ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊNNGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ - SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở KHU PHỐ CỔ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI LẤY VÍ DỤ CỤM PHƯỜNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC MÔ HÌNH
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ
Ở KHU PHỐ CỔ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI
(LẤY VÍ DỤ CỤM PHƯỜNG HÀNG BÔNG - CỬA ĐÔNG - HÀNG GAI)
Hà Nội - 2005
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC T ự NHIÊN
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC MÔ HÌNH
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ
ở KHU PHỔ CỔ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI
(LẤY VÍ DỤ CỤM PHƯỜNG HÀNG BÔNG - CỬA ĐÔNG - HÀNG GAI)
ĐA! H O C Q U O C GIA HÀ NÔI TRUNG TAM t h o n g tin ĨH ■ ' viê n
Hà Nội - 2005
Trang 3BÁO CÁO TÓM TẮT
1 Tên đề tài: N ghiên cứu quá trình hình thành và các mô hình quản lý - sử
dụng đất đô thị ở kh u p h ố cổ quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (Lấy ví dụ cụm phường H àng Bông - c ử a Đông - H àng Gai)
- Nhận dạng và phân tích các mô hình quản lý đất đai trên địa bàn nghiên
- Nhận dạng các mô hình sử dụng đất trong khu vực phố cổ
- Định hướng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đô thị khu phố
cổ trong chiến lược bảo tồn và phát huy các di sản vãn hóa dân tộc
4.2 Nội dung
- Tổng quan về vùng nghiên cứu
- Quá trình hình thành phố cổ trong quá trình đô thị hóa
- Các mô hình quản lý đất đai từ Phong kiến - Hiện đại
- Các mô hình sử dụng đất tương ứng với các mô hình quản lý đất đai
1
Trang 4- Hiên trạng xây dựng trong khu phố cổ.
- Định hướng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đo thị ở khu phố cổ
-Các biểu bảng và sơ đồ kèm theo
6 Tình hình kinh phí của đề tài
Tổng kinh phí 20.000.000 thực hiện trong một năm: 2005 Đã quyết toán xong với tài vụ
CHỦ TRÌ ĐÊ TÀI
PGS.T3 % 3 fo L M in /l
KHOA XÁC NHẬN CỦA B A N CHỦ
2
Trang 51 Project title: Research on history and models of urban land use and land
administration in the old quarter of Hoan Kiem District, Hanoi City (case study: Hang Gai, Hang Bong, Cua Dong communes)
2 Project coordinators: Sen Lee Nguyen Due Kha
3 Co-operative officials:
Dr Tran Van Tuan
Dr Tran Quoc Binh BSc Le Thi Hong BSc Dinh Ngoc Dat
4 Objectives and contents
•Ị.I Objectives
- Research on formation old streets within the urbanization process of Hanoi City;
- Recognition and analysis of land management models in the study area;
- Recognition of land use models in the old quarter
- Solutions for improving state land administration in the old quarter within the strategy of national cultural heritage preserve
4.2 Contents
- Overview of the study area;
- Process of formation of old quarter in the urbanization process;
* Land management models from Feudal period to contemporary time;
- Land use models corresponding to land management models;
- Construction condition in the old quarter;
- Solutions for improving state land administration in the old quarter
Trang 6MỤC LỤC
M ở đầu 6
Chương 1 Khái quát đặc điểm tự nhiên - kỉnh tế - xã hội quận Hoàn Kiếm, Thành phô íĩà Nội và cụm phường H àng Bông - c ử a Đông - H àng G ai 8
1.1 Vị trí địa lý 8
1.2 Đặc điểm tự nhiên 9
1.2.1 Địa h ình 9
1.2.2 Khí hậu 9
1.2.3 Thủy v ăn 9
1.3 Đặc điểm kinh t ế ' xã hội 9
1.3.1 Tổ chức hành chính 9
I 1.3.2 Dân số - Lao đ ộ n g 9
1.3.3 Kinh tế - Văn h o á 10
1.4 Cơ sở hạ tầng đô thị 12
Chương 2 Quá trình hình thành khu p h ố cổ quận Hoàn K iếm 12 ^
2.1 Khái niệm về khu p h ố c ổ 14
2.2 Quá trình hình thành khu p h ố cổ và các dơn vị hành chính 24
Chương 3 Các mô hình quản lý - sử dụng đất ở khu p h ố cổ quận Hoàn Kiếm, Hà Nội 30
3.1 Quản lý bằng th ể c h ế cống nạp (tribue) thời kỳ sơ khởi của phong kiến Việt Nam (trước th ế kỷ X I) 30
3.2 Quản lý bằng địa bạ sơ khai (initial deed system) vào thời kỳ đấu phong kiến Việt Nam (thê kỷ XI - thê k ỷ y v ) 31
3.3 Quàn lý bằng hệ thống địa bạ (deed system) thời kỳ thịnh trị của phong kiến Việt Nam (1428 - 1888) 32
■ 3.4 Quản lý bằng hệ thong tổng hợp địa bạ và bằng khoán (deed system và title system) thời thuộc Pháp (1888 -1 9 5 4 ) 33
4
Trang 73.5 Quản lý bảng hệ thống bằng khoán (title system) hiện nay 35
Chương 4 Công tác quản lý nhà nước vê đất đô thị ở khu phô' cổ trong chiến lược bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc 36
4.ỉ.Hiện trạng quản lý nhà nước về đất đô thị ở khu p h ố cổ quận Hoàn \ Kiếm .36
4.1.1.Quĩ đ ất 36
4.1.2.Công tác đo đạc bản đ ồ 38
4.1.3.Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đ ấ t 39
4.1.4.Tình hình sử dụng đ ất 43
4.2.Hiện trạng kiên trúc - xây dựng nhà ở trong khu p h ố cổ 45
4.2.1.Những đặc trưng mang tính lịch s ử 45
ị 4.2.2.Kiến trúc xây dựng nhà ở và không gian sử dụng đ ấ t 46
4.3.Tăng cường công tác quản lý nhà - đất đô thị ở khu p h ố cổ trong chiến lược bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộ c 49
4.3.1 -Căn cứ pháp lý 49
4.3.2.Những định hướng chính 49
Kết lu ậ n 52
Tài liệu tham kh ả o 53
Phụ lụ c 54
5
Trang 8MỞ ĐẦU
Trong chiến lược bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, khu phố cổ quận Hoàn Kiếm, Hà Nội là một di sản có vị trí đặc biệt Nhiều công trình nghiên cứu về phố cổ Hà Nội đã được vạch ra và thực hiện từ rất lâu và
đã đạt được nhiều thành công lớn Tuy nhiên về các mô hình sử dụng đất và
quan tâm của các nhà nghiên cứu
Trong giai đoạn đổi mới nền kinh tế - xã hội và chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế thị trường, khu phố cổ Hà Nội cũng bị lôi cuốn vào các hoạt động kinh doanh, dịch vụ Nhiều công trình có giá trị về vật thể và phi vật thể bị cải tạo, tu bổ, xây mới theo mục đích kinh doanh chạy theo lợi nhuận đã làm xuống cấp trầm trọng phố cổ Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất
đô thị ở khu phố cổ và góp phần vào xây dựng chiến lược bảo tồn, phát huy pác di sản văn hóa dân tộc ở khu phố cổ, chúng tôi đã xây dựng và thực hiện
đề tài “Nghiên cíãi quá trình hình thành và các mô hình quản lý - sử dụng đất
đô thị ở khu p h ố cổ quận Hoàn Kiếm, Hà Nội (Lấy ví dụ cụm phường Hàng Bông - Cửa Đông - Hàng Gai)”
- Nhận dạng các mô hình sử dụng đất trong khu vực phố cổ
- Định hướng tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đô thị khu phố cổ trong chiến lược bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu
- Phương pháp khái quát mô hình hóa
6
Trang 9í Chương 1: Khái quát đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội quận Hoàn
Kiếm, Thành phố Hà Nội và cụm phường Hàng Bông - Cửa Đông - Hàng Gai
Chương 2: Quá trình hình thành khu phố cổ quận Hoàn Kiếm
Chương 3: Các mô hình quản lý - sử dụng đất ở khu phố cổ quận Hoàn
Kiếm, Hà Nội
Chương 4: Công tác quản lý nhà nước về đất đô thị ở khu phố cổ trong
chiến lược bảo tồn và phát huy các di sản vãn hóa dân tộc
Để hoàn thành đề tài này chúng tôi đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ tận tình của lãnh đạo nhà trường Đại học Khoa học Tự nhiên, các cán bộ của Phòng Khoa học - Cóng nghệ, Khoa Địa lý, bộ môn Địa chính, và Ban Khoa học - Công nghệ Đại học Quốc Gia Hà Nội Các tác giả xin bầy tỏ lòng cảm
ơn sâu sắc nhất Do thời gian và tài liệu có hạn, báo cáo đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các nhà nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp góp
ý phê bình để nội dung đề tài được hoàn chỉnh hơn
Hà N ội, 24 - 12 - 2005
ì
CÁC TÁC GIẢ
7
Trang 10CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM T ự NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI
QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 Vị trí địa lý
Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của thủ đô Hà Nội, tiếp giáp với bốn quận cùng thành phố, tổng chiều dài đường địa giới hành chính là 10,340 km (Hình 1):
- Phía tây bắc giáp quận Ba Đình
- Phía đông bắc giáp quận Long Biên (qua sông Hổng)
- Phía nam giáp quận Hai Bà Trưng
- Phía tây giáp quận Đống Đa
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn quận là 5.287 km2 với tổng số dân 178.639 người (số liệu năm 2005) Là quận trung tâm của thủ đô Hà Nội, Hoàn Kiếm có nhiều trụ sở cơ quan của Đảng, Chính phủ, Trên địa bàn quận có nhiều cơ sở kinh doanh, thương mại, dịch vụ, Hoàn Kiếm có một lịch sử phát triển lâu đời, có hạ tầng cơ sở đô thị tốt và cảnh quan môi trường 'tẹp Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, quận còn giữ lại nhiều di tích lịch sử, văn hoá quý giá của dân tộc như hồ Hoàn Kiếm, đền Ngọc Sơn, tháp Rùa Tuynhiên, Hoàn Kiếm còn có cụm di sản rất quý giá là các khu phố cổ của trungtâm Hà Nội, trong đó có cụm phường Hàng Bông - Cửa Đông - Hàng Gai là một khu danh thắng đặc trưng
Về vị trí địa lý, cụm phường được giới hạn bởi
- Phía bắc giáp với phường Hàng Mã
- Phía táy giáp phường Điện Biên, quận Ba Đình
- Phía đông giáp các phường Hàng Bạc, Hàng Trống
- Phía nam giáp các phường Cửa Nam, Trần Hưng Đạo
Cụm phường có tổng diện tích tự nhiên là 1.220.000 m2 với 25.897 nhân khẩu được phân chia thành 133 tổ dân phố
8
Trang 11s ơ Đ ồ QUẬN HOÀN KIẾM TRONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trang 122.2 Đặc điểm tự nhiên
Các phường của quận Hoàn Kiếm nói riêng và của thành phố Hà Nội nói chung đều nằm trong vùng đổng bằng sông Hồng, có các điều kiện tự nhiên gẩn đồng nhất với nhau
1.2.1 Địa hình
Địa bàn cụm phường Hàng Bồng - Cửa Đông - Hàng Gai có địa hình bằng phẳng độ dốc không đáng kể Độ cao tuyệt đối 5 - 6m hầu như không có
:ỊÒ đống hoặc hố trũng, tính chất bằng phẳng chủ yếu do hoạt động của con
người diễn ra lâu dài trong một khu vực đồng bằng rộng lớn Toàn bộ quỹ đất đai đều có công trình xây dựng, không có đất chưa sử dụng
1.3 Đặc điểm kinh tê - xã hội
1.3.2 Dàn sỏ - Lao động
Hoàn Kiếm là một trong những quận có mật độ dân số cao 32800 người/km2 Dân số của quận tính đến hết ngày 31/12/2002 là 173184 người (theo số liệu thống kê của Phòng thống kê thuộc quận)
9
Trang 13Bảng 1: Dân sô' trung bình của quận Hoàn Kiếm giai đoạn ỉ 995 - 2002
(Nguồn: Phòng thống kê quận Hoàn Kiếm năm 2003)
Về mặt lao động, năm 2002 quận có 107.373 người trong độ tuổi lao động, trong đó 104.151 người có khả năng ỉao động chiếm 61% trong tổng số dân, tăng so với năm 2001 là 414 người Theo số liệu thống kê về tình hình lao động của quận từ năm 1998 đến năm 2002, trung bình hàng năm quận tiếp nhận thêm khoảng 2.086 số lao động mới
Cụm phường Hàng Bông - Cửa Đông - Hàng Gai có tổng số 25.897 nhân khẩu với 7.099 hộ được phân chia cụ thể như sau:
Bảng 2: Dân sô và diện tích đất bỉnh quân ở cụm phường
m2/người
(Nguồn: Tổng kiểm kê đất đai 2005, UBND các phường)
Tổng số hộ kinh doanh các mặt hàng khác nhau của 3 phường là 1548
hộ, đa số lao động ở ngoài khối cơ quan Nhà nước của cụm phường chủ yếu hoạt động trong các hộ kinh doanh này
1.3.3 Kinh tế - Văn hoá
10
Trang 14Là các phường nằm trong trung lâm thủ đô, việc phát triển kinh tế của pụm phường Hàng Bông - Cửa Đông - Hàng Gai chủ yếu dựa vào kinh doanh
và dịch vụ Tuy vậy mỗi phường vẫn có nét đặc trưng
"nạ khác du lịch
- ƯBNDTP đã ra quyết định công nhận phố Tống Duy Tân và ngõ Hàng Bông là khu phố ẩm thực phục vụ các món ăn truyền thống của Việt Nam do các đầu bếp giỏi đảm nhiộm
- Tuyến phố Phùng Hưng kéo dài qua địa bàn hai phường Hàng Bông, Cửa Đông kinh doanh hai mật hàng chủ yếu là đồ nhựa và đồ điện gia dụng
- Để dáp ứng nhu cầu đi lại, ăn ở của khách du lịch trong và ngoài nước
rf đây có một khách sạn Nhà nước là khách sạn Phùng Hưng và rất nhiều
khách sạn tư nhân
Phường Cửa Đông:
- Chợ Hàng Da là một trong những chợ lớn của thành phố với các măt
hàng kinh doanh đa dạng nhằm đáp ứng nhu cẳu thiết yếu hàng ngày của người dân
- Phố Hàng Điều phần lớn kinh doanh các mặt hàng truyền thống như ô mai, mứt, bánh kẹo, trà
Phường Hàng Gai:
- Là một nhỏ song các hộ kinh doanh tương đối đống, trong đó phố
Hàng Gai có hoạt động kinh doanh sôi nổi nhất, các mật hàng kinh doanh chủ yếu là đồ lưu niệm, thêu ren, may mặc phục vụ khách đu lịch
- Phố Hàng Nón kinh doanh đồ thờ, thủ cồng mỹ nghệ
- Phố Hàng Thiếc kinh doanh kính, hàng tiêu dùng
Ván Hoá
11
Trang 15Dân cư trong cụm phường có trình độ văn hoá cao, hầu như không có người mù chữ Số người có trình độ văn hoá đại học và trên đại học khá lớn Số liệu thống kê ở hai phường Hàng Bỏng - Cửa Đống cho các con số sau
- 337 người có trình độ văn hoá trên đại học (chiếm 1.85% dân số)
- 555 người có trình độ văn hoá đại học (chiếm 3.07% dân số)
- 1025 người tốt nghiệp phổ thông trung học (chiếm 5.58%)
Đa số người dân ứong phưòng thực hiện tốt nếp sống văn minh đô thị
Số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá mới ở hai phường Hàng Bông - Cửa Đông tương đối cao UBND đã công nhận 18 khu phố văn minh, 2011 hộ gia đình văn hoá mới Phường Cửa Đông được công nhận là phường anh hùng
Hệ thống truyền thanh của các phường hoạt động tốt đảm bảo phát đều đặn 30 phút vào mỗi buổi sáng và chiều với các tin tức thời sự cập nhật của quận, phường và thành phố
Tuy vậy các cơ sở vật chất hạ tầng đô thị thiết yếu như sân chơi, nhà văn hoá, sân thể thao rất thiếu thốn
1.4 Cơ sỏ hạ táng đô thị
Là khu vực trung tâm của thủ đô Hà Nội, quận Hoàn Kiếm nói chung
và các phường Hàng Bông, Cửa Đồng, Hàng Gai nói riêng có cơ sở hạ tầng đô thị tốt nhưng không phải đạt chuẩn tiên tiến do đã được xây dựng trong một thời gian dài
- Hệ thống điện: hiện tại cụm phường đã có một mạng lưới điện hoàn chỉnh phục vụ tốt cho nhu cầu sinh hoạt và kinh doanh gồm trạm lưu thế và hệ thống cao thế - hạ thế đồng bộ
- Hệ thống điện chiếu sáng phục vụ tốt cho việc đi lại và vui chơi, giải trí của nhân dân
- Hệ thống cung cấp nước sạch đã được phân bổ đến từng hộ gia đình đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
- Hộ thống thoát nước: Cơ sở hạ tầng của hệ thống thoát nước đã được xây dựng từ rất lâu nên vẫn còn một số điểm bị ngập úng khi mưa to ƯBND các phường đã lên kế hoạch khảo sát và chuẩn bị triển khai việc sửa chữa khắc phục đảm bảo vệ sinh môi trường và cảnh quan đỏ thị
12
Trang 16- Giáo dục và y tế: Đầy là công tác được chính quyền địa phương rất quan tâm để phát huy yếu tố con người Ưong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Cụm phưòmg có hai trường tiểu học, một trường trung học cơ sở và chín ừirờng mầm non với trang thiết bị hiện đại, cơ sở vật chất đầy đủ tạo môi trường sư phạm tốt.
- Thường xuyên tổ chức các đợt tiêm phòng bệnh cho các cháu nhỏ, tuyên truyền kế hoạch hoá gia đình và chương trình phòng chống bệnh dịch (không kể 4 bệnh viện lớn đóng trên địa bàn phường là các viện: Việt Đức, K, Răng - Hàm - Mặt, Phụ sản T.W)
- Hệ thống giao thồng: Cụm phường có tất cả 35 tuyến phố lớn và vừa không kể các tuyến phố nhỏ được hình thành từ rất lâu đời nén khá hoàn chỉnh
về cơ sở hạ tầng song đều chật hep so với sự phát triển kinh tế và lưu lượng giao thông cơ giói Phường Hàng Bông có phố Tràng Thi là tuyến phố lớn của thành phố và phố Hàng Bông là tuyến phố lớn của quận Tuy nhiên do mật độ dân cư tham gia giao thông lớn, các phương tiện giao thông phát triển trong suốt quá trình sử dụng lâu dài nên thường xuyên phải duy tu, bảo dưỡng mới tạm đảm bảo cho giao thông đô thị ở thời điểm hiện tại
13
Trang 17CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHU PHỐ c ổ QUẬN HOÀN KIẾM
2.1 Khái niệm về khu phố cổ
Thế giới có những khu được gọi là "khu phố cổ” trong các đổ thị của các quốc gia Nhưng thế nào là “khu phố cổ” thì chưa có một khái niệm hay định nghĩa thống nhất nào được đưa ra và coi là chuẩn
Theo quan niệm bảo tồn thì việc phân loại đô thị có thể dựa vào 6 tiêu chí mà Hội đồng bảo vệ di sản văn hóa thế giới nêu ỉên, đó là:
- Là tác phẩm nghệ thuật độc đáo, tác phẩm vào loại hàng đầu của tài năng con người
- Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian ở một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh vãn hóa nhất định
- Cung cấp một ví dụ tiêu biểu cho một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa
- Là chứng minh có một không gian ở truyền thống, nói lên được một nền văn hóa có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không ngừng
- Có mối quan hộ trực tiếp với những sự kiện, ý tưởng hoặc tín ngưỡng đáp ứng những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về
cách tạo lập và về vị trí.
Ồ Việt Nam ta, nếu không kể đô thị cổ Hội An đã được công nhận là di sản của thế giới, thì các đô thị cổ nổi tiếng như Thăng Long, Phố Hiến (Hưng Yên) đều đáp ứng được 3 tiêu chí 4, 5, 6 và ít nhiều các tiêu chí 1, 2, 3 của Hội đồng bảo vệ di sản văn hóa thế giới Do đó nó xứng đáng được giữ gìn và bảo tổn như một vốn quí của dân tộc
Nói chung các đô thị cổ ở Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn phát triển của lịch sử là:
- Thời kỳ cổ - trung đại (trước nhà Nguyễn 1802)
- Thời kỳ cận đại (1858 - 1945)
14
Trang 18- Thời kỳ hiộn đại (1945 đến nay)
Khu phố cổ Hà Nội chính là khu “36 phố phường” nội thành Hà Nội được hình thành từ thời Hậu Lê (thế kỷ XV) Dân cư tại các làng nghề truyền thống của các vùng lân cận như Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên tập trung về đây buôn bán, sản xuất và trao đổi hàng hoá đã tạo nên một đô thành sầm uất Chính việc tập trung buôn bán các mặt hàng truyền thống đã tạo nên các phố mang tên rất đặc trưng như Hàng Thiếc, Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Hòm,
Cùng với các hoạt động thủ công, buôn bán, là những hoạt động văn hoá được đem đến từ các quê gốc của các làng nghề đó và đã tạo nên một hệ thống các đình, đền , chùa, lễ hội dày đặc tại khu khu đô thị này Có thể coi 36 phố phường Hà Nội chính là sự kết hợp của 2 nhân tố song song tồn tại là vãn 'lóa làng xã kết hợp với kiểu hoạt động buôn bán theo kiểu phố chợ
Theo quyết định QĐ 70BXD/KT-QH ngày 30/03/1995 phê duyệt ”Quy hoạch bảo vệ tôn tạo và phát triển khu phố cổ Hà Nội” quy định phạm vi, quy
mố như sau (Hình 2):
- Về hành chính: khu phố cổ Hà Nội bao gồm địa giới hành chính của
10 phường thuộc quận Hoàn Kiếm (Danh sách thể hiộn ở bảng 2.1)
Bảng 2.1: Diện tích và dân số từng phường trong khu phô cổ Hà Nội
Trang 19s ơ Đ ồ KHU PHỐ CỔ QUẬN HOÀN KIẾM
H ình 2
Trang 20+ Phía bắc: Phố Hàng Đậu + Phía đông: Phố Trần Nhật Duật + Phía tây: Phố Phùng Hưng + Phía nam: Phố Hàng BôngKhu phố cổ Hà nội được chia thành hai khu vực để bảo vệ và tôn tạo
Đây là khu bảo vệ trọng tâm, cấm các hoạt động cải tạo, cơi nới, xây mới ở mặt phố
-Khu bảo vệ tôn tạo cấp hai: là phần còn lại của khu phố cổ có diện tích
?3,5ha Đây là khu bảo vệ môi trường - cảnh quan phố cổ Tất cả các hoạt động cải tạo, tu bổ phải được phép của Ban quản lý
Theo thống kê của Ban quản lý khu phố cổ, tổng số phố nằm trong khuphố cổ Hà Nội là 76 Cụ thể như sau:
16
Trang 2117
Trang 22P hố Hàng Bông thời Pháp thuộc
P h ố Hàng Bông ngày nay
Trang 23Phô Hàng Hòm ngày nay
Trang 24Bản ảnh 3
P h ố Hàng Gai ngày nay
Trang 25Trong 76 phố cổ, cụm phường Hàng Bông - Cửa Đông - Hàng Gai có gần 20 phố Dưới đây là lịch sử sơ lược một số phố chính (trích theo Nguyễn Văn uẩn “Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX”)
P hố Hàng Bông
Là một đường phố dài không đến một cây số, một đầu nối với phố Hàng Gai, đầu kia thông sang ô Cửa Nam Con đường đó đi qua đất của những thôn cũ, kể từ đông sang tây, là Kim Bát Thượng (phố Hàng Bài, Hàng Hòm), Kim Bát Hạ (phố Hàng Bông, Cây Đa Cửa Quyền- Hàng Da) và Yên Trung Hạ (Hàng Bông Lờ).Hàng Bông là một đường phố có từ lảu đời Trong Thượng Kinh ký của Lãn ông Lê Hữu Trác có chép khi ông đi qua cửa Đại Hưng, rẽ sang tay phải tức là đi vào phố Hàng Bông
Trước đó nữa, vào thế kỷ 17- 18, chắc hẳn đường Hàng Bông đã là một phố tương đối sầm uất, nên khi chúa Trịnh và vua Tây Sơn mấy lần tiếp sứ thần nhà Thanh đến Thăng Long, ta đã sắp xếp để sứ đoàn ở phố Bồ Đề qua sông sang bến Kiên Nghĩa rồi theo lối Hàng Buồm sang Hàng Ngang (Hàng áo), Hàng Đào qua Hàng Gai (Hàng Túi), Hàng Hài (ngã ba Hàng Gương), Hàng Bông Đệm (Chợ
H lyộn), đến Hàng Bông Lờ (Cấm Chỉ), rồi do vườn Quảng Vân Đình (Cửa Nam)
mà vào cửa Vò Vò (Đoan Môn) để đến nội điện Qua đó ta thấy về thời Hậu Lê, con đường Hàng Bông gồm nhiều phố, nhân dân ở đây làm nghề thủ công (khâu túi, giày, nhuộm, làm gương soi, ) có cửa hàng buôn bán trong đó có chợ (Chợ Huyện)
Trên trục đường Hàng Bông có nhiều di tích nhiều đình chùa miếu mạo của những đường thôn cũ Không kể bến Hàng Gai có đình Đông Hà (nhà số 46), đình
Cổ Vũ (nhà số 85) và đình Tô Tịch (nhà số 1 Tô Tịch), bên Hàng Bông có mấy phố nfang liền cạnh những di tích như sau:
- Hàng Hài: đinh Kim cổ (còn có tên là đền Phúc Hậu) thờ ông tổ làm nghề gương soi (nhà số 2)
- Hàng Hài có một trường học đại tập (cuối đời Nguyễn) của cử nhân Ngô Vãn Dạnơ (1835- 1885) người thôn Kim cổ ông đã từng tổ chức các sĩ phu quanh vùng thành nghĩa quân đánh Pháp năm 1873
18
Trang 26- Hàng Bông Đệm, ngõ Yên Thái, ngõ Tạm Thương, phố Đường Thành có: đình Yên Thái thờ bà phi ỷ Lan; đền bà Chúa (Liễu Hanh) và chư vị trong ngõ Tạm Thương; chùa Kim cổ, trong cũng thờ bà phi ỷ Lan, ở số 73 Đường Thành; đình Lương Ngọc nơi thờ vọng thành hoàng của người Lương Ngọc tỉnh Hưng Yên; đình Kim Hội do các nhà buôn bông dựng lên ở ngõ 95 Hàng Bông thờ Trần Hưng Đao, đình này còn có tên là đình Quy Long.
Sinh hoạt kinh tế và xã hội của đưòmg phố Hàng Bông được đánh dấu bằng nhiều cửa hàng buôn bán xe lẫn với nhà ở của tư nhân thuộc thành phần lớp trên và lớp giữa cùa xã hội Và một đặc điểm nữa là nơi đây sớm tập trang những nghành hoạt động có tính chất văn hoá, đó là sự xuất hiện ngay từ đầu thời thuộc Pháp và tiếp tục mãi về sau những trường học, nhà in, hiệu sách, trụ sự của một số báo chi quốc văn, nhà xuất bản
Phố cửa Đông
Trước kia một đường đi cũ giữa thành từ của Đoan Môn sang đến Chính Đông Môn, qua cổng thành và đương mã thành, qua cầu bắc trên hào, để ra ngoài, tại đây con đường quật về hướng đông nam một quãng mới toả đi các phố của khu Cửa Đông; không có con đường đi thẳng từ của đông thành ra chợ Đông Thành
Khi Cửa Đông, tường thành và con hào không còn thì người Pháp cho mở cửa con đường mới thẳng từ cổng Tỉnh (chiếc cửa sắt lcm thay cho Cửa Đông Môn)
ra khu phố cũ, con đường mới đó được đặt tên là Rue General Bichot, nhân dân ta
cứ quen gọi là phố Cửa Đông hoặc con đường cổng Tỉnh Đó là một đường phố rộng rãi hiện đại, nghĩa là đường có trải đá, có vỉa hè xây gạch, có cây bóng mát,
có cống thoát nước và đèn đường Ngoài phố Cửa Đông chỉ có mấy phố Tây ở phố Tràng Tiền- Đồn Thuỷ mới được như vậy Nhưng phố Cửa Đông chỉ ngắn có vài trăm mét, từ cổng khu doanh trại đến phố Hàng Gà, tiếp theo đó là những phố nhỏ hẹp của khu phố cổ Hà Nội
Phố Cửa Đông là một con đường mới ở sát khu quân sự trong thành lại là chỗ tường và hào cũ, nên đất ở đây là đất công đem phát mại, chủ đất chủ yếu là người Tày và một số Hoa Kiều làm giàu nhờ có Tây sang, người Việt Nam chỉ có
cô Tư Hồng người thầu phá thành; mãi sau nhà đất ở Cửa Đông mới thay đổi chủ nhiều lần và chủ Việt Nam mới trở thành khá đông
19
Trang 27Cửa Đông chia Làm hai đoạn: đoạn từ cổng Tỉnh đến Cầu sắt có những ngôi nhà hai tầng to cao hiện đại, gồm một hay hai gian quay ra mật đường, hầu hết mở của hàng phục vụ cho các quan binh trong thành.
Đoạn từ Cầu sắt đến phố Hàng Gà: bên số chẵn phía Bắc có nhiều nhà theo kiểu biệt thự, nhà to, nhà bề thế, ngoài có cửa sắt Bên số lẻ toàn nhà gác hai tầng, làm ra đến sát hè phố
Phố Hàng Gai
Phố Hàng Gai nằm ở thôn cổ Vũ xưa Nó là một đoạn của con đường đi từ
Bờ Hồ đến Cửa Nam qua Hàng Bông Phố Hàng Gai không dài, đo được hai trăm năm mươi mét
Thôn Cổ Vũ không còn để lại mấy di tích cũ Một ngôi đình ở số 85 phố Hàng Gai, đền thờ Bạch Mã và Linh Lang là hai vị thần được cúng thờ ở nhiều đình đền trong thành phố, trước cửa đình cổ Vũ còn có cây đa cổ thụ
Phố Hàng Gai phía đông giáp Hàng Đào, là đất phường Đông Hà có đình phường Đông Hà, ở số nhà 46 Hàng Gai Đình Đòng Hà thờ thần Quy Minh, em thần Tản Viên, Ngôi đình này đã bị phá để mờ rộng đường phố
Một dấu vết của đường phố cổ nữa là nhà làm so le ra mặt phố, không thảng ht.ng, cho mãi đến khoảng năm 1906 Hàng Gai mới có vỉa hè và nhiều nhà còn nhô
ra đến sát mặt đường đá, Phố đã hẹp lại thêm đường xe điện đật sát mé đường bên trái số lẻ
Nhà trong phố trước kia chỉ là những ngôi nhà cổ một tầng, hoặc có gác thì cũng chỉ là gác xép gọi là kiểu “chồng diêm”, không có cửa sổ hoặc chỉ trổ một cửa
sổ nhỏ trông xuống phố Mật nhà ngoài đóng cửa lùa Nhà thường hẹp bề mặt nhưng ăn sâu vào trong, có nhiều lớp, cách nhau là những khoảng sân vuông, Nhà giàu thì đất bên trong lấn sang nhà chung quanh, lớp trong đôi khi có nhà gác, có nhà cầu, có vườn hoa cây cảnh, cổng sau thông ra ngõ hoặc ra phố Chẳng hạn nhà
số 7 đã thông ra đường Bờ Hổ, nhà số 63 cổng sau là phố Hàng Hành, nhà số 80-
82 có lối ra ngõ Hàng Chi
Năm quân đội Pháp hạ thành Hà Nội (1882), chiến tranh chưa hết, dân phố chạy loạn về quê, nhiều nhà đóng cửa để đấy Người Pháp cần chỗ đặt bàn làm việc, ngoài những đình chùa và đền chung quanh Hồ Gươm, chúng chiếm những
20
Trang 28nhà vắng chủ làm ttại sở cơ quan Công sứ Hà Nội là Bonnal đóng ở ngôi nhà số 80- 82 phố Hàng Gai, các viên chức người Pháp người Nam Kỳ của Toà Công sứ chiếm các nhà chung quanh để ờ cho gần nơi làm việc.
Phần đất thuộc phường Đông Hà- đoạn từ ngã tư phố Hàng Đào đến phố Tô Tịch- là chỗ tập trung người làng Nhị Khê chuyên tiện gỗ, nên nơi đây hồi cuối thế
kỷ 19 còn có tên là phố Hàng Tiện: có những cửa hàng nhỏ, thợ vừa tiện vừa bán những đồ thờ, mâm bồng, đèn nến, ống hương, đài rượu, khuôn ván, mõ gỗ Họ tiộn cả những thứ nói trên nhưng cỡ nhỏ bé để trẻ con chơi Hàng gỗ tiện hoặc để mộc đem bán, hoặc sơn son kẻ chỉ vàng đất giá hơn
Sau này phố mang một tên chung là phố Hàng Gai vì ở chỗ cuối phố, giáp đầu Hàng Hòm có những nhà mở cửa hàng bán các loại thừng chão võng bện bằng gai Khoảng thập niên đầu của thế kỷ 20, những thợ thủ công tiện gỗ, làm vật đụng bằng gai nhường chỗ cho những nhà buôn nhiều vốn hơn; họ mở cửa hàng bán các
đồ sừng, ngà, đồi mồi cho những khách hàng mới, người ngoại quốc và quan lại công chức cao cấp Họ đặt hàng hoặc buôn lại những sản phẩm của thợ thủ công này lui vào ở những phố xép như Tô Tịch, Hàng Hành, hàng dây gai thừng võng thì dọn về bán ở phố Bát Đàn giá thuê nhà rẻ hơn hoặc vào các chợ
Hàng Gai khống nổi tiếng về hàng tiện và hàng dây gai mà lại được nhắc nhở đến nhiều về nshề buôn tơ và nghề in bàn mộc, Nghề buôn tơ cũng như bén Hàng Đào, đều ở trong tay những nhà buôn vốn liếng lớn mà cửa hàng thì trông lèo tèo vì không bày hàng
Hàng Gai có nghề in mộc bản và bán sách, thực tế chỉ có bảy tám nhà có sách bán, còn thì những nhà buôn bán giấy bản, giấy làm hàng mã, giấy trang kim tàu bạch, giấy ngân chu viết danh thiếp hay câu đối, giấy rơm để gói hàng
Ngoài ra còn có mấy hàng bán sơn, vàng quỳ, bạc thếp, sơn ống, sơn dầu, nhựa thông
Thời thế thay đổi, kinh tế phát triển theo chiều hướng mới, xã hội Hà Nội không còn như cũ, phố Hàng Gai cũng có những thay đổi theo Dãy hàng tiện có những cửa hàng tạp hoá bán hàng ngoại; ngôi nhà cũ của bà Cống Vẽ số 80- 82- dinh Công sứ dọn về Cầu Đơ- là một hiệu buôn của Tây là công ty Bonnet và Gazin Một hiệu cắt tóc loại ra đời sớm của người Việt Nam Thợ tiện gỗ lui vào
21
Trang 29hành nghề trong ngõ Tô Tịch, nhường chỗ cho những cửa hàng bán đổ đồi mồi, ngà
và khắc đấu đổng Chữ Nho gặp hồi tàn, khoa cử đã bị bỏ, người ta chuyển sang buôn giấy Tây, sách quốc ngữ và chữ Tây Hàng Gai có nhà Thuỵ Ký (số 98) là mốt trong bốn nhà đầu tiên bán sách Tây của Hà Nội, sau thêm hiệu Cát Thành, hiộu Vãn Hương (số 63), Nhật Nam thư quán (số 104), cửa hàng sách nôm xoay ra buôn giấy Một số nhà in buổi đầu cũng xuất hiện ở Hàng Gai: Lê Văn Phúc (số 82)- Ngõ Tử Hạ (số 101)
Phố Hàng Da
Hàng Da là một đường phố khống dài (khoảng hai trăm năm mươi mét) và là một trong năm đường phố đổ về chợ Hàng Da, một đầu thông sang Hàng Bông và thẳng sang phố Quán Sứ
Thánh (một tên gọi của đình Vũ Du, 40 Hàng Da) có nhiều ông bà thầy bói bắc chõng ngồi chờ xem cho khách đi lễ và người ta mách nhau đến Tên phố Hàng Da thì đến những năm đầu của thế kỷ 20, chính quyền thành phố sắp đặt lại tên phố và đặt cho nó là Rue des Cuừs Thực tế phố Hàng Da không có các cửa hàng làm và bán đổ da như phố Hàng Điếu hoặc Hà Trung, mà chỉ có mấy khách trú giàu có làm chủ những xưởng thuộc ngoại thành, họ có những kho chứa hàng, tức là da do
họ thuộc hoặc buôn ở nhà máy thuộc da Thuỵ Khuê, hoặc da ở nước ngoài đo mấy hãng sản xuất nhập khẩu Pháp bán Những người mua da làm hàng là thợ thủ công đóng giày dép, làm va li túi xách ở các phố khác
Mặc dù gần chợ Hàng Da không có mấy cửa hàng buôn bán, khống có nghề thủ công cổ truyền, tuy cũng có một hai nhà làm vàng quỳ, thuê thợ ngồi đập búa ở
hè phố, già nửa nhà cửa ở phố Hàng Da là nhà làm cho những gia đình công chức thuê để ở, chổng đi làm vợ ở nhà nội trợ Mãi đến những năm ba mươi, bốn mươi, khi việc buôn bán ở Hà Nội phát triển mạnh thì mới có những người đến phố Hàng
Da thuê nhà mở cửa hàng kinh doanh
Trang 30Trong phố còn ngôi đình (số nhà 11) do người Hà Vĩ lập ra thờ ông tổ nghề sơn là Trần Lư Khu nhà này bên ngoài là đình hai bẽn có bệ ngồi cho các quan viên; bên trong là đền, đền thờ chư vị, tuần rằm lên đồng lên bóng Người Hà Vĩ vẫn giữ tập quán và phong tục hàng giáp, lễ bái ở đình Hàng nãm đình vào đám đầu tháng 2 âm lịch, có tế lễ rước sách (rước kiệu theo quanh phố) Ngày vào đám dân làng Hà Vĩ ở Thường Tín cũng ra dự, mang cả đồ thở theo, xong đám lại mang về.
Người phố Hàng Hòm đa số là người dân Hà Vĩ về sau thêm cả người làng Đi; Sĩ Trong số đó chi có một gia đình là người Hoa Kiều
Hàng Hòm làm đồ gỗ sơn: hòm, tráp bằng gỗ sơn then (đen), hòm đựng quần áo, tráp đựng giấy bút Về sau làm cả hòm gỗ mộc sơn bằng sơn tây màu cánh dán (Hòm da khoá chuông sắm cho cô dâu về nhà chồng mua ở hiệu khách Hàng Buồm)
Việc sản xuất đồ gỗ lúc đầu làm hòm là chính: thợ làm ngay trong nhà, ngoài cửa hàng bày bán Những gia đình ít vốn thuê buồng ở phía sau rẻ tiền, nhận hàng bên ngoài về làm lấy công Sau thêm đồ sơn mài: sơn then, sơn cánh dán có
vẽ hoa lá Làm cả câu đối, quả tráp giầu, ngai thờ Già nửa nửa phố là những nhà làm hòm, chỉ có đôi ba nhà làm đồ sơn mài
Vào khoảng những năm ba mươi trở đi, Hàng Hòm theo nhu cầu mới sản xuất thêm đồ da cần cho những người đi xa: va li, cặp da, túi du lịch Và lác đác thêm mấy nhà làm khăn xếp, mũ tây và giày vải thêu, đó là những gia đình bên Hàng Gai, Hàng Trống tràn sang
Hàng Hòm là một phố cũ, nhà cửa làm đã láu đời, kiểu cũ cũng như các phố
cổ khác như Cầu Gỗ, Hàng Quạt, Hàng Cân: nhà phía trong ngoài có những chỗ không theo thẳng hàng, gác kiểu “chồng diêm”; một số ít nhà cải tạo lại, nâng lên hai tầng song chưa nhiều
Chiến sự cuối năm 1946 đầu năm 1947 đã tàn phá Hàng Hòm, vì đây là chỗ giáp ranh hai khu, giao chiến suốt ngót ba tháng Quân Pháp chỉ bắn đại bác vào khu này, phá huỷ hầu hết các nhà cửa, chỉ còn nguyên vẹn ngôi nhà số 36 Hàng Hòm đã được xây dựng lại trong thời tạm chiếm, nên nhà nào cũng theo kiểu mới, cao rộng
23
Trang 312.2 Quá trình hình thành khu phô cổ và các đơn vị hành chính
Đô thị hóa với sự hình thành khu p h ố cổ.
Đô thị hóa là quá trình chuyển dịch từ hoạt động sản xuất nông nghiệp phân tán sang hoạt động công nghiệp tập trung trên những khoảng không gian thích hợp,
là một quá trình biến đổi tòan diện về kinh tế - xã hội - nhân văn và không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó diễn ra sự hình thành những nghề mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự thay đổi lối sống, vãn hóa và tổ chức lại bộ máy quản lý và hành chính
Tùy thuộc vào mức độ biến đổi kinh tế - xã hội và không gian mà quá trình
đô thị hóa được được phân thành các giai đọan khác nhau, từ thấp đến cao Nghiên cứu quá trình đô thị hóa thành phố Hà Nội có thể vạch ra 3 giai đoạn khác nhau, tương ứng với các mức độ biến đổi khác nhau về kinh tế - xã hội và không gian:
- Giai đoạn đô thị hóa sơ khởi thời kỳ phong kiến (1010 - 1888)
- Giai đoạn đô thị hóa thuộc địa thời Pháp thuộc (1888 - 1954)
- Giai đoạn đô thị hóa XHCN hiện nay (1954 - nay)
Như vậy, quá trình đô thị hóa thành phố Hà Nội bắt đầu phát sinh ngay từ trong văn minh nông nghiệp Do yêu cầu của các nhà nước thông trị mà các “lỵ sở” dưới hình thức các “địa điểm quân sự - hành chính” đã xác lập sớm Từ đó xảy ra quá trình biến đổi tòan diện về kinh tế, xã hội tuy còn chậm chạp Nơi đây bắt đầu
có một bộ phận thợ thủ công , thương nhân, thợ thủ công kiêm thương thương nhân, quân đội, nhân viên hành chính, tách ra khỏi hoạt động nông nghiệp để thành lập khu đô thị sơ khai, còn bộ phận lớn dân cư vẫn ở lại các làng cũ vừa hoạt động nông nghiệp, vừa hoạt động tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp,
Nếu ta không kể đến sự hình thành các trung tâm quân sự - hành chính trong thời sơ sử như các lỵ sở hành chính cổ Loa (Đông Anh), Luy Lâu, Long Biên (Bắc Ninh) Tống Bình (Hà N ội), thì quá trình đô thị hóa sơ khởi thời phong kiến ở Hà Nội được bắt đầu được đẩy mạnh vào năm 621 khi viên quan đô hộ của nhà Đường
là Khâu Hòa (Đại tổng quản Giao Châu) rời phủ trị đô hộ từ Long Biên sang Hà
NM và xây dựng ở đây một thành lũy quân sự có tên gọi là “Từ Thành” “Tử Thành” liên tục được củng cố và mở rộng bởi viên quan đô hộ Cao Biền để đat được quy mô to lớn vào năm 866 với tên gọi mới là “Đại La Thành”
24
Trang 32Đại La Thành tuy là một thành lớn và là trụ sở của “An Nam đô hộ phủ” trong thời kỳ nhà Đường đô hộ nước ta song nó cũng chỉ mang tính chất một thành lũy quân sự để bảo vệ nhữnh cơ quan hành chính và hậu thuẫn cho việc thu thuế theo thể chế cống nạp chứ chưa phải là trung tâm thành thị với những hoạt động kinh tế, thương mại, dịch vụ sôi động.
Quá trình đô thị hóa Hà Nội chỉ chính thức bắt đầu với sự kiện Lý Công uẩn dời đồ từ Hoa Lư ra Đại La và đổi tên miền đất này là “Thăng Long”
Nhờ những điều kiện thuận lợi về kinh tế và xã hội sẵn có của một lỵ sở lớn
về quân sự - hành chính, Lý Công uẩn đã nhanh chóng ổn định việc xây đựng kinh th:inh Thăng Long ở nơi định đô mới
Cấu trúc không gian của thành Thăng Long trong thời gian này được tổ chức gồm 3 khu: khu trung tâm là Hoàng thành - nơi của Vua và hoàng tộc, cũng là nơi
có trụ sở làm việc của triều đình Khu bao bọc hoàng thành là kinh thành nơi ở của thị dân và quan lại Khu ngoài cùng ỉà những xóm làng nông nghiệp xen kẽ với phố phường thủ công - thương nghiệp và hệ thống chợ búa, bến bãi của kinh thành.Trải qua 5 thế kỷ, qua các vương triều Lý, Trần, Hổ, khu vực 1,2 của hoàng thành tuy có sự biến đổi về không gian, song không lớn Riêng khu vực 3 ờ nfoài cùng thì liên tục được phát triển và mở rộng Những biến đổi quan trọng khác của quá trình đô thị hóa như tăng trưởng nhanh về kinh tế, sư chuyển đổi một phần
sự hình thành lối sống và văn minh đô thị, thì hết sức chậm chạp
Các làng, thôn, phường phân bố quanh kinh thành vẫn chủ yếu chỉ có nền sản xuất tiểu nông, tự cung, tự cấp với các nghề trồng trọt, đánh cá, nuôi tằm Trải qua các thời kỳ Lý, Trần, Hổ do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phong kiến và nhu cầu cung cấp hàng hóa cho kinh thành mà một bộ phận lao động nông nghiệp đã tách thành lao động tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đồng thời cũng hình thành một bộ phận lao động thương nghiệp ngay trong lòng các thôn phường nông nghiệp
Năm 1466, trong chiến lược cải cách hành chính Thăng Long, vua Lê Thánh Tông đã xác lập một đơn vị hành chính đặc biệt, trực thuộc triều đình ở kinh đô gọi
là Phủ Trung Đô - sau đổi tên gọi là phủ Phụng Thiên với hai huyện là Quảng Đức
và Vĩnh Xương (sau đổi thành Thọ Xương) Mỗi huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương được phàn thành 18 phường, do đó tổng số phường của Phủ Trung Đô là 36 Quan niệm Hà Nội với 36 phố phường là bắt đầu từ đây (Hình 3)
Trang 33s ơ ĐỔ THẢNG LONG THỜI HỔNG ĐỨC (TK XV)
Hình 3
Trang 34Huyện Quảng Đức bao quanh Hồ Tây thuộc phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam Hoàng Thành có các phường nổi tiếng như Nhật Chiêu, Quảng Bá, Nghi Tàm, Yên Hoa, Thạch Khối, Trích Sài, Bái Ân, Yên Thái,
Huyện Thọ Xương (Vĩnh Xương) ở phía Đông Hoàng Thành cũng gồm 18 phường Tên đầy đủ của 18 phường hiện nay chưa xác định rõ Theo TS Nguyễn Thừa Hỷ Pỉ đã có cơ sở để xác định tên các phường sau: Đồng Xuân, Đông Hà, Hà Kviẩu, Đống Các, Diệu Hưng, Thái Cực, c ổ Vũ, Kim cổ, Báo Thiên, Vĩnh Xương, Bích Câu, Xã Đàn, Kim Hoa, Phúc Lâm, Phục cổ, Hồng Mai, Yên Xá
Theo nhiều nhà nghiên cứu, phường thời Hậu Lê vừa là một đơn vị hành chính cơ sở của kinh thành lại vừa là nơi tập hợp những người cùng làm một nghề Phường khác phố, phố chỉ là nơi bày bán hàng, nhà bán hàng hoặc nơi để gian hàng, Như vậy 36 phố phường thời Hậu Lê có ý nghĩa hẹp hơn so với khái niệm
“36 phố phường” hình thành sau này để chi địa danh hoặc nét thanh lịch của Hà Nội
Sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi viết năm 1435 đã nhắc tới một số phường thủ công chuyên nghiệp của kinh thành Thăng Long như phường Bưởi VỚI nghề làm giấy dó, giấy đó - lụa, phường Yên Thái với nghề làm giấy và dệt lĩnh, phường Trích Sài với nghề dệt gấm, phường Hà Tân với nghề nung vôi, làng Ngũ
Xã với nghề đúc đồng, phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ dài mâm võng, đù lọng, phường Hàng Đào nhuộm điếu, phường Tả Nhất làm quạt, phường Đường Nhân bán điệp y, phường Thịnh Quang làm long nhãn,
Trong thời gian nhà Nguyễn trị vì (1802 -1888), Thăng Long không còn là ki'ih đô của đất nước, do Gia Long đã định đô ở Phú Xuân (Huế) Vì thế, Thãng Long chỉ là trụ sở của trấn Bắc Thành Phần “thành” của Thăng Long bị giảm cấp nghiêm trọng song phần “thị” lại được phát triển tự do hơn (Hình 4)
Năm 1831 Minh Mạng cải tổ lại các đơn vị hành chính, bãi bỏ cấp “trấn” chia cả nưóc thành 29 tỉnh Tỉnh Hà Nội được thành lập VỚI diện tích gồm thành Thăng Long cũ cộng thêm 4 phủ hành chính xung quanh là Từ Liêm, ứng Hòa, Lý Nhân và Thương Tín với tổng cộng 239 phường, thôn, trại Hiện trạng hành chính này còn tồn tại đến thời điểm năm 1888 khi người Pháp thành lập thành phố Hà
N li, chấm dứt quá trình đô thị hóa thời kỳ phong kiến
26
Trang 35s ơ ĐỔ HÀ NỘI THỜI NHÀ NGUYỂN (TK XIX)
Trang 36Nhận xét vể quá trình đô thị hóa ở Hà Nội dưới thời phong kiến, tác giả Đàm Trung Phường cho rằng: “Thăng Long tuy là đô thị lớn nhất thời kỳ phong kiến ở Việt Nam nhưng mãi đến thế kỷ x v m - XIX vẫn chỉ mang tính chất của một đô thị chợ phiên mà thôi, vãn còn nhiều làng còn tồn tại xen kẽ và vẫn còn chia thành tổng, trại, thôn, phường như cơ cấu tổ chức nông thôn”.
Như vậy, từ đầu thế kỷ XIX đến sát trước khi Pháp xâm lược và chiếm đóng
Hà Nội vào năm 1883, nói chung ngoài sự thay đổi về đơn vị hành chính, tòan bộ kinh thành Thăng Long không có sự thay đổi gì lớn trong cấu trúc đô thị và tốc độ phát triển nền kinh tế - xã hội Tuy nhiên có một sự thay đổi đáng ghi nhận là khu vực của thị dân sinh sống ngày càng phát triển, mở rộng hơn
Từ những năm đầu thế kỷ XIX, khu vực “thị” của Thăng Long đã thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào phần “thành” để trở thành một nhân tố phát triển độc lập Số dân đồng bằng sông Hổng xâm nhập ngày càng nhiều vào Hà Nội Tầng lớp thị dân của các phường Hà Nội ngày càng ổn định và tăng trưởng, dần đần hình thành một nếp sống thanh lịch, sang trọng, yếu tố này đã kích thích các phường thù còng chuyên nghiệp tăng cường sản xuất ra một khối lượng hàng hóa ngày càng nhiều, phong phú về chủng loại và độ tinh xảo ngày càng cao
Đây là cơ sở để đẩy nhanh tốc độ xây đựng khu phố cổ đo người Pháp áp đặt quá trình đô thị hóa thực dân khi biến Hà Nội thành khu “nhượng địa” (concession) của Pháp
Năm 1883, ngay sau khi chiếm thành Hà Nội người Pháp đã chiếm dụng các công trình Hoàng thành cũ, chọn Trường Thi làm nơi đóng quân
Năm 1888, Tổng thống Pháp ra sắc ỉệnh thành lập thành phố Hà Nội, từ đó
Hà Nội trở thành “nhượng địa” của người pháp và bắt đầu quá trinh đô thị hóa thuộc địa (Hình 5)
Song song với việc hoàn thiện khu vực trung tâm hồ Hoàn Kiếm, người Pháp
đc: tiến hành chỉnh trang khu vực 36 phố phường của Hà Nội bắt đầu từ việc lấy
đoạn sông Tô Lịch từ 70 chợ Chợ Gạo nơi sông Hồng và sông Tộ gặp nhau đi vào trong phố cổ Tiếp đến là việc xây dựng các cổng ngãn cách giữa các phường trong
phô' đổng thời để xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, trước hết là hệ thống
đường giao thông, Pháp đã cho dọn quang lòng đường cùng những lều quán trước
27
Trang 37nhà, IĨ1Ở rộng, nắn thẳng và trải đá đường, tạo vỉa hè lát gạch cùng hệ thông cống rãnh thoát nước.
Người dân Hà Nội vẫn tiếp tục phương thức xây dựng truyền thống trong sửa chữa và xây dựng mới những ngôi nhà của mình Đó là những ngôi nhà 1 tầng kết cấu gỗ, mái lợp ngói ta chiều rộng nhà hẹp chỉ vài mét nhưng phát triển theo chiều sâu vào trong tới hai, ba mươi mét Nhà dạng ống, nằm trên lô đất bằng những lớp nhà kế tiếp nhau từ ngoài vào các lớp bên trong Các lớp trong và ngoài được ngăn cách nhau bòi một khoảng sân hẹp, vừa để lấy ánh sáng, không khí vừa để tạo cảnh quan bài trí bổ cá cảnh, vườn hoa nhỏ, Hà Nội “36 phố phường” toàn cảnh vẫn mang nét truyền thống quen thuộc với những mái nhỏ nhấp nhô, đuổi nhau trải rộng một cách tự nhiên, sinh động khác hẳn với “Khu phố Tây” đông nam Hoàng Thành đang hình thành với những đường nét quy hoạch và kiến trúc du nhập từ châu Âu (ở phía Nhà Hát Lớn, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Lê Thánh Tông,
Tuy nhiên trong những năm từ 1920 đến 1940 người Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô và nhịp điệu lớn nhằm nhanh chóng ổn định
va phát triển nền kinh tế chính quốc bị thiệt hại nặng nề sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất Trong bối cảnh đó các hoạt động xây dựng và quy hoạch thành phố
Hà Nội có điều kiện phát triển mạnh hơn so với thời kỳ trước với nhiều loại hình kiến trúc và phng cách kiến trúc khác nhau
Bên cạnh những nhà cổ mái ngói nhỏ bé cổ truyền là những ngôi nhà mang phong cách nghệ thuật Pháp, châu Âu với những chi tiết kiến trúc mới như ban công, vòm cuốn, thực cột, chi tiết hoa văn Chiều cao tầng và số tầng cũng thay đổi ở giai đoạn đầu, các thay đổi này ở mức hạn chế nên phố cổ vẫn giữ được các gill trị văn hóa truyền thống vốn có ở các giai đoạn sau, sự thay đổi nhiều hơn đã phá vỡ cảnh quan hoàn chỉnh của khu phố cổ
Sau hòa bình 1954, thành phố Hà Nội được tổ chức thành hai phần: nội thành với 36 khu phố có các quận Ba Đình, Đồng Xuân, Hoàn Kiếm, Hàng cỏ; ngoại thành với 46 xa gồm 4 quận Quận V, Quận VI, Quận VII và Quận VIII.Tháng 3 năm 1958 Hà Nội có 12 khu phố nội thành
Năm 1959 thành lập 8 khu phố nội thành và 4 quân ngoai thành
28
Trang 38s ơ ĐỒ HÀ NỘI THỜI THUỘC PHÁP
Hình 5
Trang 39Ngày 20/04/1961 quyết định mở rộng Hà Nội là lần thứ nhất thành lập 4 khu phố nội thành là: Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa và Hoàn Kiếm, 4 huyện ngoại thành là Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh và Gia Lâm.
Ngày 24/12/1974 hình thành cấp tiểu khu trong các khu phố, trong đó khu H?àn Kiếm có 46 tiểu khu
Từ năm 1975 đến nay: Trong giai đoạn đất nước xây dựng xã hội chủ nghĩa,
Hà Nội nhanh chóng triển khai quy hoạch Thủ đô trên mọi lĩnh vực: Kinh tế - Chinh trị - Xã hội Bộ mặt kiến trúc cũng có những thay đổi đáng kể Tuy nhiên ở khu phố cổ có sự thay đổi không nhiều
Ngày 29/12/1978 Hà Nội mở rộng lần thứ hai có thêm nhiều huyện ngoại thành như Ba Vì, Sóc Sơn, Mê Linh,,,
Năm 1981 tổ chức 4 quận nội thành với 79 đơn vị cấp phường trong đó quận Huàn Kiếm gồm 18 phường Phường Hàng Bông - Cửa Bông - Hàng Gai đi vào hoạt động từ đây
Tóm lại, khu phố cổ “36 phố phường của Hà Nội” đã được hình thành trong thời gian rất dài (gần 10 thế kỷ) Diện mạo cơ bản của khu phố cổ được định hình trong thời gian người Pháp quản lý ở phố cổ có sự hòa trộn của những yếu tố kinh
tế - xã hội của nông thồn và thành thị Những dấu tích vãn hóa lịch sử gợi lại một lịch sử phát triển đô thị lâu dài Đây là khu dân cư sản xuất thủ công và buôn bán, sinh sống trong các nhà cửa được cấu trúc theo kiểu nhà hình ống rất đặc trưng, đtợc gián cách (phân đoạn) bởi những khoảng sân nhỏ Các ngôi nhà hình ống với những mái ngói lô nhô bám theo một mạng lưới đường thường là quanh co, ngắn,
đã hình thành một dạng cấu trúc đô thị đặc biệt, tạo cảm giác bất ngờ và ấn tượng Đây là nét độc đáo hấp dẫn du khách và cũng là lý do để ta giữ gìn một di sản đáng giá của Hà Nội
29
Trang 40CHƯƠNG 3
^ CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ - SỬDỤNG ĐẤT
ở KHU PHỐ CỔ QUẬN HOÀN KIẾM, HÀ NỘI
Trong lịch sử lâu dài của Hà Nội nói chung và khu phố cổ Hoàn Kiếm nói riêng, nhiều mô hình quản lý sử dụng đất đã được sử dụng nhằm đáp ứng chức năng cụ thể của Hệ thống địa chính trong mối tương quan phù hợp với trình độ phát triển về kinh tế - xã hội của quá trình đô thị hóa Đặc điểm chung cho tất cả các
mô hình này là đều cô gắng quản lý được quỹ đất đai và tận dụng được nguồn thuế từicác hoạt động sử dụng đất
3.1 Quản lý bằng thể chê cống nạp (tribue) thời kỳ sợ khởi của phong kiến Việt Nam (trước thế kỷ XI)
Trong hơn 1000 năm Bấc thuộc (thế kỷ II TCN- thế kỷ X) và 100 năm của các nhà nước phong kiến tự chủ đầu tiên ở Việt Nam (năm 905 đến 1010 với các vương triều họ Khúc- Dương- Ngô- Đinh- Tiền Lẽ) vùng Hà Nội là trung tâm quân sự- hành chính trọng yếu của đòng bằng Bắc Bộ, song không thoát ra ngoài được các hoạt động sản xuất nông nghiệp và tập tục sinh hoạt của vùng nông thôn
Ớ thời điểm Lý Công uẩn dời đỏ ra Thăng Long (1010) các làng trù phú nhất cũng là các làng cổ nhất được phân bố ở phía bấc Hà Nội, nơi có sông Tô Lịch chảy qua, nối liền với bờ nam Hồ Tây và ăn thông với sông Hổng (gần phố Hàng Buồm, Chợ Gạo ngày nay) Các hoạt động sản xuất thủ cồng nghiệp và thương mại (dưới dạng trao đổi là chính) đã xuất hiện ở các làng cổ ven bờ sông Tỏ như dệt vải, lụa, làm mộc, nung gạch, nghề rèn,.,, song hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ đạo
Do được phù sa sông Hồng bồi đắp, đổng bằng Hà Nội rất thích hợp với việc trtỉng lúa nước và trồng màu Hoạt động ngư nghiệp gồm đánh bắt ở tự nhiên và nuôi thả ở ao, hồ, đầm cũng giữ một vài trò quan trọng trong nền kinh tế
Đại đa số ruộng đất thuộc quyền sở hữu công cộng của các lãng xã (cônơ xã nông thôn), chỉ mới có một bộ phận không đáng kể là ruộng thuộc quyền sở hữu tư nhân của các quan đô hộ Phương Bấc và của các thổ hào người Việt
30