Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại .... Kết quả điều trị các bệnh sinh sản của lợn nái tại trại .... Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò
Trang 1CHĂN NUÔI HÒA PHÁT BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2016 - 2020
Thái Nguyên - năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CHĂN NUÔI HÒA PHÁT BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Lớp: 48 CNTY N02
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng
Thái Nguyên - năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lý thuyết, kiến thức trên sách vở chưa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ra trường có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà những kiến thức đó cần được vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống, sản xuất của
xã hội Xuất phát từ lý do đó mà Ban Giám hiệu nhà trường, cùng các thầy cô trong khoa CNTY đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân em nói riêng được tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tại cơ sở thực tập
Sau 6 tháng được học hỏi và tham gia vào công việc sản xuất tại cơ sở,
em đã hoàn thành xong bài khóa luận tốt nghiệp, kết quả em đạt được là nhờ
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy cô Nhân dịp này em xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới Lãnh đạo nhà trường, thầy cô trong khoa CNTY và đặc biệt
là thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Thăng đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ
em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Công ty TNHH MTV chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang, các anh chị kỹ sư trại
và các cô chú công nhân trong trại đã tạo điều kiện và giúp đỡ hướng dẫn trong thời gian em tham gia học hỏi và rèn luyện kĩ năng nghề tại trại
Em xin kính chúc quý thầy cô có thật nhiều sức khỏe, đạt được nhiều thành tích cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong quý thầy cô xem xét, góp ý và bổ sung, để bài khóa luận của em
được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2020
Sinh viên
Lữ Văn Kheo
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1.Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa
Phát Bắc Giang 6
Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 10
Bảng 3.1 Lịch phun thuốc sát trùng của trại 26
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vắc-xin và thuốc cho đàn lợn tại trại 277
Bảng 4.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 31 Bảng 4.2 Kết quả phòng bệnh bằng tiêm vắc-xin 33
Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại 34
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh của đàn lợn con tại trại 35
Bảng 4.5 Kết quả điều trị các bệnh sinh sản của lợn nái tại trại 36
Bảng 4.6 Kết quả điều trị các bệnh ở lợn con tại trại 37
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 38
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại 3
2.1.2 Cở sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại 4
2.1.3 Thuận lợi, khó khăn 6
2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 7
2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 7
2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 17
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 3.1 Đối tượng thực hiện 24
3.2 Địa điểm và thời gian thực tập 24
3.3 Nội dung tiến hành 24
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 24
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.4.2 Phương pháp thực hiện 25
Trang 73.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh, phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 31
4.1.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 31
4.1.2 Kết quả phòng bệnh bằng tiêm vắc-xin 32
4.2 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái và lợn con tại trại 34
4.2.1 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái 344
4.2.2 Tỷ lệ mắc một số bệnh ở lợn con 35
4.3 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại 36
4.3.1 Kết quả điều trị các bệnh sinh sản ở lợn nái 36
4.3.2 Kết quả điều trị các bệnh ở lợn con theo mẹ 37
4.4 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 38
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 8Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học –
kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Phương thức chăn nuôi lợn đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực từ nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ mang tính tự cung tự cấp sang quy mô trang trại, tập trung Nhờ đó việc quản
lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn đã tạo ra các sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có giá trị kinh tế cao hơn Bên cạnh đó, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt, ngoài việc nuôi các giống lợn nội có chất lượng thịt thơm ngon và chịu đựng kham khổ tốt, chúng ta còn nhập nhiều giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng nhanh và tỷ
lệ thịt nạc cao để lại tạo với các giống lợn nội và nuôi thuần Do vậy, có rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm đến vài nghìn con lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nước
Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh
Trang 9hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy
ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này Vì vậy, thực hiện tốt quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là cần thiết
Xuất phát từ từ thực tế nêu trên, chúng tôi đã thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo
mẹ tại Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang ”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục đích của chuyên đề
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo
mẹ tại Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang
- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản
và lợn con theo mẹ
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ Đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới
từ thực tiễn sản xuất
- Từ thực tiễn chăn nuôi, đề xuất các biện pháp phòng và điều trị bệnh
có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại các trang trại
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Trại chăn nuôi Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang là trại chăn nuôi lợn tập trung công nghệ an toàn sinh học tại Khu 1 thuộc thôn Điệu và thôn Tảu, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang) với tổng diện tích là 15 ha Khu vực của trại được bao quanh bởi đồi cao, cách khu dân
cư gần nhất khoảng 800 m, cách UBND xã Long Sơn khoảng 3 km về phía Tây Nam Vị trí địa lý của Khu 1 (thôn Điệu và thôn Tảu) như sau:
Phía Đông Nam: Cách đường quốc lộ 279 khoảng 1,5 km
Phía Đông Bắc: Giáp cánh đồng thôn Điệu
Phía Tây Bắc: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Điệu
Phía Tây Nam: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Tảu
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Theo phân vùng của nha khí tượng thuỷ văn thành phố, trại lợn của Công
ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang nằm trong vùng có khí hậu lục địa vùng núi Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu ôn hòa; mùa hạ nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa Điển hình của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên ít chịu ảnh hưởng của bão Khí hậu vùng này thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị như lúa, rau màu, vải, keo Tuy nhiên, thời tiết khu vực này hay biến động trong năm gây ra những khó khăn đáng kể, nhất là vào các thời kỳ chuyển tiếp
Trang 112.1.1.3 Điều kiện giao thông
Trại chăn nuôi lợn cách Thị trấn An Châu, huyện Sơn Động khoảng 20
km về phía Nam - Đông Nam Trại nằm gần Quốc lộ 279, tuyến đường liên tỉnh quan trọng của các tỉnh miền núi phía Bắc, nối Quốc lộ 31 với tỉnh lộ 326, giúp thông thương giữa thị trấn An Châu, huyện Sơn Động và xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.1.2 Cở sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
2.1.2.1 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại chăn nuôi được xây dựng tháng 6 năm 2016 và đến nay trại đã hoạt động sản xuất được 4 năm, hàng năm hoạt động sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện Trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề
Hệ thống chuồng trại
Khu vực sản xuất của trung tâm được đặt trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào
Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát
về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước Hệ thống chuồng gồm có 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có
120 ô chuồng, 4 chuồng cai sữa, mỗi chuồng có 32 ô chuồng, 2 chuồng lợn thịt mỗi chuồng có 32 ô chuồng, 2 chuồng phối, 2 chuồng mang thai và 1 chuồng phát triển hậu bị, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa
Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động, mùa
Trang 12hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và hệ thống dàn mát Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại
Tổng diện tích của trang trại là 15 ha, trong đó 5 ha dùng để chăn nuôi, 1,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác
Về nhân sự của trại
Trại có 79 cán bộ nhân viên, trong đó lao động gián tiếp có 16 người: tổng giám đốc công ty 1 người; Kế toán 1 người; nhân viên hành chính 2 người; làm vườn, nấu ăn, vệ sinh 4 người; Cơ điện 4 người; bảo vệ 4 người; lao động trực tiếp có 63 người: 5 kỹ sư chăn nuôi; 45 công nhân và 13 sinh viên thực tập
2.1.2.2 Hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
Nhiệm vụ của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,46 – 2,47 lứa/năm Số lợn con sơ sinh là 11,25 con/lứa, số con cai sữa là 10,8 con/lứa Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty chăn nuôi Hòa Phát Trung bình lợn con theo mẹ được 21 ngày tuổi thì cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn khác của công ty
Lợn đực giống được nuôi trong trại nhằm mục đích là kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác
từ 2 giống lợn Duroc và Pietrain Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
Trang trại chăn nuôi lợn theo quy mô công nghiệp sử dụng thức ăn của Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Hòa Phát Hưng Yên Khẩu phần ăn cho lợn nái sinh sản được điều chỉnh theo từng giai đoạn hợp lý Để từ đó kiểm soát được thể trạng của lợn nái không quá gầy hay quá béo trong quá trình sinh sản, nhằm nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái Thức ăn cho lợn con tập ăn, lợn cai sữa sử dụng loại thức ăn khác nhau phù hợp sự phát triển của từng giai đoạn
Trang 13Hiện tại trại có sử dụng các loại thức ăn cho lợn đực, lợn nái và lợn con là:
B06S : Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái mang thai, lợn đực
B07 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con
B01 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn
B02S : Thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa
B05 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn hậu bị
Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong năm 2018 và 2019 được trình bày ở bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1.Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Công ty TNHH MTV Chăn
nuôi Hòa Phát Bắc Giang
(Nguồn: Phòng kỹ thuật trang trại)
2.1.3 Thuận lợi, khó khăn
Trang 14Đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, công nhân nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
2.2.1.1 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [14])
a Nguyên nhân
Cơ quan sinh dục ngoài bẩn, do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục Bệnh cũng có thể do can thiệp khi heo đẻ khó và nhiễm trùng từ chuồng trại kém vệ sinh Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin
A, D, E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
+ Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung
Trang 15Lợn mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột dẫn đến quá béo, gây khó đẻ và dẫn đến viêm tử cung
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng lợn mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
+ Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại,
cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm giảm
tỷ lệ viêm tử cung ở lợn
+ Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy, chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
+ Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Lợn nái đẻ những lứa đầu và lợn nái đẻ nhiều lứa thường ít bị viêm tử cung hơn Lợn nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung
+ Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Trang 16Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém
Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
b Các thể viêm tử cung
+ Viêm nội mạc tử cung: Theo Black (1983) [19] viêm nội mạc tử cung
là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là thể viêm nhẹ nhất trong các thể viêm tử cung Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung (Phùng Thị Vân, 2004 [17])
+ Viêm cơ tử cung: Đó là quá trình viêm xảy ra ở lớp cơ tử cung, có nghĩa là quá trình viêm đã xuyên qua lớp niêm mạc của tử cung đi vào phá hủy tầng giữa Đây là thể viêm tương đối nặng
+ Viêm tương mạc tử cung: Là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng,
là thể viêm nặng nhất (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2004) [15]
Mức độ viêm tử cung được đánh giá theo tiêu chí ở bảng 2.2 dưới đây:
Trang 17Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Chỉ tiêu phân
biệt
Thể viêm Viêm nội mạc tử
cung (Viêm độ 1)
Viêm cơ tử cung (Viêm độ 2)
Viêm tương mạc tử cung (Viêm độ 3)
Dịch
viêm
Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
ứng
Bỏ ăn Bỏ ăn một phần
hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
c Chẩn đoán
Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hoặc thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [13] khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm nhận thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành
tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng
Trang 18Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu, cồn, bôi trơn vaselin hoặc dầu lạc Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay Biocid - 30 1/2000 Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu IU, tetramycin hay sulfamilamid 2 - 5 g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,
a Nguyên nhân
Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ hậu bị đến chửa, đẻ như: Ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu, xương chậu hẹp Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to, thời tiết nóng bức, cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợn chửa hay sốt cao, mắc một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng
Trang 19độ hormone kích đẻ (oxytocin và prostagladin F2α) quá thấp trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp, cách đỡ đẻ không đúng kỹ thuật (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9].
b Triệu chứng
Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn
đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều có lẫn cả máu (màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đẻ một con rồi nhưng vẫn khó đẻ con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung xương chậu không qua được (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
c Chẩn đoán
Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt, rặn đẻ, nếu 1-2 giờ lợn nái rặn liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần, lợn nái mệt, uống nước nhiều, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
d Biện pháp can thiệp
Ban đầu có thể tiêm Oxytoxin 20 IU/nái nếu cần có thể tiêm nhắc lại sau
30 phút nếu thai vẫn chưa được đẩy ra ngoài thì mới phải can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để lấy thai ra
2.2.1.3 Viêm vú
a Nguyên nhân
+ Trần Minh Châu (1996) [2] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày lợn đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
Trang 20+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes (Christensen và cs, 2007) [20].
+ Do kế phát từ một số bệnh: sát nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang Khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con
bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
+ Do quá trình nuôi dưỡng chăm sóc kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú,
thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
b Triệu chứng
Bệnh dễ xảy ra ở nái đẻ lứa đầu với các biểu hiện: vú căng cứng, nóng
đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu
vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
c Hậu quả của bệnh viêm vú
+ Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004)[9], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
Trang 21+ Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ là
do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Lợn nái bị viêm thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
d Điều trị
Tiêm Vetrimoxin LA 1 ml/10 kg TT/lần/ngày, kết hợp tiêm Hanalgil 8 ml/con/ngày (nếu sốt) Điều trị liên tục trong 5 ngày Dùng khăn vải nhúng vào nước ấm, xoa bóp bầu vú mỗi ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 10 phút Tách đàn con ra khỏi những con mẹ bị viêm vú
2.2.1.4 Bệnh sót, sát nhau
Là bệnh xảy ra sau khi đẻ, khi con đã ra hết 4 - 5 giờ mà nhau không ra hoặc ra không hết
- Căn cứ vào mức độ của bệnh mà có thể chia ra như sau:
+ Thể sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tử cung ở cả 2 sừng tử cung
+ Thể sót nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa thai thì nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ
+ Thể sót nhau từng phần: một phần của màng nhung hay 1 ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung
Trang 22- Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức
- Trong thời gian có thai lợn mẹ ít vận động, nhất là giai đoạn cuối thai kỳ
- Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là Canxi
- Lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo
- Quá nhiều bào thai, bào thai quá to, dịch thai quá nhiều dẫn đến cổ tử cung mở quá độ, giảm đàn tính và sự co bóp
- Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung
→ giảm sức rặn của con mẹ
b Triệu chứng
Lợn bị sót nhau thường biểu hiện triệu chứng không rõ ràng:
+ Lợn mẹ không yên tĩnh, hơi đau đớn, thỉnh thoảng rặn, thân nhiệt hơi tăng, lợn thích uống nước (nhờ vào kinh nghiệm chăm sóc cũng như theo dõi trong quá trình chăm sóc thực tế mà ta biết được lượng nước lợn uống có nhiều hơn bình thường hay không)
+ Từ cơ quan sinh dục của lợn mẹ luôn thải ra dịch màu nâu
c Chẩn đoán
+ Sót nhau hoàn toàn: quan sát kỹ sẽ thấy 1 màng mỏng còn nằm trong
âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn
Trang 23+ Sót nhau không hoàn toàn: nhìn thấy 1 ít nhung mao trên mặt màng nhung của lợn mẹ
+ Sót nhau từng phần: Trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài trên nền chuồng sạch kiểm tra cuống rốn Mỗi lợn con tương ứng với 1 cuống rốn và 1
lá nhau, nếu thiếu là bị sót Có trường hợp còn sót một ít những mẫu nhỏ thì sau khi đẻ 1 ngày kiểm tra dịch viêm tử cung chảy ra màu đen và những mảnh nhau thối
+ Tiêm thuốc oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết + Sau khi nhau ra, dùng nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
2.2.1.5 Bệnh bại liệt sau sinh
a Nguyên nhân gây bệnh
Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông khum làm cho lợn mẹ bại liệt
b Triệu chứng
Lúc đầu lợn mẹ đi lại khó khăn, về sau không đứng được lên được mà nằm bẹp một chỗ Bệnh thường kế phát với một số bệnh ở hệ tiêu hóa, hô hấp như: Chướng bụng đầy hơi, viêm phế quản cấp Nếu bệnh kéo dài, con vật dễ
Trang 24bị loét từng mảng da phía tiếp xúc với nền chuồng Sau 3-4 tuần con vật gầy dần và chết
c Điều trị
Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật
Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ để tránh bầm huyết, hoại tử da và kế phát với chướng bụng, đầy hơi
Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng chất là canxi và photpho
Dùng các loại dầu nóng xoa bóp mạnh hai chân cho lợn mẹ
Tiêm gluconat canxi hay B12-Buta Ca-Mg, kết hợp với vitamin B1 Đồng thời kết hợp với phương pháp châm cứu
2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ
2.2.2.1 Bệnh lợn con phân trắng
Phân trắng là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,
là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có màu trắng, nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [6]: lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc bệnh phân trắng và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84%và 5,37%, tỷ lệ mắc bệnh và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày ( 30,97
và 4,93%) và giảm ở giai đoạn sau cai sữa
Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [4] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và
ẩm độ cao (12,12%) tỷ lệ mắc bệnh cao (26,98 – 38,18%)
a Nguyên nhân
- Do thời tiết khí hậu: Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [3]
Trang 25- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Bệnh phân trắng ở lợn có nguyên nhân do vi
khuẩn E.coli, loại vi khuẩn này thường xuyên có trong đường ruột của lợn con
- Nguyên nhân gây bệnh phân trắng ở lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
b Triệu chứng
- Lợn kém bú, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo Lợn đi ỉa, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân
Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Lợn rặn rất nhiều khi ỉa
- Màu phân lúc đầu trắng sữa sau đó chuyển sang trắng đục, xám vàng sền sệt hoặc lỏng, đi nhiều lần trong ngày, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào đít, vào khoeo
- Da nhăn nheo, lông dựng, mắt trũng, bỏ bú, nằm run rẩy, chết sau 3-5 ngày
c Bệnh tích
- Dạ dày giãn rộng, đường bề cong lớn bị chảy máu (xuất huyết)
- Dạ dày chứa đầy sữa đông vón không tiêu
- Ruột non chứa đầy hơi, xuất huyết từng đoạn
d Phòng bệnh
- Với bệnh phân trắng lợn con thì yếu tố nhiệt độ rất quan trọng Ngay khi lợn mẹ đẻ ra cần cho lợn con vào ô úm ở nhiệt độ 32-34oC, duy trì nhiệt độ như vậy trong 2-3 ngày, sau đó giảm dần nhiệt độ đến 25-28oC từ ngày thứ 8 đến khi cai sữa
- Phòng bệnh bằng vệ sinh dinh dưõng: chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ, lợn con tốt Cần chú ý khâu thức ăn cho mẹ phải tốt cả về số lượng và chất lượng, không nên thay đổi thức ăn của lợn mẹ trong quá trình đang cho lợn con
bú sữa Thực hiện tốt 3 khâu: chống lạnh, chống ẩm và chống bẩn; chuồng trại thoáng mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông … Tập cho lợn con ăn sớm với thức
Trang 26ăn có chất lượng cao, tiêm sắt cho lợn con Ngoài ra có thể bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn cho lợn từ 18 ngày tuổi trở lên, cứ 2 ngày cho ăn một lần theo hướng dẫn ghi trên bao bì của sản phẩm Cho ăn liên tục sẽ giúp lợn tăng cường khả năng tiêu hóa, tăng sức đề kháng…
- Kháng sinh pha uống :
Octacin 1%: 1 ml/6 - 10 kg TT, số ngày sử dụng: 3 - 5 ngày
Octamix AC, liều lượng: 1 g/10 kg TT, số ngày sử dụng: 3 - 5 ngày
- Phòng bằng vắc-xin cho cả mẹ và con: Tiêm cho mẹ 1 - 2 tuần trước khi đẻ Tiêm cho lợn con vào ngày tuổi thứ 14
đ Điều trị
Cho lợn con uống octaxin-en 1% dưới 5 kg liều 1 bơm/con/ngày, dùng liên tục trong 2-3 ngày hoặc tiêm tiêm Interflox-100 liều lượng 1 ml/20 - 40 kg TT/lần/ngày kết hợp tiêm Atropin liều lượng 1 ml/5 - 7,5 kg TT/lần/ngày Điều trị liên tục trong 3 ngày
2.2.2.2 Bệnh viêm khớp
a Nguyên nhân
Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm
khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con
1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền
chuồng, qua vết thiến
b Triệu chứng
Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày
7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
Trang 27c Bệnh tích
Khi rạch ổ khớp viêm thấy trong khớp có mủ đặc, có vết máu và những
chất hoại tử màu trắng
d Phòng bệnh
- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, hạn chế sự lây lan mầm bệnh cho lợn con
- Cần lưu ý khi bấm răng nanh, cắt đuôi cho lợn cần sát trùng dụng cụ; tránh làm lợn bị tổn thương vì các dạng vết thương có thể tạo điều kiện cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Thường xuyên kiểm tra khớp gối, chân, đuôi xem lợn có bị tổn thương không
đ Điều trị
- Tiêm Vetrimoxin LA 1 ml/10 kg TT/lần/ngày kết hợp tiêm Canxi – B12
1 ml/10kg TT/lần/ngày Điều trị liên tục trong 5 ngày
2.2.2.3 Bệnh cầu trùng
Lợn ở các lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng Lợn con từ 1-4 tuần tuổi thường bị nhiễm cầu trùng và phát bệnh với tỷ lệ cao hơn lợn trưởng thành Đặc biệt, lợn ở lứa tuổi 1- 10 ngày bị bệnh cầu trùng có tỷ lệ chết cao từ 20-40% số lợn bệnh Lợn nái và lợn trưởng thành tuy bị nhiễm cầu trùng nhưng không biểu hiện triệu chứng lâm sàng do đó là nguồn truyền bá mầm bệnh trong tự nhiên
Bệnh cầu trùng lây nhiễm qua đường tiêu hóa Lợn khỏe ăn thức ăn hoặc nước có noãn nang cảm nhiễm sẽ bị nhiễm cầu trùng Các loài cầu trùng có độc lực gây bệnh khác nhau Lợn bị bệnh tùy thuộc vào độc lực của loài cầu trùng
mà chúng cảm nhiễm, sức đề kháng của lợn với mầm bệnh và sự chăm sóc, nuôi dưỡng
- Phòng bệnh:
Trang 28+ Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, diệt nha bào bằng cách đốt nến trong chuồng khi đưa đàn mới về hoặc phun thuốc sát trùng
+ Đặc biệt nên phòng bằng thuốc cho lợn con bắt đầu từ 3 - 5 ngày tuổi
để chống các vi khuẩn kế phát gây bệnh tiêu chảy làm giảm đầu con và trọng lượng con xuất chuồng dùng Hupha-cox 5%: pha 0,5 ml/2,5 kg thể trọng/ ngày,
4 giọt/ kg thể trọng, 2 ngày liên tục
- Trị bệnh: Theo nguyên tắc cầm máu, bổ sung nước và chất điện giải, tăng cường sức đề kháng, bù đủ năng lượng, rồi mới diệt cầu trùng và các loại
vi khuẩn đường ruột kế phát
+ Cho uống Hupha-điện giải, Gluco-C với liều điều trị: 3,5g/1,5 lít nước uống, pha uống cả ngày
* Phác đồ 1: Hupha-cox 5%:pha 1ml/2,5 kg thể trọng/ngày; 8 giọt/kg thể trọng, Buổi chiều kết hợp với Hupha-floxacin hoặc Colimox 2-4 ngày liên tục
* Phác đồ 2: Trộn 1g Hupha-SCP-cầu trùng/ lít nước uống; 2g/kg thức
ăn trong 5-10 ngày, buổi chiều kết hợp Hupha-floxacin hoặc Colimox
Có thể thay bằng kháng sinh sau: Hupha- Nor- C, Neodox
+ Bổ sung cho uống kết hợp:4g bổ gan + 2g men tiêu hóa sống hòa chung vào 1 lít nước uống, giải độc, khôi phục hệ sinh vật có lợi cho đường ruột
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Theo tác giả Phùng Thị Vân (2004) [17], Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng )
- Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], khi gia súc bị bệnh viêm
tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng