Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà.. Cơ s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THỊ PHƯƠNG THẢO
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT LÔNG MÀU NUÔI
TẠI TRANG TRẠI MẠNH HÙNG, XÃ LÊ LỢI,
HUYỆN CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2020
Thái Nguyên - năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÝ THỊ PHƯƠNG THẢO
Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT LÔNG MÀU NUÔI
TẠI TRANG TRẠI MẠNH HÙNG, XÃ LÊ LỢI,
HUYỆN CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG’’
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2016 - 2020 Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công
Thái Nguyên - năm 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, em được công ty SVT Thái Dương tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ rất nhiều để em có thể hoàn thành tốt khoá luận tốt nghiệp đại học của mình
Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo mọi điều kiện, dạy dỗ và đào tạo em trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn, TS La Văn Công đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã động viên, dành những tình cảm vô cùng quý báu cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2020
Sinh viên
Lý Thị Phương Thảo
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Chuẩn bị điều kiện để nuôi gà 28
Bảng 3.2 Nhiệt độ chuồng gà 29
Bảng 3.3 Thời gian chiếu sáng cho gà 29
Bảng 3.4 Chương trình cám 29
Bảng 3.5 Thành phần giá trị dinh dưỡng 31
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các giai đoạn 32
Bảng 4.2 Khả năng tiêu thụ thức ăn (tính chung trống, mái) 33
Bảng 4.3 Sinh trưởng tích lũy (g/con) 34
Bảng 4.4 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà 35
Bảng 4.5 Kết quả công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 36
Bảng 4.6 Kết quả công tác phòng bệnh bằng thuốc cho đàn gà thịt tại trại 37
Bảng 4.7 Kết quả phòng bệnh cho gà bằng vaccine 38
Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn gà tại trại 39
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn gà 39
Bảng 4.10 Những công tác khác 42
Trang 5PTTN: Phát triển nông thôn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Cơ sở vật chất, hạ tầng của trại 4
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 5
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 5
2.2 Tổng quan tài liệu 6
2.2.1 Khái niệm sinh trưởng 6
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 6
2.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt 10
2.2.4 Đặc điểm tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà 11
2.2.5 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng
và gà lai F1 14
2.2.5 Một số bệnh thường gặp trên gà thịt 16
2.2.6 Giới thiệu thuốc sử dụng trong đề tài 19
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 20
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 20
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 26
3.1 Đối tượng 26
3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 26
3.3 Nội dung thực hiện 26
3.4 Phương pháp và các chỉ tiêu theo dõi 26
3.4.1 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 26
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 27
3.4.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà tại trại 27
Phần 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 32
4.1 Kết quả thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thịt
tại cơ sở thực tập 32
4.1.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà thịt tại trại 32
4.1.2 Khả năng tiêu thụ thức ăn 33
4.1.3 Sinh trưởng tích lũy của gà thịt qua các ngày tuổi 34
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho đàn gà thịt
tại cơ sở thực tập 35
4.2.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 35
4.2.2 Công tác phòng bệnh bằng thuốc 36
Kết quả phòng bệnh bằng thuốc cho đàn gà của trại từ 1 đến 48 ngày tuổi luôn luôn được thực hiện và đúng quy trình, số gà được phòng bệnh đạt tỷ lệ 100% của trại 37
4.2.3 Công tác phòng bệnh bằng vaccine 37
4.2.4 Tình hình mắc bệnh của đàn gà 38
4.2.5 Kết quả điều trị bệnh cho đàn gà tại cơ sở 39
4.3 Công tác khác 41
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 Kết luận 43
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 8Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao
Phương thức chăn nuôi đã và đang được chuyển dịch theo hướng tích cực từ quy mô gia đình, nhỏ lẻ sang quy mô trang trại, tập trung Nhờ đó việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn và tạo ra giá trị sản phẩm kinh tế cao hơn, các sản phẩm từ gà như: trứng, thịt là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống của nhân dân, ngoài ra còn cung cấp một lượng phân cho ngành nông nghiệp phát triển Chăn nuôi gà đã mang lại một khoản lợi nhuận không nhỏ cho người dân, cũng như tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm
là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm
như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số
lượng và chất lượng đàn gà Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp
Trang 9Ngành chăn nuôi đã và đang đầu tư về khoa học kỹ thuật, vốn, đưa giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất Nên ngành chăn nuôi gia cầm đã và đang phát triển mạnh mẽ với rất nhiều trại nuôi gia cầm, với nhiều quy mô khác nhau Bên cạnh những giống gà và phương thức nuôi truyền thống thì đã xuất hiện những giống gà mới và phương thức nuôi hiện đại, trong
đó thực hiện nuôi gà theo phương thức chuồng kín và bán chăn thả đang được
áp dụng ngày càng rộng rãi
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, em tiến hành thực hiện chuyên đề:
“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh trên đàn gà thịt lông màu nuôi tại trang trại Mạnh Hùng, xã Lê Lợi, huyện Chí Linh, Hải Dương’’
- Biết được các đặc điểm về sinh lý, dinh dưỡng ở gà thịt
- Đánh giá được hiệu quả quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà lông màu tại trại Chịu khó học hỏi trong công việc, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ mà cơ
sở phân công
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Chí Linh là một thị xã ở phía Đông Bắc tỉnh Hải Dương, nằm giữa miền rừng núi phía Đông Bắc Bộ và miền đồng bằng châu thổ sông Hồng
- Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang;
- Phía Tây giáp tỉnh Bắc Ninh;
- Phía Đông giáp huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh;
- Phía Nam giáp các huyện: Nam Sách, Kinh Môn
Chí Linh có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế Có nhiều đường giao thông quan trọng chạy qua: quốc lộ 18 là đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long, chạy qua địa bàn huyện 20 km; quốc lộ 37 nối Chí Linh với thành phố Hải Dương và quốc lộ 5 nối Chí Linh với thành phố Hải Phòng; cũng là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm thị xã đi Bắc Giang Đường thuỷ, thị
xã có 40 km đường sông với 3 con sông bao bọc là sông Kinh Thầy, sông Thương, sông Đồng Mai
Những đặc điểm riêng về địa lý đã tạo cho Chí Linh có vị trí chiến lược
quân sự, kinh tế quan trọng
* Điều kiện tự nhiên
Hiện nay Chí Linh với tổng diện tích đất tự nhiên là 28.189,78 ha bao gồm cả đất đồi núi và đồng bằng phù sa
Chí Linh đã có điều kiện tự nhiên thuận lợi có nhiều khả năng để phát triển kinh tế rừng Rừng Chí Linh có nhiều loại gỗ quý như: lát hoa, lim, sến, táu, giổi, thông
Đặc biệt Chí Linh còn là nơi có rất nhiều di tích lịch sử, danh thắng nổi tiếng của tỉnh
Trang 11* Điều kiện khí hậu
Chí Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa khô hanh lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm Nhiệt độ trung bình năm 23°C; tháng có nhiệt độ thấp nhất
là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10-12°C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6
và tháng 7 (khoảng 37-38°C) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.463 mm, độ
ẩm tương đối trung bình là 81,6% Đặc điểm của địa hình, địa mạo nên khí hậu Chí Linh được chia làm 2 vùng:
+ Khí hậu vùng đồng bằng phía nam mang đặc điểm khí hậu như các vùng đồng bằng trong tỉnh
+ Khí hậu vùng bán sơn địa chiếm diện tích phần lớn trong vùng, do
vị trí địa lí và địa hình phân hoá nên mùa đông ở đây lạnh hơn vùng khí hậu đồng bằng
2.1.2 Cơ sở vật chất, hạ tầng của trại
Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi và giảm sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau:
- Trại gà Mạnh Hùng được xây dựng trên một gò đất cao cách xa khu dân cư
và được đưa vào hoạt động năm 2016 Trang trại được xây dựng và thiết kế khá hiện đại, xung quanh có tường rào bao quanh và có hệ thống camera theo dõi bảo
vệ Sân trại và đường đi giữa các dãy chuồng đều được bê tông hóa
- Hệ thống bảo vệ xây tường rào bao quanh
- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, hệ thống máng uống tự động, mỗi trại gồm 3 đường thức ăn và 2 đường nước uống tự động, nền trại cán bê tông và mái được lợp bằng tôn xốp cách nhiệt
- Có 1 kho thức ăn, 1 máy phát điện dự phòng, mỗi chuồng 4 quạt thông gió và mỗi trại có 1 lò than được thiết kế bên ngoài chuồng, 1 lò gồm có 3 bếp nhỏ
Trang 12- Trong mỗi chuồng có 2 nhiệt kế và các cảm biến nhiệt để theo dõi nhiệt
độ trong chuồng nuôi
- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan
- Hệ thống điện: Trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện
- Tổng diện tích chuồng trại là 2200 m² gồm 2 dãy chuồng, có chiều dài
50m, chiều rộng 27m, cao 2,5m Mỗi chuồng nuôi được 5000 con gà
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
+ Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho sinh viên chỗ
ăn, chỗ ở và sinh hoạt cùng gia đình chủ trại
Trang 132.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Khái niệm sinh trưởng
Sinh trưởng là một đặc trưng cơ bản và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [14], đã đưa ra khái niệm: sinh trưởng của cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương,
da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác Trần Đình Miên (1992) [7],
đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do quá trình đồng hóa và dị hóa, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền
từ đời trước”
2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.2.2.1 Những chỉ tiêu sản xuất của gà thịt
- Tỷ lệ nuôi sống: Là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng Chỉ tiêu này không những là thước đo việc thực hiện qui trình chăm sóc, quản lý, nuôi dưỡng mà còn đánh giá sức sống, sức sản xuất và khả năng thích nghi của mỗi dòng, giống gia cầm trong chăn nuôi
- Sinh trưởng:
+ Sinh trưởng tuyệt đối: Là hiệu số của khối lượng cơ thể cuối kỳ và khối lượng cơ thể đầu kỳ chia cho thời gian giữa hai kỳ cân Đồ thị sinh tuyệt đối có hình parabol
+ Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % tăng lên về khối lượng kích thước
và thể tích cơ thể lúc khảo sát so với lúc ban đầu khảo sát Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hypebol, gà còn non thì sẽ có sinh trưởng tương đối cao, sau
đó giảm dần theo tuổi
Trang 14+ Sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng cơ thể gia cầm qua các giai đoạn nuôi (thường xác định theo tuần tuổi) Cân vào các thời điểm 1 ngày tuổi, cân hàng tuần từ 1 tuần tuổi cho đến khi kết thúc thí nghiệm Cân vào một ngày, giờ nhất định trước khi cho ăn, cân từng con một Đồ thị sinh trưởng tích lũy
có hình chữ S
- Tiêu thụ thức ăn: Lượng thức ăn thu nhận là một chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm theo phương thức nuôi công nghiệp, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thành phần các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của mỗi loại gia cầm, chất lượng giống, mùa vụ Thông qua chỉ tiêu này, có thể đánh giá được tình trạng sức khỏe của đàn gia cầm, chất lượng thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc Dựa vào lượng thức ăn thu nhận và năng suất của mỗi đàn gia cầm, người ta tính được tiêu tốn và chi phí thức ăn cho một đơn vị sản phẩm chăn nuôi (FCR) Vì vậy, lượng thức ăn thu nhận có một ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên cứu cũng như trong sản xuất của ngành chăn nuôi gia cầm
- Hệ số chuyển hóa thức ăn: Thức ăn chiếm đến 70% trong tổng giá thành sản phẩm chăn nuôi Chi phí thức ăn để sản xuất 1kg thịt là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi gia cầm lấy thịt Hiện nay ở các nước tiên tiến, người ta thường giết thịt gia cầm ở độ tuổi từ 35 - 60 ngày tuỳ theo các giống khác nhau
- Thành phần và tỷ lệ cấu thành thân thịt gà khi giết mổ:
+ Tỷ lệ thân thịt (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thân thịt và khối lượng sống
+ Tỷ lệ thịt lườn: Là tỉ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt lườn với khối lượng thân thịt Tách thịt lườn bằng cách: rạch một lát cắt dọc theo xương lưỡi hái đến xương ngực, cắt tiếp từ xương đòn đến vai Bỏ da ngực, tách cơ ngực nông và cơ ngực sâu bên trái, bỏ xương, cân
Trang 15+ Tỷ lệ thịt đùi và thịt ngực (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng thịt đùi, thịt ngực với khối lượng thân thịt
+ Tỷ lệ mỡ bụng (%): Là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối lượng sống hoặc là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng mỡ bụng và khối
2.2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm
- Ảnh hưởng của dòng giống
Theo tài liệu của Chambers J R (1990) [14] thì nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ
- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông
Theo (Brandsch A.và Bichel H 1978) [1] tốc độ mọc lông có liên đến chất lượng chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường sinh trưởng và phát triển nhanh và có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng
là tính trạng di truyền liên kết với giới tính của gia cầm
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định, trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái
Theo Phùng Đức Tiến (1997) [8], đã xác định biến dị di truyền về tốc
độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính của gia cầm
Theo Siegel và Dumington (1978) [15] thì những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao Trong cùng một dòng gà mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn gà trống
Trang 16- Ảnh hưởng của môi trường
Theo (Wesh Bunr K W, 1992 [16]) nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gà, khi nhiệt độ môi trường cao gà sẽ sinh trưởng chậm, tỷ lệ chết cao, nhiệt độ môi trường quá cao gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi
gà broiler theo hướng công nghiệp đặc biệt là vùng khí hậu nhiệt đới
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh; nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì
sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm, đồng thời tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh
Chế độ chiếu sáng ảnh hưởng tới khả năng lấy thức ăn của gia cầm do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm Tổng thời gian chiếu sáng cho
gà thịt từ 1 ngày đến 4 tuần khoảng 20 - 24 giờ và 10 - 18 giờ cho gà từ 5 tuần
đến xuất bán Nguồn cây trồng vật nuôi (2015) [18]
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ rút ngắn
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia cầm Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy được tiềm năng di truyền về sinh trưởng của giống
Theo Chambers J R (1990) [14] thì tương quan giữa khối lượng của gà
và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9) Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cung cấp đủ năng lượng, thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng về protein, acid amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu cầu của gà ở các giai đoạn khác nhau
Trang 172.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt
Năng lượng: Gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần ăn của gà không được vượt quá 4% Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn gà đẻ
Protein: Đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm Người ta cho rằng 20 - 25
% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 - 55 lần trong 6 tuần sau khi nở Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô có nhiều protein
Nước: Chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày Khi thời tiết ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường
Khoáng chất: Là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm
+ Khoáng đa lượng: Ca, P trong cơ thể Ca chiếm 1,3 - 1,8% khối lượng
cơ thể, P chiếm 0,8 - 1% khối lượng cơ thể
Trang 18+ Khoáng vi lượng: Các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt, iodine
và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm
Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như Na, K… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm trong
cơ thể …
2.2.4 Đặc điểm tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà
Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của gà gồm: 1.Thực quản; 2 Diều; 3 Dạ dày tuyến; 4 Dạ dày cơ; 5 Lá lách; 6 Túi mật; 7 Gan; 8 Các ống mật; 9 Tuyến tụy; 10 Tá tràng; 11 Ruột non; 12 Mang tràng ; 13 Ruột già; 14 Ổ nhớp
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật
có vú Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác
Do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức
ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp,
* Tiêu hóa ở miệng
Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức
ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều đầu mút dây thần kinh, có tác dụng cảm giác
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy Trong nước bọt có chứa một số ít men amylaza nên có ít tác dụng tiêu hóa
Trang 19Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu rồi vào thực quản Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt
* Tiêu hóa ở diều
Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100 - 120g thức ăn Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn vào thẳng phần dưới thực quản và dạ dày không qua túi diều (Cây trồng vật nuôi, 2015) [19]
* Tiêu hóa ở dạ dày
- Tiêu hóa ở dạ dày tuyến
Dạ dày tuyến giống như cái túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch Màng nhầy rất phát triển Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối Vì vậy, tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH = 3,1 - 4,5
Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzym và musin Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên (Trần Long, 1994) [4]
- Tiêu hóa ở dạ dày cơ
Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan
Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (ở lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua) sau đó thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (ở thực quản và diều), qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều)
Dưới ảnh hưởng của men amylaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình phân giải ở diều Thời gian thức ăn ở diều phụ thuộc
Trang 20vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút còn khối lượng lớn thì vài giờ
Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30 phút: Gà khoảng 11,3ml; còn ở ngỗng là 24ml ở giờ thứ nhất Sau khi ăn dịch
vị tiết nhiều hơn
* Tiêu hóa ở ruột
Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào tá tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn
Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột
Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với
tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic, lypolytic và cả men enterokinaza
Dịch tụy là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH = 7,2 - 7,5) Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn
có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3 )
Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amylaza, mantaza, invertaza và lipaza
Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này
Các men amylaza và mantaza phân giải các polysacarit thành các monosacarit như glucoza Lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo
Trang 21Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá
ở màng) Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu
Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế Cũng như ở động vật
có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như
đà điểu, ngan, ngỗng thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn
2.2.5 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Ri, gà Lương Phượng
Trang 22Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng, chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi (Lê Hồng Mận, Nguyễn Thanh Sơn (2001) [6]
* Khả năng sản xuất
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [10], thì: khối lượng mới nở là 30 - 31g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130g, ở gà trống là 1636g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246g, ở gà trống là 2735g Thịt thơm ngon, màu trắng
Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 - 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng
Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 - 15 quả Năng xuất trứng có thể đạt từ
70 - 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6%; tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78%,
tỷ lệ gà con loại I đạt 94,1%
Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả, không xuất hiện mổ cắn
Gà nuôi thịt đến 12 tuần tuổi: Tỷ lệ nuôi sống đạt 95,7%; khối lượng con trống 1140,70g; con mái 940,50g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75% Còn tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37%
2.2.5.2 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Lương Phượng
vì trong đàn có nhiều màu lông khác nhau Mào, yếm, mặt và tích tai màu đỏ
Gà trống mào đơn ngực nở, lưng thẳng lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon
Trang 232.2.5.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng)
Giống gà được lai tạo từ trống Ri thuần và mái Lương Phượng
+ Gà có thân hình vững chắc, hướng thân thịt, chân, da vàng, lườn ức dày, thịt săn thơm ngon như gà ta nguyên thủy, phù hợp với kinh phí và nhu cầu người tiêu dùng
+ Độ đồng đều và sức đề kháng cao Thích nghi khí hậu mọi vùng miền
* Chỉ tiếu kinh tế, kỹ thuật:
+ Thời gian sinh trưởng: 75 ngày nuôi bán chăn thả Tỷ lệ nuôi sống 96
- 98% Trọng lượng bình quân: 1,8 - 2,1kg/con Tiêu tốn thức ăn từ 2,8 – 3,0
kg cho 1kg tăng trọng
2.2.6 Một số bệnh thường gặp trên gà thịt
Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:
* Bệnh Thương Hàn
Thương hàn là một bệnh cấp tính ở gà con, truyền lây qua trứng, với đặc điểm tiêu chảy phân trắng và tỉ lệ chết cao, con trưởng thành không biểu hiện bệnh Tỉ lệ bệnh và tỉ lệ chết gia tăng ở khoảng 7-10 ngày sau khi nở
- Nguyên nhân: Do vi khuẩn G- Salmonella gallinarum và Salmonella
pullorum gây ra, chủ yếu thông qua đường tiêu hoá và hô hấp Gà đã khỏi
Trang 24bệnh vẫn tiếp tục thải vi khuẩn ra theo phân, đây là nguồn lây lan quan trọng
và nguy hiểm nhất
- Triệu chứng:
+ Ở gà con: gà bị bệnh nặng từ mới nở đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất vào lúc 24 - 48 giờ sau khi nở Biểu hiện: gà yếu, bụng trễ do long đỏ không tiêu, tụ tập thành từng đám, kêu xáo xác, ủ rũ Lông xù, ỉa chảy, phân trắng mùi hôi khắm có bọt trắng, có khi lẫn máu, phân bết quanh hậu môn, gà chết 2 - 3 ngày sau khi phát bệnh
+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính) Gà biểu hiện gầy yếu, ủ
rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt,…
- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ, tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử
- Phòng bệnh:
+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc
+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà
+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những phân gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh
+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh
+ Dùng dung dịch formol 2 - 5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi và khu vực xung quanh
- Nguyên nhân: Theo Trần Thị Thủy (2017) [21], bệnh do Mycoplasma
gallisepticum gây ra
Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao
Trang 25- Triệu chứng:
+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày
+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp
+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các loại
gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli) Vì vậy trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E.Coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng: âm ran khí
quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc
- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống thuốc để phòng bệnh
- Nguyên nhân: Do các loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra Gà
con 9 - 10 ngày tuổi bắt đầu nhiễm bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn từ 15 - 45 ngày tuổi Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có trong thức ăn, nước uống Bệnh xảy ra quanh năm nhưng trầm trọng nhất là vào vụ xuân hè khi thời tiết nóng ẩm Theo Đoàn Văn Hùng (2014) [20], các loại cầu trùng gây bệnh cho gà tồn tại rất lâu ngoài môi trường và rất khó tiêu diệt bằng các loại thuốc sát khuẩn cũng như vôi bột vì vậy đàn gà rất dễ
bị mắc bệnh từ môi trường
- Triệu chứng:
+ Gà bệnh ủ rũ, ăn ít, uống nhiều nước, xù lông, cánh sã, chậm chạp, phân dính quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc đen như bùn
Trang 26+ Nếu gà bị bệnh nặng thì phân lẫn máu tươi, gà mất thăng bằng, cánh
tê liệt, niêm mạc nhợt nhạt, da và mào tái nhợt do mất máu Tỷ lệ ốm cao, nhiều gà chết
- Bệnh tích:
+ Cầu trùng manh tràng: manh tràng sưng to và chứa đầy máu
+ Cầu trùng ruột non: ruột non căng phồng, xuất huyết bề mặt ruột có nhiều đốm trắng xám, bên trong ruột có dịch nhầy màu hồng
- Điều trị:
+ Dùng Diclazuril: liều 1ml/20kg thể trọng dung 4 - 6 ngày liên tục
+ Giải độc gan thận Hepatol: liều 1ml/1lít nước uống, uống liên tục
- Các bệnh đường ruột, ỉa chảy do E.Coli, phân trắng, tụ huyết trùng,
đóng dấu, phù thũng sau cai sữa ở lợn cao, ung khí than, viêm khớp, viêm vú, viêm tử cung ở trâu, bò, dê, cừu
- Liều lượng, cách dùng:
+ Liều phòng: 1g/15kg thể trọng, dùng 3 - 5 ngày
+ Liều trị: 1g/10kg thể trọng, dùng lien tục 5 - 7 ngày
Trang 27* Doxycycline
Doxycycline có kháng khuẩn phổ rộng với các vi khuẩn Gram (+) như
Staphylococcus, Streptococcus, Actinomyces; các vi khuẩn Gram (-) như E.Coli, Klebsiella bacteroides, Enterobacter, Proteus và Pseudomonasaeruginosa, Salmonella, Bordetella spp, Brucella, Bartonella, Haemophilus spp, Pasteurella multocida, Shigella và Yersinia pestis, kể cả Mycoplasma, Chlamydia, Rickettsia,
Doxycycline có ái lực rất mạnh đến các mô phổi, vì thế nó đặc biệt thích hợp trong phòng và điều trị nhiễm trùng đường hô hấp
- Chỉ định: dùng trên lợn, bê, nghé, gia cầm và thủy cầm
Gia cầm và thủy cầm: bệnh CRD, viêm túi khí do E.coli, tiêu chảy phân trắng do E.coli, thương hàn,…
- Liều lượng và cách dùng:
+ Trộn thức ăn hay pha nước uống: dùng 3 - 5 ngày
+ Gia cầm và thủy cầm: 1g/1 - 2 lít nước uống
*Diclazuril
Diclazuril là kháng sinh ức chế cầu trùng được sử dụng cho phòng ngừa
và điều trị bệnh cầu trùng ở gia cầm do: Eimeria tenella, Eimeria mivati,
Eimeria necatrix, Eimeria brunetti, Eimeria maxima,…
- Chỉ định: dùng trên bê, nghé, cừu, gia cầm phòng và trị bệnh cầu trùng
- Liều lượng, cách dùng:
+ Liều phòng: 1g/20kg thể trọng
+ Điều trị: 1g/10 – 15kg thể trọng
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất năm 1986 là 1.701 tỷ đồng tăng lên 3.712,8 tỷ đồng năm 2002 Năm 2006, đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi
Trang 28Tổng đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con, đến năm 2003 đạt 254 triệu con (gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con), tốc độ tăng bình quân 7,87%/năm Trong đó số lượng đàn gà thời gian 1990 - 2003 tăng từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm Từ năm 2003 do ảnh hưởng của dịch cúm số lượng đầu con giảm Năm 2006 tổng đàn gia cầm đạt 214,6 triệu con Đạt được những kết quả trên, khoa học công nghệ đã có những đóng góp quan trọng như nghiên cứu thích nghi và đưa vào sản xuất các giống gà cao sản Đồng thời với việc đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp, từ năm 1995 đã tập trung nghiên cứu các giống gà chăn thả có năng suất, chất lượng cao trên phạm vi cả nước
Theo Trần Công Xuân và cs (2001) [12], khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà Lương Phượng của Trung Quốc đã kết luận: dòng M1 có tuổi
đẻ quả trứng đầu lúc 145 ngày tuổi, đẻ 5% lúc 160 ngày tuổi, 30% lúc 170 ngày tuổi và đạt 50% lúc 184 ngày tuổi Khối lượng trứng lúc 38 tuần tuổi đạt 55,42 gam, tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,92%, tỷ lệ phôi đạt 94,59%, tỷ lệ nở/tổng số trứng ấp là 83,11%, tỷ lệ nở/ tổng trứng có phôi đạt 88,08%
Khi nghiên cứu về khả năng sản xuất trứng của bốn dòng gà kabir ông
bà nhập nội nuôi tại trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn Nuôi đã kết luận: khả năng sinh sản khá cao, năng suất trứng đến 70 tuần tuổi mái B: 163,34 quả, mái D quần thể 177,03 quả Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng giống thấp, tương đương 2,94 và 2,97kg, khối lượng trứng trung bình 55
- 56 gam, đơn vị Haugh: 84 Tỷ lệ trứng chọn ấp là 92 - 93% Tỷ lệ trứng có phôi 92,18 - 96,02% (Theo Trần Công Xuân và cs (1991) [11]
Nghiên cứu khả năng cho thịt của con lai giữa gà Kabir với Lương Phượng Hoa, Trần Công Xuân và cs (2001) [12] cho biết: nuôi thịt đến 12 tuần tuổi gà Kabir - Lương Phượng, Lương Phượng - Kabir có tỷ lệ nuôi sống cao đạt 95 - 96%, phù hợp với điều kiện nuôi thâm canh và bán thâm canh; khối lượng cơ thể gà Kabir - Lương Phượng đạt 2350g, gà Lương Phượng - Kabir