Cán cân thương mại còn có thể hiểu chính là sự chènh lệch giữa sản lượng hàng hóa cùa một quốc gia và nhu cầu nội đìa của nó chênh lệch giữa các hàng hỏa mà quốc gia đó sản xuất được v
Trang 1Chủ biên- PGS TS NGUYỄN THỊ QUY
Các nhân tô ảnh huỏng tói
Trang 2Chù biên: PG S.TS NCỈUYẺN THỊ Q U Y
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
CÂN BẰNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
(SÁCH CHUYÊN KHẢO)
V-JUV
NHÀ XUẤT BÀN KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT
HÀ NỘI - 2009m
Trang 3Tập thể tác giả
PGS.TS Nguyễn Thị Quy (Chủ biên) ThS Nguyễn Thị Hiền
ThS Nguyễn Thị Lan
ThS Nguyễn Thị Hoàng Anh
ThS Lê Phương Lan
Trang 4LỜI NHÀ XUÁT BÀN
CÓ rất nhiều yếu tố tác dộng đến sự cân bàng cùa cán cân thương mại, trong đó các yếu tố có ảnh hương trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu cùa các doanh nghiệp như: tỷ giá hổi đoái, chính sách thư(mg mại cùa tùng quôc gia, lạm phát v.v Chính phù các nước đã dành nhiều công sức dầu tư cho việc nghiên cứu và phân tích lác dộng cùa các nhân tố nói trên với mong muốn tìm ra các
biện pháp hữu hiệu nhàm cải thiện và lành mạnh hóa cán cân thương mại Điển hình như Hàn Quốc, từ một nước nông nghiệp nghèo nhất thế giới vào những năm 1960, đến nay quốc gia này đã
có những thành công rực rỡ nhờ vào chiến lược phát triển kinh tế hư<Vng v à o xuất khẩu Hay như Trung Quốc, quốc gia có những bứt phá mạnh mẽ trong hom một thập kỷ qua, thoát khỏi mức lạm phát
2 4 , 2 4 % ( năm 1 9 9 4 ) , đưa cán cân thương mại từ thâm hụt 15,87 tỷ USD (năm 2003) đến thặng dư liên tục từ 2004-2007 là do họ đã thực hiện cải cách nền kinh tế bằng các chính sách đúng đắn và hiệu quả.
Những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều cải thiện đáng kể trong cân bàng cán cân thương mại Tuy nhicn, để thành công hơn, chúng ta cần thiết phải có những nghiên cứu mang tính hệ thống các nhân tố tác động tới cân bằng cán cân thương mại, từ đó đưa ra các giải pháp cân bằng hữu hiệu.
Dựa trên kết quả cùa một số công trình nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm tư vấn và giảng dạy lâu năm trong lĩnh vực kinh tế,
3
Trang 5tài chính, PGS.TS Nguyễn Thị Quy - Trọng tài viên Trunị tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tài chính qiốc tề cùng tập thể các giảng viên Khoa Tài chính- Ngân ìàmg, Trường Đại học Ngoại thương đã biên soạn cuốn sách: “Các ìhíân
tố ảnh hưởng tới cân bằng cán cân thương mại của Việt Nỉnti"
Nội dung cuốn sách góp phần giải quyết những vấn đề bú', yíúc đang được quan tâm hiện nay:
* Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cái cân thương mại và cân bằng cán cân thương mại trong tiến trim hội nhập kinh tế quốc tế.
* Phân tích thực trạng cán cân thương mại của Việt Nan diưcri tác động của các nhân tố ảnh hường
* Nghiên cứu kinh nghiệm cân bằng cán cân thương mũ cùa một số nước trên thế giới và bài học có thể vận dụng vào Việt Nham.
* Dự báo mức độ thâm hụt cán cân thương mại Việt Nan (đến năm 2015 và đề xuất các giải pháp cân bằng.
Cuốn sách là một tài liệu quý, có giá trị tham khảo tốt đo các nhà nghiên cứu lý luận, hoạch định chính sách vĩ mô, đến các ioiaiih nghiệp cũng như các cán bộ giảng dạy, sinh viên, học viên troig các trường đại học khối ngành kinh té, quản trị kinh doanh, tài ciímh - ngân hàng
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Trang 6NHŨNG VẤN OỂ Cơ BẢN VÊ CÁN CÂN THU0NG MẠIm
VÀ CÂN BẰNG CẤN CÂN THUUNG MẠI
Chương 1
I CÀN CÂN THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm cán cân thương mại
Cán cân thương mại là một bộ phận trong tài khoản vãng lai cùa cán cân thanh toán quốc tế Cán cân thương mại ghi lại những thay dổi trong xuất khẩu và nhập khẩu cùa một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) hay mức chênh lệch (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) giữa chúng.
Các khoản ghi nợ bao gồm nhập khẩu, trợ cấp cho nước ngoài, tiêu dùng và đầu tư cùa nước đó ở nước ngoài Các khoản ghi có bao gồm xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư của nước ngoài tại nước đó Khi mức chênh lệch giữa tổng các khoán ghi có và ghi nợ lớn hcm 0, thì cán cân thương mại có thặng dư Ngược lại, khi mức chênh lệch nhò hom 0, thì cán cân thương mại có thâm hụt Khi mức chênh lệch đúng bàng 0, cán cân thương mại ở trạng thái cân bàng.
5
Trang 7Cán cân thương mại còn được gọi là xuất khẩu ròng hoặc
thặng dư thương mại Khi cán cân thương mại có thặng dư xuất
khẩu ròng/thặng dư thương mại mang giá trị dương Khi cán cân
thương mại có thâm hụt, xuất khẩu ròng/thặng dư thưcmg mại
mang giá trị âm Lúc này còn có thể gọi là thâm hụt thương mại.
Cán cân thương mại còn có thể hiểu chính là sự chènh lệch
giữa sản lượng hàng hóa cùa một quốc gia và nhu cầu nội đìa của
nó (chênh lệch giữa các hàng hỏa mà quốc gia đó sản xuất được và
số lượng hàng hóa quốc gia đó mua từ nuớc ngoài; không bao gồm
số tiền đùng để tái đầu tư vào chứng khoán nước ngoài, và ^hông
bao gồm khái niệm hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất cho thị
trường nội địa).
2 Vị trí cán cân thương mại trong cán cân
thanh toán quốc tế
Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành
phần quan trọng nhất và cũng là bộ phận chính cấu thành nên cán
cân vãng lai Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận
động của cán cân vãng lai Lý do là bời vì các số liệu về xuất ìứiập
khẩu hàng hóa thường được cơ quan hải quan cung cấp kịp thời,
trong khi đó việc thu thập các số liệu về dịch vụ, thu nhập và
chuyển giao vãng lai thường bị chậm hơn, phải sau đó một thời
gian nhất định.
- Các hoạt động của quá trình tự do hóa thương mại hầu hết được phản ánh trong các hạng mục của cán cân vãng lai, đặc biệt là
cán cân thương mại Một khi hàng rào phi thuế quan bị dỡ bò, khả
năng chịu đựng thâm hụt của cán cân vãng lai sẽ phụ thuộc chù yếu
vào tình trạng cán cân thương mại, đặc biệt đối với các nước đang
Trang 8phát riển Cán cân thương mại một quốc gia sẽ thâm hụt hay thặng ilư piụ thuộc chù yếu vào khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất nhập khẩu hay là giá quốc tế cùa hàng hóa xuất nhập khẩu, chính sách ỷ giá hối đoái, chính sách lãi suất, chính sách thương mại của chin] phù.
Mhư vậy, tự do hóa thương mại có tác động đáng kể lên cán cân tiương mại và từ đó tác động mạnh mẽ tới cán cân vãng lai, có thế giy nên thâm hụt hay thặng dư, qua đó gây ra sự lên giá của đông bản tệ và tăng gánh nợ nước ngoài gây ra thiệt hại khác nhau cho Ìgân sách Mức thâm hụt lâu dài với mức độ lớn dễ gây ra khản; hoảng cán cân vãng lai, nguy hại tới an ninh tài chính quốcgia.
Nỉhư vậy, trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập và
mở cia với nền kinh tế thế giới, cán cân thanh toán quốc tế ngày càng:hịu tác động do những biến động của môi trường kinh tế toàn cầu nì cán cân thương mại càng chiếm một vị trí chủ chốt và ảnh hườn? trực tiếp tới “sức khỏe” nền kinh tế của một quốc gia Do lầm (Uan trọng của cán cân này, hầu hết các nước, đặc biệt là các nước phát triển đều theo dõi và công bố tình trạng cán cân thương mại neo từng tháng.
3 Tiặng dư cán cân thươnờ mại
rhặng dư cán cân thương mại xảy ra khi mức chênh lệch (X- M) lm hơn 0, hay là tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia xuất khẩu vượt quá tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ ciượcquốc gia đó nhập khẩu.
fChi trạng thái cán cân thương mại của một nước có số dư kim ngạci xuất khẩu vượt kim ngạch nhập khẩu, cho thấy hoạt động
7
Trang 9xuất khẩu tăng trường nhanh hơn nhập khẩu hoặc hoạt động ih.ập khẩu có dấu hiệu kém đi Xuất siêu đem lại rất nhiều nguồn lợ c ho quốc gia: nguồn thu ngoại tệ lớn, dồi dào, gia tăng GDP, sản xuât trong nước phát triển, giải quyết công ăn việc làm, xóa đói ịiảirn nghèo Hoạt động xuất khẩu diễn ra mạnh mẽ là một dấu hiiệu tích cực, đẩy nhanh tốc độ tăng trường cho cả nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu :ũmg không phải là một lựa chọn tốt nhất cho phát triển bền vững V ớ i
nhiều nhà làm chính sách vĩ mô thì thặng dư thương mại giản có thể còn tốt hom là tăng Một trong những kết quả lớn nhất của xuất siêu hay thặng dư thương mại cao đó là dự trữ ngoại hối của Ịuiổc gia đó tăng nhanh Nhưng, thặng dư thương mại ở mức cao ció'ng mặt (như trường hợp của Trung Quốc) sẽ gây ra một số khó ỉhíân, phiền phức, đặc biệt là trong việc làm cho tỷ giá hối đoái linh hoạt hom cũng như việc cân đổi cán cân thanh toán quốc tế.
Xét từ góc độ quốc gia, một nguồn dự trữ ngoại hối lớn nihu vậy, thậm chí tiếp tục dự báo sẽ tăng lên, tạo ra áp lực lớn lên thíinh sách tiền tệ Tính thanh khoản gia tăng do nguồn dự trữ ngoạ hiối lớn còn có thể gây rắc rối cho Chính phủ trong nồ lực làm chận Hại tốc độ đầu tư.
Xét từ góc độ quốc tế, quốc gia đó sẽ có thể trở thành miục tiêu của những nhà bảo hộ nước ngoài - những người cho rằing đồng bản tệ đó đã được định giá thấp hom sức mạnh thương miại của mình, nhàm hỗ trợ xuất khẩu hàng nội địa Áp lực của quốĩ g;ia
đó sẽ ngày càng tăng khi gặp phải các biện pháp bảo hộ thương miại khắt khe cùa thị trường đổi tác, nơi mà thặng dư thương mại bị coi là nguyên nhân của việc cẳt giảm việc làm trong các ngành sản xuất.
Trang 104 Thám hụt cán cản thương mại
Thâm hụt cán cân thưcmg mại xảy ra khi tông sô lượng hàng hóa và dịch vụ cùa một quốc gia nhập khau vượt quá tổng số lượng hàng hóa và dịch vụ được xuất khẩu Nhập siêu cao có thể dẫn tới tình trạng giảm GDP, sản xuất trong nước khó phát triển, tăng thất nghiệp.
Thâm hụt cán cân thương mại thường dẫn tới thâm hụt cán cân vãng lai, đe doạ tới cán cân tổng thể hoặc tăng gánh nặng nợ nước ngoài, dễ bùng phát khùng hoáng cán cân vãng lai Khi thâm hụl thương mại cùa một nước trở nên trầm trọng, Chính phủ nước
đó sẽ rơi vào một thách thức khi phải tăng lượng dự trữ ngoại tệ hay tín dụng để giải quyết vấn đề cân bằng cán cân thanh toán, đồng thời vẫn phải thực hiện chính sách thất chặt tiền tệ nhàm khôi phục lòng tin cùa nhà đầu tư Việc thắt chặt tiền tệ để hạn chế nhập siêu là biện pháp đúng đắn mà nhiều các quốc gia lựa chọn Tuy nhiên nó lại có thể tạo ra áp lực với các ngành ngân hàng và doanh nghiệp vay vốn trong cuộc cạnh tranh lãi suất căng thẳng, về lâu dài, một sổ nước thường kiềm chế nhập siêu bàng đẩy mạnh xuất khẩu và thực hiện chiến lược công nghiệp hóa mở rộng sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, đồng thời, cán bằng cán cân thanh toán qua việc huy động các nguồn tiết kiệm dài hạn, phát triển mạnh thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, việc cán cân thương mại bị thâm hụt có thực sự là một điều xấu hay không liên quan tới chu kỳ kinh tế và nền kinh tế Trong thời kỳ khủng hoảng, các nước muốn xuất khẩu nhiều hơn, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thêm nhu cầu Trong thời kỳ tăng trưởng, các nước muốn nhập khẩu nhiều hơn, tạo nên sự cạnh tranh
về p á cả, từ dó kiềm chế lạm phát và vẫn có thể cung cấp hàng hóa
9
Trang 11vượt trên cả khả năng cùa nền kinh tế mà không cần phải tăng giá nhiều Như vậy, trong suốt thời kỳ khủng hoảng, thâm hụt cán cân thương mại không phải là điều tốt, nhưng lại có tác dụng tích cực trong thời kỳ tăng trường.
Đối với một số nước cụ thể, đặc biệt là các quốc gia phát triển, cán cân thương mại thâm hụt và theo đó là thâm hụt cán cân vãng lai trong ngắn hạn là điều không đáng lo ngại Kinh nghiệm các nước cho thấy, nếu đầu tư trong nước hấp thụ vốn đầu tư tốt, đầu tư một cách chọn lọc và có hiệu quả, từ đó tăng năng lực sản xuất hàng xuất khẩu thi thâm hụt thương mại cao có thể là tiền đề của tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn phát triển tiếp theo Nhìn dưới góc độ này, nhập khẩu cao là một dấu hiệu tích cực của nền kinh tế.
5 Cân bằng cán cân thương mại
Cân bằng cán cân thương mại xảy ra khi tổng hàng hóa xuất khẩu bằng tổng hàng hóa nhập khẩu, hay kim ngạch xuất khẩu bằng nhập khẩu.
Cán cân thương mại thường được phân chia theo sản phẩm và theo nước (cán cân thương mại song phương) Khi một nước tập trung quá mức vào một hoặc một số mặt hàng, sẽ dễ xảy ra tình trạng mất cân bàng trong cán cân thương mại Khi mức độ tập trung này quá cao, nước đó có thể cần phải thi hành chính sách công nghiệp mục tiêu chọn lọc để cải thiện tình trạng cán cân, từ đó giảm mức độ mất cân bằng Mặt khác, trong trường hợp cán cân thương mại bị thâm hụt là do phụ thuộc quá nhiều vào một số nước đối tác, thì giải pháp hữu hiệu đó là các cuộc đàm phán thương mại song phương, đa phương dựa trên sự chủ động và thống nhất chung.
Trang 12Các vận dộng cùng chiều và trái chiêu linh hoạt cùa nhập khâu và xuất khẩu chính là những nguyên nhân đầu tiên gây nên những thay đổi trong cán cân thương mại Tất cà những yếu tố ảnh hường không đồng bộ tới nhập khẩu và xuất khẩu có thể gây ảnh hường tới cân bàng trong cán cân này Đặc biệt khi sức cạnh tranh về giá cà và phi giá cà là như nhau Khi những áp lực từ bên ngoài một nước, tác động làm giảm giá các mặt hàng xuất khẩu nước đó, thì rất
có thể xảy ra thâm hụt cán cân thương mại (ảnh hưởng “các điều kiện thương mại”) Xét theo góc độ đó, trong một thế giới phân cấp, cán cân thương mại phản ánh phần nào sức mạnh cùa cân bầng chính trị giữa các nước.
Một yếu tố khác quyết định tới cân bàng thương mại đó là
G D P Những nước có GDP tăng trường nhanh hon so với các nước đối tác thương mại khác, thường có cán cân thương mại thâm hụt
Lý do là nhập khẩu co giãn nhiều hơn với GDP (hay chúng tăng nhanh hơn tương ứng theo ti lệ).
Tỷ giá hối đoái cũng hết sức quan trọng trong việc cân bàng cán cân thương mại Ở hầu hết nhũng nước có chế độ tỷ giá hối đoái cố định và có ti lệ lạm phát cao hom các nước đối tác thương mại khác, thì sự định giá đồng nội tệ quá cao có thể dẫn tới việc thâm hụt nặng
nề cán cân thương mại trên hầu tất các mặt hàng Phá giá đồng tiền ở mức lớn có thể cải thiện được vấn đề này.
Dòng vốn FDI chảy vào các nước cũng làm cho hoạt động nhập khẩu trờ nên “nhộn nhịp” hơn rất nhiều, phần lớn là để đáp ứng nhu cầu về đầu vào của các nhà máy, công ty có vốn sở hữu nước ngoài
Có thể kỳ vọng ràng, những ảnh hưởng ngắn hạn này sẽ được cân bằng lại bởi hoạt động xuất khẩu nhiều hơn trong tương lai.
Các nghiên cứu cho thấy, trong thời kỳ nền kinh tế phát triển bùng nổ, cán cân thương mại thường xảy ra thâm hụt, trong khi đó,
11
Trang 13trong thời kỳ khùng hoàng, lại có thể ở vào có trạng thái dư thừa, điều này cũng phần nào giúp phục hồi trờ lại cho chu kỳ kinh tế.
Thực tế là việc mất cân bàng trong cán cân thương mại xà) ra khắp nơi trên thế giới và liên tục theo thời gian Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia, cân bàng cán cân thương mại là một trong nhừng mục tiêu dài hạn cần thực hiện trong chiến lược phát triển kinh tẻ
xã hội Để có thể chấm dứt tình trạng xuất siêu hoặc nhập siêu, chính phủ thường sử dụng rất nhiều các biện pháp tác động gián tiếp và trực tiếp vào khối lượng hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu.
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÂN BÀNG CÁN CÂN THƯƠNG MẠI■
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến cân bàng cán cân thương mại Nói đến cân bằng cán cân thương mại là nói đến cân bàng giá trị cùa các dòng tiền thu được từ các hoạt động xuất khẩu hàng hóa hay dịch vụ và các dòng tiền chi cho các hoạt động nhập khẩu Sự
nhiều vào sự tác động của các nhân tố.
Ngoài ra, khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố, không thể tách biệt nhân tố này (hay bất kì một nhân tố nào khác) chi tác động đến xuất khẩu và không thể không có tác động ngược lại đến nhập khẩu.
1 Chính sách tỷ giá hối đoái
Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại đã thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Ba trường phái kinh tế lớn đã tiếp cận mối quan hệ này, đặc biệt là ảnh
Trang 14hưcrn cùa phá giá tiồn tộ dối với cán cân thương mại, ở ba góc độ khác hau đề từ dỏ lý giải mối quan hệ này một cách dầy đù nhất.
1.1 Ý thuyết co giãn (The elasticity approach)
>ây là cách tiếp cận ra đời sớm nhất Lý thuyết co giãn (the elaístiity approach to the trade balance) (Bickerdike, 1920; Robir.on, 1947; Robinson, 19 4 8 ; Kruger, 19831) cho thấy sự tồn tại vímặt lý thuyết moi quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thư<ơn mại Theo lý thuyết này phá giá danh nghĩa đồng nội tệ có thể C i thiện cán cân thương mại.
Hình 1.1. Mức độ co giãn của cung cầu ngoại hổi với
tỷ giá và phá giá tiền tệ
1 Xenn uasa, J (2007), “Determinants o f Malaysian Trade Balance: An ARDL Boumd ỉsting Approach”, Journal o f Economic Cooperation, 28, 3, p21~40
13
Trang 15Lý thuyết co giãn xem sự thay đổi trong mức giá là một trong những yếu tổ quan trọng tác động đến cán cân thương mại Tỳ giá hối đoái (được xác định bằng giá cả tính bàng đồng nội tệ cùa một đồng ngoại tệ) là một mức giá quan trọng trong nền kinh tế mở Tỷ giá hổi đoái tăng lên làm đồng ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ Nếu giá bán hàng xuất khẩu bằng ngoại tệ vẫn giữ nguyên, thu nhập của nhà xuất khẩu bằng nội tệ sẽ tăng lên Để đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hoá, nhà xuất khẩu có thể giảm giá hàng xuất khẩu tính bàng ngoại tệ để kích cầu đối với hàng hoá xuất khẩu mà vẫn không làm giảm lợi nhuận tính bằng nội tệ cùa mình Kết quả là khối lượng hàng xuất khẩu sẽ tăng lên Ngược lại, tỷ giá hối đoái giảm làm giá hàng xuất khẩu tính bàng ngoại tệ tàng lên, làm giảm cầu của hàng xuất khẩu, dẫn đến giảm khối lượng hàng xuất khẩu Tuy nhiên, tác động của tỳ giá tới cầu hàng hoá xuất khẩu không giống nhau giữa các loại hàng hoá Mức độ ảnh hưởng của thay đổi
tỷ giá hối đoái tới cầu một loại hàng hoá xuất khẩu còn tùy thuộc vào mức độ co giãn của cầu hàng hoá đó đối với giá Lý thuyềt co giãn, vì vậy chú ý đến mức độ nhạy cảm cùa nhập khẩu và xuất khẩu đối với sự thay đổi về giá trị của đồng nội tệ Chẳng hạn, nếu cầu nhập khẩu co giãn mạnh, đồng nội tệ xuống giá có thể dần đến một sự sụt giảm mạnh trong cầu nhập khẩu.
Cầu ngoại tệ của một quốc gia phụ thuộc vào cầu nhập khấu,
vì quốc gia cần phải mua ngoại tệ ra để nhập khẩu Tương tự, cung ngoại tệ của một quốc gia phụ thuộc vào cung xuất khẩu Như vậy, cán cân thương mại cân bàng khi cung và cầu ngoại hối cân bằng Cán cân thương mại thâm hụt khi cầu nhập khẩu lớn hon cung xuất khẩu, tức cầu ngoại hối lớn hơn cung ngoại hối, và thặng du lchi cung ngoại hối lớn hơn cầu ngoại hối.
Trang 16Gà sử chúng ta có hai dưừng cuim câu ngoại hôi với các mức
dộ c<> ịiãn tưang ứng về tỷ giá khác nhau Tỷ giá hiện tại đang là Ho- Vớ dường cung cầu ngoại hối co giãn nhiều với tỷ giá, chi cần một :ạnh,á giá nhẹ, làm tý giá tăng nhẹ lên E| cũng đù để làm cân bằng c;n cân thương mại Tuy nhiên, nếu cung cầu ngoại hối ít nhụy c;m với thay đồi tỷ giá thì muốn cải thiện cán cân thương mại, tỷgiá phải tăng lên E2 Như vậy, cung cầu ngoại hổi càng ít nhạy can với tỷ giá thì tác động cùa tỷ giá đến việc cải thiện cán cân thumg mại càng ít.
V;n đề này đã được Alfred Marshall và Abba Lemer phân tích rấtkv trong nghiên cứu về ảnh hưởng cùa phá giá tiền tệ tới cán câr thương mại Khái niệm về hệ số co giãn của xuất khẩu và nhập kiẩu đối với tỳ giá (ĩ]x và tim) đã được các ông giới thiệu trong nò hình này Theo Marshall và Lemer, phá giá tiền tệ sẽ tạo
ra liiộu iriig giá cả và hiệu úng khối lượng lên xuất khẩu hàng hoá nhir Sau
- liệu ứng giá cả: Tỷ giá tăng lên giúp cho các nhà xuất khẩu
có thể jiaim giá hàng xuất khẩu tính bàng ngoại tệ mà không giảm doanh tiu bán hàng xuất khẩu tính ra đồng nội tệ Kết quả là tổng kim ng;ch xuất khẩu khi tính bằng ngoại tệ giảm đi so với trước khi phágiá do giá cả hàng hoá xuất khẩu tính bàng ngoại tệ giảm.
- ỉiíêu ứng khối lượng: Phá giá đồng nội tệ làm giá hàng xuất kh.u trở nên rè hơn, kích thích tăng khối lượng xuất khẩu Kết quà là ổmg kim ngạch xuất khẩu có thể tăng lên nhờ tăng khối lượng xiấtt khẩu.
H pu ứng ròng của tác động tỷ giá hối đoái lên tổng kim ngạch xiấtt khẩu sẽ phụ thuộc vào tính trội của hiệu ứng khối lượng hay hiệi úmg giá cả.
15
Trang 17Ảnh hưởng của tỷ giá tới kim ngạch nhập khấu cũng được giải thích tương tự.
Đẻ đánh giá ảnh hường cùa thay đổi tỷ giá hối đoái lên tổng kim ngạch xuất khẩu (nhập khẩu), cần xác định mối tương quan giữa kim ngạch xuất khẩu (nhập khẩu) và tý giá hối đoái Mối tương quan này được biểu thị bằng hệ số co giãn của xuất khấn (iihộp khẩu) đối với tỷ giá t]x (t]m) và được xác định bàng công thức sau:
trong đó: X là tổng kim ngạch xuất khẩu, M là tổng kim ngạch nhập khẩu, E là tỷ giá hối đoái.
Hệ số co giãn (r\m) cho biết tổng kim ngạch xuất khẳu X (tổng kim ngạch nhập khẩu M) thay đổi bao nhiêu % khi tỷ giá hối đoái E thay đổi một %.
Trên cơ sờ đó, Marshall và Lemer đã đưa ra điều kiện để phá giá tiền tệ có thể cải thiện cán cân thương mại: tổng hệ số co ịỉiùn xuất khấu và hệ số co giãn nhập khấu với tỳ giá phải lớn hơn ì
Khi tổng hai hệ số này nhỏ hơn 1, phá giá sẽ làm trầm trọng hom vấn đề của cán cân thương mại, còn khi tổng hai hệ số này bàng 1, phá giá sẽ không có tác dụng đối với cán cân thương mại.
1.2 Lý thuyết chi tiêu (The absorption approach)
Một cách tiếp cận khác đối với cân bằng cán cân thanh toán được giới thiệu vào đầu những năm 1950 khi các nhà kinh tế như Harbcrger (l 950), Meade (1951) và Alexander (1952, 1959) thay đổi trọng tâm nghiên cứu đối với cán cân thanh toán - cách tiếp cận chi tiêu (the absorption approach) Cách tiếp cận này cho rằng, cân
Trang 18bànỊ’ cán cân thưomg mại chỉ dược cải thiện khi thu nhập quốc dân vượt quá tông chi tiêu của một quốc gia Nói cách khác, lý thuyct này phân tích nền kinh tế từ góc độ tổng chi tiêu, dặc biệt phân tích ánh hưởng cùa thay đôi tỷ giá đối với thu nhập và chi tiêu, cuối cùng đẻn cán cân thưưng mại.
Thiu nhập quốc dân Y có thể được biểu diễn:
Nếu định nghĩa tổng chi tiêu nội địa là A (absorption2):
Phương trình (1.3) cho thây cán cân thương mại thặng dư khi sản xuất trong nước lớn hơn tổng chi tiêu và do vậy dẫn đến nguồn vốn chạy ra ngoài, thể hiện qua -If Ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt khi tiêu dùng trong nước lớn hơn thu nhập quốc dân, khoàn chênh lệch này đirợc tài trợ bàng dòng vốn chảy vào, If.
Trê:n cơ sở lý thuyết chi tiêu đơn giản này, các nhà kinh tế đã phát triển lý thuyết này với việc phân tích các yếu tố nầm bên trong tổng thu nhập quôc dân.
Trang 19trong đó, T là thuế, s là tiết kiệm, (S° - 1) là tiết kiệm ròng cua khu vực tư nhân.
Ta lại có: NS = NS(Y,P) với dS/dY>0, dS/dP^O;
TB = TB(Y)với dTB^dYcO vì nhập khẩu tăng khi thu nhập táng trong khi xuất khẩu được giả định là biến ngoại sinh.
Hình 1.2. Ảnh hirờng của phá giá tiền tệ đói vón cán cản
thương mại theo lý thuyết
Trang 20Già sừ tại diêm A với tông tlni nhập Y|, cán cân thương mại thám hụt (hình 1.2) Chính phủ có thể thực hiện chính sách gì để cài thiện tình trạng thâm hụt này?
Q = SP * / p là tỳ giá thực nên phá giá tiền tệ có thể khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Già sừ điều kiện Marshall Lemer dược thỏa mãn, dường xuất khẩu ròng sẽ dịch chuyển sang NXi Nếu Yi là mức sản lượng tiềm năng thì lúc bấy giờ cán cân đối nội
và cán cân đoi ngoại cân bang Tuy nhiên, giả sử YI mới là mức sản lượng tiềm năng, khi dó phá giá tiền tệ sẽ làm cho cầu tăng lên
và mức giá p cũng tăng theo, làm dịch chuyển đường NX2 sang trái Mức giá tăng sẽ tạo hiệu ứng thực, làm cho đường NS dịch sang trái vì chi tiêu bị cẳt giảm, về dài hạn, NX và NS có thể cắt nhau tại mức sản lượng Yi Vì vậy, sự thay đổi cùa mức giá là yếu
tố duy nhất để đưa nền kinh tế trờ lại điểm cân bàng, tất cả các chính sách tài khóa, tiền tệ, (ngoại trừ chính sách phá giá tiền tệ cùa chính phù) là không cần thiết Lý thuyết chi tiêu đề cập đến tác động của hiệu ứng cầu tiền thực (real balance effects) đã đặt những nền móng đầu tiên cho cách tiếp cận cùa trường phái tiền tệ đổi với cán cân thanh toán nói chung và cán cân thương mại nói riêng Tuy nhiồn, hiệu ứng thực thường mất một thời gian mới có hiệu lực Trên thực tế, nếu muốn cải thiện cán cân thương mại thâm hụt, để lại thường sử dụng các công cụ cắt giảm chi tiêu (expenditure reduction instruments) hoặc thay đổi cơ cấu chi tiêu (expenditure switching instrument) (Johnson, 1961) Ví dụ, chính phủ có thể cẳt giảm chi tiêu chính phủ và qua đó làm giảm tổng chi tiêu Tuy nhicn khi chính phù cắt giảm chi tiêu, thu nhập quốc dân cũng giảm Vi vậy, công cụ này chi có ý nghĩa khi tổng chi tiêu giảm
Trang 21nhanh hom tổng thu nhập Ngoài ra, chính phù cũng có thể chuyên đổi cơ cấu chi tiêu giữa xuất nhập khẩu qua việc thay đổi mức giá tương đối Giả sử chính phù phá giá đồng nội tệ, hàng nhập khâu trờ nên đắt hom và hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn Tuy nhiên, nếu các chủ thể trong nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu chi tiêu giữa hàng nhập khẩu và hàng trong nước nhưng không ảnh hưởng đến tổng chi tiêu hay tổng thu nhập thì cán cân thương mại cũng không bị ảnh hưởng Trong hình 1.2 chuyển đổi chi tiêu sẽ dịch được NXi sang thẳng NX3, còn cắt giảm chi tiêu sẽ dịch đường NSi sang NS2 Cán cân thương mại và cán cân đối nội được cân bằng trong khi nền kinh tế không chịu tác động của lạm phát.
Cả hai lý thuyết co giãn và chi tiêu đều không chú ý đến tác động của cung tiền đối với mất cân bằng trong cán cân thanh toán
Do đó, các nhà kinh tế học trường phái tiền tệ đã khắc phục thiếu sót này trong những nghiên cứu của mình từ cuối những năm 1 9 5 0.
1.3 Lý thuyết của trường phái tiền tệ (The monetary
approach)
Cách tiếp cận của trường phái tiền tệ xoay quanh quan điểm, cán cân thanh toán là một hiện tượng tiền tệ do đó phải được phân tích sử dụng các công cụ trong phân tích tiền tệ, đó là cung cầu tiền Sự mất cân bằng trong cán cân thanh toán thể hiện sự mất cân bàng trên thị trường tiền tệ.
Theo cách tiếp cận này, giả sử một quốc gia tiến hành phá giá tiền tệ Phá giá sẽ làm tăng mức giá nội địa Ví dụ, nếu phá giá
1 0% và giá cả trong nước cũng tăng lên 1 0% thì giá cả của hàng hóa ờ nước ngoài, p* = p/s không đổi Vì vậy, thay đổi cầu tiền của
Trang 22nước ngoài hàng 0 Tuy nhiên, nếu mức giá trong nước không tăng nhiinh oàng tỷ lệ phá giá thì mức giá nước ngoài p* sẽ giảm Hơn nừ;i, nế u mức giá nước ngoài giảm thì cầu tiền nước ngoài sẽ giảm Sau khá phá giá, cán cân thương mại sẽ thặng dư Tuy nhiên đây chi
là (tiếm cân bàng ưong ngắn hạn Do lượng cung tiền trong nước cũng
sẽ phải tảng lên để thỏa mãn nhu cầu tiền cao hơn do giá tăng Cuối cùiig, niền kinh tế sẽ quay trờ lại trạng thái cân bằng với mức giá thấp hơn nhiưng vẫn cao hơn mức giá ban đầu Như vậy, ảnh hường cùa phú giá đối với cán cân thương mại chi là tạm thời Tuy nhiên, ảnh hưởng ngắn hạn này cũng rất quan trọng đối với các nhà hoạch định chinh sách, cho phép họ tảng được dự trữ quốc gia mà không làm xấu
đi cán cân thương mại Tuy nhiên nếu giai đoạn này diễn ra ngay lập tức thì phá giá không có tác dụng, ngay cả trong ngắn hạn.
Tỉheo lý thuyết co giãn, phá giá tiền tệ có thể cải thiện cán cân thương mại nếu điều kiện Marshall-Lemer được thỏa mãn, tuy nhiên tirong ngắn hạn, có thể xảy ra hiệu ứng tuyến J;
Tlheo lý thuyết chi tiêu, với hiệu ứng Laursen-Metler, phá giá tiền tệ tthực có thể làm trầm trọng hơn cán cân thương mại;
Tlheo cách tiếp cận của trường phái tiền tệ, ảnh hưởng của phá giá tiềm tệ đối với cán cân thương mại chi là tạm thời.
V
MIỗi cách tiếp cận dựa trên những giả định khác nhau và đưa
ra những kết luận không giống nhau Các cách tiếp cận này bổ sung cho nhiau và giúp chủng ta hiểu kỹ hơn về ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với cán cân thương mại trong những điều kiện cụ thể.
21
Trang 232 Chính sách thương mại của quốc gia
Chính sách thương mại là hệ thống các nguyên tấc, công cụ và biện pháp tích hợp mà chính phủ áp dụng để điều chinh các hoạt động kinh tế đối ngoại cùa một quốc gia trong một thời kỳ nhât định nhàm đạt được các mục tiêu đặt ra trong chiến lược phát triên kinh tế xã hội của quốc gia đó.
làm hai loại chính: chính sách bảo hộ thương mại và chính sách tự
do hóa thương mại Chính sách bảo hộ thương mại là chính sách bảo hộ sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài bằng cách đánh thuế hàng nhập khẩu hoặc hạn chế số lượng hàng hóa và dịch vụ được phép nhập khẩu Mục đích của thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu là chuyển dịch chi tiêu trong nước từ hàng nhập khẩu vào hàng sản xuất trong nước Chính sách tự do hóa thương mại là chính sách mà trong đó chính phủ áp dụng các biện pháp để từng bước giảm thiểu các trờ ngại trong hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong quan hệ thương mại quốc tế, tạo điêu kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế Mục đích của chính sách tự
do hóa thương mại là nhằm mờ rộng thương mại để khai thác lợi thế so sánh của đất nước, đặc biệt nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, cải thiện cán cân thương mại.
2.1 Tác động của chính sách bảo hộ thương mại đối với
cán cân thương mại
Chính sách bảo hộ thương mại thường được thực hiện nhàm mục tiêu cải thiện cán cân thương mại, tuy nhiên mục tiêu này không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được Chính sách bảo hộ thương mại ban đầu có tác dụng làm giảm nhập khẩu hàng hóa và
Trang 24qua d( giảm thâm hụt thương mại Tuy nhiên, trong chế độ tỷ giá thà nổ, chính sách bảo hộ thưang mại sẽ làm tăng giá đồng nội tệ,
và tứ (ó có thể làm giám xuất khẩu Việc giảm xuất khẩu cùng với giảm ihập khẩu có thể sẽ không làm thay đổi cán cân thương mại Trotigchế độ tỳ giá cố định, đề giữ tỷ giá cố định, cung tiền phải tăng hn Cung tiền tăng làm tăng tổng cầu và thu nhập, khiến nhập khẩu ting Kết quà là giảm sự cài thiện cán cân thương mại ban đầu
do hại chế nhập khẩu đem lại.
Fên cạnh đó, việc inột quốc gia áp dụng các công cụ và biện pháp lạn chế thương mại dễ gây phản ứng từ các nước đối tác khiến 1Ọ áp dụng các chính sách trà đũa trong thương mại như áp dụng tiuế quan, hạn ngạch đối với hàng xuất khẩu của quốc gia đó Kết qià của chính sách bảo hộ mậu dịch sẽ làm cho cả nhập khẩu
và Xuít khẩu thu hẹp, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu dùng của nền knh tế Ngoài ra, chính sách bảo hộ thương mại có thể khiến các d<anh nghiệp trong nước mất đi tính cạnh tranh quốc tế do đưỢ'c tào hộ, chi tập trung vào sản xuất trong nước Vì vậy, xét về dài hại, sẽ không có lợi cho quốc gia bào hộ.
Chính sách bảo hộ thương mại có thể đi cùng với chính sách quản ý ngoại hổi trong các giao dịch vãng lai Tuy nhiên, các chíruh ỉách này chi có tác dụng tạm thời trong việc giải quyết thâm hụt cái cân vãng lai, nhưng về dài hạn không những không giải quyíết tược thâm hụt cán cân vãng lai mà còn làm trầm trọng thêm
do kíhrng phát triển được xuất khẩu và khai thác được các nguồn thu ìnhìp khác.
Ju thế hiện nay cùa các nước là tự do hóa thương mại Thưrong mại tự do làm cho tất cả các nước đều có lợi vì nó cho phép nỗi nước chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm có hiệu
23
Trang 25quả cao và cung úng cho mồi nước một danh mục hàng hóa đa dạng hơn.
2.2 Tác động của chính sách tự do hóa thương mại đối
với cán cân thương mại
Chính sách tự do hóa thương mại gắn liền với việc cắt giảm các hàng rào hạn chế thương mại của các nước sẽ làm tăng khôi lượng xuất nhập khẩu của nền kinh tế Thương mại tự do sẽ đàm bảo cho nền kinh tế khai thác được lợi ích tiềm năng của thương mại, đi sâu vào chuyên môn hóa và tiết kiệm chi phí sản xuất.
Có nhiều nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của chính sách tự
do hóa thương mại đối với cán cân thương mại, tuy nhiên các nghiên cứu này vẫn chưa rút ra được kết luận cuối cùng Trong lý thuyết co giãn đối với cán cân thanh toán, ảnh hưởng của chính sách tự do hóa thương mại phụ thuộc vào mức độ co giãn của xuát
và nhập khẩu Nếu ảnh hưởng của chính sách tự do hóa được đo bàng đồng ngoại tệ thì doanh thu xuất khẩu sẽ tăng nếu hệ số co giãn lớn hơn 1 và chi phí nhập khẩu sẽ tăng nếu hệ số co giãn tuyệt đối nhỏ hơn 1 Trong phương pháp tiếp cận chi tiêu, ảnh hưởng của chính sách tự do hóa sẽ được hiện thực hóa thông qua thay đổi về thu nhập thực tế Ngay cả khi thu nhập thực tế tăng, cán cân vâng lai có thể không được cải thiện nếu hệ số chi tiêu cận biên lớn hơn
1 Nếu chính sách tự do hóa thương mại làm giảm giá, điều này có thể làm tăng chi tiêu thực thế thông qua hiệu ứng thực, nhưng cũng
có thể làm giảm chi tiêu thực tế nếu cỏ sự phân phối lại thu nhập sang khu vực hàng hóa trao đổi, nơi khuynh hướng tiết kiệm cao hơn ờ khu vực hàng hóa không trao đổi Trong cách tiếp cận của
Trang 26tri rò IU phái ticn tệ, chính sách tự do hóa thưcrng mại có thè ảnh huờnị den cà cung và cầu tiền.
3 Lạn phát
Anh hường cùa lạm phát dối với cán cân thương mại thể hiện qua Cf chế giá Lạm phát tăng ảnh hường đến giá cả đầu vào cùa hàng ióa sàn xuât tạo Iiguôn hàng xuât khâu, làm giá cả hàng hóa xuất Ihẩu cao hơn trước, giảm lợi thế cạnh tranh, hạn chế xuất khẩu, -ạm phát cũng làm hàng hóa trong nước đắt hơn so với hàng hóa niập khẩu, từ đó khuyến khích nhập khẩu Nhập khẩu tăng, xuất kiẩu giảm khiến cho cán cân thương mại có thồ xấu đi.
Xét trcn tầm vĩ mô, để phản ánh sức cạnh tranh cùa hàng hoá trong ìước với hàng hoá nước ngoài trên phương diện giá cả, người
ta thumg sử dụng tỳ giá thực - tỷ lệ so sánh giữa giá hàng hoá trong nước và giá hàng hoá nước ngoài (quy về đồng nội tệ)
(K X / *)/ p , trong đó E là tỳ giá hối đoái danh nghĩa (theo phwơtg pháp yết tỷ giá trực tiếp), p* là mức giả cả hàng hoá nước ngoài'inh bằng ngoại tệ, p là mức giá cả hàng hoá trong nước tính bằng lội tệ
lấy ví dụ trường hợp so sánh sức cạnh tranh hàng hoá Việt Nan.1 'ới hàng hoá Nhật Bản E là tỷ giá hối đoái danh nghĩa giữa JPY vì VND, trong đó 1 JPY = E VND p* là mức giá hàng hoá tninig )ình tại Nhật bản tính bằng JPY, do vậy ExP* sẽ là mức giá
cả tmig bình tại Nhật quy ra VND Với p là mức giá cả trung bình cùa hing hoá tại Việt Nam thì tỷ số (E x P * ) / P cho biết mối tươngquan so sánh giữa giá cả hàng hoá trung bình tại Nhật và tại Việtt ĩ^am Ncu tỷ số (Ex p * ) / p = 1, tức 1 à E X p * = p, ta có mức
25
Trang 27giá cà trung bình tại hai quốc gia là tương đương nhau Nếu t) lộ
( Ex p*) / p > 1, tức là E X p* > p, ta có mức giá cà hàng hoá trung bình tại Nhật lớn hơn tại Việt Nam, khiến cho hàng hoá \ iệt Nam có sức cạnh tranh cao hơn hàng hoá Nhật về mặt giá và ngược lại Do vậy, nếu E không đổi, lạm phát của Việt Nam tăng hom so với Nhật Bản (Ap > AP*) sẽ làm cho tỷ giá thực trở nên xấu đi, hàng hóa Nhật Bản sẽ rẻ hơn và do vậy có ưu thế cạnh tranh về giá hơn so với hàng hoá Việt Nam.
Lạm phát tăng cũng làm cho cầu tiền tăng lên, tiết kiệm quốc dân giảm Theo lý thuyết chi tiêu, tiết kiệm quốc dân ròng (tiết kiệm tư nhân ròng cộng với thặng dư ngân sách nhà nước) bàng với thặng dư cán cân thương mại Khi tiết kiệm quốc dân ròng giảm đi thì tình trạng của cán cân thương mại sẽ trở nên trầm trọng hơn.
Ngoài ra, lạm phát tăng cũng ảnh hưởng xẩu đến tăng trưởng của quốc gia, đến hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó có thể ảnh hưởng đến tổng cung của nền kinh tế, trong đó có cung xuất khẩu.
4 Giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu
Giá cả luôn là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mức cầu của thị trường đối với một loại hàng hoá Giá cả phải chăng hoặc
rẻ hom các hàng hoá cùng loại trong phần lớn trường hợp đều tạo ra một sức cầu đáng kể Và tất nhiên, khi giá cả giảm đi thì có thể thu hút thêm cầu đối với hàng hoá Đối với những nền kinh tế nhỏ không
tự xác định được mức giá hàng hóa cho mình thì giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu có thể có ảnh hưởng lớn đối với hoạt động xuất nhập khẩu và qua đó ảnh hưởng đến cán cân thương mại.
Trang 28Kii giá hàng hóa sản xuât trong nước của một quôc gia thâp hơn giá the ’iới thì quốc gia đó có tính cạnh tranh tưomg đối về giá vói các quốc gii khác, và do đó sẽ khuyến khích hoạt động xuất khẩu Ngược lại, khi giá hàng hóa trong nước cao hơn giá thế giới thì có thê làm cho hàrg hóa nước ngoài tràn vào thị trường trong nước.
Sc với mức giá tuyệt đối thì biến động giá có ảnh hưởng nhiều lơn đối với hoạt dộng xuất nhập khẩu và do đó cũng ảnh hưimg ;án cân thương mại Biến động giá cùa các mặt hàng nhập khẩu thết yếu đối với một sổ quốc gia như dầu thô có thể tác động rấ mạnh đến cán cân thương mại cùa những quốc gia đó Đặc biệt dó với các quốc gia đang phát triển, nơi sản phẩm xuất khẩu thường là các sản phẩm thô, ít hàm lượng kỹ thuật, co giãn mạnh với giá trong khi sản phẩm nhập khẩu thường là máy móc thiết bị
có mức giá ít biến động thì những biến động giá bất thường trong các mặt hàng xuất khẩu có thể ảnh hưởng mạnh đến cán cân thương mại Chíng ta cũng có thể sử dụng lý thuyết hệ số co giãn để đánh giá mứ< độ nhạy cảm cùa hàng hóa sản xuất trong nước với giá cả hàng hca thế giới để có thể đánh giá được tác động cùa sự thay đổi giá cà hìng hóa thế giới đối với hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc gii.
Hi:u ứng Laursen-Metler (1950) cũng có thể được sử dụng để chứng ninh ảnh hưởng của giá dầu tăng trong các cuộc khủng hoảng dầu lửra ' 973 và 1979/1980 đối vói các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ Giá dầu tăng làm giảm xuất khẩu ròng và dịch chuyển đường xuất khẩu ròĩg (NX - Net export) NX| xuống NX2 (hình 1.3).
27
Trang 29Hình 1.3. Ảnh hưởng của giá hàng hóa nhập khẩu tảng
đói với cán cân thưcmg mại
Điểm cân bằng tạm thời được lập tại B Tuy nhiên, giá dầu tăng cũng giảm thu nhập thực tế tại các nước nhập khẩu dầu, làm tổng tiết kiệm quốc dân ròng cũng giảm Đường tiết kiệm quốc dân (NS - Net Savings) dịch chuyển xuống dưới Điểm cân bằng mới được lập tại c Do hiệu ứng Laursen-Metler, cán cán thương mại thâm hụt nhiều hơn điểm B, nhưng thu nhập quốc dân tăng lên do tăng tiêu dùng nội địa.
Như vậy có thể thấy, giá hàng hóa nhập khẩu tăng làm xốu đi cán cân thương mại thông qua hiệu ứng giá làm tăng nhập khẩu và làm giảm tiết kiệm quốc dân.
Trang 305 ThJ nhập quốc dân trong và ngoài nước
Cán cân thương mại tỷ lệ nghịch với thu nhập trong nước do nhập Hiấu tỷ lệ thuận với thu nhập trong nước Trong khi đó, thu nhập rước ngoài và cán cân thưcmg mại tỳ lệ thuận với nhau do thu nhập rước ngoài tăng sẽ khuyến khích xuất khẩu (Goldstein và Khán, 1985).
'] ong mô hình thay thế không hoàn hảo của mình, Goldstein
và Kh<n giả định cán cân thương mại chi bao gồm xuất nhập khẩu hàng h)a Thu nhập trong nước và giá nhập khẩu là những nhân tố quyết ậnh đổi với cầu nhập khẩu Hàm cầu nhập khẩu có thể được biếu di:n dưới đây:
M d = M d( Y , P m, PD) ( 1 6 )
trong ló: Md là cầu nhập khẩu trong nước, Y là thu nhập trong nước, ìm là mức giá tính bằng đồng nội tệ, Pj lù mức giá chung
nước cối với thế giới (tương ứng với cầu xuất khẩu của nước ngoài) iược biểu diễn:
trong; (ó: Xd là lượng hàng hóa xuất khấu, Y* là thu nhập nước ngoài, °x là mức giá tính bằng đồng ngoại tệ do các nhà nhập khấu trà I°f 'à mức giá chung ở nước ngoài và E là tỳ giá danh nghĩa
Giá đlịm quan trọng của phương trình (1.6) và (1.7) là hệ số co giãn cùa thunhập trong nước và thu nhập nước ngoài, cũng như hệ số co giãn <CÙ1 mức giá chéo là dương, trong khi hệ số co giãn cùa giá là
âm Nịười tiêu dùng đưa ra những quyết định cùa mình dựa vào giá tr ị tiực han là giá trị danh nghĩa, do đó cả hai vế phải của hai
29
Trang 31phương trình (1.6) và (1.7) được chia với mức giá tương ủmg
Ta có:
M d = M d(Y,RPm) trong đó: Yr là thu nhập thực tế trong nước và RPm là mức giá
X d = X d(Y',RPx) trong đó Y ' là thu nhập thực tế trong nước và RPỵ là mức giả xuất
px được điều chinh bởi tỷ giá, nó sẽ bằng với giá nhập khẩu tương đỏi
Vì vậy, chúng ta có phương trinh:
R P = L l = ẽ ? L = W £ l = c > p
-m pd pd pd.pf Q * O'8)
khẩu nước ngoài, cầu xuất khẩu trong nước tương ứng với cung xuất khẩu nước ngoài và ngược lại: M j = X ] , X ố - M*.
Phương trình cán cân thương mại dài hạn có dạng:
nhập khẩu Tương tác giữa các biến trong phương trình (1.5) cho thấy dạng rút gọn sau của phương trình đối với biến thực:
TB = T B ( Ỵ , Y , Q ) ^ < 0 f p > 0 , ^ > 0 ( U 0 )
Đây là phương trình cán cân thương mại của trường phái Keynes Như vậy có thể thấy, cán cân thương mại tỷ lệ nghịch vói thu nhập trong nước, tỷ lệ thuận với thu nhập nước ngoài và tỷ giá Khi