1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về bối cảnh và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đông nam á hải đảo

126 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

10 10 10 1432 32343540 4148525257667175 Cơ sở lý thuyết về CSNN và cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo Cỏ sở lý thuyết về CSNN Cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc gia Đông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MỘT SỐ VẤN ĐỂ VỂ BỐI CẢNH

VÀ CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ Ở CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

Mã số: QX 2004.02

Chủ trì đề tài: Th.s Nguyễn Thị Vân

Đ A I HO C Q U Ộ C G IA HẢ N Ộ I TRUNG TÀfV t h õ n g t in t h ư v iệ n

_ Đ T /

Hà nội, tháng 5/2006

Trang 2

10 10

10

1432

32343540

4148525257667175

Cơ sở lý thuyết về CSNN và cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc

gia Đông Nam Á hải đảo

Cỏ sở lý thuyết về CSNN

Cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

Chương n

NNQG và sự lựa chọn của các nhà nước Đông Nam Á hải đảo

Khái niệm và tiêu chuẩn của NNQG

Sự lựa chọn NNQG ở các nước Đông Nam Á hải đảo

Tiếng Melayu và vai trò “lingua franca” trong lịch sử

Những lý do dẫn tới việc lựa chọn tiếng Tagalog làm NNQG ở

Cộng hoà Philippines

CSNN của các nước Đông Nam Á hải đảo đối với NNQG

Thái độ của các dân tộc đổi với ngôn ngữ quốc gia

Vai trò của ngôn ngữ quốc gia ở các nước Đông Nam Á hải đảo

Trong giao tiếp xã hội

Trang 3

1.2 Những đặc điểm cơ bản của tiếng Anh 82

2 Vai trò của tiếng Anh ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo 862.1 Tiếng Anh - sự lựa chọn của các nhà nước Đông Nam Á hải đảo 862.2 Tình hình sử dụng tiếng Anh ở các quốc gia Đông Nam Á hải

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đ ề tài:

Nhu cầu cần có một phương tiện giao tiếp chung luôn luôn tồn tại giữa các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc Đối với các nước Đông Nam Á hải đảo, nhu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn bởi vì ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp chủ yếu mà còn là công cụ đoàn kết dân tộc, là nhân tố quyết định sự phát triển của một quốc gia Cho nên việc xây dựng và lựa chọn một ngôn ngữ đảm bảo được những yêu cầu trên là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của chính sách ngôn ngữ Mặt khác sự phân chia thoả đáng quyền lực giữa ngôn ngữ quốc gia và tiếng nước ngoài, cụ thể là tiếng Anh cũng là một thách thức lớn đối với tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các nước này Hơn thế nữa, xu thế hội nhập, liên kết, hợp tác đang trở thành một xu thế tất yếu và được đặt ra mạnh mẽ trong quá trình phát triển của các quốc gia

Sở dĩ chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu về “M ột s ố vấn đẽ về bối cảnh

và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo” là có những lý

do nhất định Từ khi đất nước ta trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhu cầu hiểu biết về các nước trong khu vực càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Đặc biệt đối với cộng đồng Melayu, một cộng đồng lớn ở Đông Nam Á hải đảo, có tính khu vực và mang tính xuyên quốc gia thì việc tìm hiểu ngôn ngữ và CSNN của họ càng trở thành một nhu cầu cấp thiết Hơn thế nữa, việc tìm hiểu CSNN của các nước này sẽ giúp chúng ta rút ra được những kinh nghiệm quý báu trong việc thực thi CSNN, vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với bối cảnh đa ngôn ngữ,

đa dân tộc ở Việt nam

Đề tài là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích và thiết thực cho sinh viên chuyên ngành Đông Nam Á, Khoa Đông Phương học nói riêng và sinh viên Khoa Đông Phương học nói chung Đề tài cũng là một phần tư liệu quan trọng trong việc triển khai làm luận án của tác giả

Chúng tôi cũng hy vọng rằng, những đóng góp của đề tài sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc xây dựng một nguồn tư liệu cho những người quan tâm

Trang 5

đến mảng đề tài này.

2 Lịch sử vấn đề:

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của ý thức giác ngộ dân tộc và là đặc trưng dân tộc Đồng thời ngôn ngữ vừa là phương tiện thống nhất đoàn kết dân tộc, củng cố và phát triển xã hội tộc người, vừa là cái bảo tồn văn hoá dân tộc Đối với các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hoá, đa tôn giáo như các quốc gia Đông Nam Á hải đảo, vấn đề ngôn ngữ và dân tộc bao giờ cũng là vấn đề chính trị xã hội, văn hoá phức tạp và hết sức nhạy cảm, nhất là ở những nước còn có sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, các ngôn ngữ , các tôn giáo mà đằng sau nó là xung đột chính trị Chính vì vậy, việc xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc là một trong những vấn đề hàng đầu trong sự phát triển đất nước của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

Nhận thức được tầm quan trọng như vậy nên đã từ lâu CSNN đã được các học giả phương Đông và phương Tây quan tâm xem xét Tuy nhiên trong lịch sử nghiên cứu cũng chỉ được khảo sát và nghiên cứu riêng biệt từng nước hoặc chỉ xem xét từng mặt của vấn để chứ chưa đưa ra được một cái nhìn tổng quan về CSNN trên tất cả các mặt

Tại Việt nam, việc nghiên cứu ngôn ngữ và CSNN ở các nước này mới bắt đầu được chưa lâu

Năm 1997, Viện Ngôn ngữ học đã cho ra đời cuốn sách “cả n h huống

và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc” được thực hiện trong

khuôn khổ của chương trình hợp tác Việt-Nga về điều tra, nghiên cứu các ngôn ngữ Đây là một tập hợp các bài viết, chủ yếu của các nhà ngôn ngữ học Nga về các vấn đề liên quan đến cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở một số quốc gia đa dân tộc trên thế giới như cảnh huống ngôn ngữ, xung dột ngôn ngữ, các đạo luật về ngôn ngữ, xây dựng luật ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ, k ế hoạch hoá ngôn ngữ, sự đảm bảo pháp luật đối với ngôn

ngữ (ở Liên bang Nga, Thái lan, Lào, Philipines, Canada, Trung hoa, Châu

Trang 6

ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á Đề tài nhánh này là các bài viết của các học giả nước ngoài như Asmah Haji Omar, N v Solseva, N v Omeljanovich, T v Đôrôpêeva, M.A Makarenko về chính sách ngôn ngữ ở Singapore, Malaysia, Philipines, Brunei

Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, cho đến tận gần đây ở Việt nam việc nghiên cứu ngôn ngữ các nước Đông Nam Á hải đảo chưa được các học giả Việt nam tìm hiểu một cách quy mô và đầy đủ Đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến ngôn ngữ bản địa như Mai Ngọc Chừ, Phạm Đức Dương, Đoàn văn Phúc, Đinh Nguyên Khuê, Nguyễn Thị Vân, Lê thị Thu Hồng, Trần Thuý Anh, Lê Minh Hà và thực sự cũng chưa có chuyên gia đi thật sâu vào vấn đề này Bàn về vấn đề chính sách ngôn ngữ các nước Đông Nam Á hải đảo phải kể đến Đinh Nguyên Khuê với rất nhiều bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành Nguyễn Thị Vân đã dành một luận văn thạc sĩ nghiên cứu về bối cảnh và chính sách ngôn ngữ ở Malaysia Ngoài ra còn có một số ấn phẩm đáng chú ý như:

Chính sách quốc gia về ngôn ngữ của Bianco J.L (1987), Australian

Government Publishing Service, Canberra

Những vấn đề ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam và khu vực Đông Nam

Á Viện Ngôn ngữ học, NXB KHXH, Hà nội 1988.

Tư liệu nghiên cứu về CSNN ở Việt Nam khá phong phú, trong đó đề cập đến nhiều vấn đề như việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số (xây dựng chữ viết, nâng cao chất lượng đào tạo, chỉ ra thực trạng giáo dục song ngữ ), giữ gìn, phổ biến và phát triển tiếng Việt Có thể nhắc đến:

Ngôn ngữ các dân tộc thiểu s ố ở Việt nam và chính sách ngôn ngữ của

Viện Ngôn ngữ học, NXBKHXH, Hà nội 1984

- Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam Viện Ngôn ngữ học

NXBKHXH, Hà nội

- Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ỏ Việt Nam của Trần Trí Dõi,

NXBĐHQG Hà nội 2003

- Các văn bản của Đảng và nhà nước Việt Nơm về ngôn ngữ (từ 1946

đến nay) Chương trình cấp nhà nước về CSNN (tài liệu của Viện ngôn ngữ

Trang 7

học), Hà nội 1996.

Bàn về vấn đề CSNN trong cuốn “Những cơ sở triết học trong ngôn ngữ

Marx-Lenin tiêu biểu trong công tác nghiên cứu ngôn ngữ học ở Liên xô qua

một số bài viết của các tác giả và đánh giá có phê phán các khuynh hướng ngôn ngữ học Tây Âu và Mỹ từ lập trường triết học Marx Lenin Cuốn sách này còn có một phần bàn về nguyên tắc Leninit trong CSNN, trong đó Lenin nhấn mạnh rằng: trong điều kiện một nhà nước gồm nhiều dân tộc như Liên

xô, CSNN là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng nhất của chính sách dân tộc CSNN đã được dành một vị trí đúng như vậy trong các trước tác bất hủ của V.I.Lenin và trong các văn kiện có tính chất cương lĩnh của Đảng Cộng sản

Phần lớn những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và CSNN ở các nước Đông Nam Á hải đảo do các học giả các nước này thực hiện Chúng ta không thể không nhắc đến nhà ngôn ngữ học xã hội nổi tiếng của Malaysia, Asmah Haji Omar với các công trình đáng chú ý nhất là:

Language and Society in Malaysia Dewan Bahasa dan Pustaka

Kementerian Pelajaran Malaysia, Kuala Lumpur 1982

The linguistic Scenery in Malaysia Dewan Bahasa dan Pustaka Ministry

of Education, Kuala Lumpur 1992

Languge Planning o f Unity and Efficient, Penerbit Universiti Mallaya,

Nhưng đề cập cụ thể đến CSNN ở các nước Đông Nam Á hải đảo không

thể không nhắc đến cuốn “Language Planning in Southest Asia” của

Abdullah Hassan, Dewan Bahasa dan Pustaka, Ministry o f Education, Kuala

Trang 8

Lumpur 1994 Tác giả cuốn sách đã đề cập đến k ế hoạch phát triển ngôn ngữ

và CSNN của Malaysia, Singapore, Indonesia, Việt Nam, Lào Trong đó chú trọng nhiều hơn cả đến việc thực thi chính sách giáo dục ngôn ngữ ở Malaysia

và các nước hải đảo Ngoài ra còn một số cuốn đề cập đến vấn đề này như:

- Platt, J.T and H W elber English in Singapore and Malaysia status,

featues, Kuala Lumpur Ort University Press.

- Khoo Kay Kim, Malay Society, Pelanduk Publication.

Và một số sách bằng tiếng Melayu như:

Abdullah Hassan, Bahasa Melayu untuk M aktab perguruan, Penerbit

Bakti Sdr.Bhd, KL 1994

Asmah Haji Omar, Bahasa dan Aỉam pemikiran Meỉayu, Dewan Bahasa

dan Pustaka, KL 1993

Hadijah, Sastera and Manusia Melayu Baru, Persatuan Melayu Singapura

Ditaja Oleh Majlis Bahasa Melayu Singapura 1997

Như vậy, có thể thấy rằng CSNN ở các nước Đông Nam Á hải đảo đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên các công trình nghiên cứu của các học giả ở trong và ngoài nước chỉ khảo sát và nghiên cứu từng mặt của vấn đề

và thường được khảo sát CSNN riêng biệt của riêng từng nước Đề tài này của chúng tôi đưa ra cái nhìn tổng quan về CSNN của một số nước Đông Nam Á

hải đảo trên các mặt: Chính sách của nhà nước đối với NN Q G và với tiếng

Anh trong lĩnh vựcgiao tiếp, giáo dục, văn học nghệ thuật và trên các phương tiện thông tin đại chúng Trên cơ sở đó tìm ra được những mặt thành công và hạn c h ế trong việc thực thi C SN N ở các nước này, làm cơ sở so sánh với CSN N ở Việt nam.

Thực hiện đề tài “Mộ/ s ố vấn đ ề về bối cảnh và C SN N ở các quốc gia

Đông Nam Á hải đảo ” chúng tôi đã tham khảo, k ế thừa những ý tưởng, sự tìm

tòi và những công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước với thái độ trân trọng thành tựu của người đi trước, nhưng vẫn cô' gắng đảm bảo tính lô gic và khoa học

Trang 9

3 M ạ c đích nghiên cứu và ý nghĩa của đ ề tài:

Mấy chục năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới vấn đề xây dựng chính sách ngôn ngữ đã trở thành vô cùng cấp bách, đặc biệt là ở những nước thế giới thứ ba, nơi mà sau khi giành được độc lập phải lựa chọn một ngôn ngữ giao tiếp chung cho toàn xã hội Vấn đề NNQG, chuẩn hoá ngôn ngữ văn học, vấn đề thuật ngữ, chính sách đối với ngôn ngữ các dân tộc ít người, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ thực dân và ngôn ngữ bản địa là thực tế cần phải giải quyết Các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào trường hợp trên Vì vậy mục đích đặt ra cho chúng tôi là phải đưa ra được cái nhìn toàn diện về bối cảnh ngôn ngữ của các nước này, trên cơ sở đó tìm hiểu CSNN đối với vấn đề phát triển NNQG và với tiếng Anh - ngôn ngữ quốc tế nhưng lại

có một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng Sau khi phân tích và đánh giá, chúng tôi đã rút ra được những nhận xét nhất định, làm cơ sở so sánh với việc thực thi CSNN ở Việt nam, từ đó có thể vận dụng một cách sáng tạo và phù hợp với bối cảnh đa ngôn ngữ, đa dân tộc ở Việt nam khi mà đất nước ta đang trong thời kỳ mở cửa, mong muốn được làm bạn với tất cả các nuớc trên thế giới

4 Đ ối tượng, phạm vi nghiên cứu và những vấn đ ề cần giải quyết:

Chính sách ngôn ngữ của Cộng hoà Indonesia, Liên bang Malaysia, Cộng hoà Singapore, Vương quốc Brunei Darussalam và Cộng hoà Philippines là đối tượng nghiên cứu của đề tài này Các văn bản luật pháp của các nhà nước này là cơ sở đáng tin cậy đ ể chúng tôi triển khai nghiên cứu đ ề tài này.

Để đảm bảo tính chuyên khảo, chúng tôi đã giới thiệu lại những thành quả của các học giả đi trước, đặc biệt là những học giả nước ngoài dựa trên nguồn tài liệu đã thu thập được

Khi tổ chức các ý tưởng cho nội dung đề tài, chúng tôi thấy rằng cần để riêng ra chương đầu để giới thiệu về những cơ sở lý thuyết của chính sách ngôn ngữ và cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo Qua

đó giúp người đọc có thể hiểu được chính sách ngôn ngữ của các nhà nước này là có cơ sở vì nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, điều kiện tự nhiên và xã hội, tộc người

Trang 10

Chương II và chương m là nội dung chính của đề tài Chương II phân tích CSNN của các nhà nước Malaysia, Indonesia, Singapore, Brunei Darussalam và Philippines trong việc lựa chọn, phổ biến và phát triển NNQG Toàn bộ chương III chúng tôi đề cập đến vị trí và vai trò của tiếng Anh đối với đời sống xã hội và văn hoá của nguời dân các nước này, đồng thời tìm ra những lý do cơ bản làm cho tiếng Anh trở thành một trong hai NNQG của Philippines, một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore, ngôn ngữ giáo dục thứ hai của Malaysia và Brunei Darussalam và là ngoại ngữ số một của Indonesia

Phạm vi của đ ề tài chỉ giới hạn nghiên cứu và khảo sát chính sách ngôn ngữ của các nước Đông Nam Á hải đảo từ sau khi giành được độc lập

và triển khai nghiên cứu CSNN ở các nước này trên hai mặt: Chính sách đối

với ngôn ngữ quốc gia và với tiếng Anh

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện dựa vào các phương pháp cụ thể như phân tích

và tổng hợp, đối chiếu và so sánh Phép phân tích giúp chúng tôi hiểu được chính sách ngôn ngữ ở các nước Đông Nam Á hải đảo là có cơ sở vì nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, điều kiện tự nhiên, xã hội và tộc người Dựa trên sự phân tích đó chúng tôi sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh để làm nổi bật vai trò và vị trí của NNQG và ngôn ngữ quốc tế - tiếng Anh

6 Bô'cục:

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận được chia làm 3 chương:

Chương I Cơ sở lý thuyết về chính sách ngôn ngữ và cảnh huống ngôn

ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

Chương II Ngôn ngữ quốc gia và sự lựa chọn của các nhà nước Đông

Nam á hải đảo

Chương III Vị trí và vai trò của tiếng Anh ở các nước Đông Nam Á hải

đảo

Trang 11

B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I

C ơ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ VÀ B ố i CẢNH NGÔN NGỮ Ở CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

1 Cơ sở lý thuyết về CSNN

1.1 K hái niệm:

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của ý thức giác ngộ dân tộc và là đặc trưng của dân tộc Đồng thời ngôn ngữ vừa là phương tiện thống nhất đoàn kết dân tộc, củng cố và phát triển xã hội, tộc người, vừa

là cái phản ánh bảo tồn nền văn hoá dân tộc Đối với người bản ngữ, tiếng mẹ

đẻ được ý thức như là mặt tâm linh, là máu thịt của họ [55, 25], Chính vì vậy, trong các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, đa văn hoá, đa tôn giáo như Malaysia, Indonesia, Singapore, Philipines vấn đề ngôn ngữ và dân tộc bao giờ cũng là vấn đề chính trị xã hội, văn hoá phức tạp và hết sức nhạy cảm, nhất là ở các nước còn có sự bất bình đẳng giữa các dân tộc, các ngôn ngữ, các tôn giáo mà đằng sau nó là xung đột chính trị Việc xây dựng chính sách dân tộc - ngôn ngữ là một trong những vấn đề hàng đầu trong sự phát triển đất nước ở các quốc gia này

CSNN là một trong những bộ phận cấu thành của chính sách dân tộc trong các quốc gia đa dân tộc Chính sách dân tộc bao gồm nhiều mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và bộ phận này có tác động tích cực đến đời sống kinh tế, văn hoá và chính trị của nhân dân CSNN phải phản ánh được nội dung của chính sách dân tộc, giải quyết được những vấn đề ngôn ngữ do nhà nước đặt ra và góp phần thực hiện chính sách dân tộc và các chính sách xã hội khác

Hiện nay trên thế giới, vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo đã và đang là vấn đề nóng bỏng có tính toàn cầu Chính vì vậy, quốc gia nào cũng phải xây dựng cho mình một chính sách thích hợp trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Ngôn ngữ là phương tiện đoàn kết dân tộc, thống nhất đất nước nên đất nước có được ổn định, thống nhất và phát triển hay không phụ thuộc vào

Trang 12

chính sách của nhà nước [54], Trên thế giới đã có nhiều bài học xương máu liên quan đến sự xung đột về dân tộc, về tôn giáo và ngôn ngữ mà chúng ta từng biết.

Vậy CSNN được hiểu như thế nào?

Dưới góc độ xã hội - ngôn ngữ học có thể coi CSNN là một hệ thống các biện pháp (có thể biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật, các đường lối chủ trương, các k ế hoạch, quy chế ) nhằm tác động vào các quá trình phát triển của cảnh huống ngôn ngữ, tạo phương hướng cho ngôn ngữ phát triển phù hợp với các nhu cầu của xã hội [8; 13]

Theo cách hiểu thông thường, CSNN là kế hoạch phát triển ngôn ngữ

có liên quan đến chính sách phát triển tộc người, có liên quan đến chính sách phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của một nhà nước Kế hoạch phát triển ngôn ngữ thường được thể hiện bằng một số biện pháp như: hoạch định NNQG, xây dựng chữ viết cho các dân tộc chưa có chữ viết, xác định và xây dựng ngôn ngữ chuẩn về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và chính tả

Dù nhìn từ góc độ nào, CSNN cũng được ý thức như một bộ phận hay một nội dung trong hệ thống chính sách xã hội của một quốc gia Trong cách hiểu chung nhất, CSNN được hiểu là chủ trương chính trị của nhà nước, chính xác hơn là của giai cấp thống trị nhà nước, một đảng phái hay một tổ chức xã hội và các biện pháp thực hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ theo những mục đich nhất định Tính quy định chính trị là cơ sở để phân biệt và đánh giá tính chất tiến

bộ và phản tiến bộ của CSNN trong các nước có chế độ xã hội khác nhau Nó cũng là chỗ dựa để phân biệt các khái niệm CSNN, xây dựng ngôn ngữ vốn đang được dùng như là các khái niệm đồng nghĩa trong các khuynh hướng ngôn ngữ học xã hội ngày nay

ở đây nảy sinh ra những cách luận giải không giống nhau về bản chất chính trị của CSNN:

a Một số tác giả coi CSNN là một bộ phận hữu cơ trong chính sách dân tộc của một nhà nước, một giai cấp, một đảng phái và coi đó là binh diện ngôn ngữ trong chính sách của nhà nước về vấn để dân tộc Có hai vấn đề cần được làm sáng tỏ:

Trang 13

- Phải chăng CSNN được quy định chỉ bởi chính sách dân tộc và nhằm giải quyết những vấn đề thuộc phạm trù dân tộc?

- Nếu CSNN là một bộ phận hữu cơ của chính sách dân tộc thì có hay không có CSNN trong các quốc gia đơn dân tộc như Triều tiên, Nhật bản, Campuchia ?

Với tư cách là một trong những phương tiện thực hiện chủ trương chính trị của một nhà nước, một đảng phái trong lĩnh vực ngôn ngữ và trong các lĩnh vực hoạt động khác, CSNN có mặt trong tất cả các quốc gia Tuy nhiên như

đã nói ở trên, nội dung của CSNN ở hai loại hình trên không như nhau[47; 68,69]

Ở các quốc gia đơn dân tộc, nhiệm vụ trọng tâm của CSNN là phát triển và hoàn thiện các chức năng xã hội và chuẩn hoá NNQG (cũng đồng thời là ngôn ngữ dân tộc) Còn ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, nội dung, nhiệm vụ và tính chất của CSNN phức tạp hơn rất nhiều Việc giải quyết vấn đề ngôn ngữ ở các quốc gia này gắn liền với hàng loạt vấn đề ngoài ngôn ngữ học như chính trị, xã hội, tâm lý dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng và trực tiếp nhất là vấn đề phát triển nền giáo dục dân tộc, bảo tồn và phát triển văn hoá truyền thống dân tộc

b Có người xem xét CSNN không chỉ trong mối quan hệ với chính sách dân tộc mà còn trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác thuộc phạm vi hoạt động đối nội của nhà nước Quan niệm này phù hợp với thực tế hơn nhưng lại không đủ cơ sở để giải thích nhiều quá trình ngôn ngữ và văn hoá

đã và đang diễn ra ở nhiều nước như quá trình tiêu diệt các ngôn ngữ bản địa, song song với nó là quá trình đề cao địa vị của ngôn ngữ thực dân, biến nó thành công cụ áp bức dân tộc, bành trướng văn hoá, cạnh tranh thị trường của chủ nghĩa Đ ế quốc Mỹ, chủ nghĩa thực dân mới và cũ trên lục địa châu Phi và châu Mỹ la tinh

Sức thuyết phục yếu của các luận giải trên là ở chỗ, các nhà nghiên cứu

đã không nắm lấy đặc trưng cơ bản nhất trong nội dung khái niệm chính sách, trong đó khái niệm CSNN là tính quy định chính trị của nó CSNN được hiểu

là toàn bộ các biện pháp ngôn ngữ cụ thể được thi hành và thực hiện các chủ

Trang 14

trương lý thuyết về phương pháp phát triển ngôn ngữ Như vậy, cần phân biệt trong chính sách ngôn ngữ hai bình diện:

- Chủ trương chính trị

- Các biện pháp để thực hiện chủ trương đó

Chủ trương chính trị làm thành nội dung chính của CSNN và là yếu tố quy định CSNN [39]

Nếu hiểu một cách tường tận hơn, CSNN được hiểu là kế hoạch phát triển ngôn ngữ có liên quan đến kế hoạch phát triển xã hội, tộc người; có liên quan dến chính sách phát triển văn hoá, giáo dục của nhà nước Kế hoạch phát triển ngôn ngữ thường được thể hiện ra bằng một loạt biện pháp như:

1.2 Bản chất và vai trò của CSNN:

Xét về bản chất, CSNN giải quyết các vấn đề sau:

- Quan hệ giữa NNQG và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

- Quan hệ giữa ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ ngoại lai

Trang 15

- Quan hệ giữa ngôn ngữ văn học (bao gồm ngôn ngữ văn hoá, tôn giáo) với ngôn ngữ hàng ngày.

Căn cứ vào khái niệm và bản chất của CSNN, chúng ta có thể khẳng định rằng, CSNN có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia đa dân tộc Mỗi dân tộc muốn phát triển kinh

tế, văn hoá, xã hội thì vấn đề đầu tiên cần lưu tâm là phát triển ngôn ngữ Một CSNN phù hợp không chỉ đảm bảo cho sự ổn định xã hội mà còn thúc đẩy nển kinh tế đất nước phát triển

Với tư cách là một phần của chính sách dân tộc, chịu ảnh hưởng trực tiếp của một chính sách chính trị cũng như đường lối phát triển của quốc gia, CSNN góp phần thực hiện chính sách dân tộc và các chính sách xã hội khác Bất kỳ nhà nước nào muốn duy trì và bảo tồn nền văn hoá dân tộc thì cũng đồng thời phải duy trì chính sách ngôn ngữ dân tộc [9] Với sự nâng cao tính dân tộc, vấn đề ngôn ngữ thường trở thành một trong số các vấn đề chính đối mặt với các phong trào quốc gia

2 Cảnh huống ngôn ngữ các quốc gia Đông Nam Á hải

đảo

2.1 Đặc điểm ngôn ngữ tộc người ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo:

Đông Nam Á hải đảo thường được người ta nhắc đến như một thiên đường của các nhà nhân chủng học bởi sự đa dạng của các tộc người trên khắp các đảo Sự đa dạng đó không chỉ do sự tồn tại của các dân tộc tiêu biểu trong những giai đoạn đầu của lịch sử Đông Nam Á mà nó còn nảy sinh bởi hàng loạt những làn sóng di cư tràn vào Đông Nam Á hải đảo trong quá trình lịch sử Đầu tiên là các yếu tố tộc người Đông dương, sau đó là các yếu tố tộc người Ân độ thâm nhập vào các vùng duyên hải của các đảo phía Tây quần đảo Tiếp đến là những người Hoa, người Ả Rập và cuối cùng là người châu Âu: Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan, M ỹ Những lớp người ngoại kiều này đã góp phần tạo nên nét khá đặc trưng của thành phần tộc người ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

Trang 16

Theo các nhà khoa học, ở Indonexia hiện nay có khoảng trên 200 dân tộc khác nhau nói 200 ngôn ngữ và thổ ngữ Có thể chia các dân tộc này thành 3 bộ phận chính: các dân tộc thuộc chủng tộc Nam đảo chiếm trên 90% dân số; các tộc người Papua cư trú ở Irian Jaya, phía bắc đảo Halmahera, các đảo Alor Pantar; phía đông đảo Timor hình thành nhóm dân cư thứ hai Nhóm thứ ba là các dân tộc có số lượng ít, có nguồn gốc từ nước ngoài (Trung Quốc,

Á Rập, Hà Lan )[32] Mỗi dân tộc đều có những truyền thống văn hoá riêng, chịu ảnh hưởng từ bên ngoài tới với mức độ đậm nhạt khác nhau

Liên bang Malaysia cũng là quốc gia có thành phần dân cư rất phức tạp Do đặc điểm phát triển của lịch sử, dần dần trong thành phần cư dân của Malaysia hình thành nên ba nhóm cộng đồng chính: Cộng đồng người bản xứ (có tên gọi theo tiếng Melayu là Bumiputra) chiếm 60% dân số gồm đa phần

là người Melayu (chiếm trên 47% dân số cả nước) và các tộc người bản địa khác như người Jakun, người Xenoi, Xemang, Kelabit, Katasan, Klemantan Iban ; cộng đồng người Trung Quốc chiếm 31% và cộng đồng người Ân Độ 8% Ba cộng đồng dân cư cơ bản này có vai trò và vị trí khác nhau trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, ngôn ngữ của đất nước Người Melayu nắm giữ vai trò về chính trị còn người Hoa giữ vai trò then chốt nền kinh tế của đất nước Nếu như người Hoa tập trung ở các thành phố, các trung tâm khai thác thiếc; người Ân Độ sống ở các đồn điền cao su phía Tây bán đảo Malacca thì phần lớn người bản địa lại tập trung ở các bang nông nghiệp lạc hậu ở Kedah, Perils, Kalimantan, Trenganu cũng như các vùng nông nghiệp lạc hậu khác ở Sarawak và Sabah [34], Nhưng vấn đề phức tạp không phải vì dân cư ở Malaysia đa sắc tộc mà vì sự đa sắc tộc ở đây rất khác nhau Một mặt có những tộc người cùng thuộc một ngữ hệ, họ được biết đến như những người Bumiputra và có chung một số đặc điểm nào đó: người Melayu, người Jawa, người Iban, người Jakun Mặt khác, các nhóm tộc người có nguồn gốc khác nhau không được xem là người Bumiputra và không mang những đặc điểm chung như: người Ấn Độ, người Trung Quốc, người Hà Lan Ngoài những nhóm dân tộc chính này, ở biên giới giáp Thái Lan có khoản gần 30.000 người Thái sinh cơ lập nghiệp ở đó Ở các thành phố ven biển của Malacca có người Ả Rập, người Bồ Đào Nha, người Apganixtan Ở Kuala Lumpur có khoảng 1000 người Nhật sinh sống Những người Anh cũng cư trú ở những khu vực có đồn điền Ngôn ngữ thân thuộc của họ là tiếng Anh Nhìn chung,

Trang 17

toàn bộ người châu Âu đều là cư dân của những thành phố lớn và những khu công nghiệp phát triển.

Do có diện tích nhỏ và dân số ít hơn nên Singapore và Brunei Darussalam không có nhiều dân tộc như Indonesia và Malaysia Ba cộng đồng chính ở Singapore là người Hoa (76%), người Melayu (15%) và người

Ân Độ (7%), các dân tộc khác chỉ chiếm 2-3% dân số [31] Nếu người Hoa không chỉ chiếm số lượng lớn về dân số mà còn có một vai trò chính yếu trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở Singapore thì ở Brunei Darussalam vai trò lãnh đạo đất nước lại thuộc về cộng đồng người Melayu - chiếm 60% dân số cả nước Ngoài ra, các dân tộc khác ít nhiều có ảnh hưởng đối với đời sống xã hội của các quốc gia này

Là một quốc gia tương đối lớn ở khu vực Đông Nam Á hải đảo, Philippines cũng là nước đa dân tộc với gần 100 tộc người Có thể chia các dân tộc ở quốc gia này thành hai nhóm lớn: các dân tộc đồng bằng và các dân tộc thiểu số ở miền núi Lớn nhất trong các dân tộc đồng bằng là người Tagan (21%), nhóm tộc người Sêbuano, Hiligaion, M asbate hay còn gọi chung là Vixaian (41%); người Ilocano (10,3%); Bicol (5,6%); các bộ tộc theo đạo Hồi

ở phía nam chiếm 6-7% [33] Các dân tộc ở miền núi thường có số dân ít hơn

50 vạn người, chủ yếu sống ở vùng núi cao và những đảo nhỏ như Moror, Xulu, M aghida Ngoại kiều chủ yếu ở Philippines là người Trung Quốc và người Mỹ Họ sống tập trung ở Manila và một số trung tâm buôn bán khác.Những cuộc di dân thường xuyên trong lịch sử cộng với sự phong phú của các dân tộc bản địa đã làm cho bức tranh tộc người ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo vốn đã phong phú lại càng trở nên muôn màu, muôn vẻ Đa dân tộc kéo theo sự đa dạng về ngôn ngữ Đó chính là nguyên nhân làm cho cảnh huống ngôn ngữ ở các nước Đông Nam Á hải đảo trở nên vô cùng phức tạp và làm cho các nhà hoạch định CSNN ở các quốc gia này gặp rất nhiều khó khăn

2.2 Cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo

Cảnh huống ngôn ngữ là các chức năng và các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ, liên quan chặt ch ẽ với các điêu kiện x ã hội, kinh tế, văn hoá,

x ã hội của một đất nước Nếu hiểu như vậy thì cảnh huống ngôn ngữ ở các

Trang 18

nước này đều có những đặc điểm chung Đó là, một quốc gia bao gồm nhiều ngôn ngữ và một ngôn ngữ có thể được phân bố ở nhiều quốc gia Thêm vào

đó, các quốc gia này không chỉ có các ngôn ngữ bản địa mà còn có các ngôn ngữ nước ngoài, chúng được du nhập vào Đông Nam Á bằng nhiều con đường khác nhau và mức độ ảnh hưởng của chúng cũng khác nhau ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử

Hầu hết các ngôn ngữ bản địa của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo đều thuộc ngữ hệ Nam đảo hay còn gọi là Mã Lai Đa Đảo Ngữ hệ này gồm 4 nhóm nhỏ: Malaynesia, Polynesia, Micronesia và Indonesia Do tiếp xúc với các ngôn ngữ Châu Đại Dương (Australoid) nên đặc điểm chính của ngữ hệ này là phát triển phương pháp phụ tố theo chiều hướng đa tiết, chắp dính, không biến hình Nhóm Indonesia gồm rất nhiều ngôn ngữ nhung hai ngôn ngữ lớn nhất và có số người sử dụng đông nhất là tiếng Melayu và tiếng Tagalog Tiếng Melayu với hơn 200 triệu người sử dụng ở 4 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei Darussalem và đã trở thành ngôn ngữ quốc gia ở các quốc gia này Tuy cùng là tiếng Melayu nhưng do điều kiện phát triển và

tiếp xúc văn hoá khác nhau mà chúng đã có sự khác biệt ít nhiều Tiếng

Melayu ở Indonesia được gọi là tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia), à Malaysia được biết đến với tên là tiếng Malaysia (Bahasa Malaysia), còn ở Singapore và Brunei Darussalem được gọi là tiếng Melayu (Bahasa Melayu) Trong khi đó ở Philippines, tiếng Tagalog được khoảng 50 triệu người sử

dụng [1, 112-113] và được công nhận là ngôn ngữ quốc gia của Philippines và

có tên gọi là tiếng Piìippino

Ngoài ra còn có hàng trăm ngôn ngữ của các tộc người khác như tiếng Jawa, tiếng Sundan, tiếng Iloca, tiếng Panganpin

Các ngôn ngữ nước ngoài du nhập vào các quốc gia Đông Nam Á hải đảo chủ yếu là tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Hà Lan, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ả R ập Trong số các ngôn ngữ ngoại nhập này thì tiếng Anh có vai trò quan trọng nhất, sau đó là tiếng Trung Quốc và tiếng

Ấn Độ Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thứ hai ở Philippines, ngôn ngữ chính thức ở Malaysia, Singapore và Brunei Darussalem và là ngoại ngữ

số một ở Indonesia Tiếng Trung Quốc thuộc về cộng đồng người Hoa Đây là một cộng đồng lớn, phân bô' hầu hết ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo nhưng tập trung chủ yếu ở Singapore (76,1% dân số), ở Malaysia (31% dân

17

OA H O C G IA HA N Ó I T7U N ĩ T‘ - r : t in 7 1ÉN

Trang 19

nước này đều có những đặc điểm chung Đó là, một quốc gia bao gồm nhiều ngôn ngữ và một ngôn ngữ có thể được phân bố ở nhiều quốc gia Thêm vào

đó, các quốc gia này không chỉ có các ngôn ngữ bản địa mà còn có các ngôn ngữ nước ngoài, chúng được du nhập vào Đông Nam Á bằng nhiểu con đường khác nhau và mức độ ảnh hưởng của chúng cũng khác nhau ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử

Hầu hết các ngôn ngữ bản địa của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo đều thuộc ngữ hệ Nam đảo hay còn gọi là Mã Lai Đa Đảo Ngữ hệ này gồm 4 nhóm nhỏ: Malaynesia, Polynesia, Micronesia và Indonesia Do tiếp xúc với các ngôn ngữ Châu Đại Dương (Australoid) nên đặc điểm chính của ngữ hệ này là phát triển phương pháp phụ tố theo chiều hướng đa tiết, chắp dính, không biến hình Nhóm Indonesia gồm rất nhiều ngôn ngữ nhưng hai ngôn ngữ lớn nhất và có số người sử dụng đông nhất là tiếng Melayu và tiếng Tagalog Tiếng Melayu với hơn 200 triệu người sử dụng ở 4 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei Darussalem và đã trở thành ngôn ngữ quốc gia ở các quốc gia này Tuy cùng là tiếng Melayu nhưng do điều kiện phát triển và

tiếp xúc văn hoá khác nhau mà chúng đã có sự khác biệt ít nhiều Tiếng

Melayu ở Indonesia được gọi là tiếng Indonesia (Bahasa Indonesia), ở Malaysia được biết đến với tên là tiếng Malaysia (Bahasa Malaysia), còn ở Singapore và Brunei Darussalem được gọi là tiếng Melayu (Bahasa Melayu) Trong khi đó ở Philippines, tiếng Tagalog được khoảng 50 triệu người sử

dụng [1, 112-113] và được công nhận là ngôn ngữ quốc gia của Philippines và

có tên gọi là tiếng Pilippino

Ngoài ra còn có hàng trăm ngôn ngữ của các tộc người khác như tiếng Jawa, tiếng Sundan, tiếng Iloca, tiếng Panganpin

Các ngôn ngữ nước ngoài du nhập vào các quốc gia Đông Nam Á hải đảo chủ yếu là tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Hà Lan, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ả R ập .Trong số các ngôn ngữ ngoại nhập này thì tiếng Anh có vai trò quan trọng nhất, sau đó là tiếng Trung Quốc và tiếng

Ấn Độ Tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thứ hai ở Philippines, ngôn

ngữ chính thức ở Malaysia, Singapore và Brunei Darussalem và là ngoại ngữ

số một ở Indonesia Tiếng Trung Quốc thuộc về cộng đồng người Hoa Đây là một cộng đồng lớn, phân bố hầu hết ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo nhưng tập trung chủ yếu ở Singapore (76,1% dân số), ở Malaysia (31% dân

17

Đ A I H O C r i J O C G I A H A r i ò l Tf?IJNG TÁỊVỊ t h o n g t i n t h ự v i ề n

Trang 20

số), ở Brunei Darussalem (22,5% dân số) Họ là những người nắm vị trí then chốt trong nền kinh tế nên tiếng Trung Quốc có ảnh hưởng khá mạnh mẽ ở các quốc gia này Tiếng Tamil không có vai trò và ảnh hưởng lớn như tiếng Anh và tiếng Trung Quốc Tiếng Tamil là ngôn ngữ tiêu biểu của cộng đồng người An Độ mà cộng đồng người Ân Độ có số lượng không lớn bằng cộng đồng người Melayu và người Hoa Hơn nữa, vai trò kinh tế và chính trị của họ cũng không quan trọng và lớn mạnh bằng Tiếng Ả Rập cũng chỉ là ngôn ngữ tôn giáo của các tín đồ theo đạo Hồi ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo Các thứ tiếng nước ngoài khác cũng chỉ là dư âm của thời kỳ thực dân.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, cảnh huống ngôn ngữ ỏ các quốc

gia Đông Nam Ả hải đảo vô cùng phức tạp, nhưng chúng ta có th ể thấy có 3 loại cảnh huống cơ bản tồn tại:

Loại 1 : Cảnh huống ngôn ngữ ở những quốc gia mà ngôn ngữ giao tiếp giữa các tộc người trùng với ngôn ngữ của một trong các tộc người lớn nhất

Đó là cảnh huống ngôn ngữ của Malaysia và Brunei Darussalam.

Loại 2: cản h huống ngôn ngữ ở những quốc gia là một ngôn ngữ thiểu

s ố giữ vai trò là công cụ giao tiếp giữa các tộc người Đó là cảnh huống ngôn ngữ ở Indonesia và Philippines.

Loại 3: Là cảnh huống ngôn ngữ của Singapore Ngôn ngữ giao tiếp giữa các tộc người không phải là một ngôn ngữ bdn địa mà là ngôn ngữ Châu Ầu.

Trên cơ sở của 3 loại cảnh huống cơ bản đó, chúng ta hãy cùng tìm hiểu cảnh huống ngôn ngữ cụ thể ở từng quốc gia này

2.2.1 Malaysia là một quốc gia, một x ã hội sử dụng nhiều ngôn ngữ.

Theo Asmah Haji Omar - nhà ngôn ngữ học xã hội nổi tiếng của Malaysia thì số lượng ngôn ngữ của nước này chỉ đứng ở vị trí sau "lượng ánh nắng của Malaysia" Cho đến nay cũng chưa có con số chính xác về số lượng ngôn ngữ danh hiện diện trên đất nước này, nhưng người ta ước tính "khoảng

80 ngôn ngữ" [60; 17] Con số này là chưa kể đến các tiếng nước ngoài như Pháp, Đức, N h ật đang được dạy ở các trường phổ thông, đại học và Viện kỹ thuật Mata ở Malaysia Ở đây chúng ta chỉ xét tới tiếng Melayu (Bahasa

Trang 21

Melayu), các ngôn ngữ bản xứ và không thuộc bản xứ như tiếng Anh, tiếng Ả Rập, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Thái, tiếng N hật Ngoài ra còn có các ngôn ngữ phức hợp như ngổn ngữ kết hợp giữa tiếng Trung Hoa - Mã Lai, tiếng Bồ Đào Nha - Mã Lai Theo nhiều nhà nghiên cứu, con số 80 ngôn ngữ là một sô' lượng đã cũ, đặc biệt là khi tính tới ngôn ngữ vùng Sawah và Sarawak.

Hệ thống đa ngữ của Malaysia ra đời là kết quả của rất nhiều sự kiện và quá trình phát triển Trước khi có những cuộc di cư của những người Nam Á thì đất nước này đã sử dụng nhiều ngôn ngữ Thậm chí, trước khi có sự xâm nhập của tiếng Ả Rập, tiếng Trung Quốc, tiếng Ấn Đ ộ thì bán đảo Mã Lai

đã là "ngôi nhà chung của vô số ngôn ngữ bản địa" [63, 25] Thực sự Malaysia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các ngôn ngữ này Ở những khu vực hẻo lánh hay vùng cao, vẫn còn tồn tại các thứ tiếng của người Orang Asli (tức là thổ dân M ã Lai) Ngày nay chỉ còn khoảng hơn 20 bộ tộc nhưng có thể trước đây con số đó lớn hơn rất nhiều Hệ thống ngôn ngữ bản địa của Malaysia được tăng lên vào năm 1963 khi mà Sabah và Sarawak sát nhập với Malaysia để hình thành nên nhà nước Malaysia bây giờ Hai bang này đã trở thành ngôi nhà chung của rất nhiều ngôn ngữ không đồng nhất Chúng cùng với các ngôn ngữ Melayu và Orang Asli đã hình thành nên hệ thống đa ngữ ở Malaysia [48], Sự phát triển của hệ thống đa ngữ này là kết quả của một quá trình mang tính lịch sử

Có thể nói rằng, khu vực hình thành nên Malaysia ngày nay đã tồn tại rất nhiều cộng đồng nói các ngôn ngữ không đồng nhất trước khi có người nước ngoài vượt biển đến định cư ở đây Nhưng, phải nói rằng sự có mặt của các dân tộc mới đã làm tăng thêm mức độ đa ngữ ở quốc gia này Theo

nghiên cứu của chúng tôi, sự xâm nhập của các ngôn n g ữ nước ngoài vào

Malaysia rất da dạng nhưng chủ yếu là qua 3 con đường [65,25];

2.2.1.1 Sự thâm nhập ngôn ngữ vào Malaysia qua con đường tôn giáo.

Đó là trường hợp của tiếng Ả Rập

Đạo Hồi du nhập vào Malaysia từ rất sớm và cho đến thế kỷ 15 Hồi giáo đã chiếm địa vị bá chủ, được công nhận là quốc giáo ở đất nước này Cho đến nay, gần như toàn bộ người Melayu theo đạo Hồi, chiếm 1/2 dân số cả nước

Trang 22

Tiếng Á Rập đến Malaysia thông qua đạo Hồi, là phương tiện để truyền

bá đạo Hồi, thông qua các thầy tu và các trường truyền giáo thường được gọi

là Suro, Pondok hay Madrasah Do đó những gì được dạy cho người Melayu chỉ là thứ ngôn ngữ trong các cuốn kinh, là thứ ngôn ngữ Ả Rập cổ điển chứ không phải là tiếng Ả Rập mà người Ả Rập giao tiếp hàng ngày Ngoài ra, mục đích chính của việc học tiếng Ả Rập là để hiểu kinh Cô ran, kinh thánh Mohamed và tất cả những lời giáo huấn của Đạo Hồi Đó là lý do giải thích tại sao mà phương pháp giáo dục theo kiểu "Pondok" đã không tạo ra được một cộng đồng nói tiếng Ả Rập như là một ngôn ngữ thứ hai, mặc dù

"Pondok" đã có một quá trình lịch sử khá dài Thêm vào đó, ngay từ khi thâm nhập vào Malaysia, tiếng Ả Rập luôn được người Malaysia sùng kính nhưng

nó chưa bao giờ chiếm vị trí cao mà luôn bị đẩy vào vị trí không quan trọng

Vì những lý do đó mà việc dạy tiếng Ả Rập không bao giờ làm cho nó trở thành ngôn ngữ giao tiếp một cách đầy đủ và phổ biến trong xã hội Malaysia

nghĩa đ ế quốc: Đó là trường hợp của tiếng Xiêm hay tiếng Thái, tiếng Bồ Đào

Nha và tiếng Anh

Ảnh hưởng của giới quân phiệt Thái Lan đối với vùng Kedah (bao gồm

cả vùng Perlis) có thể thấy qua sự có mặt của cộng đồng nói tiếng Thái ở vùng bắc Kedah Ngay từ thế kỷ 19, phái quân phiệt Thái Lan đã dùng chính sách Đại Thái tộc để mở rộng lãnh thổ sang các nước khác Kết quả của chính sách Đại Thái Tộc làm cho một số người không thuộc hệ Thái như môn Khơmer, Hán, M elayu bị Thái hoá Chính điểu này đã lý giải được sự có mặt của cộng đồng nói tiếng Thái ở vùng Kedak Theo sô' liệu thống kê năm

1970, con số người Thái sống ở giáp biên giới Thái Lan là khoảng 25.000 người

Không như tiếng Ả Rập, tiếng Thái đã đôi lần đạt được vị trí cao, mặc

dù chỉ giới hạn ở bang Kedah Ở bang này, tiếng Thái đã từng là ngôn ngữ của Hoàng gia, bởi vì trước đây Kedah là chư hầu của Xiêm và thời kỳ đó có một mối quan hệ khá gẩn gũi giữa hoàng tộc Xiêm với hoàng tộc Kedah

Thực dân Bồ Đào Nha đã để lại dấu vết về ngôn ngữ dưới dạng một thứ tiếng pha với tiếng Bồ Đào Nha ở Malacca Mặc dù có mặt ở Malaysia trước người Anh nhưng người Bồ Đào Nha đã không có những ảnh hưởng tương tự

Trang 23

như ảnh hưởng của người Anh với tiếng Anh - thứ tiếng mà sau này trở thành một di sản có giá trị của người Malaysia Điều này là do phương thức cai trị của hai đ ế quốc này có sự khác nhau Người Bồ Đào Nha đến Malacca, tiến hành chiến tranh và phế truất đế vương Sultan Họ là những kẻ đi chinh phục theo đúng nghĩa của nó Họ không có ý định giáo dục người dân đi theo những mục tiêu của họ Mặc dù người Bồ Đào Nha đã truyền bá đạo Thiên chúa, đặc biệt là cơ đốc giáo La Mã nhưng nển giáo dục phổ thông không đi theo trật tự của thời đại Vì vậy, tiếng Bồ Đào Nha không thể có địa vị vững chắc ở Malacca [61; 78-79].

Vào thời kỳ hoàng kim của đế quốc Bồ Đào Nha ở Malacca, tiếng Bồ Đào Nha chắc hẳn được sử dụng trong nội bộ giai cấp thống trị Ngày nay ở Malacca, chỉ có những người được gọi là "hậu duệ của người Bồ Đào Nha" - những người có mang một chút gốc gác của người Bồ Đào Nha mới nói thứ tiếng có pha tiếng Bồ

Trong số thực dân phương Tây đến Malaysia thì thực dân Anh xuất hiện muộn màng hơn cả Tuy vậy kẻ đến sau này lại là kẻ thống trị lâu nhất

và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Malaysia

Ngay từ ban đầu, tiếng Anh đã chiếm địa vị độc tôn Để làm được điều này, người Anh đã rất khôn khéo trong việc đưa ngôn ngữ thống trị của mình vào mọi tầng lớp nhân dân mà thiết thực nhất là hệ thống giáo dục ở Malaysia Chính điều này tiếng Ả Rập, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hà Lan không làm được

Với hệ thống trường công dạy bằng tiếng Anh được coi như là một thứ mốt, họ còn lập ra các trường học dành riêng cho nam và nữ và thông qua các trường này một tầng lớp người Mã Lai nói tiếng Anh ra đời Không những vậy, người Anh còn trợ cấp toàn phần cho con cháu của Hoàng gia được sang Anh học Trao học bổng ở mức rất hạn chế cho các học sinh ưu tú ở các trường công, khuyến khích họ vào học các trường cao cấp hơn ở Anh Chỉ với nền giáo dục bằng tiếng Anh, người dân thuộc mọi chủng tộc mới có thể hy vọng kiếm được một vị trí làm việc với mức lương cao của chính phủ [58, 112-115] Tất cả những điểu này đã đóng góp vào việc làm cho tiếng Anh trở thành một ngôn ngữ có vị trí quan trọng ở Malaysia

Trang 24

Những năm gần đây, chính phủ Malaysia đã đưa ra nhiều chính sách giáo dục mới, trong đó tiếng Anh có một vị trí quan trọng trong nền giáo dục Bên cạnh đó, người dân Malaysia cũng ý thức được rằng, thành thạo tiếng Anh sẽ cho phép họ tham gia vào ba vòng văn hoá: văn hoá thế giới, văn hoá khu vực, văn hoá bản địa.

2.2.1.3 Sự thâm nhập của các ngôn ngữ vào Malaysia qua con đường

di cư:

Một nhân tố đóng góp vào sự đa dạng ngôn ngữ của Malaysia là quá trình di cư của các cộng đồng nước ngoài mà chủ yếu là người Trung Quốc và người An Độ Các ngôn ngữ này thâm nhập vào bán đảo Malacca nhiều nhất

là vào đẩu thế kỷ 19 và đặc biệt là khi các mỏ khai thác thiếc và đồn điền cao

su phát triển thì sự di cư đó ngày càng ồ ạt hơn Cho đến nay, hai cộng đồng này chiếm tới gần 50% dân số và có một vai trò rất lớn trong sự phát triển của đất nước

Những người Ấn Độ đầu tiên tới bán đảo Malacca là những nhà truyền đạo để truyền bá đạo Hindu Số lượng của những người này rất ít so với những người An Độ tới Malaysia sau này Khi đã định cư trên bán đảo, họ đã lấy những người dân địa phương và bị đồng hoá vào xã hội Malaysia Và cho đến nay, không còn thấy một cộng đồng nào ở bán đáo Malacca có các thành viên

là hậu duệ của những nhà truyền bá đạo Hindu thuở ban đầu

Phần lớn người Ấn Độ ở Malaysia nói bằng tiếng Tamil (chiếm gần 90%) Các thứ tiếng Ân Độ khác như tiếng Benggali, Hindi, Punjabi, Tegalu

và Malayaham chiếm một số lượng quá nhỏ trong tổng số dân cư Ân Độ ở Malaysia nên không có vai trò gì đáng kể Có chăng chỉ là ngôn ngữ giao tiếp giữa những nhóm người này với nhau

Cuộc tổng điều tra năm 1980 cũng cho thấy, dường như chỉ có người

Ân Độ mới nói tiếng Tamil, các cộng đồng dân tộc khác không học ngôn ngữ này Đối với người Ân Độ, tiếng Tamil là ngôn ngữ được học đầu tiên vì nó là ngôn ngữ giao tiếp chính không chỉ trong gia đình, với hàng xóm, tại nơi làm việc và ở các cuộc họp chính trị Cộng đồng người An Độ một mặt phải trung thành vói tiếng mẹ đẻ, mặt khác phải thành thạo ngôn ngữ quốc gia để đáp ứng những nhu cầu về giáo dục và kinh tế Đồng thời phải học tiếng Anh với

Trang 25

tư cách là ngôn ngữ giáo dục Người Ấn Độ rất có ý thức thích nghi điều này

Vì vậy, nhìn chung những người Ấn Độ ở Malaysia biết sử dụng các thứ tiếng: tiếng Ân Độ (chủ yếu là tiếng Tamil), tiếng Anh, tiếng Melayu và một

số người biết tiếng Trung Quốc

Đa số ngưòi Hoa đến Malaysia là cư dân của các tỉnh phía Nam Trung Quốc Cư dân người Hoa không đồng nhất và tách ra thành các nhóm phương ngữ Mỗi nhóm khác biệt với nhóm khác về đặc điểm ngôn ngữ, tập tục, thói quen Các ngôn ngữ chính của nhóm này là Phúc Tân, Quảng Đông, Khácca, Bắc Kinh, Hồ Kiến, Hải N am Nhìn chung ở Malaysia chúng được gọi là tiếng "Quan hoả" Nếu gạt bỏ sự khác biệt của các phương ngữ thì cộng đồng người Hoa đều giữ nguyên thói quen, tập tục và nền văn hoá của mình

Cũng như người Ấn Độ, người Hoa sử dụng ít nhất 3 thứ tiếng: tiếng Trung Quốc (đa số là các tiếng địa phương Quảng Đông, Phúc Tân, tiếng Bắc Kinh địa phương tiếng Anh và tiếng Melayu (đa số thuộc dạng nghe nói) Chỉ có một số lượng rất nhỏ người Hoa không có khả năng giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ Trong số này phải kể đến nhóm người "Baba" và những người đã chấp nhận tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất [59; 56-57] Một số dân tộc khác (không phải người Hoa) cũng có khả năng sử dụng tiếng Trung Quốc, có thể

kể ra người Melayu, người Ân Độ và các tộc người bản xứ khác như người Iban, Melaynau, Bidayuh

Thế kỷ 19 là thời kỳ có những thay đổi lớn trong các ngôn ngữ ở Malaysia Đó là sự xuất hiện của rất nhiều các thứ tiếng khác nhau, bao gồm tiếng Anh, tiếng Tamil và các thứ tiếng Ân Độ, tiếng Thái, tiếng Hán, tiếng Ả Rập, tiếng Bồ Đào N ha và đây cũng là thời kỳ ổn định của các ngôn ngữ này ở các khu vực địa lý khác nhau ở Malaysia Tuy nhiên sự thay đổi này vẫn còn tiếp tục ở thế kỷ 20

* Các nhánh ngôn ngữ ở Malaysia:

Như trên đã trình bày, các ngôn ngữ bản xứ hình thành nên nhánh ngôn ngữ cơ bản trong toàn bộ hệ thống đa ngữ ở Malaysia Các ngôn ngữ đến sau này như tiếng Anh, tiếng Tamil, tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Ả Rập tạo nên nhánh thứ cấp mới hơn Tuy nhiên, các ngôn ngữ này không được xác nhận như một thứ ngôn ngữ đồng nhất [47; 45-46]

Trang 26

N h á n h chính:

Các ngôn ngữ thuộc chi nhánh phía Tây Indonesia là nhánh ngôn ngữ

có số đông người sử dụng nhất Thuộc chi nhánh này người ta hay kể đến tiếng Melayu và hiện nay không chỉ là ngôn ngữ quốc gia của Malaysia mà còn của 3 nước: Indonesia, Brunei Darussalam và Singapore

Thuộc nhóm này ở Malaysia, tiếng Melayu có số lượng đông hơn cả và giữ vai trò chủ đạo Khoảng 75% - 80% số người thuộc nhóm này nói các tiếng địa phương thuộc ngữ hệ Malayo-Polynedine

Các ngôn ngữ khác của nhóm này như tiếng Dayak, Iaval,

M inangkabau Các ngôn ngữ ở các quần đảo Nam Thái Bình Dương như tiếng Jawa xuất phát từ đảo Jawa, tiếng Achehn, Minang, Mandailing từ Sumatra Những người nói tiếng Minang đã đến định cư với số lượng rất đông

ở Nigeri Sembilan vào thế kỷ thứ 18 Một số cộng đồng người Indonesia khác đến đây muộn hơn rất nhiều, vào khoảng thế kỷ thứ 19 [63;27] Ngày nay các thứ tiếng của họ là dấu hiệu riêng cho từng khu vực như tiếng Jawa ở Pontian,

tiếng Johor ở Selangor, tiếng Achehn ở Kedah và tiếng Mandailing ở Gopeng,

Perak

N h á n h p h ụ : Bao gồm 6 nhóm ngôn ngữ

a Các ngôn ngữ Ấ n - Ầ u (Indo-Europear): Đa số các đại diện của nhóm

này nói tiếng Anh và một phần nhỏ là tiếng Bồ Đào Nha, Hà Lan, Đ ức

b Các tiếng địa phư ơng của tiếng Hán: Bao gồm các phương ngữ của

tiếng Hán như tiếng Quảng Đông, Phúc Tân, Bắc Kinh, Hải Nam, Hồ Kiến, Khacca

c Các ngôn ngữ Đ ravit Ngôn ngữ chính của nhóm này là tiếng Tamil

(chiếm 90% cư dân Ấn Độ nói ngôn ngữ này) Ngoài ra còn có tiếng Tegalu, Malayaham

d Các ngôn n g ữ Â n - Iran (Indo-Aryan) như tiếng Benggali, Hindi

và tiếng Punjabi

e Nhóm ngôn ngữ Sematic mà đại diện là tiếng Ả Rập - ngôn ngữ

truyền bá đạo Hồi

Trang 27

f T iếng Thái với khoảng 25.000 người nói.

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, nhánh chính là ngôn ngữ của các dân tộc bản địa (Bumiputra) chiếm 58% dân số Trong đó, tiếng Melayu với người Melayu chiếm đa số Nhánh phụ là ngôn ngữ của các cộng đồng nhập

cư, có tiếng mẹ đẻ là các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ khác, với vị trí số một thuộc

vê người Hoa (hơn 30% dân số) và cộng đồng đông đúc tiếp theo là người Ân

Độ (chiếm khoảng 10% dân số) Nhưng so với thực tế hoạt động của các ngôn ngữ, cảnh huống ngôn ngữ của Malaysia phức tạp hơn nhiều Trước đây, nhà ngôn ngữ học xã hội Asmah Haji Omar [63; 12] đã ví hệ thống đa ngữ ở Malaysia như "một tác phẩm nghệ thuật làm bằng đồ khảm", nhưng giờ đây

bà lại thấy "tác phẩm bằng khảm" không tương ứng với bức tranh đa ngữ ở Malaysia Và thật không khôi hài tý nào khi bà so sánh hệ thống đa ngữ ở Malaysia với các tác phẩm in bằng phương pháp Batik Tranh Batik có một họa tiết cơ bản, xung quanh là các họa tiết phụ Bằng phương pháp in Batik, hoa văn xuất hiện đầu tiên trên nền vải trắng là họa tiết cơ bản, tiếp đó là hoa văn phụ họa Các bức tranh in theo kiểu Batik sẽ thay đổi theo thời gian Có những hoạ tiết sẽ to ra và một số khác thu hẹp lại Một số hoạ tiết di chuyển trên nền vải, trong khi một số khác lại cố định chỉ ở một góc Nó cũng giống như các ngôn ngữ có ở Malaysia Một số ngôn ngữ như tiếng Melayu, tiếng

A nh mở rộng phạm vi sử dụng; một số ngôn ngữ khác như tiếng Thái, tiếng

Bồ Đào Nha và ngôn ngữ các dân tộc thiểu s ố thu hẹp số người sử dụng, một phần là bị đồng hoá vào cộng đồng người Mã Lai [60; 10] Bên cạnh các ngôn ngữ chuẩn mực, Malaysia tồn tại rất nhiều ngôn ngữ khẩu ngữ, ngôn ngữ chợ búa trong giao tiếp như: tiếng Melayu bồi, tiếng Melayu chợ búa, tiếng Anh Bồi, tiếng Quảng Châu bồi, tiếng Hồ Kiến bồi Ngoài ra còn có những ngôn ngữ hỗn tạp, pha trộn giữa tiếng Trung Hoa - Melayu, tiếng Bồ Đào Nha - M elayu

Các số liệu điều tra cho thấy, ở một mức độ nào đấy người Malaysia là những người sử dụng nhiều thứ tiếng nhất, ít nhất cũng là song ngữ Đa số người không thuộc dân tộc Melayu đều sử dụng hai ngôn ngữ vì ngoài tiếng bản xứ bắt buộc phải học, họ đồng thời còn biết nói tiếng mẹ đẻ của mình Với hệ thống giáo dục mà bắt buộc phải học tiếng Anh, họ trở thành người biết nói ba thứ tiếng Một số người Ân Độ còn sử dụng được tiếng Hán

Trang 28

Còn về phía ngưcd Melayu, vì trên thực tế ngôn ngữ của họ đã là phương tiện giao tiếp chính thức và là ngôn ngữ quốc gia nên một số đông người Melayu thấy không cần thiết phải học một thứ tiếng khác Mặc dù tiếng Anh chính thức là ngôn ngữ thứ hai nhưng một số người chỉ coi đó là môn học bắt buộc ở nhà trường chứ không phải là ngôn ngữ buộc họ phải trau dồi thêm Nhưng có thể nói rằng, hầu hết người Melayu sử dụng ít nhất là song ngữ: tiếng Melayu và tiếng Anh.

như Malaysia, thậm chí là đơn giản nhất so với cảnh huống ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo, mặc dù cùng thuộc nhóm có cảnh huống ngôn ngữ là ngôn ngữ giao tiếp giữa các tộc người trùng với ngôn ngữ của một trong những tộc người lớn nhất

Đ ất nước Brunei gồm ba nhóm người chủ yếu :

Người M elayu, chủ nhân của đất nước và cũng chiếm sô'dân đông nhất (55% dân số) Nhóm dân cư này giữ vai trò lãnh đạo đất nước, giữ những

chức vụ chính trong bộ máy chính quyền Họ định cư chủ yếu ở các thành phố và dọc theo miền duyên hải Brunei, thường là những người làm nghề nông, nghề thủ công, tiểu thủ công, đánh cá

Cộng đồng người Trung Quốc sinh sống chủ yếu trong các thành phố

và các vùng ngoại ô, chiếm khoảng 26% dân số Họ thường là những thương gia, những chủ xí nghiệp vừa và nhỏ, những nhà tiểu thủ công nghiệp và một

số công nhân lành nghề Cộng đồng người nước ngoài sinh sống ở Brunei còn phải kể đến người Ấn Độ và người Anh Họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số dân cư ở Brunei

N h óm các tộc người bản địa nói các thứ tiếng hệ Nam Đảo Có một số

nhỏ cộng đồng sống rải rác ở những vùng ven biển là người Kedayans và người Bisaya (5%) Ngoài ra còn có một số tộc người Dayak ở Kalimantan sinh sống ở Brunei, phần lớn là những tộc người thiểu số sống ở các đảo bao

gồm những người Dasun (5%), người Iban (4%), người Melanau (1%) và

người Murut (1%) Họ thường làm những nghề như đánh cá, săn bắn, làm ruộng và thợ rừng [7; 14]

Trang 29

Bảng: Tỷ lệ các dân tộc trong dân số Brunei.

là của Indonesia và Philippines, đó là một ngôn ngữ thiểu số giữ vai trò là

công cụ giao tiếp giữa các tộc người và được công nhận là ngôn ngữ quốc gia của đất nước

Đất nước của hon 13.000 hòn đảo, với số dân hơn 200 triệu người không chỉ là đất nước đa đảo mà còn là đất nước đa dân tộc Theo các số liệu khác nhau khoảng 100 đến 350 tộc người khác nhau sinh sống trên đất nước Indonesia Mặc dù vậy, đa số các tộc người có quan hệ gần gũi, thân thuộc về mặt ngôn ngữ, văn hoá, sinh hoạt Người dân bản xứ là những tộc người thuộc chủng tộc Nam Á, chủ yếu nói các thứ tiếng và thổ ngữ thuộc ngữ hệ Malayu- Polynesia, chiếm trên 90% dân số đất nước

Trang 30

Indonesia h ình thành nên ba nhóm lớn các dàn tộc:

N h óm th ứ n hấ t thường được người ta nhắc đến với tên gọi là "người

Indonesia" bao gồm 5 dân tộc lớn: người Giava, Sunda, Madura, Minagkabau

và người Melayu Nhóm này chiếm gần 3/4 dân số của đất nước, sinh sống

chủ yếu trên đảo Giava, đảo Sumatra và vùng duyên hải đảo Kalimantan

Nhóm dân cư thứ hai là các tộc người Papua, cư trú ở Iran-Giaya,

phía bắc đảo Halmahera, các đảo Alor và Pantar, phía đông đảo Timor vàcác vùng đông đảo Kisar

N h óm th ứ ba là các cộng đồng có nguồn gốc từ nước ngoài Cộng

đồng người Trung Quốc chiếm vị trí số một, sau đó là người Ấn Độ Ngoài ra còn có một số người Anh, người Ả Rập, người Hà L an Họ sinh sống chủ yếu ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp phát triển

Đặc trưng của bức tranh ngôn ngữ hiện đại ở Indonesia cho ta thấy rằng: một mặt vẫn hiện diện một số lượng lớn những ngôn ngữ, phương ngữ ở những cấp độ phát triển khác nhau của những nhóm dân tộc bản địa khác nhau, mặt khác là vai trò đặc biệt của Bahasa Indonesia như một NNQG hay ngôn ngữ phổ thông Ngoài ra, đó còn là sự tồn tại của những ngôn ngữ thuộc nhóm người nhập cư như tiếng Anh, tiếng Hà Lan, tiếng Trung Quốc, các thứ tiếng Ấn Độ, tiếng Ả R ập .[21]

Co thể nói rằng, Cộng hoà Indonesia được xem là một trường hợp đặc biệt so với các quốc gia Đông Nam Á hải đảo, là đất nước duy nhất thi hành chính sách đơn ngữ Tiếng Melayu tuy là ngôn ngữ của một dân tộc chiếm một lượng dân rất khiêm tốn 5,5% dân sô' cả nước nhưng vẫn được chọn làm NNQG, được xã hội hoá một cách rộng rãi Thời điểm quan trọng đánh dấu

sự ra đời của Bahasa Indonesia là tuyên ngôn năm 1928 tại "Hội nghị thanh niên" họp tại Jakarta Những người lãnh đạo nhân dân, đại diện cho các đảo

đã tuyên thệ về "một dân tộc, một ngôn ngữ và một quốc gia" Từ năm đó, tiếng Melayu chính thức trở thành Bahasa Indonesia (tiếng Indonesia) [32] và được chính thức hoá về mặt luật pháp, được công nhận là NNQG sau khi Indonesia giành được độc lập vào ngày 17-8-1945

Trang 31

Chính sách đơn ngữ của Indonesia ưu tiên phát triển NNQG một cách tối đa nhưng vẫn tính đến vai trò của tiếng Anh trong công cuộc đổi mớicủa đất nước, vì vậy tiếng Anh được công nhận là ngoại ngữ số một ở đất nước này.

Để đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của đời sống chính trị, kinh

tế, văn hoá của đất nước, tiếng Indonesia không ngừng được phát triển và ngày càng được hoàn thiện về tất cả các phương diện ngôn ngữ

2.2.4 Nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, trên quần đảo Philippines, cho đến nay vẫn chưa có con số chính xác về lượng ngôn ngữ và tộc người ở Philippines, nhưng theo một số nhà nghiên cứu hiện nay có khoảng 120 ngôn

ngữ, phương ngữ ở Cộng hoà Philippines Các nhà khoa học đã phân các

ngôn ngữ ở Philippines thành 3 nhóm lớn theo cấp độ họ hàng[22]:

N h óm 1: Các ngôn ngữ bắc Philippines, gồm các thứ tiếng Ilôcan,

Pangabina, Capampangan

N hóm 2\ Các ngôn ngữ Trung Philippines gồm các thứ tiếng Tagalog,

Xamac-Lâyte Các ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Bisai ở nhóm này với tư cách là tiểu nhóm cơ bản

N hó m 3: Các ngôn ngữ Nam Philippines: tiếng Maranao,

M aghinđanao (13 tr 106tr)

Các nhà ngôn ngữ và dân tộc học đều thống nhất cho rằng, Philippines

có 10 ngôn ngữ chính với số người sử dụng lớn nhất là Tagalog, Sebuano, Ilôcan, Hiligainôn, Bicôn, Samac - Lâyte, Capanpangan, Pangasinan, Marano, Miginđanao

Như vậy, ở Philippines có khoảng gần 90% dân số đất nước nói các thứ tiếng kể trên và khoảng hơn 10% nói các thứ tiếng còn lại Đây chủ yếu là những ngôn ngữ không có chữ viết của các dân tộc ít người Thậm chí có những bộ tộc riêng lẻ sống sâu trong các vùng rừng núi của đảo, khi ở đó không có ngôn ngữ địa phương lớn nào được sử dụng, ngôn ngữ của dân tộc láng giềng có thể được coi là phương tiện giao tiếp giữa các tộc người

Nhìn vào bảng trên ta cũng thấy, ở Philippines không có một ngôn ngữ nào có số lượng người chiếm một nửa dân số đất nước Tiếng Tagalog, ngôn

Trang 32

ngữ của tộc người Tagal, ngôn ngữ có số dân đông nhất cũng chỉ chiếm có 21% dân số Philippines song ngôn ngữ của họ vẫn được hiến pháp Philippines quy định là ngôn ngữ quốc gia Điều này cũng có nguyên nhân của nó vì họ là một trong những tộc người đông nhất và phát triển nhất về văn hoá và kinh tế trong các dân tộc ở Philippines Philippines cũng là quốc gia duy nhất dùng một ngôn ngữ nước ngoài làm ngôn ngữ quốc gia bên cạnh một ngôn ngữ bản địa Vì vậy có thể nói rằng, cảnh huống ngôn ngữ ở Philippines khá phức tạp,

đó là tình trạng song ngữ: tiếng Anh và tiếng Tagalog được coi là hai ngôn ngữ quốc gia Ngoài các ngôn ngữ kể trên, Philippines còn tồn tại các thứ tiếng nước ngoài như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả R ập

nhất trong các nước Đông Nam Á hải đảo mà ngôn ngữ giao tiếp giữa các tộc người không phải là một ngôn ngữ bản địa mà là ngôn ngữ Châu Âu

Singapore cũng là quốc gia duy nhất trong số các nước Đông Nam Á hải đảo

công nhận có 4 ngôn ngữ chính thức được sử dụng, đó là: tiếng Anh, tiếng Melayu, tiếng Trung Quốc và tiếng Tamil Trong đó, tiếng Melayu là ngôn

ngữ quốc gia, tiếng Anh là ngôn ngữ của các cơ quan hành chính và là ngôn ngữ giảng dạy trong các trường học [31] Ngoài ra, sự tồn tại của các ngôn ngữ thuộc các dân tộc ít người cũng không đáng kể Các dân tộc này trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ của dân tộc mình hoặc một trong 4 ngôn ngữ kể trên Tuy nhiên, mức độ phức tạp của cảnh huống ngôn ngữ ở Singapore không chỉ

vì sự đa dạng ngôn ngữ mà còn vì mỗi ngôn ngữ đều có sự phức tạp riêng Chẳng hạn như tiếng Trung Quốc có rất nhiều các phương ngữ khác nhau như tiếng Phúc Kiến, tiếng Quảng Châu, K hacca nhưng tiếng Bắc Kinh mới được coi là phát âm chuẩn và cũng chỉ có 36% người Singapore gốc Trung Quốc nắm vững được tiếng Trung Quốc chuẩn mực

Mặc dù, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Tamil và tiếng Melayu cùng được công nhận là ngôn ngữ chính thức của Singapore nhưng mức độ sử dụng của mỗi ngôn ngữ không giống nhau mà chúng được phân chia thành nhiều cấp bậc tuỳ theo sự phân bô' chức năng nhất định trong mỗi một môi trường giao tiếp [67,15-17] Trong môi trường làm việc, ngôn ngữ được dùng chủ yếu khi nói chuyện với cấp trên là tiếng Anh, nhưng khi giao tiếp với đồng nghiệp hoặc cấp trên nói với cấp dưới thì tiếng Anh lại nhường chỗ cho

Trang 33

ngồn ngữ khác Về mặt thể chế, tiếng Anh bình đẳng với ba ngôn ngữ kia nhưng trên thực tế chúng đang bị tiếng Anh lấn át.

Qua việc tìm hiểu bối cảnh ngôn ngữ cụ thể của từng quốc gia trong khu vực Đông Nam Á hải đảo, chúng ta nhận thấy: Ở các quốc gia này nhìn chung đều có cảnh huống ngôn ngữ khá phức tạp, mặc dù mức độ phức tạp là khác nhau Các ngôn ngữ bản địa tồn tại song song với các ngôn ngữ nước ngoài Hơn nữa các thứ tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh ngày càng được sử dụng rộng rãi, đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, có nguy

cơ lấn át vai trò của ngôn ngữ bản địa Thực tế đã xảy ra điều này với một số quốc gia Vì thế các quốc gia Đông Nam Á hải đảo đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đưa ra chính sách ngôn ngữ của quốc gia mình Tuy nhiên, việc thi hành chính sách song ngữ Melayu-Anh ở Malaysia, Brunei Darussalam, Singapore và chính sách song ngữ Tagalog-Anh ở Philippines, chính sách đơn ngữ ở Indonesia mặc dù vấp phải nhiều cản trở do vấn đề dân tộc song đã tránh được những xung đột gián tiếp do việc lựa chọn ngôn ngữ quốc gia gây nên và là một giải pháp đúng đắn cho việc nâng cao vị thế ngôn ngữ bản địa với tư cách là ngôn ngữ quốc gia Đồng thời vẫn không coi nhẹ vai trò của tiếng nước ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập với thế giới Việc lựa chọn này của các quốc gia Đông Nam Á hải đảo đảm bảo được việc giải quyết các quan hệ sắc tộc, đồng thời giữ gìn và phát triển được ngôn ngữ dân tộc Văn hoá dân tộc được bảo tồn nhưng vẫn có khả năng hội nhập và nắm bắt những tinh hoa của nhân loại Tuy nhiên vì ngôn ngữ quốc gia có mối quan hệ chặt chẽ với sự tăng trưởng lâu dài của nền kinh tế quốc gia nên sẽ không có một quốc gia nào đạt trình độ tiên tiến trên lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ cao chừng nào quốc gia ấy sử dụng ngôn ngữ nước ngoài làm ngôn ngữ giảng dạy trong các trường học Cho nên con đường đúng đắn nhất để giải quyết vấn đề ngôn ngữ với các nước này là thay thế các ngôn ngữ của thực dân cũ bằng một ngôn ngữ bản địa và điều này được các quốc gia ở Đông Nam Á hải đảo đã và đang thực hiện

Trang 34

CHƯƠNG n

NGÔN NGỮ QUỐC GIA VÀ s ự LựA CHỌN CỦA CÁC NHÀ

NƯỚC ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO

1 Khái niệm và tiêu chuẩn của ngôn ngữ quốc gia:

1.1 K hái niệm:

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp xã hội quan trọng nhất, không thể không có đối với sự phát triển của toàn quốc gia, của một xã hội về chính trị, văn hoá, kinh tế Ngôn ngữ chung - đó là nhân tố tinh thần và tình cảm gắn bó các thành phần dân tộc gia nhập vào một quốc gia dân tộc

Bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng phải lựa chọn một ngôn ngữ để ngôn ngữ đó có vai trò là ngôn ngữ quốc gia - phương tiện giao tiếp của các dân tộc sống trên đất nước Các nước Đông Nam Á hải đảo cũng không đứng ngoài quy luật trên Xác định được ngôn ngữ quốc gia và giải quyết được mối quan hệ của ngôn ngữ quốc gia với các ngôn ngữ khác ((như các ngôn ngữ nước ngoài, ngôn ngữ các dân tộc ít người .) là một vấn đề không đơn giản vì nó liên quan đến lịch sử, văn hoá, dân tộc và tôn giáo

Vậy khái niệm ngôn ngữ quốc gia được hiểu như thế nào?

Theo cách hiểu thông thường, ngôn ngữ quốc gia là thứ ngôn ngữ được thừa nhận chính thức của nhà nước, của một quốc gia Ngôn ngữ quốc gia được lựa chọn quyết định bởi chính sách của một nhà nước trong thời kỳ lịch sử nhất định Sự lựa chọn đó thể hiện ý chí quyền lực của nhà nước và không phải nhà nước nào cũng có sự lựa chọn đúng đắn, đựoc sự đồng tình của người dân, có giá trị và tầm quan trọng đối với dân tộc, quốc gia và cũng

có cả ý nghĩa khu vực và quốc tế (42;30)

Cũng có thể hiểu NNQG như là ngôn ngữ được chính thức thừa nhận làm vai trò, vị thế nhà nước trong đời sống quốc gia Nó có tính hiến định và pháp lệnh Nó được xác định như một trong ba chỉ tố quốc thể: quốc

Trang 35

kỳ, quốc huy, ngôn ngữ quốc gia và được xác định là vị trí số một trong ba chỉ số đó (xét về mặt hiệu lực hiện thực và thiết thực) Việc lựa chọn ngôn ngữ quốc gia được quy định bởi bối cảnh, hoàn cảnh xã hội, lịch sử của quốc gia xác định nó Vì vậy vấn đề ngôn ngữ quốc gia phải được xem xét cụ thể trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử Vị thế và số phận của một ngôn ngữ quốc gia gắn liền với vị th ế và số phận của quốc gia dân tộc trong sự tồn tại

và phát triển của quốc gia đó

1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn ngôn ngữ quốc gia:

NNQG là sự thừa nhận chính thức của một nhà nước Nói như thế không có nghĩa là việc lựa chọn NNQG là tuỳ tiện mà người ta phải tính đến những tiền đề, những điều kiện, những nhân tố bên trong, bên ngoài chi phối

và đặc biệt là những đặc điểm cấu trúc chức năng và chuẩn mực của NNQG Một ngôn ngữ được chọn là NNQG cũng phải thoả mãn một số tiêu chuẩn tối thiểu Theo một số nhà nghiên cứu có ít nhất 7 điều kiện sau đây:

- Có số lượng người nói tương đối áp đảo

- Có địa bàn tương đối tập trung

- Có chữ viết

- Có truyền thống sử dụng ngôn ngữ trong nhiều chức năng

- Có ý thức giác ngộ về dàn tộc và quốc gia

- Có nhu cầu sử dụng tiếng bản ngữ

- Có hình thức ngôn ngữ và văn học

Không phải ngôn ngữ quốc gia nào cũng thoả mãn được 7 yêu cầu nêu trên, bởi vì điều đó còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh và trình độ ở mỗi quốc gia mà ngôn ngữ đó đảm nhiệm Những điều kiện này dùng để so sánh với các ngôn ngữ dân tộc khác nhau trong lựa chọn, nó cũng là chỗ dựa để phân biệt ngôn ngữ chuẩn mực với phương ngữ Nhưng không thể phủ nhận rằng

“ngôn ngữ được chọn là ngôn ngữ tương đối phát triển, là ngôn ngữ chung hay ngôn ngữ phổ thông, ngôn ngữ văn học giáo dục”(42;34-35) Tiêu chuẩn

Trang 36

cấu tạo và chuẩn mực của NNQG luôn luôn là vấn đề trung tâm mà các nhà hoạch định chính sách ngôn ngữ cần hết sức chú ý.

Tuy nhiên, mức độ phát triển ngôn ngữ quốc gia của từng nước cũng khác nhau Trong các nước Đông Nam Á hải đảo, trường hợp của Indonesia là một điển hình Là một đất nước có tới 200 ngôn ngữ, trong đó người Jawa chiếm tới 46%, người Melayu chỉ chiếm 5,6% dân số nhưng tiếng Melayu lại được chọn làm NNQG Sự lựa chọn này giúp cho Indonesia tránh được những mâu thuẫn nội bộ của nhà nước Và cho đến nay, tiếng Melayu mà ngày nay

có tên gọi là tiếng Indonesia đã có một vai trò then chốt trong đời sống xã hội của người dân Indonesia

Với gần 50% dân số, tiếng Melayu của người Melayu đã trở thành NNQG của Malaysia Có thể nói, trình độ phát triển của tiếng Melayu ở Malaysia chưa đáp ứng kịp với yêu cầu chức năng là NNQG, vì vậy phải phát triển và hoàn thiện dần Việc phát triển, hoàn thiện cấu trúc, chuẩn mực là một quá trình không ngừng nghỉ của mỗi ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ quốc gia mà chính sách ngôn ngữ của các nhà nước Malaysia, Indonesia (kể cả Việt nam) cần hết sức lưu tâm

Nói chung, cơ sở của NNQG thường là bản ngữ (mother tongue) như trường hợp tiếng Việt ở Việt nam, tiếng Melayu ở Indonesia, Malaysia, Brunei và Singapore; tiếng Thái ở Thailand; tiếng Lào ở Lào; tiếng Khơmer ở Campuchia Nhưng cũng có trường hợp đặc biệt như ở Philippines, tiếng Anh - ngôn ngữ của kẻ thống trị trở thành một trong hai ngôn ngữ quốc gia, bên cạnh bản ngữ là tiếng Tagalog

2 Sự lựa chọn NNQ G ở các nước Đông N am Á hải đảo:

Việc xem xét NNQG luôn gắn liền với xã hội không phải chỉ vì bản chất xã hội của ngôn ngữ mà còn cụ thể hơn ở tính quy định bối cảnh, hoàn cảnh xã hội, lịch sử của quốc gia đó Vì thế mà số phận của một NNQG gắn liền với số phận của quốc gia, dân tộc trong sự tồn tại và phát triển của quốc gia, dân tộc đó

Tất cả các quốc gia Đông Nam Á hải đảo đã từng là thuộc địa của thực dân nên họ hiểu rằng với thành quả độc lập, đất nước càng nhanh chóng thoát khỏi ngôn ngữ ngoại lai càng tốt Việc chọn một ngôn ngữ bản địa làm

Trang 37

NNQG được coi là rất cần thiết đối với họ Cho nên sau khi hoàn toàn độc lập- Cộng hoà Indonesia, Liên bang Malaysia, Vương quốc Brunei Darussalam va Cộng hoà Singapore đã tuyên bố tiếng Melayu là NNQG của

họ Còn ở Cộng hoà Philippines, tiếng Tagalog (sau nay được dùng với tên gọi

là tiếng Pilipino) cũng được chọn làm NNQG

Chức năng của ngôn ngữ là cái mốc phân ranh giới tách biệt NNQG và những ngôn ngữ không có vị thế NNQG NNQG không chỉ đảm nhận chức năng giao tiếp, lưu trữ mọi giá trị thành văn trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội (là công cụ ban hành thông tin, mệnh lệnh, chỉ thị, quyền lực của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp trong nội trị và ngoại giao) mà còn là công cụ của nền giáo dục, là phương tiện để tiếp thu các kiến thức khoa học kỹ thuật Từ chế định đến hiện thực, từ mong muốn đến khả năng thực tế còn tuỳ thuộc vào trình độ phát triển NNQG ở mỗi nước Tuy nhiên, đối với các nước Đông Nam Á hải đảo, địa vị của tiếng Melayu và tiếng Pilipino đều đã được thể chế hoá bằng pháp luật của Nhà nước, nó mang tính hiến định và pháp lệnh Đây chính là cơ sở vững chắc đảm bảo cho NNQG phát huy vai trò của mình, cho dù vẫn còn một số nhóm dân tộc khác chưa công nhận vai trò của tiếng Melayu và tiếng Pilipino

2.1 Tiếng Melayu và vai trò “ lingua fra n c a ” trong lịch sử:

Tài liệu sớm nhất viết bằng tiếng Melayu còn lại hiện nay là những văn bản cổ khắc vào những năm 683-686 sau công nguyên, được phát hiện ở gần Palembang (Nam Sumatra), đảo Banka và thượng nguồn sông Batang (Karang Brahi) (Hall LSĐNA) Đây là những chứng tích sớm nhất về ngôn ngữ Malayo-Polynesian được sử dụng ở Indonesia Trong nội dung văn bản, người ta thấy hiện lên sức sống của một nhà nước Srivijaya cổ đại Lúc đó cảng Palembang còn đóng vai trò một thương cảng lớn nhất - nối liền quốc gia này với biển cả Những eo biển Malacca và Sunda đã được khai thông và kiểm soát Cư dân thông thương đi lại trên khắp các biển ở khu vực và họ đã

nói với nhau bằng một thứ thổ ngữ Melayu, như là một lingua franca [69;26-

271 ( Thuật ngữ này thường dùng trong ngôn ngữ học xã hội để chỉ bất kỳ

một dạng ngôn ngữ nào được dùng như một phương tiện giao tiếp giữa những người nói các ngôn ngữ khác nh au Các thuật ngữ “ngôn ngữ chung”, “ngôn ngữ phụ trợ” cũng được dùng để chỉ những ngôn ngữ như thế)

Trang 38

Tiếng Melayu, về nguồn gốc là một ngôn ngữ của một tộc người

sống trên biển Trong các ngôn ngữ đang dùng hiện nay ở đảo Malai và

Malacca, người ta dễ dàng phát hiện ra hàng loạt những yếu tố Melayu trong

đó Những yếu tố này chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cấu trúc ngữ vựng của

các ngôn ngữ này Khu vực cư trú của cư dân nói tiếng Melayu cổ đai là hai

bờ vịnh M alacca và bờ biển Nam Trung hoa, nơi án ngữ tuyến đường chính

trong thông thương hàng hoá từ phương Tây sang Viễn đông, các trung tâm

thương mại cổ đại lớn là Palembang và Malacca Đó là những điểm tạm dừng

hoặc cũng có thể là một trong những đích lớn của các chuyên đi biển dài ngày

của những thương lái người Hoa, người Ấn độ, người Ba Tư, người Ả Rập

Đã đến lúc trung tâm trương mại cổ lớn nhất lúc bấy giờ cần một phương tiện

giao tiếp trung gian cho các thương lái có nguồn gốc chủng tộc khác nhau Có

những bằng chứng cho thấy, ngay từ thời đó tiếng Melayu đã là một thứ ngôn

ngữ “siêu chủng tộc” trong các hoạt động của nhà nước cổ đại Ngôn ngữ duy

nhất đáp ứng được sự đòi hỏi đó chính là tiếng Melayu và vương quốc

Malacca vĩ đại ấy trở thành vương quốc Melayu Sau này thuật ngữ “Melayu”

trở thành tên gọi tập thể của một ngôn ngữ thống nhất, của một dân tộc thống

nhất bao gồm tất cả những người Melayu sống ở khu vực Đông Nam Á

[ 1; 118-123],

Việc xác định NNQG trong quan hệ với ngôn ngữ khác là khâu then

chốt của chính sách ngôn ngữ ở các nước này sở dĩ tiếng Melayu được chọn

là NNQG là do hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi nước cũng

như cấu trúc nội tại của ngôn ngữ này quy định Nhưng có thể nói, những lý

do chính dẫn tới sự lựa chọn này là:

1 Tiếng Melayu có cấu trúc ngữ pháp cũng như từ vựng rất đơn giản, thuận tiện cho giao tiếp Tuy chỉ là ngôn ngữ của 5,5 % dân số nhưng tiếng

Melayu ở Indonesia vẫn được cộng nhận là ngôn ngữ quốc gia chứ không

phải tiếng Jawa - ngôn ngữ của dân tộc đa số Khác với tiếng Jawa, một ngôn

ngữ đã đựoc chau chuốt của tầng lớp quý tộc, đã phát triển theo hướng phức

tạp hoá cấu trúc để truyền tải những thái độ khác nhau đối với những mối

quan hộ đa dạng giữa người nói và người nghe Hình thức bình dân của tiếng

Melayu không chú trọng vào việc phân biệt rườm rà ấy mà đơn thuần chỉ

hướng tới các nội dung cần thông báo

Trang 39

2 Tiếng Melayu là phương tiện truyền giáo của các nhà truyền giáo.

Nhận ra những ưu thế của tiếng Mlayu, những nhà truyền giáo và những kẻ

xâm lược Bồ đào nha, Hà lan và Anh đã góp phần không nhỏ trong việc đưa

tiếng Melayu thành một lingua franca có tính khu vực và cũng nhờ tiếng

Melayu mà Hồi giáo và sau đó là Thiên chúa giáo đã đến được với những

người dân ở đây Tiếng Melayu và đạo Hồi nâng đỡ nhau, tạo điều kiện cho

nhau cùng quảng bá và phát triển Nhu cầu đức tin mới luôn đi kèm với các

vãn kiện, kinh bổn Qua việc dịch các tài liệu mà tiếng Melayu chợ búa được

trau chuốt dần và đến một lúc nào đó đảm đương thêm được chức năng mới -

Melayu sách vở ra đời Bên cạnh hình thức khẩu ngữ - Melayu chợ búa,

Melayu bình dân là hình thức văn viết - Melayu bác học Đây chính là dạng

ngôn ngữ mà văn chương bác học có thể sử dụng [72; 69] Như vậy có thể

thấy rằng, sự lan truyền của Hồi giáo ở các quốc gia đông Nam Á hải đảo đi

liền với sự hoàn thiện của tiếng Melayu

Cơ đốc giáo đến nước này muộn hơn và sau nhiều thử nghiệm cũng

phải quay về với những kinh nghiệm của những người đi biển, của các thương

gia, của các nhà truyền bá đạo Hồi Người Bồ Đào Nha đã mở những trường

tiếng Bồ để truyền đạo, nhưng những trường như thế thực tế không thu được

cảm tình của dân chúng và người Bồ đã chịu thất bại Chính người Hà lan và

người Anh đến sau đã học được kinh nghiệm quý giá này và đạo Cơ đốc đã

theo họ vào Indonesia và Malaysia nhờ tiếng Melayu Người Hà lan sớm cho

mở một số trường dạy tiếng Melayu ở đảo Malacca và từ trung tâm này, đạo

Cơ đốc dần dần đi vào đời sống tôn giáo của người Indonesia Kinh thánh viết

bằng tiếng M elayu và được truyền bá rộng rãi trong dân chúng

Như vậy, có thể khẳng định rằng, nhờ tiếng Melayu mà Hồi giáo và

sau đó là Thiên chúa giáo đã đến được với những người dân ở đây Các tôn

giáo đã lợi dụng tiếng Melayu cho mục đích truyền giáo của mình, nhưng mặt

khác cũng đã góp phần khẳng định thêm vai trò của tiếng Melayu Trong một

chùng mực nhất định, chính tôn giáo đã góp phần cách tân và quảng bá thứ

tiếng này trong đời sống cộng đồng các quốc gia Indonesia, Malaysia, Brunei

và Singapore cận đại

người, thành phần cư dân trên các quốc gia này tuy đa dạng nhưng lại thống

nhất về nguồn gốc Tiếng Melayu là ngôn ngữ xa xưa có nguồn gốc gắn bó

Trang 40

hơn với các thứ tiếng đang dùng và những vùng dân cư mà nó đang sử dụng

Kho từ vựng gốc của tiếng Melayu còn bao gồm cả những từ đã có sẵn trong

ngôn ngữ Proto- Melayu Polinesia, cũng như lấy từ các ngôn ngữ cùng nhóm

[43; 126-127] Chính mối quan hệ về nguồn gốc, sự đơn giản về ngữ âm, ngữ

pháp, có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ bản địa, đặc biệt có hệ thống từ

vựng phong phú đã tạo điều kiện để cư dân các vùng đất khác dễ chấp nhận

tiếng Melayu như là một ngôn ngữ giao tiếp thứ hai khi cần

4 Chủ nhân chính gốc của tiếng Melayu là những cư dân

Melayu, những người ưa thích cuộc sống nay đây mai đó trên biển, họ có một

đời sống giao tiếp phong phú, thích lối sống cởi mở và giao lưu rộng Với

những kinh nghiệm sẵn có về nghề biển, cùng với những thương thuyền

ngang dọc trên biển, người Melayu đã đóng vai trò sứ giả, người tuyên truyền

và quảng bá cho ngôn ngữ của mình ở mọi nơi họ đến Trong nhiều thế kỷ,

tiếng Melayu thực sự trở thành một ngôn ngữ có vùng dân cư sử dụng thật

rộng lớn

5 Từ khi trở thành ngôn ngữ trung gian của các tộc người ở bán

đảo Melayu, tiếng Melayu đã bộc lộ sức sống tràn đầy và khả năng thích ứng

của mình đối với tất cả mọi nhiệm vụ từ việc buôn bán đến các nghi lễ chính

thức, từ sáng tác văn học đến diễn đạt các khái niệm khoa học như một ngôn

ngữ phổ thông Các cơ quan nhà nước cũng như đông đảo các tầng lớp trí thức

đều tích cực và tự giác tham gia vào việc hoàn thiện và phổ cập tiếng Melayu

6 Tiếng Melayu còn là ngôn ngữ thông dụng của các tổ chức xã hội, các phong trào yêu nước chống ách đô hộ của thực dân phương Tây Các

tổ chức này đã tuyên bố tiếng Melayu là ngôn ngữ của sự thống nhất, là biểu

tượng của tinh thần dân tộc và văn hoá dân tộc, là phương tiện thống nhất của

các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập Nếu như không có tinh thần

đoàn kết trước sau như một của người Melayu chống lại cái gọi là “Malaya

Union” của bọn thực dân, chắc chắn là ngày nay tiếng Melayu sẽ không phải

là ngôn ngữ dân tộc - NNQG của các nước Indonesia, Malaysia, Brunei

Darussalam và Singapore

Ngoài những nguyên nhân chung trên, mỗi quốc gia do hoàn

cảnh lịch sử, văn hoá, x ã hội khác nhau nên cũng có những ìỷ do riêng khi

chọn tiếng Melayu làm ngôn ngữ quốc gia của mình:

Ngày đăng: 18/03/2021, 17:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Huy cẩn , v ề chính sách ngôn ngữ ở một số nước đang phát triển, Ngôn ngữ trong xã hội công nghiệp hoá, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề:
25. Nguyên Khuê, Tiếng Anh ở Cộng hoà Indonesia, TCNC Đông Nam Á, sô' 3,1995, Tr 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề:
39. Hoàng Vãn Tài, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Ma, Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và CSNN, NXB KHXH, H. 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Nhà XB: NXB KHXH
1. Abdulah Jumain Abu Samah, Lịch sử phát triển từ vựng và viễn cảnh của tiếng Melayu, Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển, Viện Thông tin KHXH, Hà Nội 1997 Khác
2. Asmah Haji Omar, Các mô hình giao tiếp ngôn ngữ ở Malaysia, Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển, Viện thông tin KHXH, Hà Nội1977, Tr. 17 Khác
3. Awang Mataim Bakar, Tiếng Melayu trong hệ thống giáo dục ở Brunei Darussalam, Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển, Viện Thông tin KHXH, Hà Nội 1997 Khác
4. Mai Ngọc Chừ, Văn hoá Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998.5 .. Mai Ngọc Chừ, Cộng đồng Melayu - một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, NXB ĐHQG Hà Nội, 1997 Khác
6. Catherine Lim, Tiếng Anh cho kỹ thuật - đồng ý! Tiếng Anh cho văn hoá - không, Tạp chí ngôn ngữ số 3, 1992 Khác
7. Các dân tộc ở Đông Nam Á, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 1997 Khác
8. Cảnh huống và chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia đa dân tộc, NXB KHXH, 1997 Khác
10. Trần Trí Dõi, Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội 2000 Khác
11. Trần Trí Dõi, Chính sách ngôn ngữ văn hoá các dân tộc ở Việt Nam, NXB ĐHQG Hà Nội, 2003 Khác
12. Phạm Đức Dương, Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, 1993 Khác
13. Phạm Đức Dương, Bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á, Các ngôn ngữ Đông Nam Á trong giao lưu và phát triển, Viện thông tin KHXH, Hà Nội 1997 Khác
14. T.v Đôrôpheeva, Chính sách ngôn ngữ ở Malaysia, Một số vấn đề về CSNN ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Chương trình cấp nhà nước, Hà Nội, 1998, tr 17 Khác
15. Lê Minh Hà, Tìm hiểu nhu cầu giáo dục tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số ở Malaysia, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Hà nội 2003 Khác
16. Dương Lan Hải, Brunei Darussalam - đất nước vươn mình, NXB Thế giới, Hà Nội 1995 Khác
17. D.G.E. Hall, Lịch sử Đông Nam Á, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997 Khác
18. Đặng Thu Hương, Báo chí các cộng đồng dân tộc ở ASEAN, TCNC Đông Nam Á, số 1, 2001 Khác
19. Lê Thanh Hương, Pantun và vị trí của nó trong văn hoá Melayu, TCNC Đông Nam Á, số 3, 1995 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w