C hẳng hạn, xét về thời gian nghệ thuật, tác phẩm của N am Cao thưừng gắn lien với cá c sinh hoạt ăn uống, cái đói cồn cà o m à các nhà n gh icn cứu g ọ i là thời gian hiện thực hàng ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUỒNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VÃN
*-Ạ! HOC QUỐC GIA HÀ NÔI TPIJ;\'G T á m rnÕNG TIN THƯ VIỆN
HÀ NỘI 3 / 2005
Trang 2MỘT SỐ KHÁI NIỆM C ơ BẢN CÚA VẢN HOÁ VÀ
VÁN HỌC TRUNG ĐẠI TRONG TRU YỆN KIỂU
Lời nói đầu
Trang 3Đ Ặ T V A N Đ Ề
C ó những phương pháp tiếp cận khác nhau đối với nlìân vật văn học
Từ quan đ iểm xã hội h ọ c, nhà n gh iên cứu c ó thê xem xét Iihân vật trong tương quan với các vấn đề g ia i cấp và dân tộc, đánh giá nhân vật ờ khía cạnh tích cự c hay tiêu cực, phản đ ộn g hay tiến bộ Từ quan diêm tlii pháp, nhà n g h iên cứu c ó thể xem xét những biện pháp nghệ thuật trong v iệc kc ta nhân vật, nhất là vấn đề đ iểm nhìn nghệ thuật, vấn dề về sự định vị nhân vật trong kh ôn g gian và thời gian N hưng chừng đấy phương pháp m ặc dù
là rất cần thiết và quan trọng, vẫn chưa pỉiâi là tất cả Từ quan đ iếm nhân học văn hoá, lây co n người làm bản vị, c ó thể xcm xét nhân vật theo một
g iác độ khác, có khá năng soi chiếu , làm bộc lộ thcm m ột vài kliía cạnh
m ới của nhân vật m à cá c cách tiếp cận nói trên chưa c ó điều kiện phân lích , nghĩa là c ó thể g ó p phần làm phong phú hơn cách hiểu của người đ ọ c đối với nhân vật văn h ọc, g ó p phần hiểu sâu sắc liơii giá trị cùa tác phẩm văn học Đ ề tài của chúng tôi thử n gh iệm cách tiếp cạn văn lioá đối với v iệc lý giải nhân vật Truyện Kiều thông qua sự phân tích hai khái niệm văn hoá căn bản là thân và lâm.
T iếp cận văn hoá trong trường hựp này- phàn tích nhân vậl- thực chất là tiếp cận nhàn h ọc, tiếp cận con ngưừi theo quan điểm vãn hoá
Đ ố i với m ột tác phẩm thuộc thể loại tự sự như Truyện K iều, phân tích nhân vật là m ột cô n g v iệ c không thể thiếu của “nhà K iều h ụ c” K hông phải ngẫu nhiên mà hầu như tất cả các cồ n g trình khảo sát kiệt lác này đcu dụng chạm đến các nhân vật của nó bàng cách nào đỏ, ứ m ức đ ộ nào (ló Các cách đ ọ c nhân vật T r u y ệ n K i ê n khác nhau đã đem lại những kết quả khác nhau N hưng nhìn lại lịch sử n gh iên cứu vỏn c ó bề dày đáng k ể hàng t r ă m
năm qua, chưa thấy c ó m ột sự phân tích hệ th ông, c ó ý thức dành ch o nhân vật Truyện Kiều th eo quan đ iểm vãn hoá h ọ c Đ a phần cá c c ô n g t r ì n h
phân tích nhân vật Truyện Kiền đều tập trung hoặc là bình luận giá trị (lạn
Trang 4s ò n g s i n h l i o ạ l Mil d i a l I.lia L'on n g ư ờ i I h ờ i h i ệ n đ ạ i v à t r u n g ( l ạ i t r o n g c á c
t á c p h à m v ã n h o e c u a c á c t h ò i đ ạ i t ư e m g ứ n g c h o đ ế n n a y ít k h i n ả m t r o n g
l a m lịiiíHi s a l CIKI n h à m i l l i o n c ứ u A i c ũ n g b i ẽ t l à c o n n g ư ờ i ớ h á i k ỳ t h ờ i
3
Trang 5đại lịch sử n ào cũ n g phải ăn uống m ới tồn tại được N hưng lại sao thời xưa,
cá c nhà văn h iếm khi đ ề cập đến ch u y ện ăn uống trong sáng tác của họ, còn nhà vãn thời hiện đại lại thường tả khá chi tiết loại sinh hoạt đời thường này ? T rong tiểu thuyết G á n h h à n g h o a của K hái H ưng- Nhât Linh, la có thể bắt gặ p m ột cảnh mà hầu như kh ông thể thấy trong văn xu ôi lự sự trung đại : “ Trên c h iế c giường lát tre giải c h iế c ch iếu cũ rách, m ột cái múm gỗ
đã tróc sơn đựng lỏ n g ch ỏn g đĩa rau m u ôn g lu ộ c, bát nước rau và m ột đìa đậu phụ k h o tương” Đ ể so sánh, c ó thể dần đoạn văn ký sự của Hái Thượng Lãn Ô ng, khá hiếm hoi trong văn h ọ c Irung đại tlico n gh ĩa c ó tà
ch uyện ăn uống Đ ó là đoạn kể ôn g cùng Q uan ơ iá n li dường H oàng Đ ình Bảo trong Phủ chúa Trịnh: “ Ô ng chia phần cưm của m ình ch o tỏi ăn
M âm vàng chén bạc, thức n gon của lạ, bấy g iò tôi mới được biết cái phong
vị của nhà giàu sang" 2 Sự khác biệt căn bán ớ đây là nhà vân hiện đại dã
tả chi tiết ch iếc giường đặt m âm cơm , c h iếc m âm cơm và kẻ cụ the cúc
m ón ăn bày Irên m âm cò n nhà văn trung dại chỉ kế chu n g chu n g cut neu
ấn tượng về sự giàu sang của giứi quí tộc N ếu kháu sát th eo hướng đi cùa chúng tôi, dễ thấy v ề c ơ bủn, sự khác biệt này kh ôn g phái do tài quan sát hay k ĩ thuật viết vãn m à có nguồn g ố c sâu xa hơn tứ quan n iệm về con người của m ỗi thời đại như chúng ta s ẽ phân tích kỹ hưn ử dưới tlũv Đại
để, thời trung đại, quan niệm về con người lý tưởng kh ông (lé c a o phần vật chất liên quan đến thân x ác nên chu yện ăn m ặc kh ôn g trừ thành đỏi tưựng thẩm m ỹ của tác giá Đ ến thời hiện đại, quan niệm vé con ngưừi dã đc cao nhu cầu tồn tại của phần thân x á c, do đó mà ch u y ện ăn m ặc trừ thành đối tượng quan sát m ô tả cùa nhà văn hiện đại Q uan niệm tổng quát như vậy của m ỗi thời đại đã chi phôi m ạnh m ẽ nh iều hiện tượng thi pháp C hẳng hạn, xét về thời gian nghệ thuật, tác phẩm của N am Cao thưừng gắn lien với cá c sinh hoạt ăn uống, cái đói cồn cà o m à các nhà n gh icn cứu g ọ i là
thời gian hiện thực hàng ngày 3 hay thời giun miếng ăn 4 chi phôi tâm tư nhân vật trong khi đó, dạng thức thời gian như the kh ông hát gặp trong vãn học trung đại Thời xưa, nếu c ó nói đôn cái đ ó i, cái n g lico lliì cái (lói cái
Trang 7K iều thì N g u y ễ n C ông Trứ lại cự c lực phê phán K iều, kết án K iều là “tà dâm ” M inh M ện h viết:
Gián th ế pháp d ĩ hoàng kim, xả tliân hành hiếu: Tả ly sầu ư xích
c h ử , t h í n h m u ộ i h o à n t h â n
B ạ c h n h ậ n c a m t â m x ử n ữ , t h ử t h â n c h i t i ế t ; c ẩ m V h i ệ u t h u ậ n
t r ư ợ n g p h u v ị q u ố c c h i t á m
( V ì t i ề n v à n g p h á p l i é p c ô n g b ả n g , p h ả i b á n m ì n h ỊỊÍữ n ạ n / l i ê n d ạ o ; mượn giấy đỏ tả sầu ly biệt, dành cậy em chắp mối í hàn tình.
Dùng dao nhọn sát thân, lòng trinh nữ giữ mình tiết lớn; Ụìiivứn áo
Trang 8C o n n h ư c ĩ i n i ỉ k h o n i ỉ n h ằ m n ó i v é K i é u m à n ó i v e n h ữ n g n g ư ờ i c h e đ ậ y
n h ữ n g l ù m h vi h ò n h ạ , b ấ n t h i u c ú a m ì n h d ư ớ i c á i v ỏ đ ạ o đ ứ c ;
7
Trang 9Bán mình trong bấy nhiêu năm,
Đ ố đem chữ hiếu mà lầm được ai.
N eh ĩ đời mà ngán cho đời ( T ối gạch dưới- T Đ H )
N g u y ễn C ông Trứ đ ò i hỏi K iều phải ch ịu Irách nh iệm N hưng nếu con người là con rối của m ệnh thì làm sao c ó tự do để chịu trách nhiệm ? " 9
Trần N g ọ c V ương cũ n g viết : “ Khi cà triều dinh đang ra sức ch icu luyết
ch o Thuý K iều, gán ch o nàng đũ phẩm chất nào tiết nghĩa, nào hiếu trung , N g u y ễn C ông Trứ táo gan lật tẩy, ồ n g thẳng thừng lớn liế n g chê trách K iều là “tà d â m ’, dám “Đ em chữ hiếu m à lầm ngư ời” C hảng pliai,
v ì với bản chất con người ô n g , ôn g khống thể, là người d ộ c địa, hay xa lạ ghét bỏ gì đôi với loại người tài hoa bạc m ệnh như K iều, mà chí vì ông
m uốn quăng ra cái câu bình luận đầy hàm ý chê trách m ỉa mai cả cái cu ộc
“giải oan, ch iêu tu yết” áy: “ ngh ĩ đừi mà ngán ch o d ờ i” 1(1.
Chúng tỏi ch o rằng hình như có m ột tính hệ thòng nào đó trong cái nhìn khá chặt ch ẽ, khắt khc của N g u y ễn C ông Trứ đòi với phụ nữ Bên cạnh thái độ của ôn g như vậy đôi với K iều, còn lliùy ỏn g khá khắc tighiệl với m ột người phụ nữ khác- người thiếu phụ Nam X ương Trong bài hát nói
V ị n h N a m X i í o ĩ i g l i ệ t ỉ ì ữ , N gu yẽn C ông Trứ cũng lại đứng trên lập trường đạo đức N ho g iá o m à bênh vực ch o ngưừi ch ổ n g và ch ê trách người vợ dù người liệt nữ này đã lấy cái chết để chứng m inh sự trong trắng của m ình
Ồ ng ch o rằng dù sao đi nữa thì lỗi vần thuộc về ngưừi vợ và k h ôn g nên trách m ó c người chồng: D ẫ u t i i ì l ì n g a y s o n g l ý c ũ n g lủ ạ i a n , ràng T i c h ti phụ p h à n g chi nỡ trách đàn ông Đ iều dáng chú ý là quan (liếm khắt khe này không chỉ c ó riêng ở N g u y ễn C òng Trứ Tàn Đ à và m ột số nhà nho ờ
nửa đầu th ế kỷ X X vẫn tiếp tục “chửi m ắn g” K iều Tàn Đ à m áng TỐiiịị dốc
có thương ngưìĩi bục mệnh, Tiền Đường chưa chắc mà liồng filian cien nỗi
Lê Đ ình K ỵ đã phái kêu lên : “ Phái đựi đến klii bị gán ch o người thổ quan Kiều m ới quyết định kết liễu đời m ình Ý Tán Đ à là mu ổn K icu pliíii d iế t theo Từ Hải n gay, nhưng giữa Tán Đ à và N g u y ễn D u, ai là kè bát cận nliiìn
Trang 10l ì n h thì dã rõ ” T heo chúng tỏi, cần tính đ ế n t h á i độ của các nhà nho trong hệ thống cái nhìn của h ọ đối với v ấ n đề p h ụ nữ, m ột cá i nhìn tồn tại mũi tie'll t ậ n H u ỳ n h Thúc Kháng của những n ă m 3 0 đầu n h ữ n g n ă m 40 1.2 NI IẢN VẬT T R U Y Ệ N K i ề u T R O N G T H Ế K Ỷ X X
Sang thế kỷ X X , các ý kiến đánh giá nhân vật Thuý K iều vẫn tiếp tục chia rẽ Tất nhiên trong th ế kỷ X X , các nhà nghiên cứu kh ông chỉ nhìn nhân vật từ g óc độ đạo đức nữa mà đã bắt đầu nhìn nhân vật từ g ó c đ ộ của nghệ thuật tự sự Kỹ thuật phân tích nhán vật theo kiểu T ây phương hắt đầu (lược ứng (lụng đế phân tích tâm lý Kiều N him g tiêu ch í đạo đức vẫn là
ch ồ gây bất (.lổng lớn nhất Năm 1919, Phạm Quỳnh viết “K iều là một Iigirời đa lình, nhưng không đắm đuối vì tình, biết lấy nghĩa mà c h ế tình, thế là trúng với lý tướng của đạo Nho Lại là người rất khôn ngoan, biết ilirờng kỉnh trọng, biẽt lời phái chăng, đáng lẽ ớ đời phái êm thấm Irót lọt lắm là phái, tho mà chi gặp những sự hoạn nạn khổ sớ không biết ớ đâu mà
ra, b ù i tin lãng bới cái sỏ phận dã định như thế, cái liền (luycn đã khiến nlnr vạy khónji sao mà cưỡng dirực, đành dem mình làm hy sinh ch o vận
m ệnh 1 he là khuynh hướng thiên về Phật” 12 Năm 1922, T ùng Vân
N guyền 1)011 Phục ca ngợi tấm gifting trung hiếu cua Kiều : “ Xét ra trong Truyện lln iý Kicu, chí có hiếu nghĩa và đoan trang hai vé là đặc sắc mà thoi; lò n ilùrí nàn hào hoa phong nhã: nào khuôn phép m oi rường; nào côn quyên lum sức; nào kinh luán gồm tài; nào mày râu thì sặc sỡ, áo quần thì bánh hao; nào liá vàng cũng dám quyết, phong ha cũng dám liều; rút cục lai I Ill'll (lêu là ké có tội với nhân loại cá ” M Dường nhir óng liên cảm đơov Milling phan ứng lililí phán ứng fila các nhà nho N g ô Đức Ké Huỳnh Tluíc Khang đoi với Ihuý Kiéu ncn đã rào đón trước Một mặt ôn g phê pluín Kiêu (la lình nén hãt hạnh mặt khúc lại (lòi hói nhìn tháy chiều sâu
c ua \ 111 (lo ilưov N guyền Du nêu lén : Lịch sir Thuý Kieu, những lình là linh; Ik h sir Thuv Kiêu, những oan nghiệt là oan nghiệt; những bọn nữ lưu đơi san \c m lniNon Tlniý Kiéu, ihrợc soi qua cái mành gương oan nghiệt lay hop (lo Ilurc cũng nón khuycn nhau mà tu lại ít nhiêu Song đó cũng là
9
Trang 11sợ cá i só n g tình ở trên nhân thế, nó thường lai láng v ô cùng; chứ nhân vật
c ô T huý K iều thực cũ n g c ó m ột v ẻ xứng đáng là nhân vật H iếu trung nhân
n gh ĩa m à su n g sướng, m à hiển vinh, hiếu trung nhân nghĩa cũng dễ; hiếu trung nhân ngh ĩa m à nguy h iểm , m à nhọc nhằn, hiếu trung nhân n ghĩa mới khó; phải cái dây luân lý trông thấy rõ ràng, cái sức đ ạo đức c o giữ bền chặt m ới được” 14.
G iữ lập trường phê phán Thuý K iều c ó các nhà nho như Tân Đ à, N gỏ
Đ ức K ế, H uỳnh Thúc K háng Đ iéu kỳ lạ là m ột nhà nho như Tàn Đ à, một người nổi tiến g là tài tử lại có cách nhìn Thuý K iều khắc nghiệt đến như vậy Trong bài thơ vịnh cảnh Thuý K iều hầu rượu H ồ Ton H iến, ỏn g viết
Đ ứ c K ế viết : “ m ột đỏi thiếu niên nam nữ, dein thanh người vắng, trèo tường trổ n gõ, ước hội ch u y ện trò với nhau, dối với phong lioá đạo đ ứ c dã
là v iệc bất chính; m ở đầu qu yên sách như thế, dù sau có tồ vẽ hiếu nghĩa gì
Trang 12tình thì đã rõ ” 11 T heo chúng tôi, cần tính đến thái đ ộ của các nhà nho trong hệ thống cái nhìn của họ đối với vấn đề phụ nữ, m ột cá i nhìn tồn tại mãi đến tận Huỳnh Thúc Kháng của những năm 3 0 đầu những năm 4 0
1.2 N IỈẢ N VẬT T R U Y Ệ N K lỀ U T R O N G T H Ế K Ỷ X X
Sang thế kỷ X X , các ý kiến đánh giá nhân vật Thuý K iều vẫn tiếp tục chia rẽ Tất nhiên trong thế kỷ X X , các nhà nghiên cứu kh ôn g chỉ nhìn nhân vật từ góc độ đạo đức nữa mà đã hắt đầu nhìn nhân vật từ g ó c độ của nghệ thuật tự sự Kỹ thuật phân tích nhân vật theo kiểu T ây phương bắt đẩu ilirợc ứng dụng để phân tích tâm lý K iều N him g tiêu ch í đạo đức vẫn là
ch ỗ gây bát dồng lớn nhất N ãm 1919, Phạm Q uỳnh viêt "K iều là m ột người đa tình, nhưng không đắm đuối vì tình, biết lấy nghĩa mà chê tình, thế là trúng với lý tướng của đạo N ho Lại là người rất khôn ngoan , biêt ihrờiiịi kính trọng, biết lời phái chăng, đáng lẽ ở đời phái êm thấm trót lọt lãm là phái, thế mà chí gặp những sự hoạn nạn khổ sỡ klìỏng biết ỡ đâu mà
ra, lù n Ún răng hời cái sò phận đã định như thê, cái liền duyên đã khiến Iilur vay, không sao mà cưỡng dược, đành đem mình làm hy sinh ch o vận
m ệnh, the là khuynh hướng thiên vé Phật” 13 N ăm 1922, Tùng VAn
N guyen 1)011 Phục ca ngợi tám gưímg trung hiếu cúa Kiều : “Xét ra trong Truyện Tluiý Kiçu, chí có hiếu nghĩa và đoan trang hai vẻ là dặc sắc mà lliòi; còn lliời nào hào hoa phong nhã; nào khuôn phép m ối rường; nào côn lỊiiyèn lu ill sức; nào kinh luân gồm tài; nào mày râu thì sạc sỡ, áo quần thì bánh hao; nào liá vàng cũng dám quyết, phong ba cũng dám liều; rút cục lại thòi (leu là ké có tội với nhân loại cá ” M Dường như ông tiên cảm ilưọv nhũng phan ứng nlur phán ứng cứa các nhà nho N gô Đ ức Kế, Huỳnh Thúc K h a n* » iloi với Tluiý Kiều nên đã rào (tón trước Một mặt ỏn g phc phân Kicu lia l i lilí nên bâl hạnh niặl khác lại đòi hói nhìn tháy chiều sâu
c lia VJII (lõ ilược N guyền Du nêu lén : " Lịch sứ Thuý K icu, những tình là lililí; lu ll sir lim y Kien, những oan nghiệt lù oan nghiệt; những bọn nữ lưu đòi sau \cm Truyện 11111 ý Kiều, được soi qua cái mảnh gifting nan nghiệt lay liép <lo Iliực ã m ii nên khuyên nhau mà tu lại ít nhiéu Song (tó cũng là
9
Trang 13t I
sợ cái só n g tình ở trên nhân thế, nó thường lai tonẼ •
c ô Thuý K iều thực cũ n g có m ột vẻ xứng đáng là nhân »ỈL_HĨC1I t a n g
ngh ĩa m à sung sướng, m à hiển vinh, hiếu trung n h a n nghía cung de htcu trung nhân n g h ĩ a m à nguy hiểm , mà nhọc nhãn, hiẽu tnmg nhan nghía mơi khó; phải cái dây luân lý trông thấy rõ ràng, cái sức đạo đức co giũ bền chặt m ới được” 14.
G iữ lập trường phê phán Thuý Kiều có các nhà nho như Tan Đà Ngô
Đ ức K ế, H uỳnh Thúc K háng Đ iều kỳ lạ là một nhà nho như Tàn Đà một người nổi tiến g là tài tử l ạ i c ó cách nhìn Thuý Kiều khắc nghiệt den như vậy Trong bài thơ vịnh cảnh Thuý K iều hầu rượu Hồ Tôn Hiến, óng viel
Đ ứ c K ế viết : “ m ột đôi thiếu niên nam nữ, đ êm thanh người vắng, trèo tường trổ ngõ, ước hội ch u y ện trò với nhau, đ ố i với phong hoá d ạ o đức dã
là v iệc bất chính; m ở đầu qu yển s á c h như thế, dù sau c ó tô VC lìiếu Iigliĩa gì
Trang 14l ọ i K i c u u h a i l i c u l à l ã n g l ơ ( m ớ i gặ p K i m T r ọ n g m à d ã t h ầ m y ê u t r ộ m
nhớ), khong l ị i i y ẽ l l à m q u y ê n s i n h k h i v à o l a u x a n h , á i l ì n h k h ô n g l i u y n h ấ t ( ịĩ ửi I h â n c l u ) I i h i ẽ u n ụ i r ờ i ) t h ì K i ề u !à k é v õ t ộ i " K i ề u g ặ p K i m T r ọ n g
Trang 15- bản dịch của N g u y ễn Tư Triệt, in trên Nghiên cún Huê' Tập 4 /2 0 0 2 ), nhà ngh iên cứu N g u y ên T h ế A nh đã trình bày rất kỹ lập trường cùa cụ Huỳnh đối với Truyện Kiền. Từ ch ỗ tỏ “ thái độ khinh m iệt” ( chữ dùng của
N g u y ễn T h ế A n h ) , năm 1934, khi Lun Trọng Lư phàn đ ối, cụ đã dịu g iọ n g hơn “ V ương T huý K iều ở trong con mắt người N am ta m à c ó giá trị xấp
m ấy đó là cái giá trị của văn ông N g u y ễn D u, ch ớ bàn thân và chân tướng
cù n g phẩm hạnh của K iều chẳng c ó chút gì đáng chép, chỉ là co n đĩ thường như hàng trăm ngàn chị em khác ờ chốn Bình K hang mà th ôi” Đ ến năm
1939, cụ “tiến thêm m ột bước trong v iệc tạ tội với N g u y ễn Du" là c h o dăng
m ột bài báo tán dương Truyện K iều nhưng “nhân danh đ ạo đức luân lý,
H uỳnh Thúc K háng vẫn giữ thái đ ộ thù dịch với K iều” , thậm ch í N gu yễn
T h ế A nh n gh ĩ rằng “thái độ khắc ngh iệt m à H uỳnh Thúc K háng khăng khăng bày tỏ đối với K iều sẽ là n gu yên nhân gián tiếp cùa v iệc d ón g cửa báo T iến g D ân”
Sau cu ộc cách m ạng tháng Tám năm 1945 v iệc ngliicn cứu Truyện Kiều đi vào chiều sâu, chất lượng chu yên m ồn ngày đ ư ợ c nâng cao Tuy vậy, sự phân hoá ý kiến trong v iệc đánh giá nhân vật Truyện Kiều vẫn tồn tại N hân vật T huý K iều đã không cò n gây nên những chia rẽ đúng kê nào trong quan điểm của giới nghiên cứu vì ảnh hưởng củ a nho g iá o cà n g ngày càng m ờ nhạt N hưng sự đối lập ý kiến trong v iệc đánh giá c ú c nhân vật
Truyện Kiêu vẫn ỉà m ột hiện tưựng dễ nhận thấy và l ú c này sự đoi lập
ch uyển sang các nhân vật khác, nhất là nhân vật phán diện như Hoạn Thư hay nhân vật trước đày ít được chú ý, ít gây thiện cảm như T húc Sinh Láy dẫn chứng từ v iệc đánh giá Thúc Sinh N h iều nhà n gh iên cứu đòi với nhàn vật này về căn bản c ó thái độ phủ nhận, tuy rằng cũ n g thày lính cliál không thuần nhất trong thái độ của N g u y ễn Du đôi với T húc Sinh Lê Đ ìnli Kỵ viết : “ Trong ba ngưừi đàn ôn g đã g iữ m ột vai trò quan trọng trong dời
K iều, Thúc Sinh là v ò ngh ĩa nhất” , “ T húc Sinh thuộc loại người trung gian trong Truyện Kiều. Thúc Sinh m uốn được như Kim Trọng và Từ Hái nhưng vì ươn hèn, bất lực và vì kh ôn g c ó m ột m ối tình chân th ín h , nên cuối
Trang 16cùng dối với Kiều đã xử sự khi thì như người dưng nước lã, khi thì không khác gì Sờ Khanh” 19 N g u y ễn L ộc cho rẳng Thúc Sinh là m ột thương nhân, mà thương nhân phương Đ ô n g thì bản chất “ hời hợt, bạc nhược, yếu
đ u ố i” nên “ c ó thể nói Thúc Sinh là điển hình ch o tầng lớp thương nhân này” 20 Ô ng nhận xét : “ Thúc Sinh không phải tích cự c, cũng kh ông phải tiêu cực Ở Thúc Sinh c ó mâu thuẫn giữa độn g c ơ hành đ ộn g với kết quả hành động C ó màu thuẫn giữa cảm tình m ột chừng m ực nào đó của nhà thơ với khuynh hướng khách quan của hình tượng V à vì nhân vật kết hợp được nhiều màu sắc thẩm m ỹ đa dạng, nên bút pháp của nhà thơ cũng đa dạng Khi đứng về phía Thuý K iểu, trân trọng những giây phút êm đềm của cuộc đời Thuý Kiểu trong m ối tình của Thúc, nhà thơ sử dụng bút pháp trữ tình Nhưng khi cần làm nổi bật bản chất con người của Thúc thì
N guyễn Du lại không ngần ngại trong v iệc sử dụng hút pháp trào phúng châm biếm ” 21 Phải ghi nhận cái nhìn biện chứng của Lé Đ ình Kỵ và
N guyẻii Lộc dối với nhân vật Thúc Sinh, nhưng dãu sao, hai nhà nghiên cứu vẫn không thừa nhặn Thúc Sinh có vai Irò lích cực nào đó trong cu ộc đời Kiéu, lại càng không c ó ý định so sánh Thúc Sinh với Kim Trọng và Tír Hải Nlum g đánh giá Thúc Sinh cũng như đánh giá Kim Trọng và Từ Hải trên một phương diện nào đó cũng lại là đánh giá chính nàng K iều, nếu hạ thấp Thúc Sinh thì cũng chính là đã vô tình hạ thấp hay ít nhất cũng sa vào tình trạng phiến diện khi nhìn nhận K iều Nhà văn Vũ Hạnh đã đề nghị một cách nhìn Thúc Sinh từ chính g ó c độ của nàng K iều, hởi vì như chính ôn g
đã phân tích, nếu nhìn theo cách thông thường thì chỉ duy nhất c ó Kim Trọng là xứng dáng được Kiều lựa chọn Vũ Hanh viết : “ Đ úng ra trên một quan niệm tình y ê u lý tướng, Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải, cả ba người
ấ y chung I | t i y là ba khuôn mặt của một con người, ha cái trạng thái không ihể thiếu được cúa một người tình hoàn toàn Bới lẽ tình yêu hoàn toàn phải (lược gắn bõ hãng tình cám chân thành của một Kim Trọng, hướng dẫn bằng lý trí vững chắc cùa một Từ H ài, duy trì bằng bản nãng si m ê của một Thúc Sinh Người la khó lòng quan niệm một sự yẽu thittmg toàn vẹn mà
13
Trang 17ch ỉ c ó m ỗ i cảm tình tha thiết, hoặc chỉ c ó sự kính phục tinh thần, ll i i ố u
m ộ t trong ba y ế u tố, tình yêu bất lực, bất thành V à cả ba yếu tò ấy hiện hình riêng rẽ ở trong tác phẩm , dưới cái nhãn hiệu của ba nhân vật, cuối
cù n g kh ôn g ai c ó thể số n g trọn vẹn được với K iêu Bỏi K iều là m ột người tình lý tưởng c ó những tình cảm thắm thiết, thuỷ chun g, c ó m ột bán năng biết chia sẻ niềm đắm đuối say m ê, c ó m ột lý trí biết hướng vé sự cao cá tuyệt vờ i” 22 Từ g ó c độ này Ihì Thúc Sinh bình đắng với K im Trọng và
Từ H ai N hư vậy v iệc ch u ycn dổi g ó c nhìn dã đem lai m ột két quà khác hẳn
và kh ỏng phải kh ôn g c ó căn cứ Phái nói n gay rằng, cách nêu ván tic rất thú vị của V ũ Hạnh thực ra không phái là m ới N gười la từ lâu đã nói đốn
m ộ t hiện tượng g ọ i l à “ t ổ hợp nhân vật” Irong c á c tiêu thuyết chưưng hồi Trung Q uốc như ba anh em kết nghĩa Lưu- Quan - Trương ( Tam q u ố c ( l i ễ n
n g h ĩ a ) hay bốn thầy trò Đ ường Tăng di lây kinh ( T â y du kỷ), trong đó m ỏi nhân vật đ ạ i d iện ch o m ộ t nét t í n h cách và nêu lổ n g hợp t á t cà l ạ i s ẽ c ó m ộ t
con ngựời hoàn chỉnh lý tưởng G iú n g tôi sẽ cò n trở lại và bàn sâu vé câu chuyện này ỏ dưới đây Đ ố i với nhàn vật Hoạn Thư, giúi ngliicn cứu xưa nay thường lên án H oạn Thư th eo quan đ iểm giai cấp- x cm H o ạ n 'Iliư là dại diện cho gia i cấp thông trị đ ộ c ác Lê Đ ình Kỵ nhận xét: “ H o ạ n Thư c ó
m ấy lần khen ngợi tài hoa của K iều, những cũ n g là để đi đến dưa K i c u ra
g iữ chùa tụng kinh ở Quan  m C ác, mượn tay nhà Phật để huỷ diệt tài hoa của K iều H oạn Thư xót thương cái thân th ế ch ìm nổi của K i ề u , nhưng chính H oạn Thư đã đập tan tành cá i m ố i tình lẽ m ọn thực ra cũ n g rất hẩm hiu của K iều và đã trực tiếp dọn dường ch o Bạc Bà, Bạc Hạnh dẩy K i ề u
xu ốn g vực thẳm của kiếp số n g gia n g hồ Đ ấ y , thực chất cùa tiểu thư họ
H oạn, con quan Lại bộ, là như thế M ột đ iển hình glien tu ồ n g ,‘m ội điển hình của giai cấp ” 2\ T uy vậy cũng dã xuất hiện những tiếng nói ctể nghị xem xét cụ thể hơn, khoa h ọ c hơn, ít định k iến hơn vé nhân vật này Với phương pháp phân tích tâm lý của Phật h ọc, T hích Nhát Hạnh ch o lằng
H oạn Thư không phải là con người bỏ đi, H oạn Thư dù đ ộc ác nhưng vẫn
có m ột cá i Tâm hướng thiện “ Chúng ta cũ n g c ó hạt g ió n g cua Hoạn
Trang 19ch ỉ c ó m ỗ i c ả m tình tha thiết, hoặc ch ỉ c ó sự kính phục tinh thần T hiếu
m ộ t trong b a y ế u tố, tình y êu bất lực, bất thành V à cả ba yêu to ấy hiện hình riên g rẽ ở trong tác phẩm, dưới cái nhãn hiệu của ba nhàn vật, cu ối
cù n g khôn g ai c ó thể số n g trọn vẹn được với K iều Bừi K iều là m ột người tình lý tưởng c ó những tình cảm thắm thiết, thuỷ chun g, c ó m ột bán năng biết chia sẻ n iềm đắm đuối say m ê có m ột lý trí biết hưởng vé sự c a o cà tuyệt v ờ i” 22 Từ g ó c dộ này thì T húc Sinh bình dắng với Kim Trụng và
Từ H ải N hư vûy v iệc ch u yển dổi g ó c nhìn dã dem lại m ột két quá khúc hẳn
và k h ôn g phải không c ó căn cứ Phải nói ngay rằng, cách nêu VÍÌI1đồ rất thú vị của V ũ Hạnh thực ra không pliai là m ới Ngưừi ta từ lâu đã nói liến
m ột hiện tượng gọi là “tổ hợp nhân vật” Irong các tiểu thuyết chư ơng hổi Trung Q uốc như ba anh em kết nghĩa Lưu- Quan - Trưưiìg ( Tam quốc diễn
n g h ĩ a ) hay bôn thầy trò Đ ường Tăng di lẩy kinh ( T á y í l n k y ) , lio n g đó m ỏi nhân vật đại diện cho m ột nét tính cách và nêu lổ n g hợp lất cà lại sẽ c ó m ội con ngựời hoàn chỉnh lý tưừng G iú n g tôi sẽ còn trở lại và bàn sâu vò câu chuyện này ở dưới đây Đ ô i với nhân vật Hoạn Thư, giới Iighicn cứu xưa nay thường lên án H oạn Thư theo quan đ iểm giai cáp- xcm H oạn Thư là đại diện ch o giai cấp thông trị đ ộc ác Lê Đ ình K ỵ nhận xét: “ H oạn Tlur có
m ấy lần khen ngợi tài hoa của K iểu, những cũ n g là để đi đến đưa K iều ra giữ chùa tụng kinh ở Q uan  m C ác, mượn tay nhà Phật để huỷ diệt tài hoa của K iều H oạn Thư xó t thương cái thân th ế ch ìm nổi của K iều, nhưng chính H oạn Thư đã đập tan tành cái m ôi tình lẽ m ọn thực ra cũ n g rất hẩm hiu của K iều và đã trực tiếp dọn đường ch o Bạc Bà, Bạc Hạnh đẩy Kiều
xu ốn g vực thẳm của k iếp sô n g gian g hồ Đ â y , thực chất của liêu thư họ
H oạn, con quan Lại bộ, là như thế M ột đ iển hình gh en tu ồ n g ,'m ộ t điển hình của giai cấp” 2-\ T uy vậy cũng dã xuất hiện những tiếng nói đế nghị
x em xét cụ thể hơn, khoa học hơn, ít định kiến lum về nhân vật này V ớ i
phương pháp phân tích tâm lý của Phật h ọ c, T hích Nhất Hạnlì clio rằng Hoạn Thư k h ôn g phải là con người bỏ đi, H oạn Thư dù đ ộ c ác nhưng vẩn
c ó m ột cái Tâm hướng thiện “ C húng ta cũ n g có hạt g iô n g của ỉ loạn
Trang 21ch ỉ c ó m ỗ i cảm tình tha thiết, hoặc ch ỉ c ó sự kính phục tinh thần Iliicu
m ột trong ba y ế u tố, tình y êu bất lực, bất thành V à cả ba yêu tỏ ây hiện hình riên g rẽ ở trong tác phẩm , dưới cái nhãn hiệu của ba nhân vật, cuối
cù n g k h ôn g ai c ó thể số n g trọn vẹn được với K iểu Bời K iều là m ột người tình lý tưởng c ó những tình cảm thắm thiết, thuỷ chu n g, c ó m ột bản năng biết chia sẻ n iềm đắm đuối say m ê, có m ột lý trí biết hướng VC sự ca o ca tuyệt vờ i” 22 Từ g ó c độ này thì Thúc Sinh bình dắng với K im Trụng và
Từ H ải N hư vậy v iệc ch u y ển đổi g ó c nhìn đã dem lai m ột kct quá khác hẳn
và kh ông phải không c ó căn cứ Phai nói ngay rằng, cách liêu vân tic rất thú vị của V ũ Hạnh thực ra không phái là m ới N gười ta lừ lâu đã nói tlcìi
m ột hiện tượng gọ i là “tổ hợp nhân vật” trong cá c tiêu thuyết chương hồi Trung Q uốc như ba anh em kết nghĩa Lưu- Quan - Trưưng ( Tam quốc diễn nghĩa) hay bốn thầy trò Đ ường Tăng di lây kinh ( Tây du kỷ), trong <JÓ m ỏi nhân vật đại diện ch o m ột nét tính cá ch và nếu tổn g hợp tấl cá lại sẽ c ó một con ngựời hoàn chỉnh lý tưởng G iú n g tôi sẽ cò n trỏ lại và bàn sâu VC câu chuyện này ở dưới đây Đ ô i với nhàn vật H oạn Thư, giứi ngh iên cứu xưa nay thường lên án H oạn Thư theo quan đ iểm giai cấp- xem H oạn Thư là đại diện cho giai cấp thông trị đ ộ c ác Lê Đ ìn h K ỵ nhận xét: “ H oạn Thư có
m ấy lần khen ngợi tài hoa của K iểu, những cũ n g là để đi đến đưa K iéu ra giữ chùa tụng kinh ở Quan  m C ác, m ượn lay nhà Phật để liuỷ diệt tài hoa của K iều H oạn Thư x ó t thương cái thân th ế ch ìm nổi của K iều , nhưng chính H oạn Thư đã đập tan tành cái m ối tình lẽ m ọn thực ra cũ n g rất hẩm hiu của K iều và đã trực tiếp dọn đường ch o Bạc Bà, Bạc Hạnh đáy K iều xuốn g vực thẳm của kiếp số n g gia n g hồ Đ á y , thực chất của tiểu thư họ
H oạn, con quan Lại bộ, là như thế M ột điển hình gh en t u ô n g ,’m ột điển hình của giai cấp” 2\ T uy vậy cũng đã xuất hiện những tiến g nói đề nghị
x em xét cụ thể hơn, khoa h ọc hơn, ít định k iến hơn về nhân vật này Với phương pháp phân lích tâm lý củ a Phật h ọ c, T hích Nhất H ạnh c h o lăng
H oạn Thư k h ôn g phai là con người bỏ đi, H oạn Thư dù đ ộ c ác nhưng vẫn
c ó m ột cái Tâm hưứng thiện “ C húng ta c ũ n g c ó hạt g iố n g của H oạn
Trang 22cùng dối với Kiều đả xử sự khi thì như người dưng nước lã, khi thì không khác gì Sớ Khanh” 19 N gu yễn Lộc cho rằng Thúc Sinh là m ột thương nhân, mà thương nhân phương Đ ô n g thì bản chất “ hời hợt, bạc nhược, yêu đuối” nên “ c ó thể nói Thúc Sinh là điển hình ch o tẩng lớp (hương nhân này” 211 Ô ng nhận xéi : “ Thúc Sinh không phải tích cực, cũng không phải tiêu cực Ở Thúc Sinh c ó mâu thuẫn giữa động c ơ hành đ ộn g với kết quả hành động C ó mâu thuẫn giữa cảm tình m ột chừng mực nào đó của nhà thơ với khuynh hướng khách quan của hình tượng V à vì nhân vật kết hợp được nhiều màu sắc Ihẩm m ỹ đa dạng, nên bút pháp của nhà thơ cũng đa dạng Khi đứng về phía Thuý K iểu, trân trọng những giây phút êm đềm của cuộc đời Thuý Kiều trong m ối tình của Thúc, nhà thơ sử dụng bút pháp trữ tình Nhưng khi cẩn làm nổi bật bản chất con người của Thúc thì
N guyền Du lại không ngần ngại trong v iệc sử dụng búi pháp trào phúng châm biếm" 21 Phái ghi nhận cái nhìn hiện chứng của Lé Đ ình Kỵ và
N guycn Lộc dổi với nhân vật Thúc Sinh, nhưng dău sao, hai nhà nghiên cứu vần không thừa nhận Thúc Sinh có vai Irò tích cực nào đó trong cu ộc đời Kicu, lại càng không có ý định so sánh Thúc Sinh với Kim Trọng và Tír Hai Nhưng đánh giá Thúc Sinh cũng như đánh giá Kim Trọng và Từ Hải trên một phương diện nào đó cũng lại là đánh giá chính nàng K iều, nếu hạ thấp Thúc Sinh thì cũng chính là đã vô tình hạ thấp hay ít nhất cũng sa vào tình trạng phiến diện khi nhìn nhận Kiều Nhà vãn V ũ Hạnh đã đề nghị một cách nhìn Thúc Sinh từ chính g óc độ của nàng K iều, hới vì như chính ông
đã phàn tích, nếu nhìn theo cách thông thường thì chỉ duy nhất c ó Kim Trọng là xứng đáng dược Kiều lựa chọn Vũ Hạnh viết : “ Đ úng ra trên một quan niệm tình yêu lý tướng, Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hái, cả ha người
áy chung quy là ba khuôn mặt của một con người, ba cái trạng thái không thò thicu (lược cùa một người tình hoàn toàn Bới lẽ tình yêu hoàn toàn phải được ịĩãn bó hằng lình cám chân Ihành của một Kim Trọng, hướng dẫn hang ly trí vững chác cùa một Từ Hải, duy trì hằng hàn nâng si m ê của một niÚL- Sinh Người ta khó lòng quan niệm m ột sự yêu ihưttng toàn vẹn mà
13
Trang 23chỉ c ó m ỗ i cảm tình tha thiết, hoặc chỉ có sự kính phục tinh thần Thiêu
m ột trong ba y ếu tố, tình y êu bất lực, bất thành V à cả ba y ếu to áy hiện hình riêng rẽ ở trong tác phẩm, dưới cái nhãn hiệu của ba nhân vật, cuối
cù n g k h ôn g ai c ó thể số n g trọn vẹn được với K iều Bừi K icu là m ột người tình lý tưởng c ó những tình cảm thắm thiết, thuỷ ch un g, c ó m ột bán năng biết chia sẻ n iềm đắm đuôi say m ê, c ó m ột lý trí biết hướng VC sự ca o cá tuyệt vờ i” 22 Từ g ó c độ này thì Thúc Sinh bìnli đắng với Kim Trọng và
Từ H ai N hư vậy v iệc ch u yển dổi g ó c nhìn đã dem lai m ột két quá khác hẳn
và không phải không c ó căn cứ Phải nói ngay rằng, cách I 1 CU Vấn (lồ rát thú vị của V ũ Hạnh thực ra kh ông phai là m ới N gười ta từ lâu đã nói tiến
m ột hiện tượng g ọ i là “ tổ hợp nhân vật” trong các liêu thuyết chương hồi Trung Q uốc như ba anh em kết nghĩa Lưu- Quan - Trưưng ( Tam (ỊIUH (lien nghĩa) hay bốn thầy trò Đ ường Tăng đi lấy kinh ( Tủy du ký), lio n g đó m ỗ i
nhân vật đại diện ch o m ột nét tính cá ch và nếu lổ n g hựp lất cá lại sẽ c ó một con ngựời hoàn chỉnh lý tướng, ơ i ú n g tôi sẽ cò n trứ lại và bàn sâu về câu chuyện này ở dưới đây Đ ô i với nhân vật H oạn Thư, giới Iighicn cứu xưa nay thường lên án H oạn Thư theo quan đ iểm giai cấp- xem Hoạn l l i ư là dại diện cho giai cấp thống trị đ ộ c ác Lê Đ ìn h Kỵ nhận xét: “ H oạn 11)ư có
m ấy lần khen ngợi tài hoa của K iều, những cũng là dể di đến dưa K icu ra giữ chùa tụng kinh ở Quan  m C ác, mượn tay nhà Phật đc liuỷ diệt tài hoa của K iều H oạn Thư x ó t thương cái thân th ế ch ìm nổi của K iều, nhưng chính H oạn Thư đã đập tan tành cái m ô i tình lẽ m ọn thực ra cũ n g rất hẩm hiu của K iều và đã trực tiếp dọn đường ch o Bạc Bà, Bạc Hạnh đẩy K iều xuốn g vực thẳm của kiếp số n g gia n g hồ Đ â y , thực chất của tiểu thư họ
H oạn, con quan Lại b ộ, là như thế M ột điển hình gh en lu ồ n g ,'m ộ t điển hình của giai cấp ” 2\ Tuy vậy cũ n g đã xuất hiện những tiến g nói đề nghị
x em xét cụ thể hơn, khoa h ọ c hơn, ít định kiến hơn về nhàn vật này V ới phương pháp phân tích t â m l ý c ủ a Phật hục T hích Nhất H ạ n h clio rằng Hoạn Thư k h ôn g phái là con người bỏ đi, H oạn Thư dù đ ộ c ác nhưng vần
có m ột cái Tâm hướng thiện “ C húng ta cũ n g có hạt g iô n g củ a H oạn
Trang 25“Không biết Nguyễn Du đã chăm lo đến mặt dạo đức của Thuý K iề u như thế nào mà người ta có Ihể nói những điều tệ mạt nhát về K iể u như Nguyên Công Trứ, như Tản Đà, như Ngô Đức Kế, như Huỳnh Thúc Kháng „lại cũng có thể nói những điều tốt đẹp nhất về Kiều mà tất cả đều đứng trcn lập trường đạo đức phong kiến Người ta có thể chê Kiều là mất nết, là tà dâm, là con đĩ thập thành, là vợ một tên giặc, là một kẻ giết chồng; nhưng người ta cũng có thể xem Kiều là sắc sảo khôn ngoan, là thục nữ chí cao, là hiếu nghĩa đủ đường, là công đức ai bàng Bản thân Nguyễn Du khùng phải không có lúc tỏ ra lúng túng mặc dầu thái độ của Nguyễn D u đối với nhân vật của mình là thái độ yêu thương vô hạn Sử dĩ như thê là vì, với Nguyễn Du, đạo đức của Kiều không phái là vân đc tư biện, mà d o chính cuộc sống dưới chế độ c ũ đặt ra, nó mang tính chất mâu thuần phức tạp của đời sống” 25.
Đứng từ quan điểm thao tác luận, Phan Ngọc nhận thấy sớ dì cỏ tình
trạng bâj đồng trong các ý kiến đánh giá nhân vạt Truyện Kiền là vì
Nguyễn Du có thao tác “phân tích tâm lý tàn nhẫn” Nguyễn Du tôn trọng những diễn bicn lliực của nội tâm nhân vật, không né tranh, 11C nang, kể cả bộc lộ những điểm yếu hèn hay hành dộng sai lầm cùa nhân vật chính diện như Thuý Kiều Ông viết :“Đã chơi lối phân tích tàn nhẩn này, thì nlìái định nhân vật sẽ là một thao trường tranh cãi” 26
Trần Đình Sừ đỏng góp cho việc lý giãi này bằng khái n iệ m “cái nhìn nhiều chiều” “ Một phương diện khác rất quan Irụng trong thi pháp
Truyện Kiều là cái nhìn nghệ thuật n h iê u chiêu đòi với các hiện tượng dời
sống được miêu tả Khác với các truyện cổ tích, truyện diễn nghĩa và các truyện Nôm khác, các sự kiện th ư ờ n g dược nhắc tới một lần với cái nhìn một chiều Ớ Tấm Cám, Thạch Sanh cái nhìn của người kể chủ yếu lộp trung vào phía kẻ chù động là m điều á c , c ò n tâ m l ý n g ư ờ i b ị h ã m h ạ i thì bị
giản lược đi để điều ác được thực hiện dẻ d à n g Đặc sắc cùa Truyện Kiều
là ở chỗ đả bỏ' trí sao cho phần lớn các sự kiện trong đời Kicu dược nliìn nhận và binh luận từ các góc độ khác nhau” Ô n g n h ấ n m ạ n h cái nhìn
Trang 26hoc quõc gia
TRUNG TÂM THÒNG TIN THU VIỆN I
là sự đổng lổn tại Irong văn bản một vài “giọng nói” 28
Tiểu kết
Lê Đình Kỵ đứng trên lý luận phản ánh, xem xét tương quan giữa tác phẩm và hiện thực khách quan Phan Ngọc chỉ ra nghệ thuật phân tích tâm lý tàn nhãn Trán Đình Sử nhìn từ góc độ của tự sự học, chú ý phân tích bản thAn cấu trúc tác phẩm Mỗi nhà nghiên cứu có một cách tiếp cận riêng
và theo cách riêng dã chi ra một cách đúng đắn bản chất của sự phoríg phú,
nhiều chiều của nhân vật Truyện Kiểu, điêu đã tạo nên sức sống mãnh liệt
Trang 27phận không mấy tốt đẹp thường chờ đợi những người phụ nữ nhẹ dạ trao thân cho người yêu mà Kiều đã từ chối sự quá đà của Kim Trọng Nhưng khi rơi vào tay Mã Giám sinh, Kiều lại ân hận vì đã từ chòi Kim Trọng, cũng lại là ứng xử với vân đề của chữ Thân Vấn đề sống chết cùa Kiều cũng không thể cắt nghĩa rốt ráo nếu nhìn từ góc độ phương pháp sáng tác hay điểm nhìn nghệ thuật Vì lý giải vân đc sống chết của nhân vật là lý giải sự lựa chọn thế ứng xử với thân xác của con người ừ một nền văn hoá xác định Giữa việc để Kiều không quyết tâm chết dù lù trong chốn ỏ nhục nhất và việc Nguyễn Du tả Kiều tắm hay việc ông thường oán trách việc đánh đập thân xác con người có hẳn một mối liên hệ hệ thống mang tính văn hoá, khó phát hiện đưực nếu ta chỉ nhìn hiện tượng một cách cỏ lập
Thế giới nội tâm đa dạng, phong phú cùa nhân vật Truyện Kiều không thể
chỉ nhìn lừ góc độ kỹ thuật tả nội tâm như một vấn đề kì thuật đơn thuần
mà cũng cần được tính đến nguồn gốc văn hoá sâu xa, phán ánh sự thay đổi rất lớn trong quan điểm về Tâm của Nguyễn Du và cùa cá thời đại ùng
Do đó, trong khi tính đến thành tựu, phát hiện của các nhà nghicn cứu đã
có về nhân vật Truyện Kiêu, chúng tôi thấy cần thiết bổ sung them cách
tiếp cận văn hoá để dựng nên bức tranh nhân vật cua tác phẩm này một
cách hoàn chỉnh hơn, góp phần giải thích tình trạng rát độc đáo của Truyện Kiều, một thao trường của những ý kiến trái ngưực.
II TIẾP CẬN NHÂN VẬT TRUYỆN K iều TỪ GÓC ĐỘ VÃN IIOÁ- HAI KHÁI NIỆM THÂN VÀ TÂM
Nhân vật văn học là con người Để hiểu nhân vật vãn học, không thê không tìm hiểu quan niệm về con người cùa tác già cũng như cua cá thời đại và sự chi phổi của quan niệm ây den việc khắc hoạ nhân vật
Có hai cách tìm hiểu quan niệm COI1 người trong lịch sử tư í ưỡn g và văn học Thứ nhất là sử dụng hệ kluíi niệm hiện đại chẳng hạn nliir “con người cá nhân”, “con người đạo đức", “con người xã hội", “con ngư«ị chức
Trang 28năng” đế phân tích Cũng có thể sử đụng khái niêm của chính người xưa làm công cụ phân tích, chẳng hạn hai khái niệm trực tiếp liên quan đến con người vốn được các nhà tư tưởng, các nhà văn thời xưa dùng là “Thân”,
“Tâm” Chúng tôi sẽ áp dụng các khái niệm truyền thống này làm còng cụ chú yếu đê phân tích, khi thấy cần thiết có thể so sánh với các khái niệm hiện đại Về nguyên tắc, các thuật ngữ, khái niệm có giá trị thao tác như nhau, song việc dùng các khái niệm hiện đại tiềm ẩn một nguy cơ là dễ dẫn ta đi đến chỗ hiện đại hoá, suy diễn, gán ghép cho người xưa những tư tưởng của chính chúng la, nếu ta không tôn trọng tính lịch sử của đối tượng nghiên cứu Còn các khái niệm như Thân, Tâm được chính người xưa dùng, buộc la phai tôn Irọng nội hàm của các khái niệm ấy, dễ tránh được nguy
cơ suy diẻn
Như vậy, trong đề tài này, chúng tôi sẽ áp dụng cách phàn tích nội hàm văn lioá cúa hai khái niệm chú yếu liên hệ với vấn đề con người ở
Truyện Kiều là ThAn và Tám, Nhưng để thấy được cái mới mang tính thời đại cua Truyện Kiền, cán thiết có cái nhìn so sánh- lịch sứ về quá trình hình
thành ihế ứng xứ với Thân và Tâm đã từng chi phối văn học Việt Nam các thế ký trước
Việc chia tách các phạm trù liên quan đến con người thành ra Thân
và Tâm chi là cách làm mang tính chất qui ước Trên thực tế, không thể chia cất hai phương diện thăn và tâm một cách tuyệt đối Giống như các cặp phạm I r ù nội dung và hình thức, thời gian và không gian, bản chất và hiện lượng , thán và tâm cũng là hai phạm trù có quan hộ thống nhất, chặt chẽ Không một hiện tượng thân xác, sinh lý nào lại không dẫn phát những nét lãm lý, xúc cam nào đó Ngược lại, những hiện tượng của tâm thực ra iteu là kel quá cùa quá trình lương tác giữa thân xác cùa con người với ngoại ịiiới mà nay sinh Khi phân lích chúng tôi sẽ dặc biệt tính đến thực
10 này Tuy vậy, không thế cùng I11ỘI lúc kháo sál cả hai khái niệm nèn việc uk h ra là mọt thao lác hắt buộc Vá lại cũng cần nổi ngay ràng trcn thực te việc chia tách Thiìn và Tàm là một hiện lượng từng tổn tại khá phổ
19
Trang 29biến trong lịch sử văn hoá nhân loại, không chỉ ở phưưng Đông mà cá ờ
phương Tây ( chúng ta sẽ có dịp trở lại với vấn đề này ừ phần sau) Nói cách khác, cả đối tượng nghiên cứu lản phương pháp phân lích đòi hói phái tách rời hai khái niệm Thân và Tâm đê tìm hiểu
II 1 THÂN
II 1.1 THÂN TRONG VĂN HOÁ c ổ TRUNG ĐẠI
Thân xác là một thực tế hiển nhiên khảng định sự cớ mặt cùa con người trên cuộc đời này Nếu không có thân xác thì cũng khùng có con người Các nhà nghiên cứu qua sự kiện ngôn ngữ đã từ lâu chú ý đốn lầm quan trọng của thân xác đối với một cá thể Trong tiêng Việt, “thân"( thân này, tấm thân) hay “mình” thường được dùng đê chỉ bản ngã, tương tự như
chữ “tôi” ( Thân này đâu dã chịu già tom- Hồ Xuàn Hương) Qua thân thể,
con người nhận thức thế giới quanh Nguyền Văn Trung đã viết rất đúng rằng : Không những người dân Việt coi thân xác tham dự vào mọi sinhhoạt của con người toàn diện với tư cách chủ động mà còn dùng kinh nghiệm về thân xác dể bày tỏ, diễn tả mọi tri thức, quan niệm cuộc đời và mọi giá trị luân lý, tinh thần Nói cách khác, dùng những từ ngữ cụ thc liên quan đến kinh nghiệm về thân xác đẽ diễn tả những điều vỏ hình trừu
tượng” 29 Sớm nhận thức được tầm quan trọng cùa thân xác, các học thuyết
tư tưởng, triết học, tôn giáo ở phưưng Đùng cổ trung đại dã đề IU những phương chàm ứng xử với thân xác khá độc đáo
Phạm trù Thân cỏ một vị trí rất quan trọng trong văn hoá trung đại Các học thuyết tư tưởng, tôn giáo lớn nhát ở phương Đông như Nho- Pliật- Đạo đều có đề cập đến phạm trù Thân khi nói đến mẫu hình con người lý tưởng Các khái niệm về con người lý tường của các học thuyết đó tuy dược diễn tả bằng những khái n iệ m khác nhau ( Thánh, Quân tử, Ticn, Phật) nhưng đều có một sô điểm chung Đê trữ thành Thánh nhân hay Tiên Phật, con người đều phải tuân thủ những nguyên tác ứng xứ khá giống nhau đối với thân xác Do đó, phác hoạ mội bức tranh, dầu là trcn những nét ĩât căn
Trang 30han về cách thức mà con người lý tưởng phương Đông từng ứng xử với thân của mình là tiền đề cần thiết để hiểu được vấn đề thân của nhân vật trong
Truyện Kiều.
Có các cấp độ khác nhau trong việc tiếp cận một khái niệm văn hoá như khái niệm Thân, liên quan đến thân xác con người Trên thực tế, dê thấy có ba cấp độ khác nhau : vấn đề Thân được nhìn qua các học thuyết tư iưởng tôn giáo (Nho- Phật- Đạo), vấn đề Thân qua các ghi chép lịch sử và Thân được trình bày trong các tác phẩm văn học Sự khác nhau thể hiện trong mức độ và tính chất của hành xử với thản xác Các ghi chép lịch sử về hành xử của con người đôi với thân xác mặc dầu đã được lọc qua lăng kính chủ quan cúa người chép sử, thường là lãng kính nho giáo, nhưng vẫn phản ánh cáp độ hiện thực, liên quan đến yếu tô bản năng của con người, vồ luận người đó đứng ỡ vị trí nào trong bực thang xã hội, từ người dân thường đen quí tộc cung đình, vua chúa Những ghi chép vốn không hiếm của sử gia đại loại như “Thà vài trăm cung nữ” sau khi Lê Thánh Tông mất năm
1497 ‘‘’hoặc nhận xét về nguyên nhân dẫn đến cái chết của Lê Hiến'Tông năm 1504 “ vua vì ham nữ sắc, bị bệnh nặng” 31 cho thấy một thực tế là một mặt, các tín diều của Nho- Phật- Đạo vần được rao giảng, mặt khác đời sống hán năng vần tổn tại ớ mọi tầng lớp xã hội, với những màu sắc khác nhau Nhưng việc các kinh điển của Nho- Đạo- Phật, các tác phẩm văn clnrtniị! fruyen há một đời sông tu trì khắc khổ, chôYie lại cái thân xác bản năng, hy sinh thân cho lý tướng đạo đức cũng lại là một thực tế Văn học
phán ánh (lịnh hướng lựa chọn giá trị mang tính lý tưởng còn sử sách thể
hiện cuộc sống thân xác ớ dạng bán năng( bị sử gia Nho giáo kín đáo phê
phán) Str không lưcmg (lổng giữa lý thuyết kinh điển với thực tế này là một hiện tương mang lính loại hình, có thế quan sát thấy trong nhiều nền vãn lioá thời Irung đại Trong công trình này chúng tôi chỉ nghiên cứu khái niệm llian trong ur lương triết học- tòn giáo và trong văn học mà không nghiên cứu việc hành xử thân xác bán nàng của ngiíời Việt thời trung đại
Lý do một phàn vì Lỏng việc này đã có người thực hiện 32, phẩn quan trọng
2 1
Trang 31hơn vì đây là một đề tài nghiên cứu văn học, tìm hiểu tâm thức tiếp nhận
vấn đề thân xác qua các lựa chọn giá trị ỉý tưởng ờ các hệ tư iưứiig văn lioá-
tôn giáo- triết học trung đại và ảnh hưởng của chúng đến các tác phẩm văn học ( sự thể hiện cái tôi trong thơ trữ tình và nhân vật trong các tác phẩm
tự sự) Khi cần thiết, chúng tôi sẽ đối chiếu so sánh với tài liệu thực tê và cá văn học dân gian để làm rõ vân đề ảnh hưởng tưưng lác qua lại giữa giá trị mang tính chất lý tưởng và độ chênh thực tê với các lý tưởng này
Một nhận xét tổng quát là các học thuyết Nho- Phật- Đạo vốn có ánh hưởng sâu sắc đến trí thức Việt Nam thòi trung đại đều tìm cách hạn chế, kiểm soát con người bản năng Thân là biểu hiện trước hết của COI1 người
bản năng Bản năng chính của con người liên quan đèn việc ăn- mặc- ở, tình dục, sống chết, cả ba lĩnh vực này của thân xác đêu được các học
thuyết khác nhau nói trên nhìn nhận và lý giãi có những điểm giông nhau
Con người lý tưởng của Nho gia là Thánh nhân 33 Ilico giới nghiên cứu Trụng Quốc thì từ thời Xuân Thu trỏ về trước, “thánh nhân" là khái niệm chỉ người thông minh chứ chưa dùng để chỉ phạm trù nhân cách lối cao Khổng tử là người đầu tiên dùng hai chữ “thánh nhân" đê chỉ phạm
trù nhân cách lý tưởng Luận ngữ ị Ung dữ) ghi : “Từ Cong viết: “Như hữu
bác thí ư dân nhi năng tê chủng, hà như ? Khả vị nhân hổ ? ” Tử viết : “Hà
sự ư nhân ? Tất dã thánh hồ Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chư ! Phù, nhân giả,
kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” V Tử Cống hỏi Khổng lừ:
“ Nếu có người thi hành nhân đức rộng rãi cho dân gian, lại hay cứu tê cho chúng nhàn thì đánh giá người ấy như thê nào ? Có thể gọi người ây là cỏ đạo Nhàn không ?” Khổng tử đáp : “ Sao chi gọi là người có dạo Nhân? Phải gọi là bậc Thánh Nghicu Thuấn mà làm được như thê cũng khó! Này, người có dạo Nhân muôn lậị) cho mình thì cũng lập cho người, hàn thân muốn thành đạt thì làm cho người thành đạt Trong thicn “Miến vấn”, Khổng tử lại dc cập đên vân de tu dưỡng bản thân và trị quốc an dân như là hai mặt của một mô hình nhân cách lý tường: “Từ Lộ vân quân từ
Tử viết: ‘Tu ký dĩ kính” Vièt : “Như tư nhi dĩ Ỉ1Ổ ?" Viel : “Tu ky đĩ an
Trang 32nhân” Viết : “Như tư nhi dĩ hồ?” Viết : ‘Tu kỷ đĩ an bách tính” Tu kỷ đĩ
an hách tính, Nghiêu Thuấn kỳ do bệnh chư” ( Tử Lộ hỏi về người quân tử Khổng nr đáp: “Kính trọng đối với sự tu dưỡng bản thân” Hỏi : “ Chỉ thế
là đủ thôi sao?” Đáp : “ Tu dưỡng bản Ihân để cho trăm họ được an lạc” Hỏi: “ Chỉ thê là đủ sao'?” Đáp : “ Tu dưỡng bản thân mà khiến trăm họ an lạc là việc khó ngay cá đôi với Nghiêu Thuấn” Như thế, tu kỷ và yên trăm
họ là việc vượt khỏi tầm quân tử, tiến đến bậc thành nhân “Tu kỷ” và “bác thí tế chúng” là hai điều kiện, hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau trong mổ hình thánh nhân do Khổng Tử đề ra về sau nho gia gọi là đạo “nội thánh ngoại vưtmg” Rên trong đối với bản thân thì tu dưỡng phẩm chất đạo đức
cá nhân hoàn thiện, trớ thành thánh nhàn, bên ngoài đối với xã hội nhân quần thì thực hiện lý tưởng đạo đức- chính trị để lập cho người, trở thành
“vương” Các nhà nho có thể bàn khác nhau về Thánh nhân nhưng tựu trung (lều qui VC “tu dưỡng” và “hác thí tế chúng” ( “xử kỷ tiếp vật”) Tất nhiên, như chính Khổng Tử nói, lý tướng về thánh nhân là rất cao, chính ông cũng không Ihấy thánh nhân mà chỉ thấy người quân tử, do đó, nhiều ưường hợp ông hàn về ]ý Iirớng quân lử thực ra mang màu sắc thánh nhân
“Kết hợp tu (lưỡng đạo đức với quyển lực chính trị là lý tưởng giá trị của Nho gia” '4 Sự tu dưỡng của nhà nho đòi hòi những hình thức tu trì rất nghiêm khắc, trước hết dối với nghiêm khắc với thân xác của chính mình Nhà nho chủ trương khắc phục và kiểm soát phần bản nâng của thân xác Khổng Tử ý thức một cách hiện thực về bản năng hướng theo vật dục của con người, đo tìó kicn trì yêu cầu khắc phuc bản năng Về mặt vật chất bản năng con ngirời Ihường bổc lộ ở sự khát khao giàu sang, phú quí và khinh ghét nghèo khó, nlnmg với ngirời tu đạo theo lý tưởng thánh nhân thì phải
(lặt (lạo Nhàn lên trên chuyện giàu nghèo Luận ngữ ( Lý nhân) chép • “Tử
viel: Phú tlữ quí, Iliị nhàn chi sờ dục dã, hất đĩ kì đạo đắc chi bất xử đã Man dữ tiện, thị nhàn chi sớ ố dã, bất đĩ kì đạo đắc chi hất khử dã Quìn tử
vô chung Ihực chi gian vi nhũn, Iháo ihứ tất ư thị, điên hái tất ư thị” ( Khổng Tư nói : " Giàu sang là điều ham muốn của người ta Nhưng nếu
23
Trang 33không phải nhờ đạo mà đạt được thì người quân tử chẳng màng Nghèo và
hèn là điều mà người ta đều ghét, nhưng nếu không bỏ nghèo hèn trên CƯ
sở đạo đức thì người quân tử cũng không bỏ Vì quùn tử bỏ đạo Nhân thì sao gọi được là quân tử ? Người quân tử không bao giờ xa lìa điều nhân dẫu chỉ trong một bữa ăn Khi vội vàng, khi ngả nghiêng đều giữ vững như vậy) Trong đời sống hàng ngày, người quân tử không đề cao việc ăn- mặc
- ở: ăn là để tồn tại chứ không cầu ăn ngon hay ăn no, mặc, ỏ cốt ctủ clie thân chứ không cần nhà cao cửa rộng, không cần lụa là gấm vóc “Quân từ thực vô cầu bão, cư vô cầu an”( Người quân tứ ăn không cầu no, ở không
cầu an- Luận ngữ, Nhan Uyên) Theo ông, kẻ sĩ dã dê tâm chí vào việc lu
đạo mà còn ngượng ngùng, xấu hổ vì áo xấu, cơm hẩm thì chưa dù tic bàn
về đạo ( Lý nhân) Ông ca ngợi Nhan Hồi là ngưừi hiền vì một báu nước,
một giỏ cơm, ớ ngõ hẻm mà lòng không mất đi cái chí vui thích điểu nhân
( Ung dã) Bản thân ông nghe nhạc Thiều tạ i nước Tổ ba tháng ăn khùng
cần biết đến vị thịt ( Thuật nhi) Như vậy, bán năng lớn của thân xác là vân
đề ăn uống đưực Khổng Tứ tính đến và tìm mẫu hình ehe ngự, kiêm soát rat gắt gao Vé ban năng tình Uục thể hiện qua sự ham nie sắc dẹp phụ nữ ông cũng nhận xét khá thực tế khi Vệ Linh Còng mến đức của ông nhưng vần không trọng ỏng bằng trọng ngưừi con gái đẹp là nàng Nam Tử: “ Ngô vị kiến háo đức như háo sắc gia dã” ( Ta chưa hề thấy ai thích dạo (lức bung
thích sắc đẹp - Tứ Hãn) Có lẽ thấu hiểu thực tê là con người chưa the thoát
khỏi ám ảnh của yếu tố bản Iiăng mà Khổng Từ đưa đức mục “khắc kỷ”
vào nội hàm của phạm trù Nhân (Khắc kỷ phục lễ vi nhân - Nlìíiiỉ Uyên)
Nghiêm khắc với sắc dẹp phụ nữ hầu như là một nét tính cách tiêu bicu cùa Khổng Tử và đã thành mội phẩm chất khong thể thiếu nưi những hiền nhân quân tử, anh hùng trong văn hoá phương Đông Với ông, không the cỏ sự dung hoà giữa Đạo Nhân và sắc đẹp phụ nữ Tư Mả Thiên c ó kế VC việc âin nhạc và nữ sắc nướcTể đã lùm vua Lõ bỏ bê chính sự và Khổng Tứ đã bỏ tli không tham dự chính sự nước Lỗ nữa Đỏi với vân đổ sông diết - inộl bản năng hết sức lớn của con người, Khổng Từ cũng có lời phát biếu lát Lịuycl
Trang 34đoán: “ Tử viết: “Chí sĩ nhân nhân vô cầu sinh dĩ hại nhân; hữu sát thân đĩ thành nhân”- ( Khổng tử nói: Bậc chí sĩ người có đạo Nhân là những người không ham sống mà sợ chết, khi cần thiết, phải tự mình chết để bào toàn
đạo Nhân - Vệ Linh Công) Khấc kỷ và sắn sàng chết để bảo vệ đạo Nhân,
đặt các giá trị luân lý đạo đức cao hơn giá trị của thân xác là mô hình lý tướng của nhà nho
Việc xem nhẹ thân xác với tính chất là thân xác hán năng, lức là biết làm chú, kiểm soát, chế thắng, vượt lên trên các nhu cầu vật dục ( ăn ngon, mặc dẹp, nhà ớ sang trọng, vật dụng xa xỉ, đắt tiền và các tham muốn vật chái khác có thế được gọi một cách vắn tắt ]à “tiết dục”), bản năng tình dục, tliani sổng sợ chết Theo giới nghiên cứu Trung Quốc thì các học phái triết học lừ thời Tiên Tần như Nho, Mặc, Đạo, Pháp đều chủ trương
“tiết dục”: “ Mặc dù các lưu phái triết học trên quan điểm đối với phương thức và ý nghĩa của “tiết dục” không hoàn toàn nhất trí, nhimg dối với “tiết dục”, “thiêu dục” về cãn hân đều là giống nhau” 3\ Trong khuôn khổ của etc tài, chúng tôi xin điếm qua quan điểm tiết dục của Đạo gia và Phậrgia
Tuy Đạo gia nói “tuyệt thánh khí trí” nhưng Ihực ra họ cũng có quan niệm ricng về Thánh nhân Theo nhà nghiên cứu Chu Lợi, thống kê sơ bộ irong 26 chương ( trên tổng số 81 chương của sách “Lão Tử”) thấy khái niệm “thánh nhân” xuất hiện cả thây 31 lần 36 Lý tường về Thánh nhân cúa Dạo gia tất nhiên có điểm khác với của Nho gia và ỏ đây chúng tôi không kháo chuyên ve hình mầu thánh nhân của các học phái mà chỉ quan lâm cien nhận lliức và dối xử với thân xác của chúng Xct về cách ứng xử với thân \ác theo quan điểm thánh nhân ( còn được gọi là “chân nhân”
“chí nluìn" ) tí KI Lão Trang, ta dẻ thấy trong sự khác hiệt, vẫn có chỗ tương ilồng với Nho yia " Nliân cách lý tướng cúa Đạo gia lấy “chí nhân”, “chân nhãn" làm tiên I hí có iliếm khác biệt so với Ihánh nhân quân tử của Nho gia Tuy nhiên liên quan liiếm thông qua con đường tiết dục để đạt tới canh <!ĨỚI nhãn cáclì l\ lương t h ì hai dạo có s ự tương đổng trong dị hiệt Thậm I In I Ik Cứu llyén thời Nam Tống đã nói : “ sự phãn hiệt thiên lý
25
Trang 35nhân dục “không phải là lời của Thánh nhân” ( ý nói cua Khổng tử- TNT)
mà “gốc ớ Lão thị” 37 Chương 12 của “Đạo đức kinh” viết về những nguy
cơ mà ihê giới vật dục có thể qua con đường thân thể ( các giác quan) làm lầm lạc nhân cách con người như sau : “ Ngũ sắc linh nhân mục manh; ngũ
âm linh nhân nhĩ lung; ngũ vị linh nhân khẩu sảng; trì sính điền liệp linh nhân tám phát cuồng; nan đắc chi hoá linh nhân hành phương Thị dĩ thánh nhân vị phúc hất vị mục, cố khử hỉ thủ thử” ( Ngũ săc làm người ta mờ mắt; ngũ ủm làm người ta ù tai; ngũ vị lam ngưòi ta tê lưỡi; ruỗi ngựa săn hắn làm cho lòng người la mê loạn; vàng bạc châu báu làm cho hành vi người tu đồi bại Cho nên thánh nhàn cầu no bụng mà không cầu vui mắt,
bỏ cái này mà lựa cái kia ( tức cầu chất phác, vô dục mà bỏ sự xa xỉ, đa dục)- Nguyễn Hiến Lê dịch) Những dòng trên là cơ sở để hiểu được toàn
hộ triết lý nhân sinh của Đạo gia hướng đến cuộc sống theo phương châm
“khinh vậl quí sinh” Lảo tứ nói : “ Danh dữ thân ihục thân ? Thân dữ hoá thục đa ? Đắc dữ vong thục bệnh ? Thị cổ thậm ái tất đại phí, đa tàng tất hậu vong Tri lúc hất nhục, tri chỉ bất đãi, khả dĩ trường cửu” ( Danh lợi và thân, cái nào cần hơn ? Thân mệnh với của cải, cái nào quí hơn ? Được danh lợi vật chất, mất sinh thân mệnh thì có hại thế nào ? Ham danh lợi của cải nhiểu quá sẽ mất nhiều, hao tổn nhiều thân mệnh Biết đủ sẽ không nhục, biết ngừng sẽ không nguy khốn mà sống lâu” - chương 44) Triết lý
về thân của Lão tử đề cao cái chân phác, tự nhiên, thanh tâm quả dục, thanh tĩnh vô vi, khước từ tham muốn vật chất Đến Trang tử ta đã thấy dấu
ấn cua sự (lé cao lý tưởng tu thân thành tiên mà bậc tiên nhán có đặc điểm vượt thoát hắn thế tục trong cách ứng xử thân xác Ông mirờng tượng trên núi Diếu Cô Xạ có bậc “thần nhân” cư ngụ “ da thịt như băng tuyết, tư thái nhẹ nhàng yểu điệu như con gái chưa chồng, không ăn ngũ cốc, chỉ hớp gió lành, uống nước sương móc, cỡi mây hay như rồng ngao ru bốn biển Tinh thần ổng la yên tĩnh chuyên nhất khiến muốn loài không bị hư hại mà năm nào cũng được mùa” ,s Thánh nhân trong cách nghĩ của Trang tử cũng là Tiên nhàn, người có thè vượt ra khỏi sự chi phôi của nhu cầu thân xác bản
Trang 36năng (lê trỡ thành nhãn cách siêu việt với năng lượng siêu phàm có thể tác động vào vũ trụ.
Trang tử nhìn cái chết trên cơ sở lý luận về thế ứng xử với thân xác Trong thiên Chí lạc, ông phê phán sự mê lầm của phàm nhân chạy theo nhu cầu thân xác bán năng: “Trong thế giới người ta đểu quí giàu có, tôn quí, trường thọ, tên tuổi, người ta đều thích thân thể an nhàn, ăn uống no đủ, mặc đẹp nhiều màu sắc nghe âm thanh vui lai và ghét bỏ sự nghèo hèn, ti tiện, chết non, tiếng xấu, cảm thấy đau khổ nếu thân thể không được an nhàn, ăn itồ ăn dỡ, không được mặc đẹp, mắt không được Ihấy màu sắc đẹp, tai không được nghe tiếng hay, một khi không được thoả ý thì lấy làm
buồn lắm Như vậy sống mà chẳng ngu xuẩn lắm sao!” }l) Tham vọng thoả
mãn nhu cầu bán năng thân xác của con người là vô cùng, nhưng khả năng (tạt được liục vọng lại hữu han khiến cho con người luôn đau khổ, lo buồn Dối với ỏng, vò vi mới Ihực sự là (liều vui thích nhấl ( ngổ dĩ vô vi thành lạc hì) Ticn thêm một bước, Trang từ đưa ra cách nhìn đáy triết lý về cái chẽl vốn là tticn mà con người phàm trần thường riít lo sợ VĂn thiên'“Chí lạc” kế chuyện khi vợ Trang tử mất, Huệ lứ đến điếu thây Trang tứ ngồi vỗ bổn sành mà hát, hèn trách ỏng quá quắt Trang tứ giái thích bàng việc nhận thức qui luật cúa sinh mệnh Khí tụ lại Ihành sinh mệnh thì khí cũng
có thể tán ra gày nên cái chết, đó là sự hiến hoá lự nhiên của khí Nếu cứ khóc lóc llian van thì không hiểu mệnh sỏ Bậc thánh nhân nám được qui luật Ihì không rơi vào tình cám uỷ mỵ Thậm chí ông kể chuyện ngụ ngón
vé chiếc (táu làu kể cluiyện về thế giới người chết, nơi đó “trên khỏng có vua, dưới không có lôi'’, khòng có nóng lạnh, hôn mùa, hậc đế vương cũng khổng sướng hơn Nlunig như thế không có nghĩa là õng mâu thuẫn với linh tluin ‘trong sinh, quí sinh” cùa đạo gia nói chung Học thuyết về khí
mà Trang lư dã từng nói tới là cơ sớ cho thuyết Irường sinh thành tiên của (lao ịĩia Nhưng ilế (hãnh liên, đế sông trường sinh bát từ thì con người lại phái man iheo I11ỘI LUỘC sóng đạm bạc, thanh lâm quà dục Không phải ngầu Iiliièn mà hâu như tiầt cá các cách hình dung vé Tiên cùa điển tịch Đạo
27
Trang 37giáo Trung Quốc đều nói đến một đời sống thanh đạm, thoát ta ngoài vòng vật chất của con người phàm trần Các bậc thần tiên da thịt trong sạch, thần thái động nhân, không ăn ngũ cốc, ăn gió uống sương móc, đi mAy vé gió, chu du ngoài bốn biển, thọ hàng vài ngàn năm, có pháp thuật cao cường, điều hoà âm dương, khiến nhật nguyệt thường sáng, bốn mùa thường thuận hoà.thảo mộc xanh tươi, lương thực sung túc 40 Tóm lại, bậc thần tiên
có những nguycn tắc tu thân ricng nên có những kha năng phi thường về thân để giúp đời vượt lên trên những qui luật thông thường về sinh lý, vật
lý mà người thường không thể có dưực Nhưng đạo cầu tiên không ảnh hưởng nhiều đến vãn học trung đại nưức ta nên chúng tỏi không đi sâu
Phật giáo là một học thuyết chú trọng đến Tâm nhưng cũng có một triết lý về Thân Tâm học của nhà Phật hướng về trạng thái tâm lur, tâm trống rỗng, tâm thanh tịnh, coi sắc không, tâm vật dcu là hư áo thì 'IIúm cũng không thể không bị phủ định Thái độ của nhà Phật dôi với ihân dựa trên căn bản quan niệm phủ nhận lliàn thể qua các giác quan ( ngũ quan) Cầu Pháp Phật đòi hỏi con ngưừi phái vưựt lên trcn kiến văn đo tii giác
đem lại Kinh Kim Ciỉíĩììg ( Như Lai tliực kiến plìLĨu dệ ngũ) viết: Tu llổ Đổ
hỏi có thể lấy thân mà tu tập thành Pliật không ( khả dĩ thân tướng kiến Như Lai bất ?) Trá lời : không thể Cái gọi bàng Phật Như Lai không thể lấy thân mà tháy được Phật bảo Tu Bồ Đề rằng: “ Những gì thấy bằng hình tướng- tiếp nhận bằng thân thể, bằng giác quan- đều là già, không có thực Nếu không còn chấp các hiện tưựng sự vật của thế giới là các hiện tượng sự vật thực hữu nữa, tức không chấp vào các giác quan để nhìn thế giới, thì đã thành Phật Như Lai” ( Phàm hữu sở tướng, giai thị hư vụng Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức thị Như Lai) Người tu ở bậc tu đáu ticn, ban sơ gọi là Tu Đà hoàn dã phái biết vưựt thoát khỏi sự chi phối của thân xác ( sự hiện hữu của thân xác đưực thể hiện bằng giác quan như dã nói) Không sa vào vòng chi phối cùa giác quan thân thể gọi là đạt đốn quá Tu Đà hoàn ( Bất nhập sắc, thanh, hưưiig, vị, xúc pháp thị danh Tu Đà hoàn- Kim Cương kinh) Kinh Duy Ma Cật cũng viết; “Pháp không phải do kicn ( Iilìin lliấy )
Trang 38năng đế trớ thành nhàn cách siêu việt với năng lượng siêu phàm có thể tác động vào vũ trụ.
Trang tử nhìn cái chết trên cơ sở lý luận vể thế ứng xử với thân xác Trong thiên Chí lạc, ông phê phán sự mê lầm cua phàm nhân chạy theo nhu cầu thân xác bán năng: “Trong thế giới người la đéu quí giàu có, tôn quí, trường thọ, lên tuổi, neười ta đều thích thân thể an nhàn, ăn uống no đủ, mặc đẹp nhiều màu sắc nghe âm thanh vui tai và ghét bó sự nghèo hèn, ti tiện, chết non, tiếng xấu, cảm thấy đau khổ nếu thân thể không được an nhàn, ăn itồ ăn dớ, không được mạc đẹp, mắt không được thấy màu sắc đẹp, tai không được nghe tiếng hay, một khi không được thoả ý thì lây làm buồn lắm Như vậy sống mà chẳng ngu xuẩn lắm sao!” w Tham vọng thoả mãn nhu cáu hán năng thân xác cùa con người là vô cùng, nhưng khá năng đạt được dục vọng lại hữu hạn khiến cho con người luôn đau khổ, lo buồn Đôi với õng, võ vi mới ihực sự là điều vui thích nhất ( ngỏ dĩ vô vi thành lạc hi) Ticn thêm một hước, Trang lử cUra ra cách nhìn đáy triết lý về cái chét vốn là điều mà con người phàm trán thường rấl lo sợ VÃn thiên'“Chí lạc” kè chuyện khi vợ Trang tử mất, Huệ tử đến diếu thấy Trang tử ngồi vỗ hổn sành mà hát, hèn trách õng quá quắt Trang tứ giãi thích bằng việc nhận thức qui luật cúa sinh mệnh Khí tụ tại thành sinh mệnh thì khí cũng
có thể tán ra gây nên cúi chết, đó lù sư hiến hoá tự nhiên của khí Nếu cứ khóc lóc than van thì không hiểu mệnh sô Bậc thánh nhân nắm được qui luật Ihì không rơi vào lình cám uỷ mỵ Thậm chí ông kể chuyện ngụ ngón
vé chiếc (láu lâu kể chuyện vé thế giới người chết, nơi đó “trên không có vua, (lưới không có lỏi”, không có nóng lạnh, bôn mùa, bậc đế vương cũng không sương lum Nlumg như thè không có nghĩa là ông mâu thuẫn với tinh thẩn "trọng sình, quí sinh” của đạo gia nói chung Học ihuyết về khí
mà Trang lử dã từng nói tới là cơ sớ cho thuyết trường sinh thành tiên của (lạo ịỉia Nhưng (lé thành tiên, d ế sống Irường sinh bát tử thì con người lại
phái H u n ilie o m ộ t cuộc song (lạ m bạc, thanh tâm quà d ụ c Không phải ngầu nhicn mà hau như lát cá các cách hình dung vé Tiên cùa điển tịch Đạo
27
Trang 39giáo Trung Quốc đều nói đến một đời sống thanh đạm, thoát ta ngoài vòng vật chất của con người phàm trần Các bậc thần tiên da thịt trong sạch, thần thái động nhân, không ăn ngũ cốc, ăn gió uống sương móc, đi mây vc gió, chu du ngoài bốn biển, thọ hàng vài ngàn năm, có pháp thuật cao cường, điều hoà âm dương, khiến nhật nguyệt thường sáng, bốn mùa thường thuận hoà,thảo mộc xanh tươi, lương thực sung lúc Jn Tóm lại, bạc thần tiên
có những nguycn tắc tu thân riêng nên có những khá năng phi Ihường vé thân để giúp đời vượt lên trên những qui luật thông thưừng về sinh lý, vật
lý mà người thường không thể có được Nhưng đạo cầu tiên không anh hưởng nhiều đến văn học trung đại nưức ta nên chúng tòi không đi sâu
Phật giáo là một học thuyết chú trọng đến Tâm nhưng cũng có mội triết lý về Thân Tâm học cùa nhà Phật ỉiưứng về trạng thái tâm hư, tâm trống rỗng, tâm thanh tịnh, coi sắc không, tâm vật đéu ỉà hư ào thì Tliân cũng không thể không bị phủ định Thái độ của nhà Phật đồi với thân dựa trên căn bản quan niệm phù nhận thân thể qua các giác quan ( ngũ quan) Cầu Pháp Phật đòi hỏi con người phái vượt lòn trên kiên vãn do ti i giác
đem lại Kinh Kim Ciừtiig ( Như Lui thực kiến pluĩn íỉệ nạt/) viết: Tu Bổ Đe
hỏi có thể lấy thân mà tu tập thành Phật không ( khá dĩ thân tướng kiến Như Lai bất ?) Trả lời : không thể Cái gọi bằng Phật Như Lai không thể lấy thân mà thấy được Phật bảo Tu Bồ Đé rằng: “ Những gì thấy bằng hình tướng- tiếp nhạn bàng thân thể, bằng giác quan- đều là giá, không có thực Nếu không còn chấp các hiện tưựĩig sự vật của thế giới là các hiện tượng sự vật thực hữu nữa, tức không chấp vào các giác quan dể nhìn thê giới, thì đã thành Phật Như Lai” ( Phàm hữu sờ tướng, giai thị hư vụng Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức thị Như Lai) Ngưừi tu ở bậc tu đáu ticn, ban sư gọi là Tu Đà hoàn đã phải biết vưựt thoát khỏi sự chi phôi của thân xác ( sự hiện hữu của thân xác đưực thê hiện bằng giác quan như đã nói) Không sa vào vòng chi phôi của giác quan thân thể gợi là đạt đến quà Tu Đà lioàn ( Bất nhập sắc, thanh, hưưng, vị, xúc pháp thị danh Tu Đà hoàn- kim Cưưng kinh) Kinh Duy Ma Cật cũng viết; “Pháp không phải do kiên ( nhìn tliây )
Trang 40văn ( nghe thây) giác ( tiếp xúc) trí ( hiểu biết) mà có Nếu pháp do kiến văn giác trí mà có được thì đây chỉ là kiến văn giác trí mà ihôi, không phải
là cầu pháp” ( Pháp bất khả kiến, vãn, giác, trí; nhược hành kiến vãn giác trí thị biệt kiến văn giác trí, phi cầu pháp d ã )41 Bởi vì Pháp chỉ được thể hội ở chỗ siêu việt giác quan, giác quan không thể đạt tới được Thân và vật
- cái mà thân có thể liếp xúc- đều là giả dối, hư vọng Chấp vào thân, vật
thì vần ớ trong vòng sống chết, sắc sắc không không, sác ( hình thể vật
chất) là không mà không cũng là sắc tức là phiíctiig pháp nhận thức đòi hỏi người tu trì phái vượt thoát ( siêu việt) lên khỏi vòng hạn chế của nhận thức kinh nghiệm hằng thân xác Nếu con người khồng còn phàn hiệt sắc và không nữa thì dã đạt lới dược cánh giới giác ngộ Cơ sở triết học của việc ứng xứ với thân xác trong Phật học sâu sắc và phức tạp hơn nhimg xét thực chãi thì vẩn xây dựng một chu triftfng kiểm soát nghiệt ngã với thñn xác hán nâng [) Su/Iiki dã giới thiệu vé lôi sõng thanh bán, đạm bạc của các tliicn sư An Độ "Một y, một bát, dưới cội cày” Các thiển sư ngày nay có Ihe itược cung Cííp sinh hoại sung túc h(tn Iihimg “nhu cáu của họ vẫn được licì giám (lốn mức lỏi lliièu; khuôn theo mức sống ấy của các thiền táng, Ihiét tướng không ai có the sông dạm hạc lum dược, nếu không nói thế là
dạm bạc nhất''Aĩ Vân để lớn nhái cùa con người là sinh từ theo Phật giáo
sớ clĩ lớn vì được đặt ra theo lối nhận thức “nhị kiến” Người tu hành theo Thiền lõng hiếu dó là vấn để do chính con người đặt ra một cách giả tạo, Nói nlnr Tuệ Trung thương sĩ, sở đĩ có chuyện sinh tử là vì con người còn giữ cái tâm, tức là vần nghĩ đến việc sống chết như người thường Một khi
ta trừ (liệt bò tàm, lức các ý nghĩ xung quanh diều sống chết, thì hiển nhiên không tổn tại vàn cté sinh tử nữa {Tủm chi sinh hề sinh tử sinh, Tâm chi iỉiệt lie Miìli ĩ ừ (ỈÍỌt) Nguyễn Lang phàn tích hai câu thơ này như sau: “Khi
ilíì sollt: Ilụrc sư Irong đời sóng thực lai giái thoát thì những cặp chông đối như " s in h t ứ - niẽt bàn”, “phiền não bổ để”, “địa ngục - thiên
đ ư ờ n g " k h ô n g c ò n lò n tại nữa hỡi vì cái nhìn “nhị kiến” đà bị phá bỏ” 43 Nliimi! h oà n loàn klióng p hai nói như thớ là cho rằng vượt khỏi cái nhìn nhị