1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số tính chất lý hóa học cơ bản của các loại đất tỉnh quảng ninh

78 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 43,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến yếu tố sinh học và gien trong khi định nghĩa “giới tính là những đặc điểm sinh học của phụ nữ và nam giới dược xác định bởi gien”, cũng các tác giả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

T R Ư Ờ N G ĐẠI HỌC K H O A HỌC XÃ HỘI VÀ NHÀN VÃN

(Đề tài nghiên cứu cơ bản)

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘt TRUNG TẨM THÔNG TIN THƯ VIÊN

D T / _ 4 0 0 ~

Mà sỏ: CB 01.38 Chủ trì đ ề tài: TS Hoàng Bá Thịnh

Hà nội, tháng 12-2004

Trang 2

MỤC LỤC ■ ■

Trang

CỨU GIỚI

TRONG XÃ HỘI HỌC

Trang 3

1 Vai trò giới: Một nội dung quan irọni: irong nghiC '11 cứu xã 26 hội học

học

NGHIÊN CỬU GIỚI

1 Phương pháp nghiC '11 cứu cúa những II li ười sáiiL! hip xã hội học 6 1

Trang 4

2 Thống kê xã hội 63

Trang 5

M ỏ ĐẦU.

ơ những quốc gia cỏ ngành khoa học Xã hội học phái triển việc biên soạn các tài liệu về lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy về xã hội học nói chung và xã hội học vể giới nói riêng luôn được giới học giả quan tâm Tại những quốc gia như Hoa kỳ, Anh, Pháp, Nga, hay Đức đã xuất bản rất nhiều cuốn sách trong đó có đề cập đến cách tiếp cận xã hội học về giới Những cuốn sách thuộc lĩnh vực này sẽ giúp những người học và các nhà nghiên cứu có được kiến thức cơ bản về

lý thuyết của ngành học Điều này càng cần thiết trong bối cảnh bối cảnh Việt Nam khi Xã hội học mới ở giai đoạn đầu của sư phát triển, nhất là nghiên cứu giới và xã hội hội học vể giới lại càng non trẻ hơn ở Việt Nam hiện nay chưa có một cuốn sách nào về mảng sách lý luận liên quan đến xã hội học về giới được dịch hay biên soạn Hơn nữa, các đại biểu tham dự Hội thảo quốc gia về Xã hội học đều nhận thấy

sự thiếu vắng về mảng lý thuyết, đặc biệt là lý thuyết xã hội học về giới Chính vì lý

do như vậy, việc nghiên cứu về cách tiếp cận Xã hội học đối với nghiên cứu Giới là điều hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay Việc thực hiện đề tài này cũng là hành động thiết thực để thực hiện chương trình hành động do hội thảo Quốc gia về

xã hội học(2001) đề ra.

2.1 Ý nghía khoa học của đề tài

Đề tài mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu một số quan điểm, tư tưởng của một vài nhà xã hội học tiêu biểu, cũng như xem xét một vài lý thuyết xã hội học trong nghiên cứu Giới Đồng thời, bước đầu đề tài cũng trinh bày một số nội dung thường được đề cập trong xã hội học về Giới Bằng cách đó, đề tài góp phần bổ xung mảng kiến thức quan trọng cho môn Xã hội học về Giới, Xã hội học Gia đình, và Lý thuyết xã hội học.J • *

2.2 Ý nghía thực tiễn của để tài

Đề tài trên đây sẽ cần thiết đối với những người làm công tác giảng dạy, nghiên cứu về xã hội học về Giới, đồng thời nổ cũng vô cùng hữu ích cho sinh viên trong học tập tìm hiểu quá trình hình ihành và phát triển cúa các tư tưởng, cách tiếp cận nghiên cứu Giới theo quan điểm xã hội học Nghiên cứu này cũng cung cáp lài liêu tham khảo cần thiết cho sinh viên, giáng viên và cán bộ nghiên cứu của mót số ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn khác, như: Nhân học xã hội, Nghiên cứu

Trang 6

con người, nghiên cứu Giới, nghiên cứu Phụ nữ .V.V và những ai quan tâm đến lĩnh

-3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Qua những tài liệu có được về những bài viết, tác phẩm của một số nhà xã hội học tiêu biểu, chúng tôi muốn đề cập đến ba vấn đề chính sau đây:

Một là , bước đầu trình bày về nguồn gốc hình thành và phát triển một sô' cách

tiếp cận xã hội học về nghiên cứu Giới của một vài nhà xã hội học tiêu hiểu thuộc lý thuyết chức năng, thuyết xung đột, thuyết tương tác biểu tượng,

Hai là , phân tích một vài chủ đề trong nghiên cứu về Giới của các nhà xã hội

học.

Ba là, nhận xét về phương pháp nghiên cứu giới trong xã hội học.

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Quan điểm duy vât biện chứng được vận dụng trong việc xem xét, phân tích các vấn ctề thuộc đề tài nghiên cứu này Việc trình bày một cách khách quan và phân tích các quan điểm, luận điểm của các nhà xã hội học thuộc các trường phái, hê tư tưởng khác nhau cũng được nhìn qua làng kính của cơ sở triết học Mác - xít.

Lý thuyết xã hội học cũng dược xem như là cơ sở phương pháp luân để giúp cho việc hình thành khung lý thuyết và tiến hành phân tích các vấn để được nêu ra trong đề tài Điều này có thể nhận thấy ở phạm vi chung nhất, các lý Lhuyếl xã hội

cận, phân tích và giải thích đối tượng nghiên cứu của đề tài ơ pham vi xã hội học chuyên ngành, thì một số lý Ihuyết của xã hội học gia đình, xã hội học kinh tế v.v cũng là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi phát hiên và kiến giải các vấn đề được đề cập đến.

Với số lượng các tác phẩm, công trình của các nhà xã hội hoc để lại rất lớn, cùng với những bài viết về các nhà xã hội học hàng đầu, về những phân tích, tranh luân khác nhau v.v khiến cho khối lượng tài liệu cần tham khảo càng thêm nhiều.

Vì thế phương pháp phân tích tài liêu được chúng tôi sử dụng như là phương pháp quan trọng nhất của đề tài này, irong đó chúng tôi chú trong đến phân tích (lịnh lính là chính.

2

Trang 7

Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích thứ cấp, phương pháp so sánh cũni! được chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này.

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này đề cập đến một vài khuynh hướng lý ihuyết về giới trong xã hội học Không có tham vọng trình bày mọi quan điểm khác nhau cũng như tất cả các vấn đề đang đặt ra hiện nay trong xã hội học về giới hoặc trong nghiên cứu giới,

tác giả chỉ chọn một s ố quan điểm và lý thuyết đồng thời d ề cập đến một vải nội dung nghiên cứu về giới trong x ã hội học mà thôi Hy vọng những vấn tĩề được trinh

bày trong nghiên cứu này có thể hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này trong đào tạo và nghiên cứu giới nói chung và xã hội học về giới nói riêng.

Về thời gian: d ề tài chủ yếu tập trung xem xét những vấn đê lý luận và nội

dung nghiên cứu x ã hội học về Giới của một s ố nhà x ã hội học dầu tiên (th ể k ỷ 19) cho đến những năm 1960s của th ế kỷ 20 v ề khoảng thời gian này, theo chímg tôi

dược xem là quá trình hình thành những quan điểm, tư tưởng và cách tiếp cận nghiên cứu xã hội học vể Giới Còn giai đoạn sau đó (từ những năm 1970s trở đi) khi xã hội học Giới và nghiên cứu Giới dã định hình và phát triển với những xu

hướng khác nhau thì - do hạn c h ế về thời gian và kinh phí nghiên cứu - sẽ không

thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này.

Hy vọng sẽ có đề tài tiếp theo để theo đuổi mạch nghiên cứu này một cách có

hệ thống, để có thể phác hoạ được bức tranh khái quát về cách tiếp cận nghiên cứu giới trong xã hội học.

1

Trang 8

CHƯƠNG 1

XÃ HỘI HỌC VỀ GIỚI: DẪN NHẬP ■ ■ ■

1 KHÁI NIỆM GIỚI TÍNH VÀ GIỚI.

Trước hết, theo chúng tôi cần phân biệt khái niệm giới và khái niệm giới tính Bởi vì:

Cho đến nay, vẫn còn tình trạng “Nhiều người vẫn còn gặp khó khăn khi phân biệt những khái niệm cơ bản như “giới”, “giới tính”, “bình đẳng giới” Bên cạnh đó, sự nhầm lẫn giữa các khái niệm cũng khá phổ biến ”1

Có sự sử dụng khác nhau về thuật ngữ trong tạp chí chuyên ngành, sách xã hội học Chẳng hạn, các thuật ngừ như giới, giới tính, giống, giống phái được các nhà chuyên môn sử dụng không thống nhất, cho dù đều nhằm diễn đạt về giới tính (Sex) hay giới (Gender).

Theo Ann Oakley, được xem là người đầu tiên đã đưa thuật ngữ giới vào trong xã hội học, thì:

Giới tính (sex): nhắc đến những khác biệt sinh lý căn bản nhất giữa dàn ông

và đàn bà, khác biêt về cơ quan sinh dục và những khả năng sinh sản.

Giới (gender): nói đến những mồ hình, hành vi đặc hữu vé mặt vãn hoá - hoặc

cụ thể hoặc theo tiêu chuẩn - mà có thể gắn bó với giới tính2

Từ hai khái niệm nêu trên, lác giả đi đến phân biệt giới tính (con trai và con gái) đươc xác định về mặt gien, và có tính phổ quát rộng rãi; còn phân biệt giới được dựa trên những đăc điểm vé mặt văn hoá và dễ biến đổi.

Một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến yếu tố sinh học và gien trong khi định nghĩa “giới tính là những đặc điểm sinh học của phụ nữ và nam giới dược xác định bởi gien”, cũng các tác giả này đã dưa ra khái niệm về giới như sau:

Giới ỉà những khác biệt giữa nữ giới và nam giới trong cùng hộ gia đình, trong và giữa các nền văn hoá, là cấu trúc xã hội -văn hoá có thể hiến đối theo thời gian Những khác biệt này được phản ánh trong: các vai trò trách nhiệm, khá năng tiếp cận các nguồn lực, những sức ép, những ưu tiên, các nhu cáu nhận ihức và quan

1 Dự án VTE 01 - 0 1 5 -01 “Giới trong chính sách CÕI lị!" Uỷ hau Q uổe gia vì sự liêu bó cua Pliụ nữ Viẽi Nam

Hà nội 2 0 0 4 , tr.24.

2Tonv Bilton và những người kbác: Nliủp môn xã hội linc, N X B Kliou học \;j hội 1993, ir 147

4

Trang 9

điểm dược thấy trong cả hai giới Do vậy, giới không dồng nhất với pliụ nữ mà

dược xem là cả nữ giới vả nam giới củng những mối quan hệ tương tấc của họ*

Các nhà nhân học xã hội sử dụng thuật ngữ giới tính để chỉ những đặc điểm

nhận dạng bên ngoài phân biệt một người nam với một người nữ, cần thiết cho sự tái sản xuất sinh học của con người Người ta chú ý đến hình thức của giới tính(tức là hình dạng của cơ quan sinh dục bên ngoài và những đặc điểm giới tính khác có thể thấy được như bộ ngực đã phát triển ở nữ giới) Mặt khác, các nhà khoa học còn phân biệt nam nữ dựa trên giới tính sinh sản giao tử(sự hiện diện của buồng trứng ở

nữ giới và tinh hoàn ở nam giới) và giới tính nhiễm sắc thể (hai nhiễm sắc thể X ở

nữ giới, một nhiễm sắc thể X và một nhiễm sắc thể Y ở nam giới) Đồng thời, những nghiên cứu liên văn hoá đã cho thấy những chỉ số cơ thể về sự khác biệt giới tính không cho phép chúng ta đoán trước được những vai trò mà nam giới hay phụ

nữ sẽ đảm nhận trong một xã hội cụ thể nào đó Do vậy các nhà nhân học xã hội

phân biệt giữa giới tính và giới, với cách hiểu giới là sản phẩm của văn hoá -xã hội

liên quan đến những quan niệm và hành vi được xem là phù hợp với mỗi giới tính.

Tất nhiên, có một vài sư khác biêt về thể chất giữa hai giới tính Trẻ em trai thường có xu hướng nặng hơn trẻ em gái và có tim, phổi lớn hơn trẻ em gái (Hutt, 1972) Khi 18 tuổi, phụ nữ có cơ bắp yếu hơn nam giới khoảng 50% (Frab, 1978) Trẻ em gái có xu hướng đi, nói và rụng răng, phát tiển xương trước bé trai, đồng thời trẻ em gái dậy thì sớm hơn trẻ em trai 1-2 năm.

Có một vài khác biệt có thể không phải do yếu tố sinh học, như các cậu bé phát triển cơ bắp hơn trẻ em gái vì chúng được cổ vũ trở nên lực sĩ hơn các cô gái Nếu các cô gái có hoạt động liên quan nhiều hơn đến thể thao, thì sư khác biệt này

có thể dược xoá bỏ.

Nam giới có tuổi thọ ngắn hơn phu nữ vì phải đối diện với chiến tranh, tai nạn và những căng thẳng của công việc trong một môi trường cạnh tranh Khỉ các vai trò giới biến đổi, những khác biệt này có thể biến đổi theo.

Sự phân biệt giới tính quan trọng nhất giữa nam và nữ liên quan đến chức năng sinh sản: phu nữ có thể mang thai, sinh con và nuôi con bằng sữa me; còn nam giới thì có tinh trùng và có khả năng làm cho phu nữ mang thai.

Nhìn chung, khi phân biệt sư khác nhau giữa giới tính và giới, các nhà khoa học thường chỉ ra những đặc điểm tương phán sau đây:

' World Food Progrunuiie: Gender Glossary, 1996: II 26-27

5

Trang 10

cả trong giới khoa học, vẫn có sự nhận thức không phân biệt hai khái niêm đó, và có quan niệm cho rằng hai khái niệm trên có thể sử dụng thay thế lẫn nhau Bên canh

đó, một số người sử dụng từ “giới” đồng nghĩa với từ “phụ nữ” và nhấn mạnh các định nghĩa chuẩn mực về giới tính nữ.

Nếu như khái niệm giới tính dễ có sư nhất trí khi xác định khái niệm, thì với

khái niệm giới sô' lượng định nghĩa pliong phú hơn rất nhiêu Sau đây là một vài ví

Theo từ điểm Oxford (Anh) thì Giới đó chỉ là một thuật ngữ để chỉ người hoặc động vật thuộc giới nam - nữ - có nghĩa là giống đực hay giống cái

Theo từ điển bách khoa khoa học xã hội Mỹ (1970) một số nhà học giả nữ quyền định nghĩa từ “giới ám chỉ đến tổ chức xã hội của quan hệ giữa hai giới tính”4

Theo Joan Kelly, định nghĩa giới gồm hai phần:

a) Giới là một thành phần cấu thành của quan hệ xã hôi được dưa trên những khác biệt có thể nhận thấy giữa hai giới tính.

b) Giới là cách đầu tiên để biểu thị mối quan hệ quyền lực5

Một tác giả khác định nghĩa giới như sau: “giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xà hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Trong khi “con trai” hay “con gái” là những yếu tố sinh học thì việc trờ thành một phu nữ hay một nam giới là một quá trình văn hoá”6

Với một vài dẫn chứng nêu trên vé định nghĩa giới cho phép chúng ta hình dung được cách tiếp cận đa dạng của vân đề; và chúng ta cũng nhận thấy từ những du:

4 Tạp chí Khoa học vồ phụ nữ sô' 3 /1 9 9 6 tr X

J Tạp chí Khoa học về pb 11 I1Ữ sô 3 /1 9 9 6 , lr 9

6 M I Andersen: Thúiking aboin \Voineu ir 20

6

Trang 11

dinh nghĩa nói trên điểm thống nhất quan trọng: đó là sự nhất trí vé giới như một sản phẩm của xã hội-văn hoá.

Để hiểu cơ sờ xã hội của giới đòi hỏi phải đặt giới trong một bối cảnh xã hội

cụ thể Từ quan điểm xã hội học, giới là một hệ thống cấu trúc trong các thiết chế xã hội, có nghĩa rằng nó được gắn sâu trong cấu trúc của xã hội Điều cẩn phải nhận thấy ở đây là: giới được tạo thành không chỉ trong gia đình hoặc trong quan hệ giữa các cá nhân (mặc dầu những yếu tố này là các nguồn rất quan trọng của các quan hệ giới) mà còn trong cấu trúc của tất cả các thiết chế xã hội chủ yếu, bao gồm trường học, tôn giáo, kinh tế và nhà nước Những thiết chế này định hướng cho tất cả chúng ta.

Giới do vậy là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ Là một phạm trù xã hội, giới cũng giống như chủng tộc, tộc người và đẳng cấp, trong một mức độ lớn, sẽ quyết định cơ hội cuộc sống của con người, xác định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế.

Như chúng ta đã thấy, giới là một yếu tố của cơ cấu xă hội mà cùng với chủng tộc, giai cấp thể hiộn sự trải nghiệm của tất cả các nhóm trong xã hội.

Từ những phân tích đó, chúng tôi đi đến định nghĩa về giới như sau:

Khái niệm giới không chỉ dê cập đến Nam và Nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong môi quan hệ ấy cỏ sự phân biệt vê vai trò, trách nhiệm, hành VI hoặc sự mong đợi mà x ã hội d ã quy định cho mỗi giới Những quy định x ã hội này phù hợp với các đặc điểm văn hoá, chính trị, kinh tế, x ã hội và tôn giáo; vì ỉ hẻ' nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các x ã hội.

Giói có những đặc tính sau đ â y :

Tính quan hệ: Nó có tính quan hệ vì nó không quy cho phu nữ hoặc nam giới

sống biệt lập, mà nói đến những mối quan hệ giữa họ và những quan hệ này được xây dựng có lính xã hội như thế nào

Tính thứ bậc tôn ti: Nó có tính thứ bậc tôn ti bởi vì những sự khác biệt được

thiết lập giữa phu nữ và nam giới, khác xa với tính trung lập có khuynh hướng quy giá trị và tầm quan trọng lớn hơn cho những đặc tính và hoạt động gắn với cái gì mang nam tính và tạo ra những quan hệ quyển lực không hình đảng.

Tính lịcli sử: Nó có tính lịch sử bởi vì nó được nuôi dưỡng hởi những yếu tố

thay đổi theo thời gian và không gian, và rồi có thể dược điều chính Ihổng qua những can thiệp.

Trang 12

Bối cánh cụ thể: Nó có tính đặc thù bối cảnh vì có những hiến dổi trong các

quan hộ về giới phụ thuộc vào các nhóm dân tộc, tầng lớp, văn hoá Bởi vây, cần thừa nhận tính đa dạng trong khi phân tích các quan hệ giới.

Tính thiết chê' Nó được cấu trúc có tính thể chế bởi vì nó không chỉ đề cập

đến mối quan hệ giữa nam và nữ ở mức ctộ cá nhân mà còn ở trong các thể chế xã hội như trường học hoặc các hệ thống y tế và trong toàn bộ hệ thống xã hội được qui định bởi những giá trị, luật pháp, tôn giáo

Quan hệ giới có tính cá nhân và xã hội: Cá nhân là vì những vai trò giới mà

chúng ta có xác định rằng chúng ta là ai, chúng ta làm gì và chúng ta nghĩ như thế nào về bản thân Xã hội là vì những vai trò và quan niệm giới đã được duy trì và thúc đẩy bởi các thiết ch ế xã hội và thách thức những quan niệm này, thách thức cách mà

xã hội đã được tổ chức như hiện nay (Nguồn: CGFED, 2 0 0 1 :28)

2 Ý NGHĨA CỦA NHỮNG KHÁC BIỆT GIỚI TÍNH SINH HỌC.

Các yếu tố sinh học đã được sử dung để giải thích sự khác nhau về vai trò xã hội và hành vi xã hội của hai giới tính, và ờ một vài trường hợp, như là sự minh chứng cho sư đối xử khác nhau giữa nam và nữ Ví dụ, kích thước bộ não của nữ nhỏ được sử dụng để giải thích cho sự kém ihông minh khi so sánh với nam giới, và quan điểm này đã được dùng để lý giải cho việc giải thích nam giới phù hợp hơn và

có cơ hội tốt hơn trong giáo dục Clarke(l 873) được trích dẫn trong Best và Bưke(1980), xác định giáo duc không phải là mong muốn của phụ nữ bởi vì như vậy nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực nuôi day con cái của họ, một mục đích cơ bản trong cuộc đời của người phu nữ.

Hoóc môn của nữ giới cũng được sử dụng để giải thích về sự thiếu thành đạt

về trí tuệ và những hành vi “phi lý” Dalton(1979) cho rằng, trong tuần lẽ kinh nguyệt, khi hoóc môn của phu nữ giảm đi và họ đạt kết quả ihấp hơn trong công việc khoa học, và hay đánh con cái nhiều hơn những lúc khác, có hành vi phạm pháp, dễ tự sát Dalton, trong tác phẩm của mình cũng trình bày cho thấy hành vi của phu nữ dược quyết đinh bởi sinh học Bà chứng minh rằng, phu nữ là chủ thế đối với “sự că n g thẳng trước kinh n g u y ệ t” VỚI những triệu chứng trầm cảm, mệt mỏi Đây là thời điểm mà tình cảm không ổn định và phụ nữ ít có thể làm dược điểu

gì Những người tranh luân về vấn đề này cho rằng sự khác biệt cơ bản giữa nam và

nữ về sinh học dược xem là cơ sở dể loại trừ phu nữ khỏi một số công việc do lình cảm không ổn định cùa phu nữ khiến họ khổng có khả năng đối diện với trách nhiệm và những sức ép/căng thảng.

X

Trang 13

Tuổi dậy thì đổ cập đến giai đoạn Irướng thành uiới tính sinh học Thời k\ này được báo hiệu bằng việc bát đầu có kinh nguyệt và điều này cho ihấy một cô gái

có khả năng làm mẹ Nhưng hiên tượng này lại khiến các cô gái lúng túng, c ngại và xấu hổ, nhất là ở các nước đang phát triển, nơi mà hiếu biết về giới tính, tình dục và sinh sản còn hạn chế, lại cộng thêm những quan niệm, chuẩn mực cũ khiến cho các thiếu nữ ngượng ngùng về hiên tượng kinh nguyệt của mình.

Thực tế trong rất nhiều nền văn hóa, vấn đề kinh nguyệt của phụ nữ đã được ■ - • . . .

sử dụng để chứng minh cho sự loại bỏ phu nữ khỏi các hoạt động xã hội, và giống như những điều cấm kỵ vẫn còn diễn ra/tổn tại trong một số xã hội hiện nay Trong

đa số các xã hội loài người sự kinh nguyệt của phụ nữ đáng lo sợ hoặc được xem là nguy hiểm, và được trông đợi để giữ thật kín về điều này.

Con gái có kinh lẩn dáu phải ở trong phòng lói 9 ngây Tháng thứ hai à ít hơn và dần dần mỏi tháng lù 4 ngày lự xem mình lừ không dược sạch sẽ Chúng không được vào bép, không dược dụiiỊỉ lới thức Ún n ia người khúc, phải ăn và ngủ riêng Sau 4 ngày phái giựt giũ quần áo mình dữ mặc cũng như tấm trải giường Nếu không cảm thủy dó lủ phân biệt dổi xử thì chúng

có th ế thưởng thức 4 ngáy "nghỉ".

(Nguồn: Joss, 1990:1-3 Dẫn theo Phạm Đình Thái, 199K)

Chỉ có rất íl xã hội chấp nhận điều này, theo Best và Birkc {1 980) thi ờ xã hội

của Congo Pygmies, máu hành kinh của phu nữ được lạo thành cuộc sống Đây là một ví du khác về cách thức mà sự khác biệt vổ sinh học dược sử dụng để hợp pháp hoá những khác biệt giữa hai giới tính.

3 XÃ HỎI HỌC GIỚI: MỘT CHUYÊN NGÀNH CỦA XÃ HÒI HỌC.

Cần phải nhấn mạnh liêu đề trên đây bới vì có không ít người - ngay cá irong íiiới xã hội học, nhữne người Iiuhiên cứu Khoa học xà hỏi và Nhãn văn - vẫn còn nhầm lẫn hoặc đồng nhài nghiên cứu giới với \ã hội học vồ giới Như có mội quan niệm cho rằng “Một sô trường đại học đưa vào môn học “Phụ nữ học” (còn gọi là

“Nghiên cứu phu nữ" hay “Khoa học vé phụ nữ”) và món học “Xã hội học về giới"

Hai môn này dược coi lủ iươiìiị dươniị nhau, “liên íhônỉi' với nliuu Nglỉĩa lủ luỳ theo diều kiện bô Irí lịcli H ình i>iáníi dạy cụ thớ mù sinh viên dược học món này huy

Trang 14

môn kiư, học môn này ihì không phứỉ hoe môn kia nữa f)iéu dó CŨIÌÌỊ ngu V rúniỊ, nội dung kiến thức cứư hai môn nảy có nhiều phấn trừng nhau ỊỊĨưo nhau"1

Hiểu như trên là đã không phân biệt được sư khác nhau về đối tượng nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp của Xã hội học về Giới với môn Phụ nữ học Vì vậy mới có thể coi hai môn đó là “tương đương nhau, “liên thông” với nhau”, mới có thể quan niệm “Nội dung kiến thức của hai môn này có nhiều phẩn trùng nhau, giao nhau” cìể rồi dạy theo kiểu “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” Cách hiếu này, là một sự đồng nhất nghiên cứu giới với xã hội học vổ giới, và cho ràng hai cái đó có thể thay thố cho nhau, trong khi điểu này không the xảy ra.

Khoa học giới là một ngành học khoa học dóc lập, cho cJù nó ra đời muôn hơn xã hội học hàng thê kỷ Và xét về chỗ đứng trong khoa học thì nó ngang hàng với xã hội học cũng như với các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác, như sử học, Vãn học, kinh tê học v.v Trong khi xã hói học về Giới chí là một trong hàng trăm chuyên ngành của xã hội học, nó ngang hàng với các chuyên ngành xã hội học khác, ví dụ như: xã hội học Gia đình, xã hội học Dân số, xã hội học Đô Ihị, V.V Vì thế, không thể đổng nhất hai cái đó là một.

Bôn cạnh đó, một số người thường sử dung cách gọi lấi (có ihể họ đồng nhái hai lĩnh vực như trên, cũng có thê họ hiếu khác nhưng gọi tăl cho gọn) là môn Giới,

chẳng hạn Bộ môn Xã liội học Giới vù Giư dinh trong khoa Xã hói hoc - Trường Đại học KHXH và NY lai ihưừng được gọi là ỉíộ món (ìiứi vủ (jiu dinh Gọi như thê

không đúng và gây nôn liiêu lẩm hởi vì ngay Xã hội học Gia đình không phải là Nghiên cứu gia đình (Fainily Sludics) mà chí nghiên cứu gia đình lừ góc độ xã hội học mà thổi.

Chính vì vậy chúiiìi tôi thây can dành đôi dònu dò phân hiệt Iiíihicn cứu giới

và xã hội học về giới.

3.1 Nghiên cứu giói:

Trong quá trinh nghiên cứu phụ nữ đã dật vấn ctề phụ nữ vào trung lám theo quan điểm Phụ nữ trong phái Iricn (WID) dã cho thấy nhữnu hạn chê của việc chú trọng đến phu I 1 Ữ một cách lách biộl với nam giới IICII không ihấy hốt được ván ítc phụ I1Ừ và c á c m ô i liên hộ c ù a phu I1Ữ với xã hội do v ạ \ c á c c h ư ơ n g trình phái iricn không đạt được hiệu quá như mong (lơi do chưa ihu luìi (lược SƯ quan lãm của nam

1 ’ió'i Vì thế, các nhà nữ quy ồn và các nhà khoa học xã hội chuyên hướng níihién

1 è Ngọc I lùiiị: - Nịĩti VÓII TliI MỸ I UI (('Im hión ) \;ì lioi hoi vc (in >1 \ ;i Pli.il món: N\h Đ.II 1)<H Ụtiói ị! 1.1

! 1-1 IIôi 2000:

10

Trang 15

cứu vê giới và phái trión (GAD) lại Hội nghị phu nữ iliê giới lán thứ 4 tổ chức lai Băc Kinh (Trung Quốc, 1995) đã nhân manh vào giới đã đem lai sự tương phản nổi hật so với “phương pháp lấy phu nữ làm trung lảrrT hạn hẹp hơn nhiều của Naừobi mội ihập ký trước ctó.

Nghiên cứu giới là nghiên cứu nhằm vào mối quan hệ xà hội giữa hai giới nam và nữ Những quan hệ này có ihể là mối tương quan về mặt kinh tế về quyền lực trong gia đình và ngoài xã hội Đỏ cũng có thê’ là mối quan hệ hai giới trong việc nắm bắt các cơ hội, tiếp cận các nguồn lực và sử dụng các Ihành quả.

Đặc điểm nghiên cứu giới:

- Nghiên cứu các vân đổ phu nữ nhưng khồng đặt trong tâm nghiên cứu phu

nữ như phụ nữ học (nghiên cứu phụ nữ) đã làm.

- Tập Irung vào mối liên hệ giữa nam và nữ tức là hành vi xã hội của cả hai giới đô' được coi là đối tượng nghiên cứu cơ hán.

- Những khác nhau về mãt kinh lê, xã hôi, vân hoá và chính tri giữa nam và

nữ được nghiên cứu giới xem xét trên quan điểm khổng phái khi nào cũng có nghĩa

là những quan hệ bất bình đẳng (dây là cíậc diêm đáng chú ý).

Mục tiêu của nghiên cứu giới: Xáy dựng mối quan hê giới mang lính nhân

vàn và c ó trách nhiệm giữa hai giới nam và nữ.

Nhiều nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành khác nhau, kể cá ngành pháp

lý khi nghiên cứu vấn đổ phụ nữ/íiiới, dã thống nhấl những vấn (tề cơ hán Đó là:

• Tập trung nghiên cứu khía cạnh xã hội (gcnder) hơn là khía cạnh sinh học (scx) dầu rằng sinh học khônu lách rời xã hội học.

• Giới (gendcr) là nhãn lố mang tính xã hội và tha\ doi theo lừng thời kỳ lịch sử.

• Hệ thống giói là quan hệ khòĩii: cân xúng, iheo thứ hạc quan hộ quyền lực - mữa

hai giới.

• Quan điể m toàn diên: đời sôiiii của mỗi cá nhân phái itươc XCIĨ 1 xét trong lổnt:

thô Yí dụ, trong hoại động công lác và dời sống gia đình phái được xem xcl tổnn thể đối với cá hai giới.

• Mối quan hệ: có một môi quan hệ giữa tố chức công việc của nam giới và lổ chức công viêc của nữ mới xét cà ớ vi mô và lang vĩ mô Nêu ita số phu nữ chiêm vị trí ihâp hơn trong xã hội thì nó sẽ tạo nen khuvnh hướng láp the nam iiiới chiếm vị trí cao hơn.

Trang 16

• Khoa học kh ô n g thó Irung lính vồ giới (không ihc không maiii! lính chái giới) mà khoa học luôn dược đặc Irưng bởi cơ cáu xã hôi iiiới l iêng biêt cúa xã hội (tươc nghiên cứu.

Cần nhân thấy rằng, để cáp đốn giới là nói đến mối quan hệ của cả hai giới nam và nữ, chứ không phải chí một trong hai giới, irong ctó giới này là một phần không thể thiếu được của giới kia trong xã hội Và cũng khổng nên hicu “Giới nghĩa

là phụ nữ” như nhiều người vẫn quan niệm Giới klĩóniỊ bao giờ là vấn d ề riêng cúư

phụ nữ Giới xét vê klĩía cạnh x ã hội là mối quan hệ Ịịiữa dàn ông và dàn bà, giữa nam tính và nữ tính, trong đố, phần này luôn lủ diều kiện cho phẩn kia Do quan hệ

giới được tao nên bởi quan hệ quyền lực giữa nam và nữ nên nam giới cũng có vai trò lớn trong quan hệ này, nhằm tạo được mội mối quan hô giới (vé măt xã hội) thưc

sự tốt đẹp (Phân tích giới ở Việt Nam, Tổ chức SIDA - Thuỵ Điển).

Những cách tiếp cận dối với các vấn đề liên quan đốn phụ nữ ở các nước đang phái iriển đã trử thành môi quan lâm đốn giởi và những mối quan hệ giới được hình thành về mặt xã hội Điều này, Whitehcad đã lưu ý rằng “Sự chú trọng ctốn giới chứ không phải là phu nữ làm nảy sinh sự cán ihiốt phái nghiên cứu không chi một dối tượng phụ nữ(vì họ chỉ là một nửa vấn đổ), mà còn pluii nghiên cứu cả mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới với cách thức các mối quan hộ íỉỏ dược hình thành trong xã hội Phụ nữ và nam giới đóng những vai trò khác Iihiiu trong xã hội với những đặc diêm giới khác nhau do các yếu lố về tư iướng lịch sứ lún niáo dân lộc kinh té và vàn hoá quy định \ c Moser, 1996:5).

3.2 Xã hòi hoc về Giói:

Cũng giống như nuhicn cứu giới, xã hội học vè niới nghiên cứu mối quan hộ uiữa nam và nữ nhưng nó chú ý lới uuá trình học hói và thực hiện các vai trò của

giới irong các bối cánh kinh tố vàn hoá, xã hội khác nhau.

X à hôi hoc vé giói, HÓI cliinh xúc lioiì, lủ sự nghiên cứu cưu trúc x ã hội vé cúc vai trỏ, các c/uưn hệ vù nhữiỉii bân sắc cưa nam ỊỊIỚI vả nữỵiới (Ackcr 1992

dần theo G Ril/cr 1996: 310, 2000:450)

Quan niệm sau đây cho thấy nhữnn ván ctc mà xã hôi học quan lâm khi nghiên cứu giới: “Khới dầu của vân (tổ t:iới:là lonii sô hình mầu của các quan hộ giới nhữn« chuẩn mực trônÍI (lợi các quan hộ iươni: tác cá nhan, những khác hict vô

sự sắp xốp/thứ bậc nam- nữ iront: các liat lư vc \ã hôi kinh lủ và chính trị Đá\ la

12

Trang 17

điéu mà các nhà xà hỏi học quan lãm và nó cũng là cái mà ho dicn ctal bới cấu núc

xã hội của các quan hệ giới trong xã hội" (M Andcrscn; 1997)

Là một chuyên ngành của xã hội hoc vì thế xã hội học Giới trước hết phải vận dung các khái niệm cơ bản của xã hội học, các lý thuyết xã hội học và các phương pháp nghiên cứu xã hội học trong dào lạo và nghiên cứu Sau đó mới có thể vận dung lý thuyết và phương pháp của một số ngành khoa học có liên quan(tuỹ thuộc lĩnh vực, đổ tài nghiên cứu khác nhau), chẳng hạn như các quan điểm của khoa học gi&i Noi cách khác, mặc dù có tính liên ngành nhưng xã hội học giới phải thổ hiện được đậm chất xã hội học, thông qua việc vận dụnịỊ hợp lý và đúng đắn các khái niệm, lý thuyết và phương pháp của xã hội học.

Do vậy, cho dù có sự giao thoa ở một mức độ nào đó giữa xã hội học Giới với nghiên cứu giới, thì đừng quên rằng xã hội học giới luôn luôn và mãi vẫn thuộc về

xã hội học Thiếu vắng điều này, thi khỏng còn là xã hội học về Giới nữa.

13

Trang 18

CHƯƠNG 2.

MỘT VÀ! LÝ THUYẾT XẢ HỘI HỌC TRONG NGHIÊN c ứ u GIỚI

1 QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ SÁNG LẬP XÃ HỘI HỌC.

Trước hốt, chúng tôi xin lưu ý rằng: các nhà xã hội học thế kỷ 19 chưa sứ dung khái niệm giới như hiện nay chúng la quan niệm, mà ho sử dụng từ phụ nữ trong các nghiên cứu có liên quan Tuy nhiên, về bản chất những vấn để mà ho đề cập đến chính là quan hệ giới, vì nó cho ihấy mối liên hẹ giữa phu nữ và nam giới trong bối cảnh qun hệ vợ chổng, trong quan hệ gia đình và xã hội Chính vì lẽ đó chúng tôi cho rằng đây là những quan diêm về nghiên cứu giới đã xuất hiện trong các nghiên cứu của một số nhà xã hội học đầu tiên.

Trong số năm nhà sáng lập ra xã hội học: A.Comte, K.Marx, H.Spencer E.Durkheim, M.Weber, chỉ có K.Marx và MW eber được coi là có quan điểm giái phóng về phụ nữ.

Những hài viết của Marx đã có nhiều đóng góp vào sự nghiên cứu phu nữ Các khái niệm chính được sử dung trong sự phân tích về sự áp bức phu nữ bao gồm

sự Iha hoá, áp bức kinh tế, giá trị sử dụng, lao động chăm sóc/ phục vụ, và phép hiện chứng K.Marx cung cấp một khung phân tích vé những hất hòa trong hôn nhân do cảnh sống nô lệ trong gia dinh của phu nữ Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" khi đấu tranh với những lời trách cứ của giai cấp tư sán, K Marx (và F Engels) dã

đổ cập đến địa vị của người phụ nữ, đến những vấn cíề gia dinh Có một điều đáng chú ý là Mark rất coi trọng việc lìm hiểu và nghiên cứu sự Ihậl cụ thể của đời sống

xã hội hiện đại Bằng việc sử dụng phương pháp phân tích số liệu thống kê và các cồng trình níĩhiên cứu xã hội rộng lớn Mark cho chúng la ihấy trong hộ Tư hán và những công irình nghiên cứu của ông nhiều vấn ctề của phu nữ được Mark (lổ cập với

sư phân lích về sư anh hưởng của máy móc và dại công nghiệp đến đời sống CÍUI người phụ nữ và gia đình ho (Hoàníi Rá Thịnh, 1999)

Khi MAVeberchí rõ bình đắng iiiới trong hôn nhân ihì ông cũng cho tha\ đe phân tích v ề phụ n ữ tro n g x ã h ộ i thì c á n c h ú ỷ đốn x u n g đ ộ l (lịa vị bói vì địa VI ho ặ c

vi trí của một người trong một trật lự xà hội lại liC ‘ 11 quan đốn quyền lực Địa \ I cua phu nữ irong xã hội hiện nay có thê được phan lích ớ những tlicu kiện hất lợi cúa họ

trong ca quyền lực kinh tê và quyền lực xã hội và SƯ lao nôn uy Ún xã hói vì nó 11 c 11

quan đốn giới và các vai trò nghề nghiệp.

14

Trang 19

H.Spencer phán dối hôn nhân như mội ihể ché' bất bình đẳng, và người phu

nữ phái c ó q u yền cạnh tranh bình đẳng VỚI nam giới, nhưng irong những hài viết sau này ông lại đảo ngược lại những quan niệm của mình Hai đặc điểm về thuyốl hữu

cơ thực chứng của Spencer giúp cho những mô hình ban đầu đối với sự phân tích xã hội học về phu nữ Đặc điểm ihứ nhất, là khái niệm về bản thân thuyết hữu cơ, nó hàm ý một sự cân bằng Khi tất cả các bộ phận hoại động vì lợi ích của tổng thế xà hội duy trì một sự cân bằng Phu nữ thường được phân tích trong thuật ngữ về

“nơi/địa điểm” không gian của phụ nữ trong xã hội - bởi vì, chức năng cúa họ là ớ trong gia đình Vì phụ nữ duy trì chỗ của họ Uong thiết chế của gia đình thông qua các vai trò xã hội của họ về người mẹ, người vợ, họ giúp cho sự hoà hợp gia đình như một sự thống nhất Sự cân bằng thống nhất này được thực hiên trong hai cách:

• Một là: Phụ nữ đem lại tinh cảm nữ tính Irong sự hoà hợp gia dinh trong khi nam

giới được xem như là cầu nối giữa gia đình và các tổ chức xã hội khác irong xã hội Những vai trò của người cha và người mẹ và các chức năng tạo nên những sự thích nghi xã hội trong các hành vi và vai trò thể chất và tâm lý của phụ nữ, nam giới.

• lỉai là: nó đặt gia đình và các thành viên của nó trong trạng thái cân hằng với

các thiết chế khác Hành động xã hội hoặc các phong trào xã hội nào cố gắng loai bỏ những áp bức cá nhân hoặc giai cấp, ví như các phong trào nữ quyền, chính là những lực lương ngắt quàng quá trình tạo nên sự cân bàng Nốu sư biến dổi xã hội xuất hiện, các nhà thực chứng tranh luận, nó sẽ đốn lừ lừ thông qua liến hoá xã hội.

Đặc điểm thứ hai, về mô hình cân bằng hữu cơ của H Spencer được áp dụ liu đối với phụ nữ là sự giả thiết về sự phát triển iheo đường thăng Biếu hiện Irong lý thuyếl chức năng tập trung vào tiến hoá xà hội, các nhà lý ihuyêl này cho rằng cá 1

tổn tại hiện này là một sự phát triển irên cái đã có trước đó Yì các xã hội liến hoá trong một biểu hiện tuyến tính (từ đơn gián đến phức tạp), theo Spcncer sè là phán chức năng nếu can thiêp vào quá trình tiên hoá này thông qua hành dộng xã hội cách mang hoăc những hoat độne khác nhàm vào ihay đổi trật lự xã hội Nhừng hành động này có thể dẫn đến sự phá VIÌ cân bằng xã hội.

A.Comtc là một người thành kiên niới tính một cách giát) điếu và iriêì học của ôn í’ về phụ nữ dược chi ra rấi rõ làng nong quan tliêm cùa mội I1LỊƯỜI không iưởniỉ về một khung lý luận thực chứiiịỊ của sư tái cấu trúc xã hội Mọi láng lớp \fi hôi chấp nhận phụ I 1Ữ có một vị In n o n g hệ ihống lỏn 11 trai lư vồ lam quan irọni: và

15

Trang 20

sự chuyên môn hóa cúa chức năng Phụ nữ chịu nách nhiệm vồ (lao đức gia đình và phám hạnh cúa họ sẽ được đảm bảo bởi luậi hôn nhân một vợ một chổn g bền VỪI1‘> Cuối cùng, quan điểm của ông giảm xuống thành niềm tin vào vị trí thấp kém hơn của phụ nữ được quy định trong hiến pháp, mà sư trưởng thành của phụ nữ được A.Comte xem như được hình thành từ thời thơ ấu Theo A Comte, phụ nữ là thuộc

về “thiểu số so với nam giới vì sự chín chắn của họ kết thúc trong thời thơ ấu” Do vây, ông tin lưởng rằng phu nữ trở nên phụ thuộc nam giới khi họ kết hôn Ly hôn bị

phủ nhận đối với phụ nữ bởi vì đơn giản họ là những nô lệ dược nuông chiều của

nam giới Comte khẳng định rằng trong yêu cầu vì trật tự xã hội và tiến bộ xuất hiện

ở Pháp, nó cần có cả quyền uy gia trưởng và chế độ độc tài chính trị Thuyết thực

chứng của ông là một triết lý về sự ổn định, được dưa trên sự bền vững của đơn vị

gia đình “thực sự”.

Quan điểm của E.Durkheiin về phu nữ chịu ảnh hưởng của thuyết sinh học: phụ nữ lệ thuộc tự nhiên vào gia đình Phân tích của ông về cấu trúc của đời sống gia đình của vợ và chồng hiện đại được diễn đạt duy nhất từ quan điểm của nam giới Durkheún đã tranh luận về phụ nữ trong hai bối cảnh hẹp:

Thứ nhải, sư liên kết tích cực của hỏn nhân và gia đình, phụ nữ đáp ứng dầy

đủ các vai trò truyền thống được nhân ihức như là chức năng với gia dinh.

Thứ hai, sự liên kết tiêu cực về sư tư sát, ly hôn và tình dục, trong đó tình dục

của phụ nữ đóng một vai trò trong tư sát và ly hôn Trong mỗi một sư liên kết này phu nữ một lần nữa được xem như là khác biệt lự nhiên so với nam giới - phu nữ như một phần của lự nhiên, không phải của xã hội, hoặc như mộl phần của một xã hội nguyênthuỷ.

Quan điểm coi phu nữ như là “/77(3/ plỉán cứa ĩự nhiên" nói trên sau này được

các nhà nữ q u y ề n phát triển trong thuật ngữ “ phụ nữ -sinh lhái''(cco['cininism) clươc tạo nên bởi Francoise d ’ Eaubonne, mội phụ nữ dấu tranh cho nữ quyển, năm ! 974

và sau đó được Susan GriiTin, Carolyn Merchant, Yandana Shiva và những người khác tích cực quảng bá quan điểm này lập luận lằng phụ nữ gần gũi thiên nhiên hơn

so với nam giới, và nam giới gần với vãn hoá hơn (thường dược coi là cao hơn), và

có sư liên quan giữa nam giới thống trị ụr nhiên và thống trị I 1 Ữ giới, có những quan điểm khác nhau về việc “liệu có môi quan hệ dặc hiệt" của phu nữ với lư nhiôn có phái do lính chất sinh học trong chức năng sinh sán hay chí thuần luý là mội hộ tư lương nhằm duy trì những khác hict về quvcn lưc dựa trên cơ sờ giới(Koos Nccl ịcs 2003: 30).

16

Trang 21

Như ihế, với các nhà sáng lặp của xã hội học chúng la thấv ho đều sớm quan tâm đên nghiên cứu vấn đề phụ nừ và vai trò của họ với gia đình trong sư liên hê với

sự phái triển xã hội, cho dù quan điểm cúa các nhà xã hội học đầu tiên này - nhữnn người đặt nền móng cho xã hội học thành một ngành khoa học - có khác nhau Phu

nữ đã được thể hiện trong những tác phẩm han đầu này chí trong các vai trò gia đình của họ bởi vì gia đình được xem như là một thiết chế chứng minh cho các quá trình

xã hội rộng hơn Ví dụ, từ những phân tích sớm nhất về xã hội, gia đình là đơn VỊ nền tảng nhất của xã hội, so sánh với khái niệm sinh học về tê'bào.

Phụ nữ đã được thảo luận chỉ trong quan hệ của họ đối với gia đình - đưn vị

xã hội cơ bản - này mà thôi.

Với những người tiên phong trong xã hội học, có thể nói là họ chưa có được

lý thuyết nghiên cứu về phụ nữ/nghiên cứu giới theo đúng nghĩa như hiện nay Nhưng, một số quan điểm, tư tưởng của họ có thể xem là những viên gạch đầu tiên khởi đầu ch o việc hình thành, xây dựng và phát triển lý thuyếl xã hội học về giới, cũng như sự vận dụng lý ihuyếl xã hội học trong nghiên cứu giới, nghiên cứu phu I 1 Ữ được hình ihành và phát triển vào giữa thố ký XX trở lại đây.

Ba cách tiếp cận đương đại trong xã hội học đặc biệt để nhằm vào phụ nữ và giới trong xã hội: cách tiếp cận cấu trúc-chức năng, quan điểm vai trò giới lính và quan điểm xung đột, mõi cách tiếp cận gắn với một mô hình có vai trò giới tính.

2.1 Thuyết chức nãng - Nghiên cứu văn hoá của con ngưòi

Thuyết chức năng trong xã hội học vốn dĩ mang tính hảo thủ và gắn với các cồng trình của Augusle Comte, Herbcrl spencer, và Emile Durkheim Các lliuvci gia chức năng đương đai lâp trung chú ý vào những vấn đề ổn định xã hội và hnà ihuận xã hội, đặc biệt những yếu tố góp phần giữ vữntỉ ổn định xã hội hoặc làm thay đổi dần xã hội.

Thay dổi x ã hội được dặt trong kliuôii khố liến hoứ tư nhiên cỉáp ừng những

cân bằng giữa chức /lủng và câu trúc cuti cức vai trò x ã / l ộ i Dỉéit này có ilic dán

lới sự lặp lụi không cần thiết như: cức yờu tỏ x ã hội khuyến kliíclì sự 011 dinh dược coi lủ cliức năng vả nlỉữiiiỊ yếu t ố khuyển khích sự tliưy dổi xữ hội nhanh chóng dược coi lù phi chức lìãiỉịỊ.

Trong khuôn khổ này, việc tập In/nạ chú V vào pltu nữ lủ do chức náiỉiị \ ù

vai trồ cúư họ trong xã hội ạáp pliùn vào sựon clịnlì, dược co i muiii! lính chức Iiứnii.

2 NHỮNG CÁCH TIẾP CẬN LÝ THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ Nồt TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIÊN

Trang 22

vì chúng g óp pliá/1 làm thay dái nhanh chông, Iiliu'việc đi vào ílỉị íruừtiiỊ lao dộnii dược trả công với con s ố ngày một tãiìỊi bị ro i lù mưng lính phi chức nănsị (Park

1967).

Như chúng ta thấy, quan điếm này không ủng hộ việc phụ nữ tham gia vào thị trường lao động Nó ủng hộ việc gắn phu nữ với gia đình, với những cồng việc nội trợ, hy sinh vì chồng vì con.

Có lẽ bài viết về xã hội học có anh hưởng nhất về phụ nữ với quan điếm những người theo thuyết chức năng là hài của Talcott Parsons Parsons nhìn nhân gia dinh hạt nhân là điều tất yếu trong một xã hội công nghiệp hoá do bị cô lập - phân hoá xã hội do sự cô lập, chuyển dịch địa lý và nhu cầu về nhân lực cho quốc gia công nghiêp hoá tạo ra Từ sự cô lập này nổi lên hai vai trò rõ rệt cho nam và nữ với nam đảm nhận vai trò công cụ tích cực và nữ đảm nhận vai irò tình cảm xã hội (Parsons, 1949; Parsons và Bales, 1955) Thuyết vai trò được chắt lọc từ định hướng truyền thống này.

T Parsons ctã mở đường cho sự tranh luận về sự phân công lao động theo giới trong thuật ngữ về các vai trò Parsons ( 1959) chứng minh rằng, phu nữ có một hàn năng đối với việc nuôi dưỡng (nuilure) như là một kết quả vổ vai trò tái sinh sản của

họ được dựa trên cơ sở sinh học, và điều này lạo cho họ phù hợp một cách lý tường với mội vai trò “tình cảm” trong gia đình hạl nhân Một vai trò “lình cảm" liên quan đến sự chăm sóc về những nhu cầu thê chất và lình cảm của lất cả các thành viên gia đình, đặc biệt những đứa trỏ còn phu Ihuộc.

Theo sự giải thích của Parsons (1951, 1954) thì giới tính đóng một vai irò quan trọng trong việc duy trì xã hội, ít nhất trong hình thức truyền thống Ổng khắng định giói lính là hệ thống quan trọn ỉ! của quan điểm vãn hoá liên kết nam giới và nữ iiiới trong các dơn vị gia đình, và đến lượi mình, gia đinh trư thành trung lâm hoại

dô nu xã hội. *— •

Phụ nữ dùng d ể duy trì hoại dộnỵ hên ĩroiĩg gia đình, quán xuyến CỎIIỊỊ việc

Iiội trự và nhận trách nhiệm nuôi con Nưm giới thực hiện chức Iiă/IỊ> hàu kci gia đình với x ã hội rỘM> lớn hon chú yếu thông t/uư sự ilium ịịia ( líu họ

irong lực lượng lưo dộng.

Với quan niệm này, người phụ nữ (trong vai irò người VỢ) và nam giới( imiìỊỊ vai trò người chổng) có sư phân dinh chức năng riêng biệl lừ dó phạm vi hoại (lộng (không gĨHH xã hội) của họ cũng khác nhau \ ới sư mặc dinh như thủ người ta con*:

n h â n cíiều n à y : n a m g i ớ i h ư ớ n g n g o ạ i CÒI1 p h u n ữ h ư ớ n g nội.

Trang 23

T Parsons giái thích ihôm ràng, cá nam giới và nữ iiiới liều học cách nhan dạng giới tính Ihích hợp, cũng như kỹ năng và ihái độ cần thiết đô' thực hiện vai trò giới, điều này được hình thành thông qua quá trình xã hội hoá cá nhân phù hợp với phụ nữ và nam g i ớ i , đáp ứng mong đợi xã hội tuỳ ihuộc vào các nền văn hoá cụ thể:

\ ỚI trách nhiệm x ã hội chính của nam giới là tliànli dụi trong lực lượng lao dộng x ã hội, nên nam giới dược x ã hội lioá đ ể trở thành người duy lý, quả quyết vủ gưnh dua, một pliức hợp các đặc điểm mả Parsons mỏ lá mưng tính rông cụ Cồn Iiữ giới, dẻ dúm báo trách nhiệm chính trong việc nuôi con nữ giới dược x ã ÌIỘI hoá đ ể th ể hiện điểu mà Parsons gọi là tính chất biểu cám chẳng hạn như cảm xúc hay nhạy cảm với người khácỢ Macionis, 2004: 410)

Sinh học của nam giới thích hợp với vai trò “công cu” trong gia đình, liên quan đến sự hỗ trợ/cung cấp kinh tố và Liên hệ VỚI thế giới bên ngoài gia đình Nếu một đứa trẻ được phát triển ổn định Ihành một thanh niên c ó khả năng thực hiện điều đó trong xã hội nó phải, theo Parsons, dược xã hội hoá trong một gia đình mà (V

đó những người trưởng thành ihực hiện hai vai trò này Một sự phân công lao cỉộiỉịỊ

trong gia đình, do vậy dược xem lù quan trọng d ể đảm bảo sự phát triển “bình thường Parsons cho rằng chức năng x ã liọi ìioá của gia đình lủ một yểu tó quan trọng Irong việc duy trì vê sự Ổn dinh x ã hội, và không có một th ể c h ế nào có thớ

ĩ hực hiện chức năng này tất như gi ư đình.

Xã hội học chức năng của T Parsons dã dặt gia đình ở trung tâm của sư học

hỏi xã hôi về các vai trò giới Theo Parsons, trong gia đình, tró em học các vui trò

tình cam là vai trò dược lạo nên với sự nuôi dưỡng, chăm sóc và trôn li nom nia

đình, đều là những việc phụ nữ thường làm Còn vưi trò CÓIIÌỊ cụ dược xem như sư

thành đạt, làm kinh tế, vai trò “kiốm cơm”, do nam giới thực hiện Theo quan ilicm của Parsons, những vai trò này giúp cho xã hội ổn định từ thế hệ này qua thc hộ khác Hơn nữa, xã hội nổi chung và gia đinh nói riêng dược xem nlur là hoại độiiii

có hiệu quá nhấl irông các hình thức vai trò này Sự thừa nhận này liên cơ sớ thực tô rằng, người phụ nữ do có kha nănii sinh đỏ nuôi con do vậy họ được xem là phù hợp nhất với vai trò tình cám.(Hoàng Há Thịnh, 2000)

Arlie Hochschild (1973) đã xác (tinh 4 kiểu nghiên cứu Ironì! xà hội học vé

c á c vai trò gi ới tính:

Thứ Iiliủ!, nghiên cứu lập irunii vào nliừng khác biệl iiiới lính, phân lích

nhữnu khác hiêt vổ tình cám và nhận ihức liiữa nam và nữ Thườiii: là nliữni: nha tâmc • ■ *- c

) ‘)

Trang 24

lý học thực hiện các nghiên cứu này và sau dó các nhà xà hội học sử dung kết qua này.

Thứ hai, có những nghiên cứu phân tích sư căng thăng vai trò Ví du T

Parsons với công trình nghiên cứu về những khác biệt vai trò giới tính và sau đó phác hoạ những chuẩn mực để xác định những vai trò này Ông quan niệm vai trò như một đơn vị cơ bản trong hệ thống xã hội, sự định hưởng vai trò tình cảm và vai trò công cụ; gia đình như một thiết chế trong quan hệ với các thiết chế khác những chức năng tiên quyết của hệ thống xã hội(lhích nghi, đạt mục tiêu, hội nhập và duy trì kiểu mẫu), sự phân tích các cấp độ của hành động xã hội (xã hội, văn hoá, nhân cách và hành vi), các bước của những biến đổi xã hội (sư khác hiệt, hướng đến thích nghi, hội nhập và hình ihành giá tiị) (Parsons, 1949)

Cả hai mồ hình nghiên cứu này thừa nhận rằng sự phân công giữa nam giới

và phụ nữ là chức năng, và tìm kiếm sự giái thích những khác hiệt từ một quan điếm cân bằng.

Tliứ ba, bao gồm nghiên cứu vai Irò giới tính phân lích pliu nữ như là một

nhóm thiểu số, đặc biệt trong thuật ngữ về sư phân biệt đối xử, sự thiên kiến và plui

nữ ở bên lề kinh tế và xã hội (Hacker, 1951)

Thứ tư, ỉà quan điểm “đẳng cấp chính trị” nó cũng tương tự như quan điểm

thiểu sô nhưng lâp trung vào những khác biêt giữa phu nữ và nam giới trong điều kiện lợi ích và đấu tranh quyền lực.

Hai kiểu nghiên cứu này lấy những khác biệt giữa nam và nữ như là mội vân cté ctể giải ihích (Hochschild, 1973).

Nhưng người đề xướng chủ yếu cho ihuyêì chức năng về giới là Miriam Tolmson (một nhà chức năng theo ihuyết nữ quyền) Bà thừa nhận rằnu có một xu hướnu

“Phàn biệt giới tính không chủ ý Irong lý Ihuyêì cúa Parsons vồ gia dinh" Đióm quan trọng đối vứi nhận thức của một nhà chức năng là sự vận dụng của lohnson vồ các khái niệm vai trò thể hiện tình cảm mang tính phương tiện, luận đề về mối quan

hệ của gia đình với các thiết chế xã hội khác, và các mô hình về điều kiện liên quyết của Parsons Bà đã xác định những nguồn gốc của sự bất hình đẳng trong cấu Irúc gia (tình theo chế độ gia trưởng ở các xã hội khác nhau Gia đình có nhừng chức năng khác biệt với các thiôt chê xã hôi khac ỏ' chồ: gia đình xã hội hoá trò em và lái tạo lình cảm đối với các thành viên ctã trưởng thành trong gia đình \ I trí cơ hán của

người phụ nữ Irong nia đình là người chú yếu tạo nên các chức nân ti quan irọni:(1Ó ĐÌCU nàv sẽ ánh hườn 11 đến phụ I1Ữ khi mà phụ nừđưnc lurớnL! lới nlũrni: nuho

2(1

Trang 25

nghiệp có Lính thế hiện tình cảm nong khi nghề nu hiệp của nam íiió'1 thường nuược

Randall Collins biện lý rằng bất hình đăng giới khác nhau trong các loại xã hội nhưng ấn định ba thưc tế xã hội bất hiến ấn định phu nữ là tài sán tình dục của nam Mọi con người đều có (1) ham muốn mạnh mẽ thoả mãn tình duc và (2) sức kháng cự mạnh mẽ với sự cưỡng chế Điều Ihứ ha đàn ông thường to khoẻ hơn dàn

hà, “ do vậy dàn ông trở thành kẻ xàm chiếm tình dục, và nữ nói chung ở vào vị thế phòng thủ” (Coilins, 1975:231) Collins còn biên luân thêm là bất bình dẳng giới và cưỡng bức sẽ có mức độ khác nhau iheo hai cấu trúc xã hội: bị các tổ chức chính tộ trong một xã hội kiềm chế (gia đình, luật pháp v.v.) và vị trí thị trường và nguồn lực của nam và nữ Trong diều thứ nhất, Collins đề nghị rằng càng tập trun<j lực lượng và quyền lực chính trị trong phạm vi hộ gia đình lớn bao nhiêu ihì nam giới càng có quyền lực lớn bấy nhiêu đối với phu nữ “về mặt lao động thấp kém (khổng cần kỹ năng gì), khác hiệt nghi lẻ và chuẩn mực đạo đức về tinh dục" (Collins, 1975:283).

Collins nhận thấy sự bị thống tri của nữ có nguồn gốc lừ sinh học - nhưnn một sinh học gắn với tiếp cận tình dục dối lập với sinh sán và lài sán lư nhân Cáu ưúc kinh tế và chính trị làm irung gian hoà giải cho sự phục lùng này với lình trạng bấl bình đẳng cao nhất thống trị/phục lùng tổn lại trong các hộ gia dinh cua các xà hội tiền cống nghiệp và có sự phân lầniĩ Tí lệ hất bình dáng lliấp nhất là Irong các

xã hôi có thị trường giầu có, tuỳ thuộc mức độ bình đáng cúa phụ nữ về địa vị kinh

lê Collins ghi nhận rằng phu nữ vẫn tiếp lục ớ vị trí kinh tc và chính trị phu ihuôc trong các xã hội cỏ thị trường thịnh vượng này, nhưng điều này cổ những khác biêi

vồ thời gian và vị trí địa lý.

Thuyết xung đội với nguồn nốc irong các trước tác cửa Karl \larx, cho răiiíỊ

lliay clối xã hội xay ra ihỏng qua mội C|iiá irình biện chứng Nhiều tliu\ốl (ìỐI kliáiii!

iroin' xà hôi hoe này đà phát inên trái với nhừnu quan niệm Iruycn ihống Rán ihan

21

Trang 26

quá trình này biổu thị phép hiện chứng Phép biện chứng miêu tá những mâu ihuan

và dối kháng tất yếu dẫn đến thay đối Lấy bất kỳ mội lý thuyết nào (như ihuyếi bình đáng nam nữ), một phản luận đề sẽ phái triển Mâu thuẫn giữa các nhóm hát hình đẳng dựa trên những mâu thuẫn về lợi ích diễn ra hàng ngày tạo ra đối kháng giừa luận đề và phản luận đề Từ đó náy sinh một tổng hợp mới không nhất thiết là một sự bình đẳng Sự tổng hợp này trở lliành luận đề mới cùng với một phán luận đe kèm theo và V V

Chúng ta có thể sử dụng khái niệm phép biện chứng để phản ảnh những ihay đổi xã hội, lý thuyết, tổ chức, nhóm v.v Ví dụ , trong lý thuyết xã hội học cách tiếp cận truyền thống của Parsons đối với vai trò giới có thể xem là một luận để, từ

đó một phản luận đề - thuyết bình nẳng nam nữ cấp tiến - sẽ là thuyết đối kháng

Từ dó xã hội học ctã phát triển nghiên cứu vai trò giới Sư tổng hơp mới này sẽ có thế U'ở thành luận đề mới và một thuyết hình đẳng nam nữ thiết yếu cho nghiên cứu vai trò giới sẽ trở thành phẩn luận dề mới Và rồi sự phát triển một xã hội học về phụ

nữ có thể dược nhận thức là một sự tổng hơp hiện đại hơn về ý tưởng này Do các nhóm người trong xã hội trở thành đối kháng với nhau vé các nguồn lực hiốm hoi hoặc về các lư tưửng, thì sự đối kháng này sản sinh ra sự thay dổi Tiêu clicm của ihuyết x u n g đột là về mặt kinh tế, đặc biội cu ộ c tranh đua vé những nguồn lực hiếm hoi giữa các nhóm và ảnh hưởng của I 1 Ỏ đối với moi mối quan hệ xã hội khác Các thuyết xung đột đương đại luôn mở rộng tiêu điểm này để bao gồm cả các Ihành phần đa diện để mô tả đối kháng và hấl binh đẳng trong các cấu trúc xã hội Cóng trình của Max Weber với tiêu điểm nhằm vào quyền lực, địa vị và của cải khi miêu

tá những bất bình đẳng xã hội là liêu biếu cho lập trường này (Weber, 1947) cùng như Collins nhấn mạnh sự tiếp cận giới và phân chia quyền lực.

Trong lý thuyết xung đột chúng la eiả dinh là địa vị phụ nữ trong xã hỏi là

do sư phân chia của cải và quyền lực không công bằng gây la Như đã nói (V phán trước, thuyết phân tầng giới lập trung vào địa vị phụ nữ trong ihị Irường lao động có irà công (Chaferz, 1984) Vì tập trung chú ý vào kinh tế gia inrởng/ tư han phan lớn cồng việc của phu nữ (chăm sóc, lự nguyện, v.v.) trớ Ihành vỏ hình Lao dông của phụ nữ vẫn dược phân tích chủ yếu trong lương quan với nén kinh tế trá công, lò'

đi nền kinh tế không ctược trả công Khi cônii việc không dược trá cổng dược dưa ra phàn lích thườn LI được phân tích theo cách phẩn dó ng g óp của họ cho nền kinh lé có trả công (lức là lao dộng cùa phụ nữ nong gia dinh là công hiên dem lại không khi

dỏ chiu cho giai cấp vỏ sản) Các nhà lý Ihuyết gia xung đội xem xél lao động không được irá cổng phục vụ các nhu cầu cúa giai câp tư sản llìé nào thông qua sán

Trang 27

xuất giá trị ihặng dư và việc báo vệ lợi nhuận Nhưng họ lại thường bỏ qua vấn itc tuổi ihọ của phụ nữ về những chăm sóc hàng ngày, trong ctó có những tác động đốn đời sống gia đình, sự tự trọng, tình dục, v.v Collins lờ đi giả định người thích tình duc khác giới trong công trình của mình: rằng mọi nam và nữ đảm nhân vai trò như

được xác định bằng những chuẩn 1Ĩ1ƯC tình duc khác giới Vậy làm thế nào đê mô

hình của ông giải Ihích được cuộc sống của người phụ nữ luyến ái đồng tính? Làm

t hế nào để c ô n g trình của ông góp phần đế hiểu biết các mối quan hê của nhữne dàn

hà và đàn ông không nằm trong dòng chấy chung.

2.3 Thuyết tương tác biểu tưong:

Thuyếl tương tác biểu tượng và cụ thể là công trình của George Herbcrt Mead có cỗi rễ lừ trường phái Chicago đã thao túng xã hội học ở Hoa Kỳ trong phần đầu của thế kỷ hai mươi W.I Thomas có ảnh hưởng đến trường phái Chicago

và có lẽ được nổi tiêng nhất cho trích dãn viêc ông miêu tả đáp ứng cá nhân đối với ihế giới “Nếu người ta xác định các tinh huống là thực thì các hậu quả cùa chúng cũng là thực” (Thomas và Thomas, 1928:572) Thuyết tương tác biểu tượng là một quan điểm tập trung vào nội tâm cá nhân và mối quan hộ giữa cá nhân và cấu trúc, thường được nói đến là xã hội học vi mô Điều quan trọng của Ihuyêì tưưng tác biểu tượng là sự công nhận ý nghĩa ảnh hưởng qua lại giữa cấu trúc xã hội (xã hôi học vĩ mô) - được xác định là quá trình và thói quen hoặc hình thức tác động qua lại

- và cá nhân (xã hội học vi mô) (Mead 1934) Chủ đề này nhấn manh đến xã hội loài người đang tiến triển hơn là đứng nguyên Những người chủ trương thuyối lương lác biểu lượng cũng công nhận rằng những hành động cá nhân và những giải ihích diễn ra trong phạm vi bối cảnh các nhóm và thể chế và rằng các cá nhân có nhiều nguồn lực khác nhau trong các Ihể chế này để tạo ra sự thay đổi (Manis và Meltzer, 1978) Phương pháp giải thích này tập irung vào ý nghĩa tượng irưng gắn với đời sống xã hội và có ý nghĩa sâu sắc để hiểu được phụ nữ trong xã hội.

Không giống lluiyết chức năng và thuyết xung đột tiếp cận từ một quan điếm xà hội hoặc thiết chế lộng lớn, tương lác biểu lượng, cũng gọi là quan điểm tương tác, tiép cận hẹp hơn, liên quan đến khunii tâm lý học xã hội Mô hình tương lác được dựa trên sự giá định rằng xã hội được lao ra và duy trì thông qua sự tương tác của các thành viên của nó và các Ihành viên xác dinh hiộn ihực như thê nào Trong khái niêm này hiện ihực là cái mà các thành viên nlìấi trí là hiện thực Quá irình thoa lliuân/thương lượng này được thê hiện irong tuyên bố kinh tlicn của William I Thomas (19^ I /1 966) mà ngày nay trở thành định lý Thomas Như dã dược phái Iricn hỡi G H Mcad (1934), tươnt! tác biêu lượng là những sớ thích/quan lãm imiiL!

Trang 28

những ý nghĩa con người gán cho nhừnii hành vi l iêng của ho cũng như hành vi eúa những người khác Tương tác xuât hiện trong một mẫu hình, cách thức dược cáu trúc bởi vì co n người c ó thể nhất trí về ý nghĩa của việc chia sẻ các biểu lượng, như là lời nói, chữ viết, ký hiêu và điệu bộ Các thành viên của nhóm phản ứng với người khác trên cư sở sự chia sẻ những ý nghĩa và sự giải ihích về hành vi Do vậy, con người không tương tác một cách tự động đối với người khác, mà thay vào dó họ chọn lựa cẩn thận trong mội số những quan điểm phụ thuộc vào hoàn cảnh cu thể.

3 ĐIỂM HẠN CHẾ CỦA CÁC LÝ THUYỂT

Có một nhược điểm cố hữu trong sử dụng các quan điểm lịch sử của phu nữ Các lý thuyếl này là dựa vào kinh nghiệm của nam giới, cấu trúc phụ hộ và một mộl

mô hình nam tính Phu nữ được ghép vào mô hình lý ihuyếl được phát triển không

có các kinh nghiệm của phụ nữ làm khuôn khổ hoặc điểm đính giá trị.

Vấn đề ở đây không phải là đơn giản bởi vì lý thuyết chính trị tư do và trí ihức luân kinh nghiêm chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác, một lý luận phê phán, ihuyếl phân tâm, thuyết chức năng, thuyết cấu trúc, thuyết phi cấu trúc, luận giải và những khuôn khổ lý thuyết khác, đều có hoặc khổng có thể áp dụng cho phụ nữ và cho quan hệ giới Mặt khác, có thể sử dụng nhiều phương diện hoặc thành phần của mỗi một lý thuyết này để làm sáng lò những vấn đề trong chủ đề chúng tôi Hơn nữa chính là những kinh nghiệm của phu nữ đã làm nền tảng cho bất kỳ lý thuyết nào trong số này mà chúng tôi đã trình bày Khi lìm hiểu những kinh nghiệm của phu nữ thay cho những kinh nghiệm của nam giới thường gặp phải những hiện tượng dó (như lao động tình cảm hoặc những mặt tích cực của cấu trúc quan hệ cá nhân) dã bị các khái niệm và các loại lý Ihuyết này làm mờ đi không thấy ctươc (Harding 1986:646) Điều này, như nhận xét cúa mộl tác gia nữ " Nhưng đó là lý Ihuycì trong Ihực tế có căn cứ, bắl nguồn từ kinh nghiệm, nhân thức và niềm tin của (làn ông đồng thưòi cũng củng cố những kinh nghiêm, nhận thức và niềm tin ấy Sư thiên vi nam giới trong các môn học hiên dai là quan trọng hơn hét rhạm chí ngay

cả khi phụnữ là đối tượng được nghiên cứu, thì triển vọng cũng như thách thức cũiiiỊ vẫn là của đàn ông, của một nền vãn hoá thống soái- với tất cá những chuyện hoang (tường và niềm tin, những chí dẫn vé vấn đề phu nữ là ai phu 11 Ừ nên là ai và là cái gì

Quan niệm sai lầm lấy nam giới là 1] un LI tâm trong gần như tất cá các môn

khoa học xã hội khi nhìn nhận phụnữ là như thế này: "người ' được coi là giống đực

còn ‘MỐIIÍI cái lức là phu nữ, ihì (lược định nghĩa hãnn cách iỊiái thích răng (ló

24

Trang 29

“không phải lù đàn ông " \ à trong xã hội học nhân chúng h ọ e lịch sir CLÌI1U như tám lý học “G i ố n g cái thường c ó xu hướng bị xem Là những cái i>'i hãi thường, nhừnL! phái sinh lừ chuẩn giống đực và từ lý iướng của “người"- dó là ngôn ngữ của chúnu

ta, với việc cả loài người đều được hiếu thị hằng một dại lừ "anh ta”(Barbara Du Bois: 1979, dẫn theo G Bowles; 1996:138)

Trang 30

CHƯƠNG 3 MỘT VÀI NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u XÃ HỘI HỌC VỂ GIỚI

Trong nhừng công trình nghiên cứu của một sô nhà xã hội học nổi tiếng ở thế

ký XIX và nửa đầu thê kỷ XX, như đã nói ở phần trước, nếu so với những nghiên cứu chung thì điểm nổi bật là sự thiếu váng những vấn đề liên quan đến phu nữ đến mói quan hệ giới Phần này, chúng tôi cố gắng giới ihiệu một vài chủ dề liên quan đến giới trong một số công trình của một số nhà xã hội học có tôn tuổi trong khoáng hơn một thế ký.

1 VAI TRÒ GIỚI: MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG TRONG NGHIÊN c ứ u XÃ HỘI HỌC.

1.1 Vai trò xã hội:

Các nhà xã hội học đã vay mưựn thuậl ngữ vai trò từ sân khấu để miêu tá vai trò ảnh hưởng như thế nào trong đời sống xã hội Giống như các diễn viên trên sán khâu, mỗi cá nhân đều đóng các vai trò trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Gắn với mỗi vai trò là một kịch hán mà nó nói với chúng ta sẽ ứng xử như thế nào với người khác và họ sẽ lương tác trở lại chúng ta ra sao Trong xã hội học lý thuyêì vai trò có một vị trí đáng kể “Thuậl ngữ vai trò sẽ được dùng để chí ra toàn hộ lổng

số vổ hình mẫu văn hoá được tạo nên với một địa vị cụ thể Do vậy, nó bao gồm các quan điểm, các giá trị hành vi được xã hội gán cho mỗ i cá nhân và lất cả các cá nhân (đang) chiếm giừ địa vị đó.” (M Ban ton, 1968: 26)

Dưới ánh sáng này một vai trồ có ỉliẻ dược hiểu như lủ mộĩ lập hợp cúư cức

chuẩn mực và những mong đợi được áp dụng dổi với người chiếm giữ một vị trí (II

t h ể {M Ban ton, 1968: 28-29)

Từ cuối những năm 1940 đến đẩu nhừnt: năm 1960 khái niệm vai trò (tã LMỪ một vai trò quan Irọníi trong môn xã hội học Đả lừng có cá mội hê thống được xốp loại kỹ lưỡng gồm những khái niệm đế la có thế chia nhó hành itộnu ihành nhữiiíi chi tiết đê nghiên cứu và phàn tích Đỏi khi Ihuyết vai trò thám chí còn lấn ál cá việc nghiên cứu xã hội học Song dần llico Ihòi gian, ý nghĩa của thuyết vai trò niiày càni! suy giảm, sự phê phán quan trọnu nhất (tỏi với lý ihuyếl hệ ihốníi nói chuníi và |\' thuyết vai trò nói riêng là ở chỗ “chúng dã đinh hướng quá cứnii nhác vào irạnn lliái hiện tại mà không hướng theo những thaV dổ-i thường xuyên của xã hói"(H Koric 1997: 276) Người phái minh thực sự khái niệm vai trò là nhà nhân học văn hoá Ralph Linlon( 1893- ỉ 953), ông đã ctưa ra định nghĩa về khái niệm vai trò Irong lác

Trang 31

phám Study o f Matĩ( 1936) Sau này, Irong hán tháo được biên soạn lại(1945) khái

niệm này được thể hiện như sau:

Từ nay trở đi chúng ta sẽ gọi vị trí do một cá nhân chiếm lĩnh vào một thời gian cụ thể, trong một hệ thống cụ thể là trạng thái của cá nhân đó V ế thứ hai vai trò được coi là tổng thể của những khuôn mẩu văn hoá gắn liền với một trạng thái cu

thê Như vậy khái niệm nảy s ẽ bao gồm những quan diêm, ước lệ về giá trị vù

phương thức hành động dược x ã hội quy định cho chủ nhân của trạng thái này" (R

Linton, 1973: 311; dẫn theo H Korte, 1997:275)

R Linton phân chia vai trò trong (ló:

- Vai trò có sẵn: dấu hiệu đối với cá nhân không Liên quan đến các khá

năng khác nhau của họ Tiêu chuẩn đối với vai irò có sẵn phải là dấu hiệu lúc sinh ra, tiêu chuẩn như vậy là những gì thuộc về giới lính, tuổi, các quan hộ họ hàng và sinh ra trong một giai cấp hoặc dẳng cấp xã hội cu thể.

- Vai trò đạí dược: thông qua sư cạnh Iranh và nỗ lực của cá nhân Vai

trò đạt được do vậy được gán cho những người mà họ hoàn thiện các phẩm chãi của mình, những thành công họ đạt dược trong cuộc đời.

Cũng như trường hợp của khái niêm địa vị xã hội khái niệm vai trò xà hội được sử dụng với một nghĩa kép Mỗi cá nhân có một loại vai trò, lương ứng với các

quan hệ xã hội của người dó Trong tiến liìnli cuộc dời, mỗi cá nhân thưc hiện nhiều

vai trò khác nhau, lần lượt hoặc đồng thời, và tổng hợp lát cá các vai trò xã hội cúa

cá nhân đó đã thực hiện từ lúc sinh ra cho đến khi mất đi tạo thành nhân cách xã hội của người đó.

Cần nhận thấy rằng, cá nhân không hoàn toàn thực hiện được vai trò của mình nếu không có sự hợp tác của nhóm xã hội mà người đó tham gia Yí du sẽ không có hoạt động của thầy thuốc nếu không có bệnh nhân, sẽ không có giáo viên

mà không có học sinh, Mặt khác, sự thực hiện vai trò được hoàn thành bói SƯ tương tác với tác nhân khác (hoặc các lác nhân khác) Như vậy các quyển của mội tác nhân đồng thời cũng là những nghĩa vụ vé vai trò của dôi lác cúa người đó (ví du người c h ổ n g được c h à m s ó c bới người vợ: nâu ăn, giặ i giũ nhưn g người VỌ' khi thực hiện các công việc đó có quyền (.tược hỗ trợ (ví dụ ve kinh lố) và nhũng quycn này lại là nghĩa vụ của chồng) Sự "trao đ ổ r hay “sự nhân nhương lần nhau" nin liên quan đốn thực tế rằng, lất cá các vai n ò c ó các quyền và các nu lũa vụ lưtnig ỨIII! với nó.

27

Trang 32

Vì vậy, vai trò là một tập hợp các mong đợi c á c quyền và nhữnu n»’hĩa MI dược gán cho một địa vị cụ thể Những sự mong đợi này xác định các hành vi của con người dưực xem như là phù hợp và không phù hợp đôi với người chiếm giữ mội địa vị Khi đề cập đến vai trò, người ta ihường nhấn mạnh hai điểm quan trọng của vai trò ctó là: các quyền lợi và những nghĩa vụ tương ứng với mỗi một vai trò cụ thể.

Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng: vì vai trò dược hiểu như là “một tập hợp của các chuẩn mực và những mong đợi được áp dụng đối với người chiếm giữ một vị trí cụ thê”, nghĩa là vai trò được lượng giá bởi những giá trị, chuẩn mực xã hội Mà nhữni! liêu chí lượng giá này là c á c thành tố của văn hoá - có thể biến đổi và thay đổi theo thời gian, nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào trinh độ phát triển cua xã hội ở những thời

kỳ cụ thể Như vậy, cùng một vai trò tương ứng với một địa vị xã hội cụ thể, song người chiếm giữ vai trò đó ở những thời kỳ xã hội khác nhau thì phải đáp ứng

“những mong đợi” không giống nhau; và đương nhiên vì vây những quyền lợi và nghĩa vụ lương ứng với vai trò cũng có ihc khác nhau.

1.2 Vai trò giói: cơ sở lý thuyết.

Vai trò là một khái niệm dược sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi của con người trong một ý nghĩa tổng thổ Nó ứng xử như một cơ chế để hiểu được những cách thức mà ở dó những trông đợi xã hội, những hành động được phản ánh những khuôn mẫu chung về những hành vi được trông đợi Do vậy, vai Irò sẽ được Ihực hiện như thế nào, do ai và trong hoàn cảnh nào Trong hối cảnh về sư hiểu biết các quan hệ giới này sẽ dẫn đến sư xác đinh các vai trò của nữ giới và nam giới Những vai trò này được xem như là sự hướng dần các hành VI của hai giới dược xem

là phù hơp với những mong đợi của xã hội Lý ihuyốt vai trò giới xuất phát từ những nguồn gốc sinh học mà nó xác định sự khác hiệt giữa đàn ông và dàn ha Nluìny ni!Uồn gốc sinh học này tạo nên nguycn liỌu thô trên cơ sớ dó lổ chức nên những

hành vi cụ Ihể, dược gọi là nhừnii vai trò giới, các vai trò giới được hình Ihành ihônịỊ qua quá trinh xă hội hoá Xã hội học chức năng của T Parsons đã đặt gia đình ớ truntỉ tâm của sư học hỏi xã hội về các vai trò giới Theo Parsons trong gia đinh Iré » • * *—

em học các vai irò tình cảm là vai trò dược lạo nôn với sư nuôi dưỡng, chăm sóc và Irông nom gia đinh, đều là nhữníi việc phụ nữ thường làm Còn vai trỏ công cụ được

x e m nh ư SƯ thành đạt, làm kinh lố vai trò "kiếm c ơ m ” , do nam giới thực hiện, riico quan diêm cứa Parsons, những vai irò này giúp cho hội ổn dinh từ ihé hô này qua thố hê khác Hơn nữa xã hội nói chunn và gia dinh nói riêng dược xcm nlur là hoai đón" có hiêu quá nhài irông các hình thức vai irò này Sư llùra nhãn này tiên co' sớ

: x

Trang 33

thực tó l ă n g , ngư ời phu nữ do c ó khá nãng sinh (tỏ, nuôi con do vậy họ dược x e m IÌI phù hợp nhất với vai trò tình cảm.

Connell (1987) đã nói về ba lý do tại sao lý thuyếl vai trò giới lai tạo nôn sư hâp dân khởi đầu cho những sư giải thích về sự quan tâm vồ giới và sự khác biệt giưi Ong đã cống hiên cho chúng ta ba lý do giải thích vì sao:

• Thứ nhất, lý thuyêt vai trò giới cho rằng sự biến đổi của chúng ta về sinh học là

mội cách giải thích những khác biệt về giới trong hành vi, giống như sự tiếp cận học hỏi những trông đợi xã hội thay thế cho cách tiếp cận sinh học.

• 7h ứ hai , lý thuyêt vai trò nó i ch un g và thuyết vai trò giới nói riêng, dem lai mổt

cơ chê nhờ đó có được sự hiểu biết về ảnh hưởng của cơ cấu xã hội có thê dược tiếp cận trong sự hiểu biêt về nhân cách cá nhân Quá trình xã hội ho á hiển nhiên

là quan trọng trong cách tiếp cận này và một cách tư duy linh hoạt vổ những ảnh hưởng của các thiêt chế trung gian của cơ cấu đối với các cá nhân.

• Thứ ba, khi nhấn mạnh về quá trình xã hội hoá, lý thuyết vai trò đã cống hiến

một quan điểm về sự biến đổi Phụ nữ và nam giới là cái mà họ là bởi vì những kinh nghiệm của họ khác nhau cùng với quá trình xã hội hoákhác nhau Nếu quá trình này có thể thay đổi, thì cũng có thể làm Ihay đổi nam giới và nữ giới.

Trong Từ điển Xã hội học của G Endrweit và G Trommsdortĩ (2002) lại sứ dung khái niệm vai trò giới tính (sexual roles) như sau: Khái niệm vai trò giới tính

chỉ những kỳ vọng văn hoá chủ dạo và chuẩn mực xã hội về phương diên năng lực

dặc điểm nhân cách, thái độ, động cơ và phương thức hành vi đặc trưng và thích hợp đối với nam giới và nữ giới(2002: 544) Cũng theo các tác giá này, việc tiếp nhận vai trò cá nhân mang 4 thành phần sau:

• Tự cảm nhận như là nam tính hay IUÌ lính (sự đổng nhâl vai irò mới tính)

• Quan niệm về phân biệt giới lính ironu môi trường xã hội (quan niệm về vai irò giới lính)

• Đánh giá và tính ưu việi về các đặc điếm và hoại động giới lính đặc trưng (lliái

độ về vai trò giới tính)

• Phương thức hành vi có đặc irưng giói lính (hành vi vai trò yiới tính) (2002:544)

Vai trò iiiới được hiểu là IIlùmn irôniĩ đợi về những hành vi và quan điếm mà IICII văn hoá xác định là phù hợp đối với phụ nữ và nam giới Những vai iri) giới mụ được học hỏi thông qua quá trình xã hội hoá Vai trò giới và mối quan hệ giới có Ilìõ

2')

Trang 34

hiên doi qua các thời kỳ xã hội và khác nhau giữa các nén văn hoá Yai trò và mối quan hê giới phát triên dần trong sự tương tác giữa các ràng buộc về sinh học kinh

tê, công nghệ và các mối quan hệ xã hội Các vai trò giới cơ bản bao gồm: vai trò tái sán xuất, vai trò sản xuất và vai trò cộng dồng.

Lưu ý lăng, chỉ đàn ông và đàn bà mới có sư khác biệt giới tính sinh học, ho đông thời cũng được xã hội gắn cho - đôi khi một cách võ cĩoán/luỳ tiện- những vai trò khác nhau được dựa trên giới tính của họ Những vai trò này được biết đến như là những vai trò giới- cách thức tồn tại và tương tác như là phụ nữ và nam giới được định hình/định hướng bời lịch sử, hệ tư tương, văn hoá, tôn giáo và sự phát triển kinh

tế Các vai trò giới do dạy và học mà có Chúng khác nhau từ nền văn hoá này đốn nền văn hoá khác/xã hội này đến văn hoá/xã hội khác; từ nơi này đến nơi khác Những đặc điểm như tóc dài, được xác định là nữ tính trong một vùng này nhưng lại

có thể được xem là nam tính Irong một vùng khác.

1.3 Những cơ sở phân biệt về sự khác biệt vai trò giới

Những khác biệt giữa nam và nữ là hết sức đa dạng và phức tạp Các nhà xà hội học xem xél những khía cạnh khác hiệt này qua bốn khái niệm : giới tính sinh học; bản sắc giới; các lý tưởng giới và các vai trò giới.

Giới lính sinh học:( biological sex) là dỗ xác định nhất, I1 Ó lao thành các dặc điểm ihể chất sơ cấp và thứ cấp được sử dụng để xác định mội cá nhân là mội người đàn ông hay đàn bà sinh học; các cơ quan sinh sản, lóc,

Bán sắc giới:{gender identity) liên quan đến hình ảnh giới tính của chính bản

thân chúng ta, với thực tế rằng chúng ta ihực sự cảm nhận là nam hay nữ giới Bản sắc giới của một cá nhân không phái bao giờ cũng nhất trí với giới tính sinh học của người đó.

Nliững lý tưởng giới (gender ideals):là những trông ctợi/mong đợi vãn hoá (lôi

với hành vi của nam giới và nữ giới Ví dụ, những điếu thuốc lá minh hoạ cho chán dung “tính đàn ông” (macho) như là mót lý iưởng giới đối với nam giới Do vậy lý tưởng giới là cái mà nam giới và nữ giới cho lủ/ thừa nhận là eiốni:- dã và ctang hiên clổi Irong mấy thâp niên qua.

Cúc vai trò giới(gender ro lc s) : sư phân công lao dông các quyền và irách

nhiệm theo giới lính.

Trong quá khứ, các vai trò giới lính (tược phác hoạ rò làng: nam giới làm kiếm tiền để giúp dữ gia dinh; phu I1Ừ làm viêc Irong nhà i|iừ gìn nhà cửa và I1UÓI

30

Trang 35

nâng con cái Hiện nay, các vai trò giới lính, cùng giông như lý tưởng iiiới đan*’ biến đổi.

1.4 Các vai trò giới theo lý thuyết xă hội học

Các vai trò giới được định nghĩa là những hành vi và những quan điếm/thái

độ được trông đợi trong một xã hội tạo nên với mỗi giới tính Những vai trò này hao gồm các quyền và các trách nhiệm được chuẩn hoá đối với từng giới tính trong một

xã hội cụ thể.

Sau đây là cách giải thích về các vai trò giới iheo một số lý ihuyết xã hội học:

Thuyết chức năng: cũng được biốt như ihuyết cơ cấu- chức năng, bắl đầu với

giả thiết cho rằng xã hội được tạo nên bởi những bộ phận phu thuộc lẫn nhau, mồi

hộ phận đóng góp vào chức năng chung của xã hội Các nhà chức năng tìm kiếm việc xác định những thành tố hoặc thành phần cơ hán của xã hội, xác định các chức nâng mà những thành phần này thực hiện, và do vậy xác định xă hội sẽ vận hành như thế nào Như Hess và cộng sự (1988:15) nói, vấn đề cơ bản của phân tích chức

năng là “những yếu tố/thành lô cụ th ể của c ơ câu x ã hội dóng góp như th ế nào cho

sự ổn định của toàn x ã hội, và chức năng x ã hội của thành phán câu trúc dó lả gì?

Thuyết chức năng, do vậy nỗ lực để phám phá những ảnh hưởng của bất kỳ hình mẫu cụ thể nào.

Dahrendorí (1959) trình bày 5 điểm làm nên khuniỊ lý thuyết cua thuyết chức năng hiện đại như sau:

• Mộl xã hội là một hệ thống của các bộ phận ihống nhất/hợp nhất.

• Các hệ thống xã hội có xu hướng ổn định bới vì chúng dược xây dựng trong các

cư chế của sư kiểm soát

• Các phản chức năng cũng tồn tại nhưng chúng có khuynh hướng tư giai quyêi hoặc trở thành thiết chế hoá trong quá trình vận hành lâu dài.

• Sư hoà nhập/hội nhập xã hội dược lạo nôn bơi sự nhái trí của háu hét các lliành viên của xã hội trên cơ sở mội tập hợp các giá trị nhất dinh Hc thống giá Irị nà\

là yếu tố có khả năng bền vừne nhất trong hệ thống xã hội (Smclser, 1988:9)

Với sự nhấn mạnh về sự hoà thuận/hoà hợp và ổn định của xà hôi, iló là SƯ gắn bó với những những nhân lliức Lĩiá trị mạnh mẽ thuvẽi chức năng cho lãiiL!

hê thống (tỏ luôn hoại (lộm: hướiiLi lới sự cân bằng Những vãn clc và XLI 11 LI (lói cn

31

Trang 36

ihế xuất hiện, nhưng về bản chát uhúng là tạm t h ờ i và không hiểu hiên ve một

hư hỏng trong hệ thống xã hội.

Trong thuật ngữ các vai trò giới, các nhà chức năng sẽ tranh luận rằng trong các xã hội tiền công nghiệp, như xã hội phu thuộc vào săn bắn và hái lượm, nam giới và phụ nữ hoàn toàn khác nhau trong các vai trò và thực hiện những nhiệm vụ khác nhau bởi vì điều đó rất hữu ích hoặc là chức năng cho xã hội (1ế làm điều đó Là những người đi săn, nam giới thường xuyên đi khỏi ngôi nhà của mình, do vậy Irọng tâm cuộc sống của họ xoay quanh trách nhiệm đem lươniỉ thực, thực phẩm về gia đình Vì sự di động của phụ nữ bị hạn chế nhiều hơn bời thai nghén, sinh con và nuôi dưỡng, đó là chức năng để chị la dành nhiều thời gian ở gần nhà và thực hiện các chức năng chăm sóc trẻ em và nội trợ Mộl khi điều này được thiết lâp, sự phân công lao động này được thực thi ở các xã hội phát triển và đang phái triển Thâm chí dù phụ nữ cũng có thê iham gia vào sán xuất nông nghiệp thì họ vẫn còn phụ thuộc nhiều vào nam giới về lương thực, thực phẩm và sự bảo vệ Vai trò chủ đạo và thống trị của nam giới ctược thừa nhận, đã tạo nên một hình mầu ử đó các hoạt động của nam giới trở nên có giá trị cao hơn các hoạt động của nữ giới Do vậy, những hình mẫu đó trờ nên thiết chế hoá và khó biến đổi, nó dựa trên một niềm tin rằng sự phân tầng theo giới là không thể tránh khỏi liên quan đến những khác biệt giới tính sinh học.

Thuyết chức năng chỉ ra một tập hợp tương tự về các nguyên tắc khi áp dụng với các vai trò giới trong gia dinh hiện đại Parsons và Bales (1955) tranh luận rằng có sự ít rối loạn/phá vỡ và canh tranh, do vậy hoà hợp và ổn định hơn khi các cặp vợ chổng thừa nhận các vai irò đền bù/bổ sung cho nhau và chuyên môn hoá các vai trò Khi người chồng- người cha( the husband- father)thực hiện

vai trò cóng c ụ, anh la giúp để duy trì cơ sở xã hội và sư loàn vẹn về vật chất của gia đình, bằng cách cung cấp lương thực và nơi ớ và là cầu nối gia dinh với thô

eiới bên ngoài Khi người vợ- người me (the wife-mother) thực hiện vai trò tinh

câm!hiểu cảm, ch ị ta giúp đem lại các m ối quan hệ gắn bó, hỗ U'Ợ tình cảm và SƯ nuôi dưỡng có chất lượng để duy trì/cứu sống đơn vị gia đình, và đảm bảo cho gia đình vận hành một cách trôi chảy Khi xuất hiện sự sai lêch trong các vai trò này hoặc có sư chổng chéo vai trò với mức độ lớn hệ thống gia dinh bị đáy vào trạng thái không cân bằng tạm thời Thuyết chức năng xác nhận rằng, hệ thốny gia đình đổ thậm chí sẽ trở về một trạng thái cân bằng, nhưng SƯ rối loạn /ngiii

quãnt: này có thế giải quyết được ncu các vai trò giới uuyen ihống di Iheo tlúng

.12

Trang 37

mon g đợi một nhà chức năng sẽ có ihế tranh luân, ví dụ rầng sự mơ hổ vai trò giới là một yếu tố quan trọng trong ly hôn.

Điếu đó dường như hiển nhiên từ điều này mà thuyết chức năng có khuynh hướng bảo thủ c ố hữu trong sự định hướng của nó và không giải thích về

sự khác nhau của sự tồn tại các hệ ihống gia đình mà có thể dược giải thích là

chức năng cho bản thân chúng và cho xã hội Như gia đinh và hộ gia đình hiên

đại là những dơn vị có khả năng thích nghi rất lớn và thể hiện một sự đa dạng về các hình mẫu và hoàn cảnh Ví dụ, cha mẹ đơn thân đòi hỏi phải thực hiện một

sô các vai trò được xem là phi truyền thống theo quan điểm chức nâng, và đã đạt được rất nhiều thành c ô n g trong việc kết hợp vai trò c ô n g cụ và vai trò tình cảm.

Về mặt lý tưởng, các lý thuyết khoa học xã hội được trông (lợi là khách quan và trung lập về giá trị Thậm chí nếu lý tưởng này đã đạt được, các lý thuyết

có thể vẫn còn dược duy trì để giúp cho một quan điểm khoa học v ề hệ tư tưởng, thuyết chức năng đã được sử dụng như là sự minh chứng cho sự bổn vững/vĩnh hằng của sư thống trị nam giới và sự phân tầng về giới nói chung Sư phân lích chức năng về gia đình dã được phát triển và phổ hiến trong những năm 1950.

Thuyết chức năng đã đem lại một sự giải ihích tương đối có lý về nguồn gốc của sự khác biệt vai trò giới và thể hiện sự hữu dụng của chức năng về những nhiêm vu được phân công trên cơ sở của giới trong những xã hội mà ở đó trẻ em được xem là cần thiết để duy trì SƯ toàn vẹn kinh tế của đơn vị gia đình Trong các xã hội công nghiệp hiện nay, phần lớn các gia đình thực hiện sự phán chức năng và gia đinh tự bản thân 11 Ó không còn là một đơn vị sản xuất kinh tế Các gia dinh có thể được duy trì mà không có sự phân công lao động cứng nhấc như trước đây, điều đó có nghĩa rằng sư chuyên môn hoá trong các chức năng trong gia đình, đặc biệt sự phân công theo giới, giờ đây là phản chức năng hơn là chức năng Ví dụ, phu nữ bị hạ thấp dối với các vai trò gia đình mà họ xem như

là hạn ch ế và không hanh phúc hơn irong hôn nhàn của họ Trong sư tranh luận này thuậl ngữ của các nhà chức nàng dược sử dụng để giái thích sự phân công lao động dược dựa trên theo giới ctã phát triển như thế nào, nhưng nó có khó khăn khi phân tích sự đa dạng của mồ hình gia đình và các vai irò hôn nhân.

Thuyết xung đột: Hình thành từ thế kv 19 hằng những hài viết của K

Marx(l 848/] 864; 1867-1895/1967), thuyết xung đột dựa trên giả định rằng xã hội là một trạng thái mà ở dó đấu tranh vì quyển lực và sự thống trị là hành (lộng

Trang 38

theo đuổi của cá nhản hay nhóm xà hội Những cuộc đấu tranh này xuâl hiện trong các giai cấp để sự cạnh tranh sư kiểm soát các phương tiện sàn xuất và phân phối sản phẩm.

Các nhà lý thuyết xung đội hiện đại như Dahrendoii (1959) và Collins (1975; 1979) có xác định lại các cách tiếp cận/đánh giá của nguồn gốc/xuất phát điểm của những người Mác xít để phản ánh những hình mẫu hiện nay Xung đột không chỉ đơn giản dựa trên đấu tranh giai cấp và những căng ihảng giữa người chủ và công nhân hoặc người sử dung lao động và người lao động, mà còn xuất hiện trong rất nhiều nhóm khác nữa Những nhóm này bao gồm cha mẹ và con cái, chồng và vợ, người già và người Irẻ, người tàn tật và không tàn tật, thầy thuốc và bệnh nhân, nam và nữ, và bất cứ môt nhóm nào khác mà có thể được xác định như là một nhóm thiểu số hoặc da số

Dahrentloií ctã xác định nhữiiiỉ bản chất của thuyết xung đột như sau:

• Những đặc ctiểm/khía cạnh chính của xã hội là biến đối, xung đột và cô kếl/gán kết.

• Cấu trúc xã hội được dựa trên sự ihống trị của một sô nhóm bởi những người khác.

• Mồi một nhóm trong xã hội có một tạp hợp các lợi ích chung, cho dù các thành viên của nó có nhân thức được hay không.

• Khi con người trở nên nhận thức được những lợi ích chung của họ, họ có thể trớ Ihành một giai cấp xã hội.

• Sự căng thẳng về xung đột giai cấp phụ thuộc vào sự hiện diện của những diều kiện chính trị và xã hội nhất định (ví dụ, sự tự do đói với hình thức Liên minh), trên cơ sở phân phối về quyền uy và phần thưởng, và trên sự mở của hệ thống giai cấp.( Smelser, 1988:9)

Vận dụng khung lý thuyết xung đột vào sự phân tầng giới, giai cấp có ihc xác định lại đối với ý nghĩa các nhóm ngưòi có sư tiếp cận và kiêm soát khác nhau đối với các nguồn lực khan hiếm như là quyền uy và quyển lưc chính trị hay quyền lực kinh tế Trong cách dicn đạt dơn giản, nam giới có một SƯ thuận lợi kinh thế hơn nữ giới, và sư phân chia này là cơ sớ cho hất bình dẳng giới Môi

vị trí kinh tế tuyệt đối của nam giới chiếm lĩnh từ xã hội đốn da số gia dinh Trừ

khi lao động gia đình có dược một số dạng giá trị tiền mậi hoặc như Angghen tin rằng trừ khi phụ nữ khô ng còn bị ràng buộc với các vai trò gia dinh, sự thong

.14

Trang 39

trị của nam giới với phu nữ sẽ còn mãi mãi Quan điểm này được chứng minh trong nghiên cứu của Shelton và Firestone (] 989) vé ảnh hướng cùa lao động gia đình lên khoảng cách giới trong ihu nhập Họ phái hiện rằng những trách nhiệm gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập đồng thời cũng có mối liên hệ với nơi làm việc, kinh nghiệm lao động và số giờ lao động trong một tuần Điều này chi

ra rằng, đế hiểu được khoảng cách giới Irong thu nhập thì cần phải xem xét tác động của lao động khổng dược tra công của phu nữ đối với công việc được trả lương của họ.

Mội sự mở lộng thuyết xung đội đã được phát triển hởi Hacker ( 19 5 1 ) với nghiên cứu kinh điển của bà về phu nữ được xem như là nhóm thiểu số như thố nào Bằng sự so sánh với các nhóm chủng tộc thiểu số, Hacker chứng minh rằng phụ nữ chia sẻ những đặc điểm giống tương tự Bên cạnh sự phân biệt đối xứ phụ nữ bị “nhốt” trong những công việc tĩnh lăng và đơn điêu khi họ tham gia trong khu vực kinh tế, họ chiếm một địa vị to lớn trong xã hội và họ được xác đinh và khuôn mẫu trên cơ sở của những phẩm chất có sẵn Điều hấp dẫn trong

cách tiếp cận của bà là nó dược hình tliảnli hơn một thập kỷ trước khi các nhà x ã hội học cỏ những cô gắng th ể hiện những vấn dề liên quan dến giới vù xã hội trong cái khác hơn một sự th ể hiện vội vàng Và khi có một ít nỗ lực như vậy, họ

gắn với sự phân tích chức nàng của gia đình Vì phu nữ nhiều hơn nam giới và nhìn chung chia sẻ trong kinh tế thuận lợi hoặc không thuận lợi của chồng hay của cha, sự song hành với các nhóm chủng lộc thiểu số là không hoàn toàn thích hợp Dù vậy, phân tích của bà đã đem lại một khung hừu ích mà ở đó quan điểm xung cĩộl có thể dễ dàng áp dụng với cái mà hiện nay liên quan đến như là phi truyền ihống hoặc những nhóm thiểu số “mới” bao gồm phu nữ người già, người tàn tật, tình dục đồng tính và những người khác.

Những vận dụng thuyết chức năng, lý thuyết vai trò trong xem xét vai trò giói nói liên trong gia đình như trên đã phán ánh những quan điếm tư sản irong một cuộc hôn nhân lý tưởng Theo đó, người chổng là trụ cột gia đình, chăm ỉo đời sống vật chài dám bảo cuộc sống cho các thành viên trong gia đình v v Còn người vợ lo việc nhà (nấu nướng, nội trợ, chăm sóc và giáo dục con cái) Sư phán chia này rành

rẽ đến mức nếu có vân để nào nảy sinh Ihì lự mỗi người biốt ngay ai là người phái giai quyết, phái ihựe hiện.

Có ý kiến cho rằng, sư phàn chia ranh giới rõ ràng vc vai trò, chức năng theo gi(Vi g i ữ a v ự và c h ồ n g i r o n g g ia đ ì n h nlur v â y là m ọ t đ i ề u h a \ VI mồ i n g ư ờ i c h i lo môt số công việc cụ thê nén hiếu sau và lliực hiện lốt vai trò của mình Tuy nhién.

Ngày đăng: 18/03/2021, 16:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w