Đề tài nghiên cứu hoặc vẩn đề khoa học là một vấn đề của thực tế có chứa đựng yếu tố chưa biết mà để biết được nó không thể dùng các kiến thức có sẵn.. Có thể là trong khi thiết kế công
Trang 1CHUẨN BỊ NGHIÊN cúu
2.1 ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u
2.1.1 Đại cương về đê tài NCKH
Khi bắt đầu NCKH câu hỏi trước tiên là nghiên cứu cái gì, vấn đề gì Nói cáeh khác là cần xác định “đối tượng” của việc nghiên cứu hoặc “đề tài nghiên cứu” Đề tài là một vấn đề khoa học cần làm sáng rõ
Đề tài nghiên cứu (hoặc vẩn đề khoa học) là một vấn đề của thực tế có
chứa đựng yếu tố chưa biết mà để biết được nó không thể dùng các kiến thức
có sẵn
Vấn đề chưa biết của thực tế có rất nhiều Một vấn đề chưa biết chỉ trở thành đề tài nghiên cứu khi có người phát hiện ra, có nhu cầu giải quyết, có điều kiện để thực hiện. * * • • ,
Cẩn phân biệt đề tài nghiên cứu với đề tài thiết kế, Đề tài thiết kế dù có lớn đến bao nhiêu thì để thực hiện nó chỉ cần vận dụng những kiến thức, những phác đổ có sẵn Có thể là trong khi thiết kế công trình có xuất hiện một số vấn
đề cần phải tiến hành nghiên cứu khoa học mới giải quyết được, những vấn đề như thế là đề tài nghiên cứu bên cạnh thiết kế, chứ không phải đề tài thiết kế là tương đưcfng hoặc trùng với đề tài NCKH Để thiết kế cẩn nghiên cứu nhưng đó
là nghiên cứu hổ sơ, tài liệu theo nghĩa thông thưcmg chứ chưa phải là NCKH
Cái cần tìm trơng đề tài nghiến cứu là một cái “mới” Mức độ mới phụ thuộc vào phạm vi đề tài (xem mục 1.4.1)
Trang 22.1.2, Đàc điểm của đề tài NCKH
Đặc điểm (hoặc ý nghĩa) của một đề tài NCKH là có tính khoa học, tính thực tiễn và tính cấp thiết
Tính khoa học thể hiện ở chỗ nó chứa đựng mâu thuẫn giữa nhu cầu cần
biết mà chưa biết và phải tiến hành nghiên cứu chứ không giải quyết được bằng
các kiến thức đã có sẵn Giải quyết được mâu thuẫn này sẽ làm phong phú thêm
kiến thức khoa học Tmh khoa học là cần thiết đối với mọi đề tài nghiên cứu
Tính thực tiễn (thực tế) thể hiện ở chỗ vấn để được giải quyết sẽ đóng góp
cho thực tế đời sống và sản xuất, sẽ cải thiện được tình hình, giải quyết được khó khăn đang gâp phải, góp phần làm tăng hiệu quả và chất lượng công việc có liên quan Tính thực tiễn là cần đối với những nghiên cứu ứng dụng, Riêng đối với các nghiên cứu cơ bân không định hưáng thì tính thực tiễn có thể chưa cần đặi r;i
Tính cấp thiết thể hiện ở nhu cầu cấp bách cần giải quyết để kịp thời phục
vụ cho một số nhiệm vụ nào đó Không phải tất cả mọi NCKH đểu có tính cấp thiết mà chỉ có một số nào đó Khi đề tài có tính cấp thiết thì nên tập trung năng lực và điều kiện để đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu
21,3 Cách phát hiện đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được phát hiện (được tìm ra) từ các nguồn sau: từ công việc thực tế, từ các cuộc trao đổi ý kiến, từ các nguồn tài liệu
a T ừ công việc thự c tế. Qua hoạt động thực tế trong sản xuất và đời sống người ta có thể gặp phải những khó khăn, trở ngại mà không thể giải quyết được
bằng những kiến thức hoặc phác đồ có sẵn, không thể học được ở đâu cả, cần
phải nghiên cứu để tìm ra kiến thức mới, cách giải quyết mới Thí dụ, trước đây
đé làm móng cho còng trình người ta chỉ mới biết làm móng nông Để xây dựng những công trình lớn bằng móng nồng phảỉ tìm nơi đất cứng, tốt Khi bắt buộc phải xây dựng trên vùng đất yếu, không thể nào đùng được móng nông, người ta
đã nghiên cứu và tìm ra gíảỉ pháp móng sâu, chủ yếu là móng cọc đóng Khi gặp phải điều kiện khổng thể đóng cọc người ta đã nghiên cứu giải pháp ép cọc Với những cồng trình khá cao, móng cọc đóng hoặc ép khồng đáp ứng được, lại cần nghiên cứu để tạo ra móng cọc khoan nhồi Khi khoan qua các lớp bùn hoâc cát, thành hố khoan bị sập, lại phải nghiên cứu để khắc phục và dung dịch bentoĩiit được tạo ra Thí dụ khác về điện thoại Điện thoại có dây đã được sáng chế từ
Trang 3lâu và nhu cầu điện thoại không dây cũng đã xuất hiện từ sófm nhưng trong
nhiều ĩỊâin chưa giải quyết được vì các thành quả của khoa học chưa đạt tới mức
đáp ứng công nghệ Chỉ mới vài chục năm gần đây điện thoại di động mới được hoàn thiện và phổ biến
h Từ các cuộc trao đổi ý kiến Cấc cuộc chuyện trò, trao đổi ý kiến có thể xảy ra ở những buổi hội thảo khoa học cũng như trong cuộc sống thường ngày,
giữa những đồng nghiệp nghiên cứu cũng như từ những người có hạn chế về hiểu
biết Qua các câu chuyện, trao đổi, thảo luận có thể làm nảy sinh ý tưởng nghiên cứu Mỗi câu hỏi, mỗi nghi ngờ, mỗi thắc mắc đều có thể gợi ý cho một đề tài nghiên cứu
c T ừ các nguồn tài liệu Khi tham khảo các tài liệu, nếu biết phân tích, biết
so sấnli, dám phê phán, dám nghi ngờ và lật ngược vấn đề, biết liên hệ với thực
tế cũng có thể phát hiện ra vấn đề để nghiên cứu Đó là những vấn đề mà tài liệu truửi bày chưa được rõ ràng, chưa hoàn chỉnh, có mâu thuẫn với thực tế hoặc với các tài liệu khác Thí dụ trong tài liệu hướng dẫn tữih toán cột bêtông tiết diện tròn có yêu cầu đặt từ 6 thanh cốt thép trở lên, trong lúc với tiết diện chữ nhật có thể chỉ đặt 4 thanh Vậy với tiết diện tròn có thể đặt 4 thanh được không và nếu đặt như thế thì cách túứi toán sẽ như thế nào? Đó ỉà gợi ý cho một đề tài nghiên cứu cách tính toán tiết diện tròn có số thanh cốt thép ít hơn 6
Cũng cần nhấn mạnh rằng tuy đề tài nghiên cứu cồ thể tìm từ các nguồn trên nhưng không phải ai cũng phát hiện được Muốn phát hiện được trước hết cần
có ý thức tìm tòi, cần phải học và luyện tập để có được những phẩm chất cần thiết
Khi đã phát hiện vấn đề cần biết mà chưa biết còn phải tìm hiểu xem đó
có phải ỉà vấn đề cần nghiên cứu hay không Với một vấn đề tuy ta chưa biết nhưng đã có người khác biết và đã phổ biến ở đâu đó thì chỉ cẩn tìm để học Một vấn đề chưa biết chỉ trở thành đề tài nghiên cứu khi ta chưa biết và cũng chưa ai biết (hoặc có ngưòi biết nhưng họ giữ bí mật, không phổ biến)
Cũflg rất cần thận trọng và cảnh giác với những “giả vấn đề" Đó là những
vấn đề mới xem qua thì thấy có ỷ nghĩa khoa học và thực tiễii, cần phải nêu lên
để nghiên cứu, nhưng phân tích kỹ thì thấy rõ các ý nghĩa và nhu cầu chỉ là do suy tưởng, gán ghép hoặc nhận thức nhầm Nghiên cứu những vấn đề như thế thường chỉ là lãng phí,
Trang 42.1.4 Các chương trình nghiên cứu
Nhà nước, các Bộ, Ngành, địa phương, các cơ sở (Viện nghiên cún, trường
Đại học, công ty lớ n ) hàng năm hoặc trong từng thời gian dài thưòrng lập các
chương trình NCKH nhằm giải quyết những vấn để để phát triển Chươrig trình nghiên cứu cấp Nhà nước do Chính phủ tập hợp, thông qua và giao Bộ Khoa học
và Công nghệ quản lý, được vạch ra cho từng giai đoạn 5 năm, dựa vào chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế và xã hội của đất nước Chương trình nghiên cứu của các Bộ, các địa phương (tỉnh, thành phố), của các cơ sở do các Vụ, Sở, Phòng quản lý khoa học phụ trách, được đề xuất dựa vào tình hình, nhiệm vụ
của từng đơn vị.
Nhà nước cũng như các đơn vị trong cùng thời gian có thể có một số chương trình nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau, mỗi chương trình có thể gồm một số đề tài và dự án Dự án trong NCKH là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế và xã hội
2.2 GIAO VÀ NHẬN ĐỂ TÀI NGHIÊN c ứ u
2.2.1 Giao đề tài
Các dự án, đề tài nghiên cứu của một cấp nào đó có thể được thực hiện bằng một số cách: giao nhiệm vụ, đấu thầu, ký hợp đồng
Giao nhiệm vụ là việc cấp trên giao cho cấp dưới, tổ chức giao cho cá nhân tiến hành nghiên cứu
Đấu thầu nghiên cứu là việc cổng bố công khai đề tài, nhận đcfn dự tháu và xét chọn để giao nhiệm vụ cho đcín vị hoặc cá nhân trúng thầu Cũng có thể không cần đấu thầu mà chì định thầu Những việc này thường thông qua ký kết hợp đồng Hợp đổng cũng có thể được ký giữa các cá nhân
2.2.2 Nhận đề tài (nhỉệm vụ) để nghỉên cứu
Một tổ ehức hoặc một người có thể tiếp nhận đề tài để nghiên cứu tù hai nguồn: được giao hoặc tự làm
Đề tài được giao ìầ do người khác phát hiện ra, thông qua việc giao nMệrn
vụ hoặc ký hợp đồng mà mình nhận để nghiên cứu
Trang 5Đề tài tự làm là do chính mình phát hiện, đề xuất, được tiến hành theo một
trong hai hưófng: tự do hoặc có quản lý Nghiên cứu tự do khi mình tự bỏ kinh phí, tự chịu trách nhiệm, thường là việc của những người nghiên cứu nghiệp dư Nghiên cứu có quản lý khi mình đề xuất với cơ quan, đơn vị quản lý, được chấp nhận, được ghi vào kế hoạch, được cấp kinh phí và chịu sự quản lý
2.2.3 Điều kiện để nhận đề tài
Dù là đề tài tự làm hay được giao, khi nhận để nghiên cứu cần xem xét các điều kiện khách quan và chủ quan để bảo đảm sự phù hợp giữa nhiệm vụ
và khả nãng
a, V ề khách quan Đó là việc xem xét các nguồn vật lực, tài lực, tin lực và thcfi gian Ngoài ra cũng cần xem có cần nguồn nhân lực bổ sung, phối hợp hay không Khi bắt đầu công việc nếu các nguổn lực này đã có đủ thì tốt, íhuận lợi Thường thì chưa đủ, cần bổ sung trong quá trình nghiên cứu, lúc này cần biết làm đự trù, biết các nguồn cung cấp
Với trường hợp làm luận văn, luận án (tiến sỹ, thạc sỹ) hoặc một số nghiên cứu đặc biệt nào đó còn cần phải có ngưcd hướng dẫn khoa học như là mệt điều kiện khách quan
b V ề c h ủ quan, Đó là khả năng và sự thích thú Kliả năng thể hiện à chỗ nắm
vững kiên thức và phưcmg pháp, hiểu được mục tiêu và nhiệm vụ Sự thích thú là thuộc về tâm lý, là yếu tố quan trọng vì NCKH đòi hỏi nhiều cố gắng và nhẫn nại, nếu không thích thú với công việc sẽ khố phát huy hết khẳ ílăhg, khó Ỷượt qua trò ngại
Khi bắt đầu nhận nhiệm vụ nếu xét thấy đã có đủ khả năng và thích thú thì tốt, nếu thấy còn thiếu một phần nào đó thì phải có kế hoạch bổ sung Bổ sung kiến thức và kỹ năng bằng việc học và luyện tập thông thưcmg, bổ sung lòng thích thú bằng cách thấy rõ ý nghĩa của công việc, tự động viên hoặc tìm thấy sự động viên từ bên ngoài
Khi nhận nhiệm vụ để nghiên cứu, dù là từ nguồn nào thì vẫn phải bảo đảm sự phù hợp giữa nhiệm vụ, yêu cầu với điều kiện khách quan và chủ quan,
có như thế thì công việc mới được tiến hành thuận lợi
Trang 62.3 LÀM TỔNG QUAN
2.3.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Tổng quan hay còn thưòng được gọi là ‘'thực trạng của vấn để" Đ ó là
việc xem xét một cách toàn diện những việc làm và kết quả đã có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đó là việc thu thập và trình bày các nguồn thông tin Bchoa học có liên quan, là việc biết được từ trước tói nay, ở trong nước và nưá; ngoài ngưòi ta đã làm những gì, làm như thế nào, có được thành tựu gì về vấh đề định nghiên cứu (ừong đó có ữiể bao gồm cả việc làm và kết quả của ta trước đây) Việc thu thập thông tin này là cần thiết khi bắt đầu và trong suốt cả quá trình nghiên cứu
Làm tổng quan là để sử dụng thành quả của người đi trước, là sự kế thừa
để phát triển, tránh được các lãng phí và sự trùng lặp không nên có Để làm được tổng quan cần ứiu thập thông tin khoa học, chủ yếu là từ các tài liệu tham khảo
2.3.2 Tài liệu tham khảo
Đó là những tài liệu chứa đựng thông tin khoa học, được tìm hiểu và trích đẫn trong quá trình nghiên cứu (chù yếu là để làm tổng quan) Nó bao gồm nhiều loại như các hài báo khoa học, các giáo trình, luận văn, luận án, chuyên khảo, tiêu chuẩn kỹ thuật v.v Với sáng chế cần phải tìm thông tin paterit (thư viện sáng chế do các đơn vị quản lý sở hữu công nghiệp phụ trách) Người nghiên cứu cần tìm được cac tài liệu (thông tin) có liên quan đến đề tài, tìm hiểu
và ghi lại những nôi dung cần thiết, lập ra một bảng danh mục các tài liệu tham khảo để phục vụ cho việc Irích dẫn
Bảng ghi tài liệu tham khảo thường được đặt ở cuối mỗi công trình khoa học (bài báo, luận vãn, báo cáo tổng kết nghiên cứu, sách ), được đánh số thứ
tự, Mỗi tài liệu cần ghi lần lượt các thông tin: tên tác giả, tên tài liêu (nếu là bài báo thì cần ghi cả tên tạp chí hoặc tuyển tập), nhà xuất bản, năm ấn hành Bạng ghi này không những phục vu cho tác giả, độc giả mà còn để dùng cho việc thẩm định và đánh giá công trình (xem bảng tài liệu tham khảo ở cuối tài liệu này) Chỉ được ghi vào bảng những tài liệu mà tác giả thực sự có tham khảo và được dùng, được trích đẫn trong công trình
Trang 72.3.3 Cách làm tổng quan
Chỉ bắt đầu làm tổng quan khi đã tham khảo được một số tài liệu cần thiết, tưofng dối đủ Làm tổng quan trước hết phải hình thành được trong đầu các nhận
thức, các phân tích và ý tưửng, sau đó mới thể hiện ra bằng ngôn từ (viết) Tổng quan có thể được làm từ khi bắt đầu nghiên cứu, cũng có thể làm dần dần, bổ sung trong suốt cả quá trình
Không có và cũng không nên có một mẫu mực chung cho cách trình bày tổng quan Việc này được thực hiện tuỳ theo nhận thức và phong cách thể hiện của từng người, miễn sao trình bày được rõ ràng, ngắn gọn những thông tin chmh, quan trọng đã tham khảo Nhiều tác giả thường trình bày sự việc diễn tiến theo không gian (trong nước, ngoài nước) và theo thời gian Với mỗi thông tin thường ghi tên tác giả, nội dung thông tin, nguồn tài liệu Nguồn này thưòỉng được đặt trong ngoặc vuông gồm số thứ tự trong bảng tài liệu tham khảo
và số trang hoặc đề mục Thí dụ: Về vễưi đề tác giả A đã làm như sau [5-trang 26]., (nêu vắn tắt cách làm), hoặc: Khi nghiên cứụ vấh đề tác giả B đă kết luận [8 - mục 4.6]
Sau khi trình bày cách làm/ kết quả của một người hoặc một trường phái nào đó có thể nêu những phân tích, nhận xét của mình Như thế mới giúp tìm ra cách làm có hiệu quả
Viết tổng quan cần súc tích, ngắn gọn, chỉ nêu những vấn đề chúih yếu, quan trọng, không nên sa đà vào những chi tiết Việc tìm tài liệu tham khảo cần làm nghiêm túc, cẩn trọng, không bỏ sót những tài liệu cơ bản, những tác gỉả clịủ chốt, những thông tin mới nhất Cần thẻo ciối thông tỉn trong siỊỐt eả qụá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng của tổng quan là đề xuất phưofng hướng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của mình
Đề cương hay “Bản thuyết minh về đề tài” là bản trình bày nhiệm vụ và kế hoạch thực hiện Trước khi tiến hành nghiên cứu cần lập được đề cương, càng cụ thể và chi tiết càng tốt Nội dung của đề cương thường gồm những vấn đề sau:
I-T ên đề tài Là một mệnh đề phản ảnh súc tích nhất vấn đề nghiên cứu
Để đặt tên cần chọn một số từ khoá có tủih quyết định Tên đề tài cần bao quát
Trang 8nội dung chính, nhưng cần hết sức ngắn gọn, không nêu chung chung và cũng không đi vào chi tiết với giải thích dài dòng
2- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Mỗi vấn đề khoa học thường khá rộng,
bao gồm nhỉều khía cạnh Để một đề tài nghiên cứu đạt được kết quả sâu sẵc và thiết thực cẩn phải biết hạn chế việc nghiên cứu trong phạm vi nhất định» phù hợp vói khả năng và điều kiện Trong quá trình nghiên cứu có thể phát hiện ra vấn để mới, lủc đó tuỳ hoàn cảnh mà có thể mở rộng phạm vi, đề ra thêm đề tài mói hoặc nêu ra phương hướng phát triển của để tài
3- Ý nghĩa của việc nghiên cứu Trình bày về nguồn đề tài Tại sao lại chọn
đề tài này để nghiên cứu Ý nghĩa khoa học, thực tiễn và cấp thiết (nếu có) của
vấn đ ề ,
4- Mục tiêu của đ ề tài Mục tiêu là kết quả cụ thể muốn đạt được, là cái
mới cần khám phá Khi lập đề cương thì mục tiêu mod chỉ là mong ước chứ chưa
có thật rõ ràng.
5- Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được trình bày
trong chương 3 Với đối tượng và mục tiêu nghiên cứu đã xác định cần lựa chọn phưcfng pháp phù họfp Tuỳ mức độ đơn giản hay phức tạp của vấn đề mà có thể chỉ đùng một phương pháp hay dùng nhiều phương pháp kết hợp
6- Nhiệm vụ cần làm Đó là những công việc cụ thể được tiến hành theo
từng bưóc Tuỳ theo phương pháp đã chọn mà đề ra các nhiệm vụ cụ thổ như: Thu thập thông tin để làm tổng quan, thu thập số liệu, làm thí nghiệm, làm thống
kê và xử lý số liệu, lập phương trình cơ bản, giải phưcỉng trình và lập công thức,
cứu cần tìm hiểu, hình đung, vạch ra càng đầy đủ, càng chi tiết các nhiệm vụ cụ thể càng tốt, ừánh bớt các nhiệm vụ phát sinh đột xuất, Để đề ra được nhiệm vụ
một cách chính xác người nghiên cứu cần ÇÔ kỹ năng và kinh nghiêm trong công
việc, cần suy nghĩ kỹ càng về quá trình nghiên cứu sẽ thực hiện
7- Nhân lực, cơ quan chủ quản Cần ghi rõ người chủ trì - chủ nhiệm đề tài
(họ tên, địa chỉ, học v ị ,) và những người cộng tác, phối hợp Với đề tài có sự
quản lý cần ghi rõ Gơ quan chủ quản.
8- Vật ỉực, tài lực Kể ra những trang thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất cần
cKo nghiên cứu Nêu rõ nguồn kinh phí dự trù cho đề tài, cần bao nhiêu, cho những việc gì, vào lúc nào, lấy ở đâu,
Trang 99' Thời gian tiến hành Dự trù thời gian để hoàn thành toàn bộ đề tài cũng
như những khoảng thời gian để thực hiện các công việc cụ thể
10- Dự kiến kết quả có thể dạt được và khả năng có thể áp dụng vào thực tế
được nhiệm vụ, từ đó vạch kế hoạch làm việc cụ thể, để có cơ sở hợp tác với các cộng sự Với đề tài có quản lý đề cương cần được xét duyệt, thông qua cấp quản
lý để theo dõi, giám sát Với đề tài quan trọng, được cấp kinh phí lớn đề cương còn phải được phản biện, được bảo vệ và thông qua hội đồng xét duyệt
Để có đề cương, người chủ trì tự mình hoặc chỉ đạo một số ngưòi có trình
độ, có kinh nghiệm lập ra Cũng có thể đề cưcíng do một ai đó lập ra và giao cho người khác thực hiện
2.5 CẤU TRÚC LÔGIC CỦA MỘT VẤN ĐỂ KHOA HỌC
Mỗi vấa đề khoa học dù lớn hoặc bé thường có cấu trúc gổm ba bộ phận;
luận đề, luận cứ và luận chứng.
Luận đề, còn được gọi là luận điểm, là điều cần chứng minh, là kết luận
cần đạt được, là cái mới cần tìm ra Như vậy, luận đề có bản chất trùng với mục tiêu nhưng được nhìn từ góc độ khác, đó là góc độ cấu trúc lôgic Luận để trả lời cho câu hỏi: Tìm cái gì, chứng minh cái gì?
Luận cứ là những căn cứ được dựa vào để chứng minh, để tìm kết quả
Luận cứ gồm hai nguồn: thực tiễn và lý thuyết Luận cứ thực tiễn là những hiện tượng, những số liệu (gọi chung là dữ liệu) thu thập được từ, thực tế thồng quạ các phương pháp như quan sát, điều tra khảo sát, làm thực nghiệm Luận cứ lý thuyết là các cơ sở về lý thuyết đã được công nhận tứứi đúng đắn và phổ biến
như các định luật, quy luật, nguyên lý Trong nghiên cứu cần sử dụng các luận
cứ có nguồn gốc rõ ràng và có độ tin cậy cao
Luận chứng là cách chứng minh, là phưcỉng pháp tác động vào luận cứ để
rút ra kết luận Luận chứng thường là những phép suy luận dựa vào logic, những phép biểu diễn và chứng minh dựa vào toán học
Khi lập đề cương, khi tiến hành nghiên cứu cũng như khi tiếp cận, tham khảo một vấn đề khoa học cần có nhận thức rõ về ba bộ phận của cấu trúc đã
Trang 10nêu Trong đề cương, các bộ phận này đã được thể hiện ra ở một số nội dung, không cần trình bày riêng.
1 - Vấn đề khoa học (hoặc đề tài nghiên cứu) là cái gì, nguồn gốc ở đâis, làm
sao để có thể phát hiện?
2 - Hãy tìm một đề tài, nêu mục tiêu, ý nghĩa của đề tài đó Hãy lập để cương nghiên cứu đề tài đó
3 - Làm tổng quan như thế nào, để làm gì?
4 - Trình bày vể luận đề, luận cứ và luận chứng của một vấn để khoa học Phân
5 - Nêu những điều kiện cần thiết khi nhận một đề tài để nghiên cứu
6 - Trình bày cách đặt tên đề tài nghiên cứu, so sánh việc này với việc đặt tên
cho tác phẩm văn học, nghệ thuật.
PHẦN THAM KHẢO CHƯƠNG 2
Bài 2.1 - Quan h ệ giữa học và nghiên cứu khoa hoc
Học tập và NCKH có một muc đích chung là giải quyết mâu thuẫn, từ chỗ chưa biết đên biết, là để mở mang ĩứìận thức và khả năng lửitmg ở hai mức khác nhau Học là khi ta chưa biết nhưng đã có người khác biết mà họ không giữ bí mật, họ đã phổ biến Có thể học vớỉ tìiầy, với bạn hoặc tự học qua các nguồn tài liệu, học ưong đờỉ sống, ữong công việc Nghiên cứu khoa học khi ta chưa biết và cũng chưà có ai biết (hoặc có người biết nhưng họ giữ bí mật)
Có thể hình dung học là mỏ rộng tầm hiểu biết của ta ữong phạm vi hiểu biết của nhân loại, còn NCKH là mở rộng hiểu biết của ta đồng thời mở rộng hiểu biết của rứiân loại (nếu ta khỏng giữ bí mật cho riêng mình) Việc NCKH
đã đưỢc bàn qua ỏ chương 1; chương 2 và sẽ đưỢc bàn tiếp trong các chưdng
sau, nhân đây bàn một chút về việc học
Một sô' người cho rằng mục đích của việc học là để thu nhận kiên thức (chưa biết thì học để biết) Hiểu như ử^ế tuy không sai nhimg chưa toàn diện,
dễ đẫn đêh cách học và cách dạy không tốt (học một cách ửiụ động, nhồi nhét