Việc hình thành các mô hình trang trại thuộc các lĩnh vực sản xuất khác nhau đã mở ra cho người lao động các hướng kinh doanh mới: tận dụng được những nguồn tài nguyên thiên nhiên và các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRUỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự N H IÊ N
Đ Ể TÀI:
XÂY DỰNG MỘT s ố MÔ HỈNH KINH TẾ TRANG TRẠI
ở HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI
VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CHÚNG PHỤC vụ SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Mã số: QT - 07 - 39
Chủ trì đề tài: TS Thái Thị Quỳnh Như
Những người tham gia: TS Trần Văn Tuấn
Th.s Phạm Thị Phin
CN Lê Thị Hồng
CN Nguyễn Xuân Sơn
ĐẠI HOC Q UỐ C GIA HÀ NỘI
'RUNG TẨM TH Ò N G TIN THƯ VIỆN
p r / m
H à Nội - 2007
Trang 2T Ó M T Ắ T B Á O C Á O
1 Tên đề tài: X â y dựng một số mô h ìn h k in h tế trang trại ở huyện B ắ c hà
và đánh g iá hiệu q u ả k in h tế của ch ú n g p h ụ c vụ sản xuất nông nghiệp và bảo vệ m ôi trường
M ã SỐ: QT - 07 - 39
2 C hủ trì đề tài: TS Thái Thị Quỳnh Như
3 C án bộ phối họp: TS Trần Văn Tuấn
Th.s Phạm Thị Phin
CN Lê Thị Hong
CN Nguyễn Xuân Sơn
4 M ục tiêu và nội du n g nghiên cứu
4.1 M ụ c tiêu: Nghiên cứu thực trạng kinh tế trang trại khu vực miền núi phía Bắc, các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đánh giá hiện trạng sử dụrm quỹ đất và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Huyện Bắc Hà, Lào Cai Xây dựng một số mô hinh trang trại điển hình khu vực nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình nhằm phát triển nông nghiệp nông thôn miền núi và bảo vệ môi trường
5 Các kết q uả đ ạ t đư ợ c
- Với đặc thù là khu vực đất miền núi, diện tích đất tự nhiên rộns nhưng quỹ đất cỏ thể sử dụng vào cho các mục đích sản xuất nông nehiệp là rất hạn chế
Trang 3cầm, gia súc cũng có nhiều triển vọng Nhóm tác giả đã đề xuất 3 mô hình sử dụng đất co kinh tế trang trại khu vực nghiên cứu trên cơ sở các yếu tố địa hình, tập quán canh tác và các vùng sinh thái trong Huyện (3 vùng sinh thái)
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của 3 mô hình đề xuất và có một số kiến nghị trong việc sử dụng đất và quy hoạch phát triển kinh tế trang trại khu vực miền
- Côn g bó 01 bài báo: Thái Thị Quỳnh Như, Trần Văn Tuấn, Phạm Thị Phin,
Lê Thị Hồng, Nguyễn Xuân Sơn N ghiên cứu m ột số mô hình trang trại k h u vực m iền núi p h ía B ắ c Tạp chí Địa chính - Viện nghiên cứu địa chính
6 T ình hình kinh p h í của đề tài:
Kinh phí: 20.000.000 đ, thực hiện trong 1 năm
núi
XÁC NHÂN CỦA TRƯỜNG
Trang 4SUM M ARY A R E P O R T
( Sort report)
1 P ro je ct title: Establishment o f farm economic models in Bac Ha District Lao Cai Province and assessment o f economic effectiveness for sustainable agriculture development and environment protection
P ro je ct code: QT-07-39
2 P ro je ct c o o rd in a to r: Dr Thai Thi Quynh Nhu
3 C o-operative officials: Dr Tran Van Tuan,
MSc Pham Thi Phin,BSc Le Thi Hong,BSc Nguyen Xuan Son
4 R esearch objectives and contents
4 1 Obịectives
- Research on present State of farm economics in the mountainous northern area, natural and socio-economic conditions, assessment of lanđ fund use and needs of socio-economic development in Bac Ha District, Lao Cai Province
- Development of some typical farm economic models for the study area, assessment o f economic effectiveness o f the models for supporting aericulture development and environmental protection in the mountainous rural area
4.2 Contents
- Revievv of current State and development tendency, and main characteristics of farms in the mountainous areas
- Research on the current State o f farm econ om ic m odels in Bac Ha
District, Lao Cai Province
- Development of some typical farm economic models for the study area assessment o f their economic effectiveness
- Proposals o f some cases o f land use planning for the developed models
in conịunction with improvement o f economic effectiveness and environment protection in slope soil
5 Achieved resu lts
Trang 5limited However, the area for development o f forestry and fruit-tree planting
is o f high potential, and the breeding o f poultry is promising The authors have proposed 3 models o f farm land use based on various factors: topology, farming habits, and eco-zone in the district
- Assessment o f economic effectiveness o f the 3 proposed models and suggestions in land use for development o f farm economics in mountainous areas
- 01 published paper: T.T.Q.Nhu, T.V.Tuan, P.T.Phin, L.T.Hong N.X.Son Research on the development o f farm economic models in the mountainous northem area
6 P ro je ct ex p en d itu re
20 millions VND for One year
Trang 6C hương 3.Đ ánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình tra n g trạ i, xây
dựng đ ịnh hướng sử d ụ n g đ ất bền vững và bảo vệ mỏi trư ờng 363.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Huyện Bắc H à 363.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội huyện Bắc H à 393.3 Đánh giá tình hình sử dụng đất 413.4 Đánh giá tổng quan tình hình sử dụng đất trang trại huyện Bắc Hà 473.5 Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất cho các mô 49hình trang trại đến năm 2015
3 5 1 Tiềm năng đất đ ai và định hướng sử dụng đất đến năm 20 10 49
3 5.2 C á c mô hình trang trại điển hình Huyện B ắc H à và định hướng
phát triển đến năm 2 0 1 5 51
3.5.3.D ùng m ô hình toán đ ể xác định cơ cấu sử dụng đất hợp lý trong
Trang 7M Ở ĐÀU
T ính cấp th iế t của đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, kinh tế hộ nông dân đã phát huy tác dụng to lớn, tạo sức mạnh mới trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng của nền kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại (TT) được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và nâng cao năng suất, hiệu quả
và sức cạnh tranh trên thị trường
Trong những năm gần đây, việc khai thác sử dụng đất đai tại nhiều địa phương ở nước ta ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên tại nhiều khu vực, nhất là khu vực miền núi, hiện trạng khai thác sử dụng đất vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, trong đó định hướng sử dụng đất dốc như thế nào cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái của địa phương đang là nhiệm
vụ cấp thiết
Huyện Bắc Hà là một miền núi của Tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên lớn (67.872 ha), diện tích đất lâm nghiệp còn rất nhiều nếu có chính sách sử dụn£, khai thác hợp lý có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là bảo vệ môi trường cho khu vực đất dốc Lựa chọn mô hình sử dụng dất cho khu vực nghiên cứu dựa trên điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cua dịa phương và đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình là nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu Xuất phát từ vấn đề này, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: Xảy dựng một s ố mô hình kinh tế trưng trại ở huyện B ắc Hù, tỉnh Lào C a i và đánh giá hiệu qua kinh tế của chúng phục vụ sản xuất nông nghiệp
và bảo vệ m ôi trường.
M ục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá hiện trạng sử dụns quỹ đất và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tình hình sử dụng đất cho mô hình kinh tế trang trại Xây dựng một số mô hình trang trại điển hình, đánh giá hiệu qua kinh tế của các mô hình này, dựa trên các phương án quy hoạch sử dụne đất của Huyện (2 0 1 0 ) xây dựng định hướng sử dụng đất hợp lý cho các mô hình trang trại đến năm 2015
Nhiệm vụ nghiên cứu: Đe thực hiện mục tiêu trên, đề tài đề ra các nhiệm
vụ chủ yếu sau:
1
Trang 8- Điều tra, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Huyện Bẩc
- Phương pháp điều tra, khảo sát: dùng để điều tra thu thập tài liệu, số liệu
và khảo sát hiện trạng sử dụng đất cho mô hình trang trại của huyện
- Phương pháp so sánh: nhằm làm rõ tình hình phát triển kinh tế - xã hội vàbiến động sử dụng đất
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để phân tích, đánh giá hiện trạng
sử dụng đất và tổng hợp các mô hình trang trại trên địa bàn huyện
- Phương pháp bàn đồ và GIS: ứng dụng để xây dựng các bản đồ hiện trạng
Chương 1: Trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc dân
Chương 2: Nghiên cứu một số mô hình trang trại điển hình khu vực miền núi
Chuơng 3: Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình trang trại đề xuất, xây dựngđịnh hướng sử dụng đất bền vững và bảo vệ môi trường
Trang 9TRANG TRẠI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
NỂN KINH TẾ QUỐC DÂN
1.1 Vai trò của trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dán
Đây là hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường và mở rộng quy mô sản xuất trong tất cả các ngành kinh tế nói chungvà kinh tế nông nghiệp nói riêng Việc hình thành các mô hình trang trại thuộc các lĩnh vực sản xuất khác nhau đã
mở ra cho người lao động các hướng kinh doanh mới: tận dụng được những nguồn tài nguyên thiên nhiên và các cơ sở vật chất có sẩn, tận dụng được nguồn vốn (nếu như trước vốn bị phân tán cho nhiều mục đích khác nhau thì nay được tập trung vào 1 hoặc 2 hướng chính) đổng thời cũng tận dụng được nguồn lao động dồi dào trong gia đình và các chính sách ưu đãi quan trọng khác của Nhà nước nhằm phát triển kinh tế trang trại
Về mặt kinh tế nguồn thu từ kinh tế trang trại trong vòng 10 năm trở lại đây đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc
dân Có thể nhận thấy có đến hơn 30% các hộ gia đình sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay có xu hướng mở rộng sản xuất cho gia đình mình về cả hướng sản xuất về cả quy mô để trở thành các trang trại theo đúng tiêu chí về trang trại mà nhà nước đề ra Việc các gia đình có diện tích sản xuất không lớn đã kết hợp với nhau hoặc tìm cách m ua lại của các hộ nông dân khác không có nhu cầu sản xuất nông nghiệp để có diện tích rộng hơn đã rất phổ biến tại những khu vực có diện tích sản xuất nông nghiệp không lớn
Sự phát triển của KTTT đã góp phần quan trọng trong việc xoá đói giảm nghèo
ở nhiều địa phương, nhiều trang trại đã vươn lên làm giàu về kinh tế, đồng thời làm phong phú sinh động thêm cảnh quan thiên nhiên, khơi dậy các nguồn lực cả
về vật chất lẫn các kiến thức bản địa góp phần đáng kể trong việc phủ xanh đất trống đồi trọc ở trung du, miền núi và vùng cát ven biển, làm đẹp các thành phố thị xã, thị trấn Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP cùa Chính phủ ngày 02/02/2000 về K.TTT đã khẳng định: Sự phát triển của KTTT đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, đưa vào khai thác thêm nhiều điện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển
Hàng trăm nghìn ha đất trồng lúa kém hiệu quả ở nhiều địa phương đượcchuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, nhiều vùng đồi núi trọc chuyến sang trồng rừng
3
CHƯƠNG 1
Trang 10trồng cây đặc sản, tạo ra một bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
Có thể nói kinh tế trang trại phát triển đã tạo ra khối lượng hàng hoá lớn, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản phát triển mạnh
Điều đáng quan tâm là kinh tế trang trại phát triển đã mở ra hướng làm ãn mới, hình thành một đội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ, dám làm, nhiều chú trang trại đã chú trọng áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hoá hiện đại quá trình sản xuất
Kinh tế trang trại phát triển không những tạo ra hàng hoá mà còn tạo ra việc làm cho hàng triệu nông dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống, xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội Nhiều trang trại đã ùng hộ hàng trăm triệu đồng giúp xây dựng trường học, xoá nhà tạm, hỗ trợ trẻ mồ côi, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo cả nuớc xuống còn khoảng 10%
Kinh tế trang trại còn tạo ra một môi trường trong lành cho các địa bàn dân cư, góp phần biến các vùng đất hoang hoá thành các vùng nông - lâm nghiệp trù phú, cân bằng sinh thái, làm phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên, khơi dậy các nguồn lực về vật chất lẫn kiến thức bản địa trong việc bảo vệ môi trường phục vụ cộng đồng, làm đẹp thêm cảnh quan nhiều vùng đất vốn trước đây ít hiệu quá kinh
Các chương trình phát triển diện tích rừng cũng làm xuất hiện những mô hình trang trại trồng rừng m ang lại hiệu quả kinh tế khá cao, việc tận dụng đất trống vào trồng rừng, trồng các loại cây ãn quả không chi mang ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên Các loại hình trang trại khác như chăn nuôi hoặc nuôi trồng thuý sản cũng góp phần quan trọng vào nguồn thu của Nhà nước đồng thời mớ ra những hướng sản xuất mới cho người lao động, tận dụng được những khu vực chưa được khai thác, đồng thời môi trường của các dải đất ven biển cũng được cải thiện, được đầu tư và phát triển
Quy hoạch sử dụng đất cho mô hình trang trại cũng là một trong những mục tiêu chính của việc lập k ế hoạch, quy hoạch sử dụng đất của Nhà nước Quy hoạch
sử dụng đất cho mô hình trang tại là sự kết hợp giữa quy hoạch sử dụng đất theo dơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh, cả nước), đồng thời cũng không nằm ngoài mục
Trang 11của loại hình sử dụng đó với mục đích giảm tối đa các chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.2 Tổng quan vê tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Nhờ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây kinh
tế cả nước nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng đã phát huy tác dụng to lớn, trong đó phải kể đến hình thức kinh tế trang trại (KTTT) đã tăng nhanh ở mọi miền đất Ở châu thổ Đ ồng bằng sông Hồng đã có hàng vạn trang trại; ở Bắc Giang, Yên Bái có 17720 trang trại, Sơn La có 5000 hộ nông dân thành lập trang trại Tại Tuyên Quang, Quảng Ninh, Lào Cai cũng đã hình thành hàng vạn trang trại trồng rừng, cây ăn quả, cây thuốc và chăn nuôi Ở phía Nam, tỉnh Ninh Thuận với điều kiện khí hậu khắc nghiệt cũng đã có tới 779 trang trại bao gồm: 627 trang trại nuôi bò, cừu, 15 trang trại trồng củ cải, 83 trang trại nuôi trồng thuỷ sản và 48 trang trại nuôi tôm giống Tại Đồng Nai, Bình Dương có hàng trăm trang trại nuôi lọn, chế biến thức ăn gia súc, trồng cao su, trồng điều; Đaklak, Gia Lai, Kon Tum
đã hình thành nhiều trang trại trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, cây ăn quả
ở các tỉnh ven biển từ Hải Phòng đến Cà Mau, hàng vạn trang trại nuôi trồng thuỷ - hải sản có giá trị kinh tế cao Các trang trại không những phát triển ở nông thôn mà ở một số thành phố cũng đã hình thành hàng trăm loại trang trại khác nhau
Kinh tế trang trại ở Việt Nam đã phát triển theo đặc điểm từng vùng Trang trại thuỷ sản chủ yếu tập trung những vùng biển, nơi có nhiều sông hồ như đồng bằng sông Hồng, ven biển m iền trung và đồng bằng sông Cừu Long; trang trại trồng cây lâu năm tập trung ở vùng có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp như Tây Bắc Đông Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trang trại chăn nuôi tập trung ở các tinh gần thành phố và khu công nghiệp, nơi có thị trường tiêu thụ sản phẩm mạnh
Theo Báo cáo của Bộ N ông nghiệp và phát triển Nông thôn, đến nay cả nước
có 150.086 trang trại với diện tích đất sử dụng khoảng 900.000 ha Kinh tế trang trại phát triển nhanh cả số lượng và chất lượng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn Các trang trại chuyên trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%, chăn nuôi gia sức gia cầm chiếm 10,3 %, lâm nghiệp chiếm 2.2% nuôi trồng thuỷ sản chiếm 27,3% và sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 4,9%
5
Trang 12v ề lâu dài các trang trại sẽ phát triển theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Phần lớn các trang trại đã đưa những tiến bộ kỹ thuật vào sán xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Một số tinh vùng duyên hải miền trung, đông nam bộ, tây nguyên các chủ trang trại đã liên kết hợp tác tiêu thụ sản phẩm Các chủ trang trại ở Phú Yên nhận trồng rừng theo dự án PAM đã cùng nhau góp vốn mua máy móc, thiết bị để khai hoang, làm đường giao thông, giúp nhau chọn giống cây trồng vật nuôi phù hợp Ở tinh Bình Dương đã liên kết các trang trại trồng cây ăn trái, đưa các giống cây có chất lượng cao vào sản xuất nhằm chiếm lĩnh thị thường trong nước và khu vực; các hộ hùn vốn cùng nhau xây dựng chế biến nhà máy rau quả với tổng kinh phí 1,2 tỷ đồng nhằm tiêu thụ 100% sản phẩm trái cây ở trong vùng
Trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản nhiều mô hình làm ăn quy mô hiện đại đã ra đời mà trang trại Thông Thuận (Bình Thuận) là một ví dụ Trang trại đã đầu tư trên 3 tỷ đồng xây dựng 15 trại tôm giống và góp vốn liên kết với 18 trang trại khác theo phương thức "Thông Thuận đảm bảo khâu kỹ thuật, thức ăn, thuốc trị bệnh và góp vốn xây dựng trang trại." Sự phát triển của kinh tế trang trại dẫn đến hình thành các câu lạc bộ trang trại nhằm giúp các hội viên có thông tin về khoa học kỹ thuật, thị trường kinh nghiệm sản xuất, tìm đầu ra và hỗ trợ lẫn nhau
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn cam kết cho các chủ trang trại vay vốn để phát triển sản xuất Giúp kinh tế trang trại phát triển theo hướng bền vững và đạt hiệu quả cao, Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tiếp tục triển khai đồng bộ một số giải pháp về quy hoạch đất, đào tạo nguồn nhân lực, quy hoạch xây dựng chợ nông thôn, tiếp tục đầu tư cho việc phát triển công nghệ sinh học, tìm và áp dụng công nghệ mới trong canh tác, chế biến và bảo auán sán phẩm nông nghiệp trước hết là rau quả trên các vùng chuyên canh, khuyến khích các hình thức kinh tế hợp tác trong ứng dụng khoa học nông nghiệp
Qua quá trình nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các mô hình trang trại trong thời kỳ đổi mới, có thể rút ra những kết luận sơ bộ như sau:
Hiện nay việc phát triển kinh tế trang trại và vai trò của mô hình này trong quá trình phát triển nền kinh tế Quốc dân đã được Nhà nước hết sức quan tâm, các chu trương, chính sách của Nhà nước về đầu tư, tín dụng, về vốn, lao động và cơ sớ vật
Trang 13- v ề chính sách: M ột loạt những văn bản, nghị định của Nhà nước về trang trại
đã được ban hành nhằm giúp người nông dân có thể tận dụng một cách tồi đa các nguồn lực sẵn có của gia đình và địa phương Hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức được nhà nước giao đất sử dụng ổn định và lâu dài với các quyền như: chuyến đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê, cho thuê lại và góp vốn kinh doanh đã tạo cho người dân m ột hành lang pháp lý để phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta tiến thêm một bước mới trở thành các mô hình trang trại đầu tiên ở nước ta
- Trong nghị quyết của chính phủ vé kinh tế trang trại số 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 khi đề cập đến chính sách lao động cũng khảng định: “Nhà nước khuyến khích và tạo điểu kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhièu việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên lao động cửa các
hộ nông dân không có đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về mặt số lượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật vể lao động
- Về đầu tư và tín dụng: Hiện nay vấn đề vốn cho sản xuất đang được coi là vấn đề
có tầm quan trọng hàng đầu ý thức được vai trò hết sức quan trọng của kinh tế trang trại trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân nên nhà nướcđã ban hành một loạt những chính sách đầu tư về cơ sở hạ tầng, về vốn, giống, phân bón và các trang thiết
bị kỹ thuật khác Đồng thời việc nâng cao trình độ canh tác, quản lý cho người dân cũng được quan tâm Hiện nay ngành ngân hàng đã thiết lập được cả một hệ thống tín dụng rộng lớn phục vụ phát triển ngành nông nghiêp nông thôn Đã có một số trang trại lớn và trung bình được vay vốn từ những quỹ tín dụng trên nhằm phát triển rộng hom quy mô sản xuất nông nghiệp
- Về thị trường: Kinh tế trang trại mang tính chất hàng hoá, chính vì vậy thiếu những thông tin về thị trường kinh tế trang trại không thể phát huy được vai trò của
nó và không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn Hiện nay nhà nước đang
có những chính sách rất cụ thể và rõ ràng nhằm thồng tin đến cho người dân những tin tức mới nhất về thị trường để tránh những thiệt hại, rủi ro không đáng có
về giá cả về thời vụ Đặc biệt là khu vực miền núi hệ thống giao thông chưa được thuận lợi thì việc thông báo, dự báo cho người dân về những íhồng tin trên thị trường là một việc làm cấp bách và được nhiều ngành quan tâm
- Về trang thiết bị khoa học kỹ thuật: Đây cũng là một trong những điểm yếu
không chỉ đối với nền nông nghiệp nói chung mà còn cả của nền kinh tế trang trại
7
Trang 14nói riêng Sự yếu kém, lạc hậu của các trang thiết bị kỹ thuật đã gây ra những thiệt hại không nhỏ, đặc biệt đối với mô hình trang trại vì số lượng cây trồng được tập trung trên một quy m ô diện tích lớn điều này đồng nghĩa với thời gian thu hoạch của toàn bộ cây trồng này gần như cùng một lúc vì vậy việc bảo quản và chế biến sản phẩm có ý nghĩa quyết định về hiệu quả kinh tế của loại cây trồng đó.
Hiện nay nhà nước cũng đang có những chính sách đầu tư rất cụ thể cho từng khu vực, từng mô hình trang trại khác nhau Đối với các trang trại trồng các cây hàng năm, cây lâu năm và cây ăn quả thì các thiết bị chế biến như đóng hộp, làm lạnh, sấy khô hoặc các loại thuốc bảo vệ thực vật nhằm giúp cho các loại rau củ quả có thể bảo quản trong thời hạn lâu hơn Đối với các mô hình trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản thì các trang thiết bị kỹ thuật cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng,vì sản phẩm thu được là loại thực phẩm tươi sống vì vậy yêu cầu vể bảo quản và chế biến tại chỗ được đặt lên hàng đầu
Tuy nhiên hiện nay hầu hết các trang trại đều gặp phải khó khãn trong việc tiêu thụ sản phẩm đặc biệt tại các tỉnh miền núi với hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông còn nhiều yếu kém Các chính sách của Nhà nước về trang trại còn có nhiều bất cập đặc biệt trong việc xác định các tiêu chí của một trang trại để từ đó có những chính sách về đầu tư và tín dụng được hợp lý, đảm bảo công bằng và tránh những thất thoát không đáng có Việc tạo cho các mô hình trang trại một cơ sở pháp lý rõ ràng cũng chưa đáp ứng thoả đáng được với yêu cầu của người dân, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy đã khá đầy dủ những việc cập nhật thông tin về thay đổi mục đích sử dụng, về diện tích đất, về sự chuyển đổi, chuyển nhượng giữa
các chủ sử dụng chưa được cập nhật một cách kịp thời
Quy hoạch phát triển kinh tế trang trại:
Kinh tế trang trại phát trển khá nhanh, đa dạng về loại hình Tuy nhiên, sô' lượng trang trại đạt tiêu chí theo quy định tại thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ NN&PTNT và TCTK đã giảm đáng kể so với số lượng trang trại theo báo cáo của các địa phương đầu năm 2000 Việc xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế trang trại đã được triển khai ớ nhiều địa phương, nhưng nhìn chung tiến trình thực hiện còn chậm, nên nhiều nơi sự hình thành và phát triển trang trại còn mang tính tự phát, quy hoạch phát triển trang trại còn chưa gắn với quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế, xã hội của địa phương,
Trang 15hoặc chưa gắn với các chương trình phát triển kinh tế, xã hội khác như định canh, định cư, xoá đói giảm nghèo
Quy hoạch sử dụng đất cho mô hình trang trại cũng còn nhiều bất cập và thường đi sau quy hoạch của người dân vì vậy tính đồng bộ và khả năng quản lý ở tầm vĩ mô chưa cao, ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế của mồ hình này Đặc trưng
cơ bản của trang tại nươc ta là được hình thành từ hộ gia đình chính vì vậy trang trại gia đình chiếm phần lớn trong các mồ hình trang trại ở nước ta Hiện nay một phần lớn các trang trại, đặc biệt là trang trại nuôi trồng thuỷ sản và các trang trại trổng các loại cây có thời hạn thu hoạch và bảo quản sản phẩm ngắn ngày còn thiếu các quy hoạch chi tiết (trồng cây gì, nuôi con gì, số lượng bao nhiêu, quy mô ) chính vì vậy nơi thì thừa, nơi thì thiếu đã dẫn đến việc giá thành san phấm không cao bị ép giá, sản phẩm làm ra khồng tiêu thụ được trên thị trường
Hàng năm số trang trạỉ tăng bình quân khoảng 6%, bình quân 3-5 ha/ trang trại Trang trại tạo khoảng trên 30 vạn việc làm thường xuyên và 6 triệu ngày công lao động thời vụ.
Hàng năm kinh tế trang trại tạo ra giá trị sản lượng 14.000 tỷ đồng
Quá trình phát triển nển kinh tế nông nghiệp Việt nam trước năm 1988 có mối quan hệ mật thiết đến quá trình hình thành và phát triển hình thức sản xuất nông nghiệp tập trung hợp tác xã Cho đến trước năm 1975 97,4 % các mồ hình sản xuất nông nghiệp đã trở thành các hợp tác xã nông nghiệp với quy mô lớn hơn và chiếm đến 90% diện tích đất nông nghiệp Trong các hợp tác xã nông nghiệp, nhà nước là chủ sở hữu về đất đai và các tư liệu sản xuất khác Các hợp tác xã nông nghiệp thường có quy mô từ 200 đến 500 ha đối với khu vực đồng bằng và đối với các khu vực miền núi thì quy m ô về diện tích thường lớn gấp 3, 4 lần
Cùng với sự phát triển của các nông trường của Nhà nước, các hợp tác xã nông nghiệp đã trở thành những đối tượng sử dụng đất cơ bản trong kinh tế nông nghiệp Vào nãm 1980 sau giải phóng ở các Tỉnh phía Nam đã có 2689 các hợp tác xã sán xuất nông nghiệp và 11530 các tổ sản xuất nhỏ Diện tích trung bình của các hợp tác
xã là 312 ha, gồm khoảng 520 gia đình nồng nghiệp Tuy nhiên việc áp dụng các mồ hình xây dựng nền kinh tế nông nghiệp mang nặng tính kế hoạch, tập trung - chí có
2 hình thức chủ yếu là nông trường Quốc doanh và hợp tác xã nồng nghiệp nên đã bộc lộ những khiếm khuyết sau:
9
Trang 161 Tiền công lao động được tính theo ngày công lao động chứ không được tính theo sản phẩm, vì vậy không thúc đẩy được năng xuất lao động.
2 Trình độ lãnh đạo yếu kém đã gây ra nhiều sai lệch dẫn đến những hậu quá nghiêm trọng
3 Việc cho người dân thuê đất trong thời gian ngắn đã khiến mức đầu tư cho đất kém ngược lai người dân sử dụng đất với mục đích “vắt kiệt” độ phì của đất làm cho đất nhanh bạc m ầu và thoái hoá
Để khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, từ đại hội VI (12/1986) vói mục tiêu “nền kinh tế nhiều thành phần” và “gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ” đã tiến hành một loạt những thay đổi về sử dụng đất mà cụ thể là một số những vãn bản sau có liên quan đến quá trình sử dụng đất nói chung và sử dụng đất trong mô hình trang trại nói riêng:
+ Nghị quyết số 10-NQ/TƯ ngày 5/4/1988 của Bộ Chính Trị về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”
+ Luật đất đai được thông qua ngày 14/7/1993
+ Nghị định sô' 64/CP ngày 27/9/1993 của CP ban hành “Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, láu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”
+ Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 10/7/1993
+ Nghị định số 74/ CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp”
+ Luật sửa đổi, bổ xung một số điều của luật đất đai được quốc hội thông qua ngày 02/12/1998
+ Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của CP về sửa đổi, bổ xung một sô' điều của bản quy định về việc giao đất nông ghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài và mục đích sản xuất nông nghiệp
+ Nghị định số 163/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của CP về “ giao đất, cho thuê đất làm lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
+ Nghị quyết của CP về kinh tế trang trại số 03/2000/ NQ-CP ngày
Trang 17trang trại mới được hình thành và các chủ trang trại đã yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, tích tụ thêm đất đai, thu hút lao động, nâng cao trình độ kỹ thuật và nàng lực quản lý, tạo thêm nguồn vốn đầu tư cho việc phát triển sản xuất.
+ Thông tư liên tịch sô' 69/2000/1TLT/BNN-TCTK ngày 23/06/2000
+ Nghị quyết hội nghị ban BCHTW Đảng lần thứ nãm khoá IX ngày 18/3/2002 [1] nêu rõ ” Nhà nước khuyến khích, tạo điểu kiện thuận lợi đê kinh tê
hộ, kinh tế trang trại phát triển sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn” Nghị quyết của BCHTVV Đảng lần thứ 7 khoá IX vể đổi mới chính sách đất đai 11 ị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã nhấn mạnh vai trò cúa phát triển kinh tế trang trại trong việc phát triển thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
+ Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày 04/07/2003 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (sửa đổi, bổ xung mục III của thông tư liên tịch sô 69/2000/1'I'LT/BNN-TCTK ngày 23/06/2000) xác định chỉ tiêu để 1 hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản được xác định là trang trại phải đạt một trong 2 tiêu trí vể giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 1 nãm hoặc về quy mô sản xuất
Trên cơ sở các nghị quyết, chính sách của CP ban hành, một sô Tỉnh đã vận dụng và chủ động ban hành một số chính sách cụ thể phù hợp với tình hình của địa phương nhằm tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển, cụ thể như:
- Đã chỉ đạo các ngành, các cấp ở địa phương tiến hành điều tra, phân loại, xác định số lượng và loại hình trang trại để nhận định, đánh giá hiệu quả của trang trại từ đó có định hướng sử dụng đất nông, lâm nghiệp một cách có hiệu quả với mục đích phát triển trang trại trên địa bàn Huyện, Tỉnh
- Các Tỉnh, Thành phố đã tích cực chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển trang trại gán liền với quy hoạch phát triển kinh tế trang trại của địa phương đến năm 2015
- Cùng với việc triển khai các nghị quyết của CP về trang trại, với nhiều h ìn h
thức và bằng các phương pháp khác nhau như thông tin, tuyên truyền đến các tầng lớp nhân dân, nhất là đến với các chủ trang trại Nhiều địa phương đã tổ chức tập huấn kỹ thuật nông, lâm nghiệp; tổ chức bồi dưỡng ngắn hạn về tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh trang trại, tổ chức tham quan thực tập trong và ngoài nước cho các chủ trang trại
11
Trang 18Số lượng và diện tích các trang trại giai đoạn 1989-2006
Ràng!
Năm 1989 1992 1999 2002 2004 2006
Qua sô' liệu thống kê ở bảng 1 chúng ta thấy năm 1989 sô' lượng trang trại trên
cả nước chỉ có 5125 trang trại, nhưng chỉ sau có 3 nãm sô' lượng trang trại đã lẽn tới 13246, gấp 2.3 lần so với năm 1989 Đến năm 1999 sau khi có các nghị quyết
về việc giao đất nông nghiệp (năm 1993) và đất lâm nghiệp (nãm 1999) cho các
hộ gia đình sử dụng ổn định và lâu dài, số lượng trại đã tăng nhanh một cách đáng
kể, gấp 6,8 lần so với năm 1992 và 17.6 lần so với năm 1989 Cùng với việc tãng
số lượng thì việc diện tích của các trang trại cũng tăng lên đáng kể Trong thời gian
từ 1989 đến 1992, đã tãng từ 22.946 ha lên 58.282 ha, đến năm 1999 tăng đến 396.282 ha gấp 6,81 lần so với năm 1992 và 17,29 lần so với năm 1989 Nãm 2002
cả nước có 60.761 trang trại, tăng 4.909 trang trại so với năm 2001 và 8.207 trang trại so với năm 2000
Nguyên nhân chủ yếu khiến sô' lượng trang trại năm 2000 giảm so với nãm
1999 là việc Chính phủ ban hành nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về kinh tế trang trại [3] và thông tư liên tịch số 69/2000/11■ 1LT/BNN-TCTK, ngày 23/6/2000 cúa Bộ NN&PTNT và TCTK: Hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, trong đó quy định rõ điểu kiện vể đất đai, về nguồn thu Đã có nhiều trang trại không đáp ứng được những tiêu chí đã đề ra, tuy nhiên việc quy định những tiêu chí trên cũng còn nhiều điều bất cập vì diện tích đất nông nghiệp của nước ta nhỏ, có nhiều trang trại nếu tính theo diện tích thì không đủ so vói quy định nhưng doanh thu hàng năm lại vượt so với chỉ tiêu đề ra, điều này khiến cho các trang trại phải chịu thiệt thòi trong việc nhận được sự đầu tư của Nhà nước để phát triển kinh tế trang trại của mình
Sô' lượng trang trại năm 2004 so với nãm 2002 đã tãng gần gấp đôi điều đó chứng tỏ sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tê trang trại của nước ta Đặc biệt sự linh hoạt trong những chính sách về quản lý đất đai (giao đất, cho thuê đất, đãng ký và cấp giấy chứng nhận QSD đất), các chính sách về tài chính (cho vav
Trang 19chính sách ưu đãi của Nhà nưóc không những chỉ số lượng trang trại tăng mạnh mà người sử dụng còn đầu tư vào nhiều loại hình TT mà yêu cầu về vốn “dài hơi” hơn như nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây công nghiệp, cây thuốc, chăn nuôi những loại gia súc, gia cầm quý có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Năm 2006, toàn quốc có 113730 trang trại với tổng diện tích đất 786758 ha, số lượng so với năm 2004 tăng tuy không nhiều nhưng diện tích đất cho loại hình này lại tăng mạnh, nguyên nhân là người dân đã mở rộng quy mô trang trại thay vì phát triển về sô' lượng Điều này chúng tỏ việc đầu tư về vốn, về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
đã được người dân chú trọng, sản xuất mang tính hàng hoá, tập trung trên một quy
mô rộng lớn, trang thiết bị hiện đại là mục tiêu của một nền nông nghiệp hiện đạinói chung và của mô hình kinh tế trang trại nói riêng
Tinh hình sử dụng đất của các trang trại phân theo các loại hình sử dụng đất cũng có nhiều thay đổi nó phụ thuộc vào loại hình sản xuất trong trang trại đó và nhu cầu của xã hội về sản phẩm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hay kết hợpsản xuất với chế biến nông sản (bảng 2)
So sánh(% )
- Đất trồng cây lâu năm + cây ăn quả 3054,1 320,8 10,5
Nguồn: Tổng cục thống kê; Bộ N N & P T N T
Theo số liệu tại bảng 2, hiện nay diện tích đất nông,lâm nghiệp của các trang trại trong cả nước đang sử dụng thống kê được là 786,8 ngàn ha, tăng 108.5 ngàn
ha so với năm 2004 (278,7 ng.ha) và đặc biệt tãng 2,13 lần so với năm 2002 (369.5 ng.ha)
13
Trang 20Diện tích đất nông, lâm nghiệp của các trang trại cả nước chiếm 5,1% so với diện tích đất nông, lâm nghiệp cả nước, so với năm 2002 chỉ chiếm 3,23% Trong
đó diện tích đất trổng cây hàng năm chiếm 2,5 % so với diện tích đất cây hàng năm
cả nước, diện tích đất trổng cây lâu nãm và cây ăn quả chiếm 10,5% so với diện tích đất lâu nãm và cây ãn quả cả nước, đây là một bước tiến vược bậc trong việc xác định những mô hình kinh tế trang trại phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương (năm 2002 chỉ chiếm 2,30%), diện tích đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản chiếm 19,6% so với diện tích đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản cả nước.Diện tích đất của các trang trại lâm nghiệp có rừng trồng chỉ chiếm 3,1% diện tích đất lâm nghiệp có rừng trồng cả nước, điểu này mở ra 1 hướng đi mới cho kinh
tế trang trại vùng đồi núi nhằm tận dụng hết khả nãng đất đai của tự nhiên, phát triển các mô hình kinh tế trang trại cây lâm nghiệp và cây ăn quả
Qua số liệu ở bảng 2, chúng tôi có một số nhận xét sau:
- Diện tích đất trang trại trồng cây hàng năm giảm do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như: Nhà nước thu hồi 1 phần lớn diện tích đất cây hàng năm nhằm mở rộng đô thị và phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá; hiệu quà kinh
tế do cây hàng năm mang lại không cao và mức độ rủi ro lớn
- Diện tích đất trồng cây ăn quả và nuôi trồng thuỷ sản tăng mạnh do chính sách đầu tư của nhà nước và việc tìm được thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm cây ãn quả và thuỷ hải sản
- Diện tích cho các trang trại trồng rừng cũng không tăng, đây là vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết vì thông thường các trang trại trồng rừng thường đi kèm với chăn nuôi, tuy nhiên trong vòng 2 năm trở lại đây việc chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn do dịch bệnh
Các hướng hoạt động chủ yếu của các trang trại là nông nghiệp bao gồm cây lương thực như lúa hoặc cây hàng năm như mía, cây ăn quả như vải, nhãn, na,
m ận cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su và nuôi trồng thuý sán được thế hiện qua bảng 3
Trang 21Báng 3
SỐ LƯỢNG VÀ LOẠI HÌNH s ử DỤNG ĐẤT CỦA TRANG TRẠI CẢ NƯỚC
C ă nước
TS tran g trạ i
T ra n g trại trổ n g cây HN
T ran g trạ i trồ ng cây LN
T ra n g trại chăn nuôi
T ran g trại lâm nghiệp
T ra n g trạ i nuôi trồng TS
T ran g trại SX-
KD tổng hợp Số
lượng
Sô lượng
Trang 22Trên cở sở đất đai được giao, vốn tự có kết hợp với sức lao động của gia đình hoặc thuê thêm lao động, các chủ trang trại đã lựa chọn hướng kinh doanh sản xuất hàng hoá trên cơ sở phát triển chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp với phương châm lấy ngắn nuôi dài, khai thác tổng hợp các tiềm năng sẵn có để có thê phát triển kinh
tế, định hình sản xuất m ô hình trang trại
Việc phân bố số lượng theo các vùng lãnh thổ cũng phản ánh đúng thực trạng của quá trình sản xuất nông nghiệp ở nước ta Các tỉnh Đông Nam Bộ và đổng bằng sông Cửu Long có số lượng trang trại nhiều nhất 16867 và 54425 đa phần là trang trại trồng cây hàng năm, cây ăn quả Đối vói khu vực đồng bằng sông cửu Long do có diện tích đất mặt nước lớn nên các trang trại nuôi trồng thuỷ sản chiếm đến 73,52%
số trang trại của vùng (25147 trang trại) Tiếp đến là khu vực đồng bằng sông Hồng với 13863 trang trại chủ yếu là các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Đây cũng là điểm đáng lưu ý vì nếu theo lý thuyết khu vực đồng bằng sông Hồng có địa hình bằng phẳng thích hợp cho các loại cây trồng hàng năm, tuy nhiên do sỏ dân tập trung quá đông nên diện tích bình quân trên đầu người thấp vì thế cũng ảnh hướng đến khả năng tích tụ đất đai của người dân
Tây Nguyên với 8785 trang trại đứng hàng thứ 4, chủ yếu là trang trại cây lâu năm
và các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu
Khu vực bắc trung bộ và duyên hải nam trung bộ do điều kiện tự nhiên có đường
bờ biển dài nên ở đây các trang trại nuôi trồng thuỷ sản (nước mặn và nước lợ) chiếm phần lớn, tuy nhiên đối với bắc trung bộ thì diện tích rừng cũng khá lớn nên các trang trại lâm nghiệp chiếm tới 21,38% vì diện tích đất đồi núi ở các tỉnh phía Bắc khá lớn
Do đặc điểm địa hình của lãnh thổ cho nên khu vực vùng Tây Bắc sô' lượng trang trại
ít nhất chủ yếu tập trung vào các trang trại chăn nuôi và cây lâu năm vùng đông bắc
có 4704 trang trại tập trung ở các mô hình trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản.Tóm lại do sự phân bố vể tự nhiên và các đặc điểm riêng trong quá trình phát triến KT-XH, sự phân bô' TT trên toàn quốc có những điểm khác biệt như sau:
- Số TT trồng cây hàng năm tập trung nhiều nhất ở đồng bằng sông cửu long và
ít nhất ở vùng tây bắc
- TT cây lâu năm có số lượng nhiều nhất ở vùng đông nam bộ và tây nguyên
- TT chãn nuôi phát triển mạnh nhất ở ĐB sông hồng và Đông Nam bộ
- Các TT nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở đồng bằng sông hổng và sông cứu long nơi có khả năng xuất khẩu sản phẩm ra thị trường thế giới
Trang 23Diện tích của các trang trại cũng phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng khu vực, tuy nhiên hướng sản xuất cũng có ánh hướng lớn đến quy mô của trang trại Việc lựa chọn diện tích hợp lý cho các mô hình trang trại khác nhau cũng mang lại hiệu quả kinh tế khác nhau vì nó ảnh hưởng đến các chi phí về sản xuất, đầu tư, lao động Diện tích các trang trại phân theo hướng sản xuất được thê hiện ở bảng 4.
Lâmnghiệp
Chănnuôi
NTthuỷsản
Các loại khác
(Nguồn: Tông cục Thống kê )
Phụ thuộc vào tính chất sản xuất của từng loại trang trại cho nên nhu cầu về đất trang trại cũng rất khác nhau, qua bảng 4 chúng ta nhận thấy rằng diện tích đất cùa trang trại trồng cây lâm nghiệp là lớn nhất 21,17 ha và sau cùng là đất dành cho các trang trại chăn n u ô il,0 9 ha, tuy nhiên diện tích bình quân giữa các TT cũng còn phụ thuộc vào từng vùng, diện tích lớn nhất là các trang trại trồng cây hàng năm và lâu năm khuvực đồng bằng sông cửu long, khu vực Tây nguyên với lợi thế là diện tích tự nhiên rộng phù hợp cho việc phát triển các trang trại cây công nghiệp kết hợp trồng rừng
Một trong những đặc điểm của các trang trại chăn nuôi ở nước ta là gia súc, giacầm thường được chăn thả tự nhiên ở trong rừng hoặc các khu vực đất trống Đặc thùkhí hậu của Việt Nam ưu đãi cho cây cối xanh tốt 4 mùa, vì vậy thức ăn dự trữ cho gia súc, gia cầm không lớn vì thế đất dành cho trồng các loại rau, cỏ chiếm diện tích không nhiều So với diện tích bình quân cho TT chăn nuôi của nãm 2002 là 0.9ha thì đến nay diện tích cho mô hình kinh tế TT này cũng đã được mở rộng ra đáng kế tại khu vực đồng bằng sông hồng và nam trung bộ
Căn cứ vào số lượng trang trại hiện có cho tùng vùng và diện tích bình quân củacác loại trang trại, căn cứ vào đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh Lẽ, xã hội cua từng
1 ĐAI H Ọ C Q U O C GiA HA N Ó i '
17 ''RUNG TÂt/ THÔNG -|I, THƯ VIỀN
ầ j m
Trang 24TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA TRANG TRẠI CẢ NƯỚC
Bảng 5
Đơn vị tính: lao động
tham gia sản xuất của TT
Số LĐ bình quân ưong
1 TT
Lao động của hộ chủ trang trại
Lao động của hộ chủ
BQ trên 1 TT
Lao động thuê mướn thường xuyên
LĐ thuê mướn thường xuyên
BQ trên 1 TT
Lao động thuê mướn thời vụ quy đổi
LĐ thuê mướn thời vụ quy đổi
(N guồn: IônịỊ cục Thống kê )
19
Trang 25vùng chúng ta có thể tiến hành quy hoạch cho vùng kinh tế đặc thù khác nhau, hay nói một cách khác là các đặc khu kinh tế, nhằm mục đích tạo ra thị trường cạnh tranh rộng lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Muốn được như vậy Nhà nước phải có kế hoạch cụ thể cho từng khu vực, trồng cây gì, nuồi con gì, số lượng bao nh iêu .đồng thời có chính sách đầu tư hợp lý và bao tiêu sản phẩm của các trang trại.
Trong lịch sử hình thành mô hình KTTT ở nước ta thì TT được hình thành từ sự tập hợp chủ yếu các thành viên trong gia đình, họ hàng, họ tộc cùng do thị trường cung ứng và bao tiêu sản phẩm, hưởng lợi và tích luỹ vốn mở rộng là chủ yếu, vì vậy
có thể nói KTTT nước ta phần lớn xuất phát từ kinh tế hộ gia đình Tuy có nhừng thuận lợi là thường sinh hoạt trong cùng một họ tộc nhưng cũng có nhiều hạn chế như sức cạnh tranh không cao, do trong TT là những người trong gia đình nên họ không muốn hợp tác với người ngoài sẽ hạn chế việc tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và có được những nhân công giỏi, có kinh nghiệm
Hiện nay những quy định, quy chế cho trang trại chưa được đầy đủ, việc phát triển kinh tế trang trại phần lớn còn thụ động và mang tính chất của sản xuất hộ gia đình vì vậy đã có những thiệt hại rất lớn đến giá trị của hàng hoá sản xuất ra: Bị ép giá, không
có quy trình kỹ thuật chế biến sản phẩm, thị trường xuất khẩu còn hạn hẹp, mặt hàng còn đơn điệu, năm thì quá thiếu, năm thì lại quá thừa sản phẩm V iệc tạo ra những quy định bắt buộc cho kinh tế trang trại là một việc làm cấp thiết của các cấp lành đạo, tạo ra cơ sở pháp lý để tiến tới một nền kinh tế trang trại cạnh tranh lành mạnh và mang lại hiệu quả cao
Đặc thù trang trại của nước ta là trang trại theo kiểu gia đình vì vậy số lượng lao động trong mỗi trang trại không nhiều, bình quân 5-8 người, các vùng đồng bằng sông Hổng và Đông Nam bộ có số lao động bình quân trong 1 trang trại nhiều nhất (8 người), có vùng núi như Tây bắc và Tây nguyên yêu cầu lao động ít hơn vì 6 những khu vực này các mô hình trang trại phần lớn là cây lâu năm và lâm nghiệp vì vậy yêu cầu về lao động trong mỗi trang trại không phải là nhiều Số lao động trong trang trại
từ 5-8 thưòng tính thêm cả người thuê theo thòi vụ gieo trồng hay thu hoach, còn nếu tính chủ trang trại thì thường chỉ có 2-3 lao động trong 1 trang trại Điều đó chứng tỏ
số lao động làm thuê trong các trang trại chưa nhiều, nó cũng nói lên quy mô sản xuất trong các trang trại của nước ta chưa cao Số liệu thống kê về số lượng lao động phân theo các vùng kinh tế trong cả nước được thể hiện ở bảng 5
18
Trang 26TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA TRANG TRẠI CẢ NƯỚC
Bảng 5
Đơn vị tính: lao động
tham gia sản xuất của TT
Số LĐ bình quân trong
I T T
Lao động của hộ chủ trang trại
Lao động của hộ chủ
BQ trên 1 TT
Lao động thuê mướn thường xuyên
LĐ thuê mướn thường xuyên
BQ trên 1 TT
Lao động thuê mướn thời vụ quy đổi
LĐ thuê mướn thời vụ quy đổi
Trang 27trại ở Tây nguyên, Duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ Quy mô các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản lớn hơn các trang trại có hướng trồng trọt.
Qua bảng trên ta cũng nhận thấy thu nhập từ các trang trại lâm nghiệp là thấp nhất (42,68 tr.đồng) do các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau: Các trang trại lâm nghiệp thời gian để trang trại cho thu nhập thường lâu (từ 10 năm) điều đó yêu cầu các trang trại phải bỏ vốn đầu tư nhiều, tuy nhiên giá trị sản phẩm lâm nghiệp lại thấp chính vì thế thu nhập không cao
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản phẩm của kinh tê trang trại đã không dừng ở mức tự cung, tự cấp như trước hoặc chí đê trao đổi hàng hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày mà đã mang tính chất sản xuất hàng h o á với
quy mô lớn Nền kinh tế thị trường với những quy luật cung cầu khắt khe đã khiến nền kinh tế trang trại phải cải tiến rất nhiều về trang thiết bị, trình độ thâm canh cây trồng, tăng vụ nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Bên cạnh đó quá trình thu mua và chế biến sản phẩm cũng đã được hình thành và phát triển nhanh chóng nhằm phục vụ nhu cầu của thị trường, chế biến các sản phấm nông sản và thủy sản đạt các chỉ tiêu xuất khẩu sang thị trường châu Âu và một sô nước trong khu vực đang là chương trình cần đầu tư giải quyết kịp thời
Việc lập kế hoạch, quy hoạch cho quá trình sử dụng đất và tổ chức sản xuất đang được các địa phương quan tâm và thực hiện cụ thể theo từng đơn vị hành chính và theo các mục đích sử dụng đất Quy hoạch trang trại là một quy hoạch chuyên ngành vì vậy, đối với những khu vực có phát triển mô hình này cần phải xây dựng quy hoạch chi tiết cho từng lĩnh vực sản xuất để người dân có thể yên tâm đầu tư sản xuất tránh được những rủi ro Đồng thời quy hoạch phát triển TT cũng cần phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và mục tiêu phát triển của khu vực
Trang 28Vốn sản xuất của các loại hình trang trại
là cao nhất, tuy nhiên thông thường theo luật định về cho vay có thế chấp thì đất cho trang trại cây lâu năm và đặc biệt là mô hình chăn nuôi thì tài sản thế chấp thường không có hoặc có nhưng giá trị không cao để có thể vay được với số lượng lớn theo quy định của ngân hàng
Một lý do nữa là những mô hình trang trại này thường có thời gian quay vòng vốn chậm, thời gian đầu tư và tích lũy dài nên yêu cầu thời gian cho vay lâu hơn các mò hình khác Các trang trại cây lâu năm, chăn nuôi lại thường tập trung ở những khu vực trung du và miền núi noi mà điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn và trình
độ của người dân chưa cao Vì vậy, vấn đề về cho vay vốn và sử dụng nguồn cho vay như thế nào ở những khu vực này cần phải có những chế tài cụ thể ở cả 2 ngành Tài nguyên môi trường và ngân hàng Qua bảng 6 số vồn đầu tư cho mô hình lâm nghiệp và tiếp đến là cây hàng năm là thấp nhất (1 0 4 triệu đồng c h o mỏ h ìn h cây lâm nghiệp và 70 triệu đồng cho mô hình cây hàng nãm) Tuy nhiên đây là sô' liệu trung bình cho 1 trang trại, với những TT trồng những loại cây có giá trị cao như:
Trang 29Kết quả sản xuất kinh doanh của các loại hình trang trại
Chăn nuôi
Lâm nghiệp NTTS
SXKD tổng hợp Tổng thu 5554,58 1562,29 1185,65 468,67 79,52 ị 2043,90 214,56 ! Giá trị sản phẩm 5037,26 1368,54 999,14 452,83 68,28 1962,80 185,67 Thu nhập 2969,07 592,99 482,50 80,37 42,68 680,47 90,08
Số thuế nộp NN 291,8 173,92 57,44 1,10 2,56 51,89 4,98
(nguồn: Tổng cục Thống kê )
Kinh tế trang trại chủ yếu tập trung và sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, vì thể nguồn thu của các trang trại tập trung vào các lĩnh vực trên Tổng giá trị sản xuất bình quân 1 trang trại là 328,18 triệu đồng, trong đó nguồn thu từ lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản là lớn nhất, sau đó đến cây hàng năm Phân bổ trang trại theo các vùng kinh tế cho thấy:
Các trang trại phía Bắc có mức thu nhập không đồng đều, tại các tỉnh vùng đồng bằng tuy diện tích dất canh tác ít hơn nhưng lại có lợi thế về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
kỹ thuật và nhất là đất là khu vục đồng bằng nên việc bao tiêu sản phẩm rất nhanh chóng và thuận lợi
Trang trại ở các tỉnh miền Trung, doanh thu phụ thuộc và lợi thế vị trí của từng vùng: Vùng Trung bộ có doanh thu thấp nhất vì không có những lợi thê về đất đai và khí hậu, thu nhập chủ yếu là từ các trang trại nuôi trồng thuỷ sản và trồng trọt; Các vùng duyên hải miền Trung và Trung bộ thì việc phát triển các trang trại cây công nghiệp như chè, cà phê, cao su đã mang lại những nguồn thu rất cao, đặc biệt vùng duyên hải miền Trung với lợi thế đường bờ biển dài và chính sách xuất khẩu các hàng thuỷ, hải sản sang các nước khác được Nhà nước hết sức quan tâm vì vậy thu nhập trung bình theo hướng thuỷ sản
Các trang trại thuộc khu vực phía Nam có doanh thu khá cao, vùng đông nam bộ đạt 436,3 triệu chủ yếu từ lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi còn các trang trại vùng đồng bằng sông cửu long thì các trang trại trồng trọt và nuôi trồng thuý sản lại là nguồn thu chính Như vậy tổng thu của các trang trại phụ thuộc vào từng vùng (vị trí địa lý điều kiện tự nhiên) và hướng kinh doanh cùa các trang trại, nhìn chung các trang trại vùng núi phía bắc, khu 4 cũ có quy mô tổng thu nhập thấp hơn các trang
21
Trang 30trại ở Tây nguyên, Duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ Quy mô các trang trại chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản lớn hơn các trang trại có hướng trồng trọt.
Qua bảng trên ta cũng nhận thấy thu nhập từ các trang trại lâm nghiệp là thấp nhất (42,68 tr.đổng) do các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau: Các trang trại lâm nghiệp thời gian để trang trại cho thu nhập thường lâu (từ 10 năm) điều đó yêu cầu các trang trại phải bỏ vốn đầu tư nhiều, tuy nhiên giá trị sản phẩm lâm nghiệp lại thấp chính vì thế thu nhập không cao
Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sản phẩm của kinh tế trang trại đã khồng dừng ở mức tự cung, tự cấp như trước hoặc chỉ để trao đổi hàng hoá thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày mà đã mang tính chất sản xuất hàng hoá với quy mô lớn Nền kinh tế thị trường với những quy luật cung cầu khắt khe đã khiến nển kinh tế trang trại phải cải tiến rất nhiều về trang thiết bị, trình độ thâm canh cây trồng, tàng vụ nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Bên cạnh đó quá trình thu mua và chế biến sản phẩm cũng đã được hình thành và phát triển nhanh chóng nhằm phục vụ nhu cầu của thị trường, chế biến các sản phấm nông sản và thủy sản đạt các chỉ tiêu xuất khẩu sang thị trư ờ n g châu  u và một s ố
nước trong khu vực đang là chương trình cần đầu tư giải quyết kịp thời
Việc lập kế hoạch, quy hoạch cho quá trình sử dụng đất và tổ chức sản xuất đang được các địa phương quan tâm và thực hiện cụ thể theo từng đơn vị hành chính và theo các mục đích sử dụng đất Quy hoạch trang trại là một quy hoạch chuyên ngành vì vậy, đối với những khu vực có phát triển mô hình này cần phải xây dựng quy hoạch chi tiết cho từng lĩnh vực sản xuất để người dân có thể yên tâm đầu tư sản xuất tránh được những rủi ro Đồng thòi quy hoạch phát triển TT cũng cần phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và mục tiêu phát triển của khu vực
Trang 31CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU MỘT s ố MÔ HÌNH TRANG TRẠI ĐIỂN HÌNH
KHU V ự c MIỂN NÚI 2.1 Đánh giá tổng quan về các mô hình kinh tế trang trại
Việc phân loại các loại hình trang trại phụ thuộc nhiều vào các yếu tô khác nhau có mang tính chất quyết định đến hướng phát triển và quy mô của trang trại, qua nghiên cứu thực tế các nhà khoa học đã dựa trên các tiêu chí sau đế phân loại trang trại:
- Phân loại theo cơ cấu sản xuất và thu nhập: là hình thức phổ biến thường
được phân biệt theo thu nhập từ nông, lâm nghiệp là chủ yếu (trang trại thuần nông)
Trang trại có cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển kinh doanh tổng hợp nhiều sản phảm trong đó có sản phẩm chủ yếu
Trang trại có cơ câu sản xuất theo hướng sản xuất chuyên môn hoá một loại sản phẩm
Trang trại sản xuất để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hoặc kết hợp sản xuất với ch ế biến nông sản
- Phân loại theo cơ cấu sử dụng đất đai: Cơ cấu sản xuất được xác định căn
cứ vào điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và đặc điểm thị trường của từng khu vực Theo cách phân loại này, có nhiều trang trại khác nhau mang tính châì kinh doanh tổng hợp: kết hợp nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp (các nước châu Á), nông nghiệp kết hợp với lâm nghiệp (các nước châu Âu), ở các nước mà nông nghiệp phát triển đến trình độ cao như Mỹ, Pháp, Anh, Đức thì cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hoá trong trồng trọt, chăn nuôi và cảnh quan sinh thái du lịch
- Phân loại theo hình thức quản lý: Phân theo loại này có trang trại gia đình,
trang trại liên doanh và trang trại hợp doanh kiểu cổ phần
- Phân loại theo hình thức sử hữu tư liệu sản xuất: đặc trưng chủ yếu cúa cách phân loại này là: người chủ trang trại có sở hữu toàn bộ hay 1 phần số tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ máy móc, lao động thường được xuất hiện ở Mỹ, Nhật
- Phân loại theo phương thức điểu hành sản xuất: Đối với các nước có diện tích trang trại và quy mô sản xuất nhỏ thì chủ trang trại phần lớn là người trực tiếp quan
lý điều hành các công việc của trang trại phẩn lớn gắn liền với nông thôn, gia đình Nhưng ở một số nước có nền nông nghiệp phát triển người chủ và gia đình không ớ trong trang trại nhưng vẫn trực tiếp điều hành trang trại, điều hành trang trại theo kiểu
23
Trang 32thường xuyên hoặc định kỳ Cũng có trường hợp người chủ trang trại thuê người khác điều hành quản lý.
Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta các mô hình trang trại được xây dựng dựa trên các tiêu chí đã liệt kê ở trên, tuy nhiên ở mỗi Quốc gia việc lựa chọn cho mình mô hình phù hợp nhất còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng khu vực, có thể phân ra một sô' mô hình trang trại cơ bản sau:
- Trang trại gia đình: Đây là hình thức trang trại phổ biến nhất tại Việt N am hiện nay cũng như hầu hết ở các nước thuộc khu vực châu Á vì quy mô trang trại thường nhỏ, hơn nữa do phong tục, tập quán kinh doanh của người dân châu Á thường tập trung theo hệ thống những người cùng huyết thống mà chủ yếu là trong cùng một gia đình, đây là kiểu trang trại độc lập vể sản xuất và kinh doanh, người chịu trách nhiệm quản lý là người có năng lực về chuyên môn, nhậy bén vói nhu cầu của thị trường và có những am hiểu nhất định về kỹ thuật Thông thường, trong mô hình trang trại hộ gia đình, người quản lý là chủ hộ
- Trang trại liên doanh: Là loại trang trại được hình thành do vài trang trại hợp lại thành Những trang trại này thường có chung loại hình kinh doanh (cùng trồng một
loại cây, hoặc nuôi cùng một loại con), có vị trí ở gần nhau với mục đích tãng thêm khả năng vể vốn và cơ sở vật chất để có thể cạnh tranh với các trang trại khác Đôi
tượng trong các loại trang trại này thường là người thân, cùng huyết thông, nói
chung là những người trong cùng dòng tộc Hiện nay loại hình trang trại này đang
phát triển mạnh ở khu vực châu Á, ở Việt Nam do quỹ đất hẹp nên việc kết hợp các
trang trại nhỏ thành 1 trang trại lớn đang được coi là một trong những phương án tối
ưu vì có thể tận dụng tối đa mức đầu tư của Nhà nước
- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là loại trang trại được tổ chức theo 1 công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sán phấm
Loại trang trại này thường có quy mô lớn và nguồn lao động chủ yếu là thuê Sự khác biệt giữa trang trại hợp doanh gia đình và phi gia đình là cổ phần của trang trại
hợp doanh gia đình không bán trên thị trường chứng khoán còn hợp doanh khác thì
có bán trên thị trường chứng khoán
Hình thức trang trại này hiện nay đã xuất hiện ở Việt Nam sau khi có luật đất
đai năm 1993, một số nông trường của nhà nước (nông trường chè, cà phê cao su )
đã áp dụng hình thức cổ phần hoá mà cổ đông chính là nhân viên của nóng trường,
việc thuê đất của nông trường được áp dụng theo luật đất đai về thời hạn và các quy
Trang 33phẩm còn các cổ đông thì chụi trách nhiệm về kỹ thuật chãm sóc theo đúng yêu cầu của các nhà chuyên môn.
Loại hình trang trại này còn xuất hiện từ các tổ đổi công như ở Nam bộ góp ruộng đất, xây dựng một bộ máy điều hành, bao tiêu sản phẩm lo thị trường và phân
phối lợi nhuận cho thành viên - chuyển thành HTX nông nghiệp kiểu mới Đây là
loại hình hợp tác theo nghĩa Công ty nông nghiệp vùng chuyên canh và liên hợp với
quan hệ ban giám đốc điều hành và góp vốn cổ đông, ở đây là góp vốn đất đai và
tiền tệ
- Trang trại uỷ thác: Là loại hình mà chủ trang trại uỷ quyến sử dụng cho người khác theo từng vụ hay liên tục trong nhiều vụ khi họ trong một thời gian nào
đó khi họ không có nhu cầu kinh doanh loại hình này mà vẫn muốn bảo toàn vể đất
đai và các cơ sở hạ tầng khác Đây cũng là một biện pháp tích cực vừa chống lãng
phí đất, vừa có thể tạo thành những trang trại lớn mở rộng quy mô sản xuất
Đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp khác với sản xuất công nghiệp là
nó tác động vào sinh vật, bị phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, gặp nhiều rủi ro, do đó
không phù hợp với hình thức sản xuất tập trung, quy mô lớn và việc sử dụng lao
động tập trung chỉ đem lại hiệu quả kinh tế thấp Hiệu quả kinh tế của các mô hình
trang trại trên thế giới và ở Việt Nam chứng minh rằng kinh doanh trang trại gia
đình chiếm tỷ trọng lớn tuyệt đối về đất canh tác cũng như khối lượng nông sán sán
xuất ra
Các loại hình trang trại ở trên ngoài sự khác biệt về tính chất và quy mồ sở
hữu, còn có sự khác nhau về tính chất và quy mô sử dụng lao động Trong quá trình
xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường tất cả các loại hình trang trại trên đều
cần được khuyến khích phát triển ở nước ta, tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay cần
ưu tiên phát triển kinh tế trang trại gia đình hơn vì ở nước ta loại hình trang trại này
là loại hình chủ yếu trong nông nghiệp, lại gần gũi với kinh tế nông hộ và là một con
đường quan trọng để đưa kinh tế nông hộ nước ta đi lên sản xuất hàng hoá và góp
phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong quá trình tiến lên của mô hình trang trại gia đình, nó không đối lập với
kinh tế hợp tác và kinh tế nhà nước; ngược lại, nó đòi hỏi phải tham gia vào quá
trình hợp tác sản xuất bằng những hình thức phong phú và đa dạng, thực hiện liên
kết liên doanh giữa các tổ chức kinh tế nhằm tăng thêm nãng lực sản xuất cùa bán
thân Điều đó nói lên tính chất mềm dẻo của kinh tế trang trại có khả năng dung nạp
các hình thức sở hữu khác nhau (từ cá thể, đến tập thế và quốc doanh), các quy mó
sản xuất khác nhau (từ nhỏ đến lớn), các trình độ khoa học công nghệ khác nhau (từ
25
Trang 34thô sơ đến hiện đại) Những đặc trưng trên đã làm cho trang trại gia đình trò thành một tổ chức sản xuất hàng hoá có khả năng thích ứng trước những biến động cúa thời tiết cũng như của thị trường để đạt tới một chi phí sản xuất thấp và hiệu quả kinh tế cao Với ưu th ế đó, trang trại gia đình có khả năng điều chỉnh một cách linh hoạt cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu kinh doanh để đáp ứng những đòi hỏi về thị hiếu của người tiêu dùng và tạo ra lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Xu hướng phát triển các mô hình trang trai:
Hiện nay các m ồ hình trang trại ngày càng khẳng định vai trò của chúng trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân Hiệu quả mà kinh tế trang trại mang lại đã đóng góp một phần không nhỏ trong nguồn thu kinh tế của nhà nước Tuỳ từng khu vực, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội mà xây dựng cho địa phương mình những mồ hình trang trại hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ mồi trường
Đối với các vùng đồng bằng: Với diện tích đất canh tác khống lớn trong khi
đó dân cư lai đông, diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp bình quân trên đẩu ng ư ổ i
thấp nên quy mồ trang trại vùng này thường nhỏ, nhưng mô hình trang tại ờ các khu
vực này thường rất đa dạng và phong phú Các trang tại thường kết hợp theo hướng kinh doanh tổng hợp vừa trồng trọt vừa chăn nuôi
Theo số liệu thực tế các mô hình trang trại trồng cây hàng năm ở 2 vùng đồng bằng sông Hồng và sô Cửu long chiếm số lượng nhiều nhất Do những vùng này có điều kiện tự nhiên và xã hội tương đối phát triển: thị trường tiêu thụ rộng lớn,
sự vận chuyển, đi lại dễ dàng nên các sản phẩm thường bán tươi không qua chế biến Tuy nhiên do yêu cầu của sản xuất và thị trường hiện nay cũng đã xuất hiện những
cơ sở sản xuất chế biến nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, hoặc sản phẩm có thời gian sử dụng lâu hơn như vải, nhãn, dứa, mít sấy khô hoặc đóng hộp, dưa chuột, cà chua m uối đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và mở rộng thị trường tiêu thụ
Đối với vùng ven biển: Đặc điểm tự nhiên vùng này là diện tích đấ: canh tác
thấp, tính chất thổ nhưỡng của đất thường bị mặn hoặc lợ vì vậy cây trồng thường cho năng xuất thấp và có ít chủng loại cây thích hợp với những loại đất này Trong những năm gần đây vùng này có xu hướng phát triển nhiêu mô hình trang trại nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ cho ĩhu nhập rất cao có thị trường tiêu thu rất lớn
cả trong nước và xuất khấu
Trang 35Đối với vùng đồi núi: Các khu vực miền núi các trang trại trồng cây hàng nãm
hầu như không có vì diện tích đất rất hạn hẹp, việc canh tác cây hàng năm chí nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong gia đình Các trang trại trồng cây lâu năm tuy sô lượng nhiểu nhưng quy mô của các trang trại nhỏ, khoảng 2 ha Nguyên nhân chủ yếu diện tích đất nông nghiệp nhỏ, sản xuất nông nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn
vì trình độ sản xuất thấp, cơ sở hạ tầng còn thấp kém và đặc biệt là việc tìm đầu ra cho sản phẩm còn lúng túng
Vùng này thường có diện tích đất rộng, tỷ lệ đất lâm nghiệp lớn, vì vậy các trang tại lâm nghiệp và chãn nuôi và cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm phát triển rất nhanh Diện tích các trang trại cây lâm nghiệp và cây công nghiệp thường lớn, các trang trại cây ăn quả có diện tích nhỏ hơn nhưng thường lại cho thu nhập cao hơn.Trong những năm gần đây một loại mô hình trang trại mới xuất hiện tại những khu vực có cảnh quan, hoặc khí hậu ôn hoà có khả năng phát triển du lịch sinh thái nên một số trang trại thường phát triển theo hướng vườn cây kết hợp với du lịch sinh thái Đây là loại hình TT cần được quan tâm phát triển vì lợi nhuận mang lại rất cao
và lại ít chụi rủi ro do điều kiện thiên nhiên mang lại, đồng thời nó cũng góp phần gìn giữ và quản bá vãn hoá các vùng miền trong cả nước cho khách du lịch trong nước và nước ngoài
2.2 Những đặc trưng cơ bản của các mô hình trang trại miền núi
Ở Trung du và các khu vực miền núi, do đặc điểm về điều kiện tự nhiên nên diện tích đất trống đồi núi trọc còn nhiều và đây chính la một lợi thế quan trọng cho việc phát triển các mô hình trang trại trồng cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản Các trang tại vùng Đông Bắc chủ yếu phát triển cây ăn quả như cam, hồng, mận, vải và kinh doanh nông, lâm nghiệp trồng rừng Còn các trang trại vùng Tây Bắc chủ yếu tập trung vào phát triển các loại cây công nghiệp như chè, cà phê và trồng rừng Các trang tại ở đây được hình thành chủ yếu do việc giao ruộng đất cho nông dân và cán bộ, công nhân sử dụng ổn định và lâu dài
Một số trường hợp trang trại trước là các nông, lâm trường quốc d o a n h của Nhà nước sau khi có các quy định mới của Chính phủ về việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài, đồng thời nhà nước cũng ban hành những tiêu chí mới để xác định quy mô của các trang trại đã tiến hành giao đất cho các hộ gia đình mà chủ yếu là công nhân của nông trường, lâm trường
sử dụng theo đúng mục đích của nông, lâm trường Đồng thời nông, lâm trường có trách nhiệm bao tiêu sản phẩm và các quy trình khoa học kỹ thuật khác
27
Trang 36Trong quá trình nghiên cứu theo chương trình hợp tác Việt Nam - Hà Lan (VNRP), tác giả Trần Đức [12] đã tổng hợp được một sô' kinh nghiệm trong việc phát triển trang trại vùng đồi núi ở một số nước Đông Bắc Á và đông Nam Á trong những thập kỷ qua như sau:
- Các trang trại ở vùng này thường hình thành trên cơ sở từ kinh tế tiếu nông sản xuất tự túc nhỏ sau đó phát triển dần lên hộ sản xuất hàng hoá từ ít đến nhiều trong trồng trọt và chăn nuôi
- Cơ cấu sản xuất và cơ cấu sản phẩm đa dạng hcm vùng đồng bằng Các cây trồng chủ yếu là cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc là chính, gia cầm cũng khá phát triển, tuy nhiên vẫn dừng lại ở mức tự cung tự cấp hoặc dùng trong việc trao đổi hàng hoá phục vụ nhu cáu sinh hoạt cùa gia đình
- Quy mô đất đai, lao động ngày càng tăng do quỹ đất còn n h iề u , nhưng hiện nay vẫn sản xuất theo kiểu thủ công là chính việc áp dụng các máy móc hiện đại trong sản xuất cũng đang được hết sức quan tâm Nhưng nó phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng và điều cơ bản là mức độ đầu tư của nhà nước vào các dự án nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật cho mô hình sản xuất trang trại nhất là đối với các khu vực miền núi
- Các trang trại ngày càng được quy hoạch theo từng vùng sản xuất, phát huy thế mạnh của vùng đầu tư sản xuất theo các mô hình trang trại theo kiểu tổng hợp, kết hợp với công nghệ ch ế biến
- Với những khu vực đồi núi gần khu dân cư đô thị, gần trung tâm thường phát triển trang trại có kết hợp với việc bảo vệ cảnh quan, môi trường, tạo vùng sinh thái phục vụ việc du lịch, nghỉ mát
- Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự thành đạt trong công cuộc di dân, mở m ang các vùng kinh tế mói tại các khu vực miền núi, nơi quỹ đất còn nhiều mà chưa được khai thác hết Đảm bảo các điều kiện cần và đủ đê phát triển trang trại như về đất đai, lao động, nguồn vốn, khoa học công nghệ, đồng thời các chính sách và biện pháp hỗ trợ cho phát triển trang trại như cung ứng vật tư kỹ thuật, cây giống, chế biến nông, lâm sản, tổ chức thị trường tiêu thụ hàng hoá
Trang 37Bảng 8
Số lượng trang trại các Tỉnh miền núi và trung du vùng Đỏng Bác
Địa phương Trang
Chăn nuôi
Lâm nghiệp NTTS
KD tổng họp
Ở Tây nguyên và Đông nam bộ, các trang trại được hình thành nhiều do có điều kiện thuận lợi về đất đai: Vừa có quỹ đất rộng, các điều kiện về tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như chè, cà phê cao su, điều và trồng rừng Các trang trại ra đời từ nhiều nguồn gốc khác nhau: nhân dán địa phương được giao đất trồng cây lâu năm; cán bộ, công nhân nông, lâm trường được giao đất trồng cà phê, cao su; nhân dân các nơi khác đến đây làm ân sinh sống cũng được địa phương cấp đất để canh tác Vì có diện tích đất tự nhiên lớn nên quy
mô của các trang trại tương đối rộng và người dân đa phần có kinh nghiệm trồng các loại cây này nên năng xuất và chất lượng sản phẩm cao
29
Trang 38Sô lượng trang trại các Tỉnh Tây nguyên và Đóng Nam bộ
Cây lâu lăm
Chăn nuôi
2.3 Một số vấn đề của kinh tế trang trại khu vực miền núi
Các trang trại ở vùng trung du và miền núi phía Bắc hiện phát triên mạnh với các đối tượng là cây lâu năm, lâm nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy san với vốn đầu tư thấp (vào bậc nhất trong cả nước 10-20 triệu VND/1 ha so với binh quân chung cả nước 68 triệu VND/ha)
Nguồn lao động trung du và miền núi phía Bắc dồi dào, nhưng chù yểu lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trên 15-17% lao động thiếu việc làm Diều đó
Trang 39triển kinh tế trang trại; có điều kiện kinh tế, tự nhiên thuận lợi cho phép phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị.
Để tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển mạnh ở vùng trung du và miền núi phía Bắc cần quan tâm giải quyết một số vấn đề cơ bản sau:
1 Quy hoạch phát triển kinh tế trang trại gắn với quy hoạch kinh tế vùng gắn với việc thực hiện các chương trình, dự án nhằm khai thác tác động từ phía Nhà nước để tăng sức m ạnh của trang trại, giảm thiểu tối đa tính tự phát cùa kinh tế trang trại
2 Nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, nhất là trình độ quản lý, kinh tế thị trường cho chủ trang trại, đáp ứng với yêu cầu mới của sản xuất, khuyến khích chu trang trại mạnh dạn vay vốn, tích cực đầu tư, sử dụng công nghệ mới vào sản xuất
3 Tích cực thực hiện chủ trương giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện "đổi đất" chuyển nhượng ; tạo điều kiện tích tụ tập trung mở rộng quy mô phát triển kinh tế trang trại, giảm thiểu tối đa tình trạng du
canh, du cu Giảm thuế và miễn thuế đất đối với trang trại sử dụng vượt hạn điền ớ
các vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn
4 Tích cục thực hiện phong trào "Nhà nước và nhân dân cùng làm" củng cố tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho vùng cao, phân định rõ việc gì Nhà nước làm, việc gì dân làm
5 Phát triển m ạnh công nghiệp chế biến, kết hợp cả "lớn", "vừa và nhỏ", cả hiện đại và thủ công phấn đấu 100% nông sản phẩm của trang trại phái được chế biến trước khi đưa ra bán cho tiêu dùng
6 Củng cố, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của trang trại gắn kết giữa thị trường trong nuớc với thị trường khu vực và thế giới trực tiếp là thị trường Lào, nhất là thị trường lớn Trung Quốc và các nước trong khu vực Mờ rộng mạng lưới chợ, các đại lý bán buôn, bán lẻ sản phẩm của trang trại, tăng cường các hoạt động liên kết giữa các trang trại với nhau và liên kết giữa trang trại với các tổ chức khác nhằm hồ trợ nhau trong sàn xuất, tiêu thụ sản phẩm của trang trại
7 Nhà nước cần có một chính sách vay vốn ưu đãi để phát triển sán xuất hàng hóa đối với vùng trung du và miền núi phía Bắc: Lãi suất vay ưu đãi, miền giảm thuế, bảo trợ thích hợp c ầ n có tiêu chí quy định thống nhất cho các trang trại có sản xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao chuyển sang đăng ký thành lập doanh nghiệp, từ đó áp dụng Luật thuế thu nhập đối với các trang trại doanh nghiệp này
31
Trang 40Điều đáng lun ý là, mỗi biện pháp có một tác động nhất định đén việc khai thác có hiệu quả tiềm năng của vùng, khuyến khích chủ trang trại tích cực phát triển san xuất, các biện pháp này liên quan mật thiết với nhau, vì vậy cần chú ý thực hiện đồng bộ các biện pháp Có như vậy, trang trại mới phát triển vững mạnh, tiềm năne của vùng trung du và miền núi phía Bắc mới được khai thác một cách có hiệu quá, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
2.4 Hiện trạng các mô hình trang trại Tỉnh Lào cai
Tính đến ngày 01/07/2006 toàn tỉnh có 213 hộ đạt tiêu chuấn trạng trại so với năm 2001, tăng 5,9% (+12 trang trại), loại hình trang trại phát tiến khá đa dạng: có
22 trang trại trồng cây hàng năm , chiếm 10,33%; 17 trang trại trồng cây ăn quả chiếm 8%; 18 trang trại chăn nuôi, chiếm 8,4%; 118 trang trại lâm nghiệp chiếm 55,4%; 3 trang trại nuôi trồng thủy sản 1,4% và 35 trang trại kinh doanh tổng hợp chiếm 16,4% So với năm 2001 các loại hình trang trại trồng cây hàng năm, chăn nuôi, thủy sản và trang trại trồng cây ăn quả phát triển mạnh
Loại Hình TT Quy
mô TT
Tổng vốn đầu tư
Thu nhập