chứa không ít

những yếu tố hợp lý

3.5 Những đặc điểm về hình thức: bố cục, ngôn ngữ và thể loại

3.5.1 Đặc điểm về bố cục

Vì nữ huấn trước hết là một loại tài liệu giáo dục nên không giống

như bố cục của những tác phẩm văn chương nhiều khi phụ thuộc vào

cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ Bố cục của nữ huấn thường khá

Ngày đăng: 18/03/2021, 19:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w