1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn công ty phát đạt, thành phố phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

60 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MA THỊ LINH Chuyên đề : THỰC HIỆN QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY PHÁT ĐẠT THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH P

Trang 1

MA THỊ LINH

Chuyên đề :

THỰC HIỆN QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY PHÁT ĐẠT THÀNH PHỐ PHÚC YÊN,

TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2020

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 2

MA THỊ LINH

Chuyên đề :

THỰC HIỆN QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN CÔNG TY PHÁT ĐẠT THÀNH PHỐ PHÚC YÊN,

TỈNH VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2016 - 2020 Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng

Thái Nguyên, năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập ở trường và thời gian thực tập tại trại lợn Phát Đạt, em luôn nhận được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của thầy cô, bạn bè và anh chị kỹ thuật ở trại lợn Nay em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này, thành công này không chỉ là nỗ lực của cá nhân mà còn có sự giúp đỡ của nhiều người

Trước tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, cùng với các thầy giáo, cô giáo trong khoa đã tận tình dạy dỗ, dìu dắt, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập lý thuyết tại trường và đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa luận cũng như hành trang cho công tác sau này

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Văn Thăng đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em hoàn thành Khóa luận này

Một lần nữa cho phép em gửi lời cảm ơn tới thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, cùng gia đình bạn bè đã động viên giúp đỡ em Em xin chân thành cảm ơn và kính chúc toàn thể các thầy, các cô lời chúc sức khỏe, hạnh phúc trong cuộc sống

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 7 năm 2020

Sinh viên

Ma Thị Linh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại chăn nuôi lợn Phát Đạt 4

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại 5

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 6

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 6

2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản 8

2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản 14

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 18

2.2.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Đối tượng 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung tiến hành 30

Trang 5

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp thực hiện 31

3.4.3 Một số các chỉ tiêu theo dõi công thức tính 37

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 37

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Công ty Phát Đạt 38

4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn tại trại 39

4.3 Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái tại trại 41

4.4 Kết quả tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa của lợn con theo mẹ tại trại 42

4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho lợn nái 43

4.6 Kết quả chấn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con tại trại 45

4.7 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 47

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thức ăn cho nái mang thai 32 Bảng 3.2 Lịch sát trùng chuồng trại của trại 34 Bảng 3.3 Công tác phòng bệnh bằng vaccine cho đàn lợn tại trại 35 Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại lợn Công ty Phát Đạt qua 3 năm 2017 - 2019 38 Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 39 Bảng 4.3 Kết quả theo dõi tình hình sinh sản của lợn nái tại trại 41 Bảng 4.4 Kết quả tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa của lợn con theo mẹ tại trại 42 Bảng 4.5 Kết quả tiêm vaccine phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con

theo mẹ tại trại 44 Bảng 4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn

con theo mẹ tại trại 45 Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công việc khác tại trại 47

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CP: Công ty cổ phần CP Việt Nam cs.: Cộng sự

Nxb: Nhà xuất bản STT: Số thứ tự TT: Thể trọng

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển mạnh mẽ

cả về quy mô và số lượng Con lợn đã cung cấp 70 - 80% nhu cầu về thịt cho thị trường trong nước và xuất khẩu đồng thời cung cấp nguồn phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến Chăn nuôi lợn quy mô trang trại theo hướng tập trung công nghiệp đã và đang phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả nước, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay từ đầu năm 2019 đến nay dịch tả lợn Châu Phi đã bùng phát

và làm xoá sổ gần như toàn bộ hệ thống chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình Dịch tả lợn Châu Phi đã gây ra thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn đồng thời cũng tạo ra cơ hội để ngành chăn nuôi lợn tái cơ cấu theo hướng dần xoá bỏ chăn nuôi lợn hộ gia đình vì không quản lý được dịch bệnh sang chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại theo hướng tập trung công nghiệp

Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản cần có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh,

tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy

Trang 9

ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này Vì vậy, thực hiện tốt quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh

sản lợn con theo mẹ là cần thiết để đem lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi

Xuất phát từ thực tế trên, chúng em đã thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy

trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Công ty Phát Đạt, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ nuôi tại trại lợn

- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản

và lợn con theo mẹ

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ đồng thời học tập bổ sung những kiến thức mới

từ thực tiễn sản xuất

- Ứng dụng các biện pháp phòng và điều trị bệnh có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ vào thực tiễn chăn nuôi lợn tại trang trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt được xây dựng tại thôn Cao Quang, xã Cao Minh, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Trại chăn nuôi lợn Phát Đạt

có vị trí địa lý như sau:

Phía Đông giáp phường Xuân Hòa

Phía Tây giáp xã Nam Viêm

Phía Nam giáp xã Bá Hiến

Phía Bắc giáp xã Ngọc Thanh

2.1.1.2 Điều kiện thời tiết khí hậu

Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi Nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi đang có xu hướng tăng mạnh

Xã Cao Minh cũng như thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 20,5○C, nhiệt độ cao nhất trong năm có thể lên tới 41,6○C và nhiệt độ thấp nhất trong năm là 3,1○C Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm thấp nhất trong năm là 16% Hướng gió chủ yếu về mùa đông là Đông Bắc, về mùa hè là Đông Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4m/s

Trang 11

Nhìn chung, điều kiện thời tiết khí hậu của xã Cao Minh khá là thuận lợi cho phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, có những tháng bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các loại vi sinh vật phát triển và gây bệnh Chính vì vậy việc phòng

và trị bệnh cho đàn gia súc, gia cầm là rất quan trọng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại chăn nuôi lợn Phát Đạt

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại chăn nuôi lợn Phát Đạt có cơ cấu nguồn nhân lực bao gồm 1 giám đốc Công ty, 1 quản lý trại, 1 kỹ sư phụ trách kỹ thuật, 5 công nhân và 7 sinh viên thực tập

2.1.2.2 Cơ sở vật chất của trại

Trang trại chăn nuôi lợn Phát Đạt là trại tư nhân bắt đầu hoạt động chăn nuôi từ năm 2009 với quy mô là 120 nái sau đến năm 2013 trại mở rộng chăn nuôi và tăng quy mô đàn lợn nái lên 300 nái và 800 lợn thịt

Trên diện tích đất 3 ha, trang trại chăn nuôi được thiết kế và phân khu riêng biệt là: khu hành chính và khu sản xuất Cơ sở vật chất ở trại tương đối đầy đủ để phục vụ cho chăn nuôi như: hệ thống chuồng nuôi, hệ thống nước,

hệ thống điện, kho cám, kho thuốc, phòng pha chế tinh dịch…

Hệ thống chuồng trại được xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng mỗi dãy chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ hai bể lớn, một bể xây dựng ở đầu chuồng thịt 1 và một

bể ở đầu chuồng đẻ 2 Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác,

Trang 12

được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

Hệ thống điện: nguồn điện cung cấp cho trang trại là hệ thống điện lưới

3 pha và máy phát dự phòng Hệ thống điện luôn được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác nuôi dưỡng, chăm sóc lợn

Phòng pha tinh dịch của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy và một số thiết bị khác

Hệ thống xử lý môi trường: chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường

Tổng trại có 5 dãy chuồng nuôi, trong đó có: hai dãy gồm chuồng bầu và

đẻ với 96 ô đẻ và 246 ô nái chửa, một dãy là chuồng cai sữa, 2 dãy chuồng nuôi thịt

2.1.3 Thuận lợi và khó khăn của trại

và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất

Trang trại được xây dựng theo hình thức công nghiệp hóa hiện đại hóa, mọi quy trình nuôi dưỡng chăm sóc theo hình thức khép kín Nguồn nước được xử lý sạch sẽ đáp ứng đủ cho trang trại

Trang trại nhập các giống lợn ông bà, bố mẹ từ Công ty có uy tín như

CP, Greenfeed,… nên việc phòng và trị bệnh cho lợn nái dễ dàng hơn

Trang 13

2.1.3.2 Khó khăn

Vốn đầu tư ban đầu bỏ ra xây dựng cơ sở vật chất khá lớn

Do yêu cầu nghiêm ngặt của việc phòng bệnh cho đàn lợn vì vậy việc đi lại ra vào khu chăn nuôi hạn chế nhiều vấn đề, nên công nhân thường xuyên xin thôi việc dẫn đến thay đổi công nhân liên tục làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc đàn lợn

Giá cả thịt trong ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng trong thời gian vừa qua có những biến động lớn, gây ảnh hưởng tới đầu ra của lợn thịt, làm cho ngành chăn nuôi lợn gặp khó khăn

Tình hình dịch bệnh diễn ra rất phức tạp gây khó khăn rất lớn trong chăn nuôi, đặc biệt là dịch tả lợn châu phi

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [26], thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo, đã phát triển hoàn thiện

và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [8], sự thành thục về tính dục ngoài sự phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh và thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái

Trang 14

* Sự thành thục về thể vóc

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [10], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc

ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục

về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn

mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 -

120 kg mới nên cho phối

2.2.1.2 Chu kỳ động dục

Trần Thanh Vân và cs (2017) [29], cho biết: lợn nái sau khi thành thục

về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không

rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kì

Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi cộm lên

bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng có chu kỳ nên động dục cũng theo chu kì

Chu kỳ động dục ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kì tiếp theo mới

ổn định Một chu kì động dục của lợn nái dao động trong khoảng 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh

Trang 15

2.2.1.3 Quá trình mang thai và đẻ

Sau thời gian lưu lại ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể mẹ thời gian chửa như sau: progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất là vào ngày chửa thứ 20, sau đó nó hơi giảm xuống một chút ở 3 tuần đầu, tiếp theo duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục, 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng hai tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [29]

Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], cho biết: thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (113 - 116 ngày), được chia làm 2 thời kỳ, thời kỳ chửa kỳ I là thời gian lợn có chửa 84 ngày đầu tiên và thời kỳ chửa kỳ II là thời gian lợn chửa từ ngày thứ 85 đến khi đẻ

2.2.1.4 Sự tiết sữa của lợn nái

Quá trình tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ, do những kích thích vào đầu vú gây nên Phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Trong đó yếu tố thần kinh đóng vai trò chủ đạo, khi lợn con thúc vú mẹ những kích thích này truyền lên vỏ não, vào vùng hypothalamus, từ đó tuyến yên sản sinh ra kích tố oxytocin tiết vào máu, kích

tố này kích thích lợn nái tiết sữa Do tác động của oxytocin trong máu khác nhau cho nên các tuyến vú khác nhau có sản lượng sữa khác nhau Những vú

ở phần ngực tiết nhiều sữa hơn những vú ở phần sau

2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản

2.2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái mang thai

*Quy trình nuôi dưỡng

Giai đoạn chửa kỳ I và II dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2.900 kcal/kg thức ăn hỗn hợp Nhưng ở giai đoạn chửa kỳ II mức ăn cần tăng từ 15 - 20% so với giai đoạn chửa kỳ I vì

Trang 16

bào thai chưa phát triển mạnh nên nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái ở giai đoạn này là để duy trì cơ thể, một phần rất nhỏ để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ II, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai ở cuối kỳ này để lợn con sinh ra đạt khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống Đối với lợn Landrace có khối lượng sơ sinh khoảng 1,4 kg/con, lợn Yorkshire có khối lượng sơ sinh khoảng 1,3 kg/con, lợn Móng

Cái khoảng 0,5 - 0,7 kg/con

Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái mang thai trong một ngày cần chú ý các yếu tố sau: giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn mang thai, thể trạng nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn

Đối với lợn nái mang thai lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi thai cần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho phát triển cơ thể con nái

Đối với lợn nái sau khi tách con, cần tăng thức ăn để tăng số trứng rụng

sẽ làm tăng số con đẻ ra trên lứa Thời gian cho ăn tăng phụ thuộc vào tuổi cai sữa cho lợn con, nếu cai sữa từ 21 - 28 ngày cho ăn tăng từ 8 - 10 ngày, nếu cai sữa lúc 35 ngày thì cho ăn tăng khoảng 3 - 7 ngày Lượng thức ăn cho ăn còn phụ thuộc vào thể trạng con mẹ, nếu thể trạng gầy cho ăn nhiều hơn, nếu béo cho ăn như lợn có thể trạng bình thường

Đối với lợn nái nội có khối lượng khoảng 65 - 80 kg/con, trong một ngày nái mang thai kỳ I cho ăn 1,1 - 1,2 kg/con thức ăn tinh và 1 - 2 kg/con thức ăn xanh Giai đoạn chửa kỳ II cho ăn tăng thêm khoảng 20 - 25% so với lợn nái chửa kỳ I, mức cho ăn từ 1,4 - 1,5 kg thức ăn tinh Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm thức ăn đạm để phòng tránh bệnh sưng vú do căng sữa sau đẻ

Số bữa cho ăn trong ngày: cho ăn ngày 2 bữa sáng - chiều, cần cung cấp

đủ nước uống sạch cho lợn nái đang mang thai

Trang 17

* Quy trình chăm sóc

- Vận động

Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái mang thai kỳ I chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với những lợn nái quá béo Thực tế đã chứng minh rằng, ở một cơ sở chăn nuôi khó khăn về mặt tài chính, tiêu chuẩn

và khẩu phần ăn cho lợn còn thấp, nhưng nếu chú ý chăn thả nhiều, được vận động hợp lý, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tự tìm kiếm được sẽ làm cho lợn

mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng và phát triển tốt, lợn con có sức sống cao

Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai ở kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân

- Tắm chải

Tắm chải cho lợn mang thai là rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, gây cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh

ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn nái giai đoạn mang thai cần được tiến hành hằng ngày, đặc biệt trong mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn nái

Trang 18

Mỗi nái mang thai có một thẻ theo dõi về tình hình mang thai như: ngày phối, ngày đẻ dự kiến, lứa đẻ, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai, để có biện pháp xử lý đề phòng

Theo Bạch Thanh (2019) [21], Phát triển chăn nuôi trang trại, bảo đảm

an toàn thực phẩm, dịch bệnh, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đang là hướng

đi bền vững của Hà Nội Xác định tầm quan trọng, nhiều địa phương ở vùng ngoại thành đã đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng tăng cả về quy mô, chất lượng và gắn với ứng dụng công nghệ cao

2.2.2.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

* Quy trình nuôi dưỡng

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước khi đẻ 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi

đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái

* Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinh

Trang 19

sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa

vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con

và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy

cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô

úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô

úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức

ăn của lợn con

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.2.3 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

* Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa, có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa

Trang 20

Không cho lợn nái ăn thức ăn đã thối, mốc, gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 Kcal, protein 15%,

Ca từ 0,9 - 1,0%, P từ 0,7% (Trần Thanh Vân và cs, 2017) [29]

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con: ngày cắn ổ đẻ nên cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn

từ 1 - 2 - 3 kg tương ứng Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7, cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày Từ ngày thứ 8 đến ngày cai sữa cho heo ăn theo công thức tính: lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng, chiều), nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì bớt đi 0,5 kg thức ăn/ngày Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước Đối với những lợn nái có số con lớn hơn 10, đàn con mập, lợn mẹ gầy thì cho lợn mẹ ăn theo khả năng (không hạn chế) bằng cách tăng số bữa ăn/ngày cho lợn mẹ

* Quy trình chăm sóc

Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [29], lợn nái nuôi con trong thời gian mới đẻ, mỗi bữa cho ăn một ít một, nhưng cho ăn làm nhiều lần, thường một ngày cho ăn 3 - 4 bữa Khoảng cách các bữa ăn nên chia đều nhau

Cho ăn đúng giờ, đúng tiêu chuẩn quy định

Cung cấp đủ nước uống cho lợn nái nuôi con

Khi chuyển sang dùng thức ăn cho giai đoạn nuôi con, để tránh gây ảnh hưởng tới quá trình tiêu hóa do thay đổi thức ăn, ta phải thay đổi dần dần Chú ý những biểu hiện sắp đẻ của lợn nái để có biện pháp tác động hợp

Trang 21

lý Lợn nái có hiện tượng bầu vú căng to, vú căng ra hai bên, có hiện tượng giãn khớp xương chậu như cảm nhận lợn nái sụt mông, âm hộ tiết dịch nhờn

và mở to, đi lại, đứng lên nằm xuống bồn chồn, vú có sữa chảy ra, ỉa cục phân không dính vào chỗ nhất định Khi lợn mẹ tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn, có phân lợn con kèm theo là lợn bắt đầu đẻ, từ đó chúng ta có kế hoạch

Theo Quỳnh Ngọc (2018) [17], trước nguy cơ bệnh dịch tả lợn châu Phi xâm nhiễm vào Việt Nam thông qua các hoạt động như: Vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ lợn, sản phẩm của lợn nhập lậu, nghi nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là tại các tỉnh biên giới phía Bắc , Cục Thú y tiếp tục phân công các đoàn công tác kiểm tra, đôn đốc các địa phương thực hiện nghiêm biện pháp ngăn chặn bệnh dịch tả lợn châu Phi có khả năng xâm nhiễm vào Việt Nam Ngoài ra, Cục Thú y phối hợp với chuyên gia Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc để tăng cường năng lực xét nghiệm bệnh dịch tả lợn châu Phi

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2006) [19], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa

ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần

Trang 22

lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [20], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi

khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vâṭ chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm

E coli, bệnh sẽ xẩy ra vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to

lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật

là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo

27 - 30○C đối với lợn sơ sinh và 28 - 30○C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau

đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử

lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng

và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa

Trang 23

chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

- Phòng bệnh bằng vaccine

Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9], vaccine là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, vi rút, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới - vaccine công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

2.2.3.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9], nguyên tắc để điều trị bệnh là: toàn diện có nghĩa là phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Trang 24

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [9], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một

số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn

có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh

Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây: phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh

mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn Chọn loại kháng sinh

có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng Không nên vội vàng thay đổi

Trang 25

kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, truyền nước sinh lý…

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

2.2.4.1 Bệnh viêm tử cung

Lợn là động vật đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ xảy xa

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5], nguyên nhân gây ra

bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris,

Klebsiella, dung huyết E coli, còn có thể do trùng roi (Trichomonas fortus)

và do nấm Candida albicans

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm

Trang 26

như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung,

âm đạo

* Triệu chứng

Theo Lê Minh và cs (2017) [13], tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà tử cung có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau

Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [23], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5oC, chiều 40 - 41oC Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy

ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu

âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi có dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn

* Hậu quả

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6]; Trần Thị Dân (2004) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGFgây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến

Trang 27

thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng

progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung

tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Theo Trần Thị Dân (2004) [2], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ

* Biện pháp phòng trị

- Phòng bệnh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [15], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú Theo Lê Văn Năm (1999) [14], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaseline hoặc dầu lạc

Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng

vaccine đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai

Trang 28

* Điều trị

Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh viêm tử cung Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [35], đối với lợn nái bị viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracylin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxi 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi cao

Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ

và điều trị toàn thân (Lê Văn Năm, 1999) [14] Điều trị cục bộ bằng cách thụt rửa tử cung bằng các dung dịch muối 0,9%, rivanol 0,1%; sau đó thụt bằng một trong các loại kháng sinh sau: penicillin, streptomycin, tetramycin, Điều trị toàn thân có thể dùng một trong các loại kháng sinh tổng hợp như sau: ampisep, aenorfcoli, gentamicin, ampicillin, kết hợp với thuốc trợ lực như: vitamin C, B.complex

2.2.4.2 Bệnh sót nhau

* Nguyên nhân

Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [27], sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

* Triệu chứng

Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41oC trong vòng 1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục, lẫn máu

Trang 29

* Điều trị

Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytocin để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy

ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010) [27]

2.2.4.3 Bệnh viêm vú

Viêm vú là quá trình viêm xảy ra trong mô của vú Bệnh có thể xảy ra ở trong một hoặc nhiều vú ở dạng viêm tiết dịch cata và viêm mủ

* Nguyên nhân

Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho

thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium

pyogenes (Christensen và cs, 2007) [31]

Do lợn mẹ bị tổn thương bộ phận sinh dục như âm hộ, âm đạo, tử cung,

vú và bầu vú tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây viêm nhiễm tại chỗ và vào máu gây nhiễm trùng huyết và viêm vú Lợn mẹ tiết nhiều sữa (do ăn quá nhiều chất đạm) nhưng lợn con không bú hết làm cho sữa bị ứ đọng tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, lợn mẹ

đẻ ít con nên có nhiều vú bị thừa hoặc lợn mẹ chỉ cho con bú một bên Những vú không được lợn con bú sẽ bị căng sữa dẫn đến viêm vú

Ngoài những nguyên nhân trên thì Trương Lăng và Xuân Giao (2002) [12] còn cho biết, có thể do lợn con mới đẻ có răng nanh không bấm nên bú làm xây sát vú mẹ, tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập Chuồng lạnh quá, nóng quá, thức ăn khó tiêu hóa cũng làm ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

* Cơ chế sinh bệnh: trong điều kiện chuồng trại, vệ sinh môi trường, khu

vực chăn nuôi kém, vi khuẩn có thể xâm nhập qua ống dẫn sữa ở đầu vú hoặc theo đường máu từ các vết trầy, vết thương bị nhiễm trùng khác trên cơ thể để

Trang 30

gây bệnh Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết làm sữa ứ đọng trong bầu vú là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển (Smith và cs, 1995) [32]

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016) [16], đo thân nhiệt là một biện pháp không thể thiếu được trong chẩn đoán bệnh Thân nhiệt cao hay thấp hơn bình thường được coi là triệu chứng bệnh quan trọng

Theo White và cs (2013) [34], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm:

vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn

mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con

bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy

Viêm vú ở lợn nái thường xảy ra ở những ngày đầu tiên sau khi đẻ, cũng

có thể xảy ra ở thời kỳ mang thai và sau khi tách con Bệnh có thể xảy ra ở dạng cấp tính, mãn tính và cận mãn tính Bầu vú bị viêm sưng, sung huyết, khi sờ thấy nóng và đau Sữa của bầu vú viêm loãng, đôi khi có màu hồng hoặc có cục casein như bã đậu Nái ốm ăn ít, yếu, nhiệt độ tăng

Viêm tiết dịch đặc trưng quá trình viêm ở mô liên kết của tuyến vú, sữa thay đổi Khi bị viêm tiết dịch cata, quá trình viêm lan đến niêm mạc khoang

vú, đường tiết sữa và dẫn sữa Trong trường hợp này sữa loãng chứa nhiều cục casein Viêm mủ đặc trưng chảy mủ khi vắt sữa, gốc vú viêm cứng hoặc

có nhiều hạch di động khi sờ

Khi bị viêm dạng cấp tính, vú bị viêm một bầu hoặc vài bầu vú bị viêm

sờ thấy cứng, đau, sưng, thành phần sữa thay đổi Tình trạng này kéo dài khoảng 4 ngày Lợn con chết khoảng 30 - 100% do thiếu sữa và bú sữa nhiễm trùng gây tiêu chảy Dạng viêm vú kéo dài 7 - 21 ngày sau khi đẻ, triệu chứng

Ngày đăng: 18/03/2021, 16:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w