Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập .... Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng
Trang 1TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2016 – 2020
Thái Nguyên – năm 2020
Trang 2TỈNH PHÚ THỌ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2016 – 2020 Giảng viên hướng dẫn: TS PHẠM THỊ PHƯƠNG LAN
Thái Nguyên - năm 2020
Trang 3Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phạm Thị Phương
Lan, các cô, bác, anh, chị công nhân tại trang trại ông Nguyễn Thế Anh xã Tề
Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ
em hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện về vật chất, tinh thần giúp
em hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Do kiến thức thực tế của em chưa nhiều, nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô, các bạn bè, đồng nghiệp để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các đơn
vị và cá nhân đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 7 năm 2020
Sinh viên
Lý Minh Tiến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập 4
2.2 Tổng quan tài liệu và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến chuyên đề 7
2.2.1 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 7
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 11
2.2.3 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 14
2.2.4 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 16
2.2.5 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 20
2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 23
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 31
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
Trang 52.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 33
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 34
3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 34
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 34
3.3 Nội dung thực hiện và chỉ tiêu theo dõi 34
3.4 Phương pháp nghiên cứu 35
3.4.1 Phương pháp theo dõi 35
3.4.2 Phương pháp xử lý số liệu 45
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Kết quả đánh giá tình hình sản xuất chăn nuôi tại trại 46
4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn thực tập 47
4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 47
4.2.2 Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập 48
4.2.3 Một số chỉ tiêu kỹ thuật của đàn lợn nái sinh sản của trại qua 6 tháng thực tập 50
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại 50
4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 50
4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trại bằng thuốc và vaccine 53
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại thực tập 54
4.4.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con của trại 54
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại 56
Trang 64.5 Kết quả thực hiện các công việc khác 57
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Đề nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn 43
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Nguyễn Thế Anh trong 3 năm 2018 – 2020 46
Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 47
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 48
Bảng 4.4 Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái tại trại 50
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 52
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 53
Bảng 4.7 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ tại trại 54
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản trong thời gian thực tập 56
Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con theo mẹ trong thời gian thực tập 57
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện công việc khác 58
Trang 9đa ngành của nền kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành mũi nhọn trong
cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung
Để hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Thực tập tại các trại chăn nuôi lợn sẽ giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức và ứng dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, khi ra trường sẽ trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến
hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và
phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn Nguyễn Thế Anh, xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ”
Trang 101.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Học và thực hành thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Thực hiện thành thạo quy trình phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.2 Vị trí địa lý
Trại chăn nuôi lợn nái sinh sản của ông Nguyễn Thế Anh, xã Tề Lễ,
huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
Tề lễ là xã miền núi nằm ở phía Tây của Huyện Tam Nông Tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm huyện 17 km, có vị trí địa lý tiếp giáp với nhiều xã trong
và ngoài huyện,
Trụ sở UBND xã Tề Lễ
Phía Đông giáp xã Thọ Văn – huyện Tam Nông
Phía Tây giáp xã Ngọc Đồng – huyện Yên Lập
Phía Nam giáp xã Sơn Hùng – huyện Thanh Sơn
Trang 12Phía Bắc giáp xã Đồng Lương – huyện Cẩm Khê
Với diện tích tự nhiên là: 1.735,15 ha Có 1.140 hộ với tổng số 4.469 nhân khẩu được phân bố trên 09 khu dân cư
Đây là điều kiện khá thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán giữa các xã, huyện thành bên cạnh và giao thương giữa các tỉnh
2.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Khí hậu là yếu tố quan trọng trong đời sống sinh hoạt của người dân cũng như trong chăn nuôi Nó quyết định đến sự phát triển của ngành nông nghiệp trong đó có trồng trọt và chăn nuôi, mà hiện nay chăn nuôi lại đang có xu hướng tăng mạnh
Nhiệt độ: xã Tề Lễ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm là 23°C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28°C (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 14°C (tháng 1) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 12°C
2.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất nơi thực tập
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức của trại
Trại gồm có:
+ 01 chủ trại;
+ 01 quản lý;
+ 01 kỹ thuật công ty De Hues;
+ 03 tổ trưởng (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng thịt);
+ 4 công nhân;
+ 2 sinh viên thực tập;
Trang 13Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu và tổ chuồng thịt Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại
2.1.2.2 Cơ sở vật chất
- Trang thiết bị
+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: nước sinh hoạt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt,
có sân cầu lông, bàn bi a,
+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư:
Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn, máy xịt áp lực phục vụ công tác vệ sinh Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông Có máy cắt, mày hàn phục vụ trại Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Cơ sở hạ tầng
Trang trại có tổng diện tích 2,5 ha gồm:
Khu chăn nuôi, khu nhà ở, hầm biogas, hồ chứa nước thải của hầm biogas, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh
Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm một nhà tắm sát trùng, một nhà sinh hoạt chia làm các phòng: phòng cách ly, phòng chủ trại, phòng quản lý, phòng công nhân, phòng sinh hoạt chung
Khu sản xuất gồm một dãy chuồng bao gồm: 1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ kèm cai sữa, 2 chuồng thịt
Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi gồm một nhà kho chia làm các kho: kho thuốc, kho thức ăn, phòng pha chế tinh, phòng sát trùng Hệ thống nước, hệ thống điện, kho thuốc, …
Trang 14Hệ thống chuồng xây dựng khép kín, hiện đại Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió Chuồng bầu có hệ thống nước uống tự động Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính đầy đủ Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5m2, cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 1.5cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Hệ thống điện: Nguồn cấp điện có điện lưới và hai máy phát điện dự phòng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một téc lớn, một bể xây dựng ở đầu chuồng bầu, đẻ và một
bể ở đầu chuồng thịt Nước tắm và nước xả gầm phục vụ cho công tác khác được bố trí từ các bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở đầu các chuồng
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy
và một số thiết bị khác
Hệ thống xử lý môi trường: Chất thải được xử lý bằng hệ thống biogas trước khi thải ra môi trường
Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: Tủ lạnh bảo quản vaccine và một
số loại men sống, tủ bảo quản tinh, máy áp lực phun sát trùng trong và ngoài khu vực chuồng nuôi
2.1.2.3 Thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi:
+ Được công ty cổ phần De Hues Việt Nam cung cấp về con giống, thức
ăn và thuốc thú y có chất lượng tốt
+ Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông
+ Chủ trại có năng lực, được đào tạo kiến thức chuyên môn, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Trang 15+ Cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn vững vàng được đào tạo chuyên sâu ở riêng các mảng và có một đội ngũ công nhân nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
+ Trang trại được xây dựng theo hình thức công nghiệp hóa hiện đại hóa, mọi quy trình chăm sóc theo hình thức khép kín Nguồn nước được xử lý sạch
sẽ đáp ứng đầy đủ cho trang trại
- Giá lợn hiện tại đang ở mức cao, lợi nhuận thu lớn
- Khó khăn:
+ Vốn đầu tư ban đầu bỏ ra xây dựng cơ sở vật chất khá lớn
+ Công nhân thường xuyên xin thôi việc dẫn đến thay đổi công nhân liên tục làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc đàn lợn
2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
Trang 16* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức
ăn Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái
ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ
4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, kích thước thức ăn nhỏ,
có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái, tăng khả năng tiêu hóa cho lợn đẻ
Theo Lê Hồng Mận (2002) [18] việc trực lợn đẻ là công việc rất cần thiết
để hỗ trợ lợn đẻ an toàn:
- Chuẩn bị dụng cụ: vải xô, vải mềm sạch, cồn Iode 3%, kìm bấm răng nanh, kéo cắt rốn, chỉ buộc, Oxytoxin, đèn sưởi ấm, v.v
Trang 17- Công việc trợ sản: lợn nái thường đẻ dễ do thai nhỏ, xương chậu rộng hay đẻ vào ban đêm yên tĩnh Lợn đẻ trong 1 giờ là tốt nhất, nếu đẻ kéo dài thì phải tác động cho đẻ nhanh hơn bằng cách tiêm Oxytoxin Khoảng cách đẻ giữa con trước đến con sau thường từ 15 – 20 phút hoặc có thể hơn Không được dùng oxytoxin trong trường hợp lợn nái rặn nhiều và co một chân lên vì rất có thể lợn con nằm ngang bịt kín đường đẩy thai ra Trường hợp này người trực sản phải can thiệp thò tay vào trong xoay lợn con về đúng tư thế rồi nhẹ nhàng lôi lợn con ra ngoài để cho lợn mẹ tiếp tục đẻ được
Nhau thai là một phần quan trọng của bào thai, nhau càng nặng lợn con càng khỏe Nhau thai thường ra sau khi lợn mẹ đẻ con cuối cùng 12 – 20 phút
Người trực trợ sản phải tuyệt đối không để lợn mẹ ăn nhau, nếu để lợn mẹ
ăn nhau sẽ lên men và gây sốt sữa, làm rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sữã của lợn mẹ, ảnh hưởng đến lợn con làm lợn con sinh trưởng chậm
Trường hợp lợn nái đẻ lâu, đẻ khó, rặn yếu phải tiêm Oxytoxin giúp tử cung co bóp, nếu bị khó đẻ thì bôi vaselin cho trơn để dễ đẻ Khi có lợn con chết trong bụng lợn mẹ thì người trợ sản phải cho tay vào lôi thai ra kịp thời Lợn đẻ xong, người trợ sản bơm vào tử cung thuốc tím hoặc rivanol để phòng nhiễm trùng đường sinh dục Theo dõi liên tục nhiệt độ của lợn nái trong 3 ngày để phát hiện lợn bị sót nhau, sốt sữa, nhiễm trùng vú mà chữa trị kịp thời
Theo Lê Hồng Mận (2002) [18], lợn đẻ xong, dùng nước ấm rửa sạch âm
hộ và vú Chú ý bảo đảm ô úm cho lợn con, che chắn chuồng ấm áp tránh gió lùa Sau đẻ lợn mẹ khát nước do mất máu phải bổ sung kịp thời nước sạch có pha thêm muối Chưa cho lợn nái ăn ngay, cho nhịn 6 – 12 giờ hoặc cho ăn ít
để đề phòng viêm vú Sau đẻ 3 ngày cho lợn mẹ ăn theo mức khẩu phần nái nuôi con để đủ sữa cho lợn con bú, cần theo dõi các hiện tượng lợn bị viêm vú, viêm tử cung, nếu bị viêm phải can thiệp điều trị ngay
Trang 182.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con
* Quy trình nuôi dưỡng
Theo Lê Hồng Mận (2002) [18], khẩu phần thức ăn nái nuôi con phải đảm bảo đầy đủ thành phần và tỷ lệ chất dinh dưỡng để tiết sữa cho con bú, có
độ hao mòn lợn mẹ vừa phải tạo thuận lợi cho lấy giống lứa đẻ tiếp
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1- 2- 3kg tương ứng
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,35kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 – 2 kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu
có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 – 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
* Quy trình chăm sóc
Trang 19Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ
Theo Lê Hồng Mận (2002) [18], luôn giữ chuồng khô ráo, có đệm lót rơm để giữ ấm cho lợn mẹ và lợn con có đèn sưởi ấm, tránh để lợn con nằm trên nền xi măng lạnh dễ bị bệnh phân trắng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], chuồng lợn nái nuôi con phải
có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 – 20ºC, độ ẩm 70 – 75%
2.2.2 Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.2.1 Đặc điểm về sinh trưởng
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], lợn con sinh trưởng và phát dục lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp
7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần
Lợn con bú sữa sinh trưởng nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu, sau đó giảm Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh
Ví dụ: lợn con 3 tuần tuổi tích lũy 9 – 14 g protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích được 0,3 - 0,4 g Điều đó cho thấy: nhu cầu dinh dưỡng của lợn con cao hơn lợn trưởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein
Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2005) [30], khối lượng sơ sinh
và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan tỷ lệ thuận với nhau khá chặt chẽ Khối lượng sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà còn liên quan tới tỷ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỷ lệ sống đến cai sữa Ở lợn ngoại, khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35 kg thì tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 75% Trong khi đó, khối lượng sơ sinh 0,57 kg hoặc nhỏ hơn chỉ sống sót hơn 2% khi cai sữa
2.2.2.2 Đặc điểm về cơ quan tiêu hóa
Trang 20Sự tăng lên về khối lượng, sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể cũng đồng thời xảy ra Ở lợn con, cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển thể hiện ở sự tăng nhanh dung tích và khối lượng của
bộ máy tiêu hóa, chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một số men trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế
Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc
sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh 0,11 lít)
Trần Văn Phùng và cs (2004) [22] cho biết: dung tích ruột già lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít)
2.2.2.3 Đặc điểm của bộ máy tiêu hóa lợn con
Ở lợn con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, thể hiện qua sự phân tiết không đủ lượng acid chlohydric và các men tiêu hóa các chất dinh dưỡng Trên lợn con sơ sinh, khả năng tiết acid chlohydric rất ít, chỉ đủ để hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hóa chất đạm), lượng acid chlohydric tự do quá ít, không đủ để làm tăng độ toan của dạ dày, do vậy độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non vi khuẩn phát triển mạnh gây nên tiêu chảy Sự phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp
60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)
Trang 21Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức
ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất
2.2.2.4 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt
Lợn con sơ sinh tỷ lệ nước trong cơ thể cao đến 82%, chỉ 30 giây sau đẻ, lượng nước đã giảm đến 1,5 - 2% kèm theo nhiệt độ cơ thể giảm dần đến 5 - 10ºC Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt của lợn con tương đối ổn định và lên đến 39 - 39,5ºC Lợn con mới đẻ cần được sưởi ấm những ngày đầu bằng thùng úm, có đèn sưởi hoặc bếp than, củi nhất là những đêm trời lạnh
Chế độ nhiệt như sau: ngày mới sinh 35ºC sau đó cứ mỗi ngày giảm đi 2ºC đến ngày thứ 8 là 21ºC Nhiệt độ này được duy trì đến lúc lợn con cai sữa
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], đã giải thích nguyên nhân của hiện tượng mất nhiệt của lợn con như sau:
- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể còn thấp, trên thân lợn lông còn thưa
- Hệ thống điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh
- Diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiệt nhiều khi trời lạnh
2.2.2.5 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con
Theo Babara Straw (2001) [2], hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển ở thai lợn chửa khoảng 50 ngày Khoảng 70 ngày tuổi thai lợn có thể phản ứng với các tác nhân lạ với sự sản sinh ra kháng thể Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thì môi trường dạ con là vô khuẩn và lợn con đẻ ra không có kháng thể nào Vì vậy lợn con mới sinh phụ thuộc vào kháng thể có chứa trong sữa non trong vài
Trang 22tuần đầu cho tới khi hệ thống miễn dịch có thể phản ứng với thách thức với kháng nguyên từ nhiều tác nhân lây nhiễm gặp phải trong môi trường
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [22], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi
bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ đặc biệt là 7 ngày đầu sau khi sinh
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [27], ở lợn con mức độ đáp ứng miễn dịch không những phụ thuộc vào sự có mặt của kháng thể mà còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của hệ thống miễn dịch đối với tác nhân gây bệnh
2.2.3 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng
2.2.3.1 Đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái
Cấu tạo: Tuyến sữa của lợn gồm 2 phần: phần phân tiết và phần dẫn sữa:
Phần phân tiết gồm vô số các tuyến bào tạo thành từng chùm như các chùm nho, các tế bào phân tiết nằm mặt trong của các tuyến bào, tổng hợp sữa
và phân tiết vào xoang tuyến bào
Phần dẫn sữa: gồm hệ thống ống dẫn sữa nhỏ xuất phát từ các xoang tuyến bào, các ống dẫn sữa nhỏ dược tập trung lại thành ống dẫn sữa trung bình rồi thành ống dẫn sữa lớn
Quy luật tiết sữa của lợn nái:
Theo Nguyễn Quang Linh và cs (2005) [16] cho biết: đối với lợn bầu vú không có bể sữa Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh thể dịch và ba pha
Khi lợn con mút bú, đầu tiên lợn con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung động hưng phấn thần kinh hướng tâm truyền về vỏ não, rồi tới vùng dưới
Trang 23đồi, tiết các yếu tố giải phóng, các yếu tố giải phóng tác động lên thùy sau tuyến yên, kích thích tiết kích tố oxytocin đi tới tuyến vú làm co bóp tế bào biểu mô,
cơ tuyến bào và cơ tuyến vú Nhờ vậy, sữa được thải ra từ các xoang tuyến bào qua ống dẫn sữa nhỏ, qua ống dẫn sữa lớn và chảy ra ngoài theo ống tiết sữa,
từ đó lợn con mới bú được Do vậy khi lợn con bú sữa, chúng thực hiện theo 3 pha như sau: Pha ngậm và thúc vú (80- 100s), pha nằm im (20s), pha mút vú (20s)
Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó giảm dần
2.2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái
Giống: các giống lợn khác nhau thì có sản lượng sữa khác nhau lợn Berkshire có sản lượng sữa là 1,9 – 3,3 kg/ ngày; Duroc 1,9 – 3,0 kg/ ngày; Landrace 2,5 - 3,5 kg/ ngày Các tài liệu gần đây cho biết lợn nái Yorkshire và Landrace có thể tiết > 10 lít sữa/ ngày
Số con để nuôi trong một ổ: số con để nuôi trong ổ với sản lượng sữa của lợn mẹ có mối tương quan chặt chẽ với nhau, sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào số con để nuôi trong một ổ
Tuổi và lứa đẻ của lợn mẹ: sản lượng sữa của lợn mẹ lứa đầu thấp, sau
đó tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa thứ 3, sau đó ổn định và giảm dần từ lứa để thứ
8 trở đi
Số vú lợn mẹ: giữa số vú và sản lượng sữa có tương quan dương (r = 0,262)
Vị trí của vú: sản lượng sữa giảm dần từ cặp vú phía trước ngực ra sau bụng Chế độ dinh dưỡng: ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nuôi sống của lợn con tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chát béo của giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kì tiết sữa đầu
Trang 24Ảnh hưởng mức protein đến năng suất và chất lượng sữa: khi lượng ăn vào tăng sẽ nâng cao sản lượng sữa Khi lượng ăn giảm, dinh dưỡng để sản xuất sữa phải sử dụng từ nguồn dinh dưỡng dự trữ của cơ thể
Nước: nước chiếm 80 – 85%, vì lợn tiết sữa đòi hỏi một lượng nước rất lớn Thời tiết, khí hậu: thời tiết mát mẻ lợn mẹ sẽ tăng ăn vào, tăng sản lượng sữa Nhiệt độ cao giảm ăn vào giảm sản lượng sữa
2.2.4 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.4.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
- Sự thành thục về tính:
Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục), cơ quan sinh dục lợn nái có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng, có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ Tuy nhiên sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng
- Giống:
Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau, những giống
có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn, những giống thuần hoá sớm thành thục sớm hơn các giống thuần hóa muộn Tuổi thành thục về tính của các lợn cái ngoại và lợn cái lai muộn hơn các loại lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng cái, …) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục
về tính vào khoảng 4 – 5 tháng tuổi, lợn ngoại là 6 – 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (nội x ngoại) thường động dục lần đầu vào lúc 6 tháng tuổi
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý:
Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sớm thành thục và ngược lại Điều kiện ngoại cảnh: khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của gia súc
Trang 25- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính ở gia súc thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính vẫn tiếp tục sinh trưởng, lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh sản quá sớm để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và phẩm chất giống của đời sau
2.2.4.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý
Trang 26Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15- 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ
Một chu kỳ tính ở lợn thường dao động trong khoảng 18 – 22 ngày, trung bình 21 ngày theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [31] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi:
- Giai đoạn trước động dục (kéo dài 2-3 ngày)
Đây là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ đến lần động dục tiếp theo, chuẩn bị điều kiện cho cơ quan sinh dục lợn cái và trứng để tiếp nhận tinh trùng, đón trứng và thụ tinh
+ Bao noãn phát triển về khối lượng và chất lượng, nổi lên trên bề mặt buồng trứng và tăng tiết Oestrogen, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này kích thước của noãn bao có đường kính là 4mm, đến cuối giai đoạn kích thước của noãn bao có đường kính 10 -12mm
+ Tuyến sinh dục phụ tiết dịch nhày, loãng làm trơn cơ quan sinh dục
- Giai đoạn động dục (kéo dài 2-3 ngày)
Khi gia súc đã có biểu hiện tính dục thì đây là giai đoạn tiếp theo, giai đoạn này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là: hưng phấn, chịu đực, và hết chịu đực Động dục là giai đoạn quan trọng nhưng thời gian lại ngắn Đối với lợn là 2 – 3 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là:
+ Lượng Oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất do đó gây hưng phấn mạnh
mẽ toàn thân
+ Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: âm hộ sung huyết, tấy sưng lên chuyển
từ hồng nhạt sang hồng đỏ, càng gần tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ càng thẫm màu chuyển màu mận chín Tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết
Trang 27niêm dịch nhiều chuyển từ trong suốt và loãng sang đặc dần, keo dính có tác dụng bôi trơn cơ quan sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn
+ Các biểu hiện về thần kinh: thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ
ăn, bồn chồn không yên tĩnh hoặc kêu rít phá chuồng, nhảy lên lưng con khác lúc đầu chưa cho con đực nhảy lên sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng yên cho con đực nhảy
+ Trứng rụng: ở lợn sau động dục 24 – 30 giờ thì trứng rụng và thời gian rụng trứng kéo dài 10 – 15 giờ vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao
+ Các biến đổi khác về sinh lý khi trứng rụng: thân nhiệt tăng 0,8 – 1,2ºC, nhịp tim tăng, bạch cầu trung tính tăng Sau khi trứng rụng mà được thụ tinh thì chuyển sang thời kỳ chửa, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang giai đoạn sau động dục
- Giai đoạn sau động dục (kéo dài 1 ngày)
Giai đoạn này bắt đầu sau khi kết thúc động dục và kéo dài vài ngày Thể vàng được hình thành, tiết Progesterone ức chế trung khu sinh dục ở vùng dưới đồi dẫn đến làm giảm tiết Oestrogen, do đó làm giảm các hưng phấn thần kinh
Sự tăng sinh và tiết dịch tử cung ngừng lại Biểu hiện về hành vi sinh dục là không muốn gần con đực, không cho con đực nhảy, con vật dần trở lại trạng thái bình thường
- Giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn này kéo dài nhất, thường bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi trứng rụng nếu không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ, con vật không
có biểu hiện về sinh lý sinh dục Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh,
cơ quan sinh dục trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt
Trang 28buồng trứng Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để khôi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho chu kỳ tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản cho lợn nái
- Thời điểm phối giống thích hợp: Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [24], trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 – 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 Đối với lợn nái ngoại, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ khi bắt đầu chịu đực Đối với lợn nái nội, nên phối giống vào cuối ngày thứ 2
và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn
2.2.5 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [23] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra
áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Trang 29Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [22] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
-Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch
Trang 30- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [12] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
- Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
- Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
Trang 31- Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ
- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
+ Phải dung phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…
2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.6.1 Bệnh viêm tử cung
* Nguyên nhân gây bệnh
Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Trang 32- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao, … gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm
Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5] cho biết: Nguyên nhân gây viêm
tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli,
Lê Văn Năm (1999) [19], cho rằng có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng
cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp
lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ)
Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cung ảnh hưởng đến viêm tử cung
Trang 33Theo Nguyễn Thị Thuận (2010) [35], khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
* Triệu chứng
Thể hiện qua các thể viêm sau:
- Viêm dạng nhờn là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi sinh 2 - 3 ngày, niêm mạc tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn, trong hoặc đục có mùi tanh vài ngày sau tiết dịch nhờn giảm lại đặc và hết hẳn Con vật không sốt họặc sốt nhẹ, vẫn cho con bú bình thường
- Viêm dạng mủ là thể viêm nặng thường xuất hiện trên con vật có thể trạng xấu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều, cũng có thể viêm tử cung dạng nhờn kế phát Con vật thường sốt 40 - 41ºC, khát nước, kém ăn, nằm nhiều, tiểu ít, nước tiểu vàng, phân có màng nhầy, mệt mỏi ít cho con bú hay
đè con
- Viêm dạng mủ lẫn máu là phản ứng ăn sâu vào lớp tử cung, tổn thương mạch mao quản gây chảy máu Các biểu hiện như: viêm sền sệt có mủ lẫn máu mùi rất tanh Thân nhiệt rất cao sốt kéo dài Không ăn kéo dài, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thở nhiều khát nước, mệt mỏi kém phản xạ với tác động bên ngoài đôi khi đè con
* Hậu quả
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của con vật, khi con vật bị viêm
tử cung lúc con vật động dục niêm dịch không thoát ra được do cổ tử cung bị tắc
Trang 34Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] và Trần Thị Dân (2004) [7], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:
- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt
của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích
thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone
- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp
Trang 35* Chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Để chẩn đoán bệnh viêm tử cung thường dựa vào các triệu chứng lâm sàng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân như thân nhiệt và dịch viêm
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], lợn nái bị viêm
tử cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có dịch tiết không bình thường trong 3 - 4 ngày sau khi đẻ, nếu sau khi đẻ kiểm tra âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung mùi hôi đặc biệt
Cũng theo F.Madec và Neva.C (1995) [17], bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá
Ngoài ra, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra
Khi lợn nái măng thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy
ra thì có thể là do viêm bàng quang
Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục
Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viên từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất
Trang 36 Điều trị
Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [8], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxi 15 % 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm
có kết quả điều trị khỏi bệnh cao
Tuỳ số lượng vú bị nhiễm, nái có biểu hiện khác nhau Lợn nái thường lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa
bị viêm lợn con dễ bị nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy toàn đàn Trường hợp kế phát bệnh viêm tử cung có mủ dẫn đến nhiễm trùng máu, thì toàn bộ các bầu vú đều bị viêm
* Hậu quả
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ:
Trang 37- Theo Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
- Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], cũng khẳng định: mất sữa sau khi
đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết
Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau
2.2.6.3 Bệnh sát nhau
Trong quá trình sinh đẻ bình thường của lợn mẹ, sau khi thai ra một thời gian từ 10 – 60 phút nhau thai sẽ được đẩy ra khỏi cơ thể mẹ Nếu quá thời gian trung bình trên, nhau thai còn nằm lại trong tử cung thì được gọi là bệnh sát nhau
- Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau đẻ nhau không ra hết
- Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau thai bị đứt
và sót lại
- Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được
Trang 38- Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo
- Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là canxi
- Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung
→ giảm sức rặn của con mẹ
- Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền nhiễm đặc biệt bệnh Brucellosis (sẩy thai truyền nhiễm), hoặc do cấu tạo của nhau làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết chặt chẽ
* Triệu chứng:
Tuỳ thuộc vào mức độ xảy ra của bệnh, có thể chia ra các loại như sau:
- Thể sát nhau hoàn toàn: toàn bộ hệ thống nhau thai con còn dính với niêm mạc tử cung mẹ ở cả hai sừng tử cung
- Thể sát nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không thai, nhau thai con tách ra khỏi niêm mạc tử cung mẹ
- Thể sát nhau từng phần: một phần của màng nhung hay một ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, đa phần màng thai đã tách ra khỏi niêm mạc tử cung
- Biểu hiện triệu chứng khi lợn nái bị sót nhau: Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
* Hậu quả
- Khi gia súc bị bệnh sát nhau nếu không xử lý kịp thời và triệt để sẽ kế phát sang nhiều bệnh nguy hiểm khác: viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình thụ tinh và khả năng sinh đẻ lần sau
- Ngoài ra bệnh thường kế phát gây nên chướng hơi, liệt dạ cỏ, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, ngay sau khi khỏi bệnh vẫn hoàn toàn mất sữa
Trang 39Sát nhau là bệnh gây nhiều tổn thất kinh tế, vì vậy việc đề phòng và điều trị bệnh kịp thời, tránh hiện tượng kế phát
* Chẩn đoán:
Để chẩn đoán bệnh sát nhau chủ yếu dựa vào các triệu chứng cục bộ và toàn thân như: lợn mẹ không yên tĩnh, đau nhẹ, thỉnh thoảng cong lưng rặn, thân nhiệt tăng, lợn hay uống nước Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch màu nâu
* Điều trị: theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, (2010) [34] can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa
tử cung trong ba ngày liên tục
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Bùi Thị Tho và cs (1995) [25] cho biết phần lớn những trường hợp lợn đẻ khó đều dẫn tới viêm tử cung
Theo Đặng Thanh Tùng (1999) [26] nguyên nhân chính dẫn đến bệnh viêm tử cung của nái là do thiếu về dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, kích dục tố, nhiễm trùng sau khi sinh Từ những yếu tố đó ta có thể đề ra phương pháp phòng bệnh viêm
tử cung
Theo Trần Tiến Dũng (2004) [9] bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm
tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung
Theo Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [19] yếu tố thời tiết, mùa vụ ảnh
hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng MMA, mùa hạ có tỷ lệ mắc cao nhất