1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đối chiếu các phương tiện ngữ nghĩa ngữ dụng bổ trợ trong câu hỏi chính danh tiếng anh và tiếng việt

149 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 3,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này cũng thể hiện rằng, trong một thời gian dài, sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học đối với loại hành vi này, cũng như việc so sánh đối chiếu vể chúng giữa những ngôn ngữ khác nha

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI■ ■ ■

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ■ ■ ■

Đ A I H O C Q U ổ C TRƯNG TÂM T rÕ N G Ilk1 1

Chủ nhiêm đề tà i:

NGƯỜI PHỐI HỢP THỰC HIỆN:

ĐÀO THU TRANG, GIẢNG VIÊN KHOA NN & VH ANH MỸ, ĐHNN - ĐHQGHN

HÀ NỘI - 2003

Trang 2

Một số ký hiệu quy ước và từ viết tắt trong chuyên khảo

1 (*) đặt ờ phía trên, đầu câu: ví dụ có tính bất thường

2 => đặt ở giữa hai câu, hai từ: thay cho, chuyên thành

3 / đặt giữa hai câu, hai từ: hay, hoặc

4 (?) đặt đầu câu: ví dụ đáng hoài nghi

5 « đặt giữa hai câu, hai từ: tương đương ngữ dụng

6 V đặt giữa hai câu, hai từ: lựa chọn (hay, hoặc).

7 » đặt trước câu hoặc cụm từ: tiền giả định

8 TGĐ: Tiền giả định

9 TGĐTBCP: tiền giả định thông báo cú pháp

ỈO HVNN: hành vi ngổn ngữ

11 HVNNGT: hành vi ngôn ngữ gián tiếp

12 \ đật trên từ phía bên trái: ngữ điệu đi xuống (the Glide-down)

13 / đặt trên từ phía bên trái: ngữ điệu đi lên (the Glide-up)

14 V đặt trên từ phía bên trái: ngữ điệu giáng - thăng (the Dive)

15 / đặt dưới từ phía bén trái: ngữ điệu thăng kiểu 2(the Take-off)

16 ^ Ngữ điệu đi xuống (the Glide-down)

17 ) N gữ điệu đi lên (the Glide-up).

18 ° Âm tiết có trọng âm ở cấp độ câu (sentence stress)

19 - Âm tiết có trọng âm (giữa hai đường thẳng biểu thị âm vực)

Trang 3

Chương 3

N G H IÊ N c ú u ĐỐI CHIẾU CÁC T H Ô N G TIN N G Ữ NGHĨA - N G Ữ DỤN G B ổ TRỢ HÀM CHỨA TH Ô NG TIN Đ ỊNH HƯỚNG TRẢ LỜI VÀ TH Ô N G TIN-VỀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦ A CẢNH H UỐNG TRO N G CÂ U HỎI CHÍNH DANH TIÊNG ANH VÀ VIỆT

Trang 4

PHẦN A:

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 5

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

Tính cấp thiết của đề tài được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau:

1.1 NHU CẨU THỰC TIỄN.

Trong những năm gần đây, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ giao tiếp rất quan trọng

ờ Việt Nam Địa vị tiếng Anh ở Việt Nam đang ngày một cao hơn Tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chủ yếu để làm việc với người nước ngoài Cũng chính vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt đang ngày càng được đẩy mạnh Trong phạm

vi tư liệu mà chúng tói có được, chưa có công trình nào trực tiếp quan tâm, chuyên sâu nghiên cứu về phạm vi này Các giáo trình dạy tiếng Anh chỉ mới cung cấp cho người học

và người dạy những mẫu câu hỏi và những tương đương đại thể giữa tiếng Anh và tiếng Việt Chừng mức đó, có thể nói, chưa đủ để giúp cho người học sử dụng tiếng Anh với hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, đề tài của chuyên khảo, đặc biệt là phạm vi và bình điện nghiên cứu của nó (ngữ nghĩa - ngữ dụng), cũng phù hợp với khuynh hướng phát triển chung của khoa học về ngón ngữ Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa - ngữ dụng đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Các công trình nghiên cứu này đã có những đórig góp rất quan trọng trong những vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học, đem lại những ứng dụng hữu ích trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ, cũng như trong việc dạy và học các ngoại ngữ Đồng thời, những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học ở lĩnh vực này cũng đang hướng tới một sự miêu tả thống hợp các sự kiện ngôn ngữ Các thành tựu nghiên cứu hiện có, trong một chừng mực nào đó, đã tạo tiền đề cho việc

so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ về mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng ở từng phạm vi nghiên cứu cụ thể

1.2 VAI TRÒ CỦA CÂU HỎI TRONG NHẬN THỨC, GIAO TIẾP.

Câu hỏi, với tư cách là một phạm trù có tính phổ quát của sự phân chia câu theo mục đích phát ngôn, là sản phẩm của một loại hành vi ngôn ngữ điển hình và phổ biến trong quá trình giao tiếp, nhận thức Các câu hỏi có vai trò rất quan trọng trong hoạt đ ộ n s thực tiễn, trong quá trình nhận thức: Hỏi để biết Tuy nhiên, nhiều khi hỏi khônq phải chỉ để biết Hỏi để chào Người Việt Nam hay nói "chào hỏi" Hỏi để chia xẻ, cảm thông nên người ta cũng hay nói "thăm hỏi" Bên cạnh đó, người ta còn hỏi để yêu cầu, dể nghị, hỏi

để khẳng định hay phủ định, hỏi đê mỉa mai, châm biếm, hỏi dê dồn người ta vào thế kẹt

Trang 6

Hỏi để m à hỏi Thậm chí nhiều khi hỏi để tránh phải trả lời v.v Có thể nói rằng, với tư cách là một yếu tố thành phần thường xuyên tham gia vào quá trình hội thoại, câu hỏi, dựa vào sự hỗ trợ của ngữ cảnh, sự tác động của tình thế, sự linh hoạt của chủ thể giao tiếp, có thể thực hiện những chức năng giao tiếp khác nhau với những kiểu hành vi gián tiếp tại lời đa đạng, phong phú, phục vụ hữu hiệu cho các mục đích? ý đồ nhận thức, giao tiếp.

1.3 NHU CẦU HỌC THUẬT, TÍNH THỜI s ự CỦA ĐỂ TÀI.

Nghiên cứu đối chiếu các kiểu câu hỏi trong một ngôn ngữ hay giữa những ngôn ngữ khác nhau có thể có những phân biệt về mặt thủ pháp, cách thức, mục đích nhưng điểm chung, thống nhất là việc nghiên cứu này đem lại những lợi ích thực tiễn Như trên đã nói, những công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này chưa nhiều Điều này cũng thể hiện rằng, trong một thời gian dài, sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học đối với loại hành vi này, cũng như việc so sánh đối chiếu vể chúng giữa những ngôn ngữ khác nhau, là hết sức hạn chế Ngay cả trong từng ngôn ngữ cụ thể, các công trình nghiên cứu đề cập chủ yếu đến câu hỏi cũng hết sức nghèo nàn Hon nữa, cách nhìn, cách tiếp cận, cách giải quyết vấn đề của các tác giả phần lớn đều mang nhũng hạn chế của thời đại Phần đông các nhà ngữ pháp học đều tập trung sự nghiên cứu của mình vào loại câu tường thuật và chỉ chú ý mô tả chúng về mặt cấu trúc: Các thành phần câu, các mô hình cấu trúc câu, các phạm trù quan hệ cú pháp với một sự trừu tượng, khái quát cao Khái niệm ngữ cảnh chỉ được nhắc đến trong một số trường hợp và chủ yếu có tính chỉ dẫn Hiện tượng này do những nguyên nhân khách quan nhất định: Các câu tường thuật chiếm giữ một tỉ lệ lớn trong tương quan với các loại câu phi tường thuật Những phần việc liên quan đến câu hỏi thường chỉ là việc chỉ ra các phương tiện hình thức, đưa ra những chỉ dẫn về cách đặt câu hỏi v.v, Trong một thời gian dài, tình hình nghiên cứu về câu hỏi tiếng Anh cũng như tiếng Việt đểu ở trong tình trạng này Cho đến những năm gần đây, cùng với việc phát triển mạnh mẽ cùa ngữ dụng học, một số tấc giả đã vận dụna; những thành tựu của nó vào việc nghiên cứu câu hỏi Nhưng về tiếng Anh, các nhà nghiên cứu chỉ tâp trung vào từns

loại câu cụ thể, hoặc Y es/N o - question hoặc W h - question Theo như chúng tỏi được

biết, chưa có công trình nào nshiên cứu một cách hệ thống toàn bộ các kiểu loại cáu hỏi trong tiếng Anh trên các bình diện Trong tiếng Việt, chỉ mới có cóng trình của Lê Đỏng nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này Cho đến nay, chưa có cóng trình nào chuyên sâu

Trang 7

nghiên cứu đối chiếu các phương tiên ngữ dụng bổ trợ trong câu hỏi chính danh tiếng Anh với tiếng Viêt.

Như vậy, có thể nói rang, việc nghiên cứu đề tài này là một việc làm không chỉ có tính cấp thiết, tính thời sự cao mà còn có thể xem như là bước đi đầu tiên, vừa có tính thăm dò vừa có tính thúc đẩy việc thực hiện một mảng trống lớn cần được nghiên cứu trong ngốn ngữ học nói chung, cả về lý thuyết cũng như thực tiễn

2 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THựC TIẺN CỦA CÔNG TRÌNH

Nhu cầu thực tiễn, nhu cầu học thuật và tình trạng nghiên cứu còn có phần thiếu hụt là nhũng nhân tố quan trọng tạo nên tính thời sự cấp bách của đề tài Việc đáp ứng nhu cầu , khắc phục tình trạng nghiên cứu này là mục đích và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài Giải quyết tốt những nhiệm vụ chủ yếu của đề tài sẽ đem lại những đóng góp mới ở cả hai lĩnh vực: lí thuyết và thực tiễn

2.1 Ý NGHĨA THỰC TIẺN.

Về thực tiễn, bằng việc vận dụng một hệ thống lý thuyết mô tả và phân loại mới hữu hiệu, cùng với những kết quả đạt được trong quá trình đối chiếu hệ thống câu hỏi tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng, công trình này sẽ cung cấp một cách hệ thống các đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng cơ bản của các kiểu loại câu hỏi chính danh trong tiếng Anh và Việt cũng như các đặc điểm chung, các nét đặc thù của hai thứ tiếng liên quan trực tiếp đến phạm vi này Kết quả này sẽ đem lại một nhận thức đầy đủ, sâu sắc hon về hệ thống câu hỏi chính danh, đóng góp trực tiếp vào dịch thuật, vào việc dạy tiếng Anh và tiếng Việt, Thực tế là, hiện nay, việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chù yếu là thồng qua tiếng Anh Đồng thời, kết quả nghiên cứu đề tài này cũng có thể giúp ích cho việc biên soạn các sách dạy tiếng, sách hướng dẫn tự học tiếng Anh cũng như tiếng Việt, cải tiến phương pháp, thủ pháp giảng dạy các loại hình câu được phân loại theo mục đích nói năng, thông báo, theo các kiểu hành vi ngôn ngũ v ề phía người học, những ai m uốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này, có thể tìm thấy ở cõns trình này những nét tiêu biểu, đặc thù về vãn hoá - tư duy được thẻ hiện qua quá trình hành chức của câu hỏi, cũng như những nét tinh tế, độc đáo trong việc giải thuyết các thõng tin phụ, những thông tin có giá trị ngữ nghĩa - ngữ dụng cao ỏ' từng ngòn ngữ cụ thể Từ đó, có thể tư rèn

Trang 8

luyện kỹ năng tạo câu hỏi và từng bước tự xây dựng cho mình có được một mức độ "cảm thức bản ngữ" (language intuition) nhất định trong quá trình giao tiếp, làm việc bằng hai thứ tiếng này Trong cấu trúc hội thoại, câu hỏi luôn giữ một vai trò rất quan trọng và có tần số xuất hiện cao Nó không chỉ nhằm tìm kiếm thông tin, lời giải đáp, mà còn ]à phương tiện hữu hiệu và thông dụng nhất để m ờ đầu, duy trì, chuyển hướng cuộc thoại, thay đổi để tài giao tiếp, điều chỉnh hay tái khẳng định thông tin Do vậy, việc nắm vững các đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng trong từng loại câu hỏi sẽ giúp cho các bên tham gia giao tiếp chủ động, tự tin hơn trong quá trì^h tham gia hội thoại, làm cho cuộc thoại diễn tiến thành công.

2.2 Ý NGHĨA LÍ LUẬN.

Về phương diện lý thuyết, công trình nghiên cứu đối chiếu này có ý nghĩa quan trọng:

T h ứ n h ấ t, ở mức độ nhất định, nó góp phần khẳng định hiệu lực, khả năng phát hiện và khái quát của khung lý thuyết nghiên cứu ngôn ngũ theo định hướng ngữ nghĩa - ngữ dụng học Một lý thuyết có hiệu lực nghiên cứu cao phải là một lý thuyết cho phép mô tả, nghiên cứu một cách chính xác, đầy đủ cho nhiều (nếu không muốn nói là tất cả) ngôn ngữ khác nhau Nó phải bao quát và có hiệu lực giải thích cho từng hiện tượng ngôn ngữ

cụ thể Tiến trình nghiên cứu ngôn ngữ học đã cho thấy rõ rằng, việc nghiên cứu đối chiêu giữa các ngôn ngữ cho phép tùng bước nhận thức được các hạn chế (có khi là tử huyệt) của m ột khung lý thuyết mà trước đó không thể bị phát hiện nếu chỉ giới hạn trong phạm vi một vài ngôn ngữ Chẳng hạn, cách phân loại các từ loại chỉ dựa vào các tiêu chí hình thái học được phổ biến trong truyền thống nghiên cứu ngữ pháp An - Âu đã giảm hiệu lực khi áp dụng vào nghiên cứu các thứ tiếng như tiếng Việt, tiếng Trung Quốc; T h ứ hai, thông qua việc kiểm nghiệm, chuyên khảo cũng có thể tham gia bổ sung vào khung

lý thuyết những ngoại lệ, những đặc điểm chưa dược bao quát trong phạm vi nghiên cứu (nếu có); T h ứ bã, thông qua việc đối chiếu hành vi ngôn ngữ hỏi, một trong những hành

vi ngôn ngữ có sự thể hiện một cách tập trung các nhân tố thuộc về ngữ nghĩa - ngữ dụng , cấu trúc, chức năng, công trình này sẽ góp phần, trong chừng mức nhất định, vào việc tạo tiền đề cơ sở, cho những công trình nghiên cứu đối chiếu loại hình hành vi ngón ngữ ở những phạm vi lớn hơn Nhận thức là một quá trình Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đối chiếu các phương tiện ngữ dựng bổ trợ giữa tiếng Anh và tiếng Việt, nếu không có những công trình nghiên cứu về từng phạm vi cụ thể thì sẽ không thể có các cóng trình nghiên cứu đối chiếu ờ phạm vi, tầm mức cao hơn

Trang 9

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Chúng tôi thực hiện để tài này với những mục đích xác định Với tư cách là một nsười vừa làm công tác giảng dạy tiếng Anh, vừa nghiên cứu ngôn ngữ, thì việc thực hiện một đề tài nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ là thích họp, giúp cá nhân chúng tôi

có thêm những hiểu biết cần thiết để hoàn thành tốt hơn công việc chuyên môn: giảng dạy tiếng Anh cho các đối tượng người Việt học tiếng Anh v ề mặt ích lợi xã hội, việc thực hiện tốt đề tài này sẽ, ở một mức độ nhất định, cung cấp một công trình phân tích đối chiếu các phương tiện ngữ dụng bổ trợ ở bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa câu hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt - một mảng trống mà, theo chúng tôi đựơc biết, cho đến nay chưa được nghiên cứu một cách có hộ thống Mục đích cụ thể của việc nghiên cứu đề tài này là tìm ra những tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa - ngữdụng giữa các phương tiện ngữ dụng bổ trợ trong câu hỏi chính danh tiếng Anh và Việt Những kết quả đạt được có thể được vận dụng vào phục vụ các mục đích lí luận và thực tiễn da dạng

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

4.1 ĐỀ TÀI CỦA CHUYÊN KHẢO.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình được thể hiện một cách khái quát qua

tên gọi của đề tài: “N g h iên cứ u đối ch iếu các p h ư ơ n g tiện n g ữ n g h ĩa - n g ữ d ụ n g b ổ trợ

trong cáu h ỏ i ch ín h danh trong tiếng A n h và tiếng V iệt Chúng tôi muốn lưu ý đến bốn vấn đề: (1) Trong công trình này, nội dung của thuật ngữ “ so sánh” đựợc hiểu là phương thức nhận thức, tư duy khoa học, được sử dựng trong tất cả các quá trình nhận thức, phân biệt với cách hiểu “so sánh“ như một phương pháp nghiên cứu CO' bản trong ngôn ngữ học; (2) “Đối chiếu” được hiểu là một phương pháp nghiên cứu có một hệ thống nguyên tắc, thủ pháp nghiên cứu riêng, khác với phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh lịch sử (Cũng cần nói thêm rằng phương pháp đối chiếu có kế thừa và sử dụng nhiều yếu tố, thủ pháp của nghiên cứu miêu tả và so sánh lịch sử); (3) Khái niệm

“ngữ nghĩa - ngữ dụng” được hiểu là sự thống hợp (Thuật ngữ của GS Đỗ Hữu Cháu [11]) của ngữ dụng dổi với ngữ nghĩa, sự tiếp cận ngữ dụng học dối vói ngữ nghĩa Trong ngữ nghĩa có ngữ dụng và trong n sữ dụng có ngữ nghĩa Chúng tòi sẽ tường giải thêm về vấn

9

Trang 10

đề này ở chương 1 của luận án; (4) “Câu hỏi chính danh” là những câu hỏi hướng đích,

là những câu hỏi nêu ra những thông tin mà người hỏi không biết và thực sự muốn biết

Đó là những câu hỏi được đặt ra trong những hoàn cảnh mà, theo như Tiến sĩ Lê Đ ô n 2nhận xét, J Searle và nhiều tác giả khấc đã xác định là có những đặc trưng cơ bản sau: a

Người nói không biết câu trả lời; b Người nói muốn biết cảu trả lòi và hướng tói

người đối thoại đê n h ậ n được th ô n g tin đó Có thể nói rằng, cáu hỏi chính danh là bộ phận trung tâm cốt lõi trong các kiểu câu hỏi cùa mỗi ngón ngữ Những vấn đề ngữ nghĩa

- ngữ dụng liên quan đến cáu hỏi chính danh có vai trò quan trọng hàng đầu đối với việc nghiên cứu về câu hỏi nói chung

4.2 CÁC NGUYÊN TẮC, PHẠM VI PHÂN TÍCH Đ ố i CHIÊU.

Do nhiệm vụ đặt ra cho công trình là xác định nhũng tương đồng và khác biệt về mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa cáu hỏi tiếng Anh và Việt nên việc xác lập phạm vi đối chiếu được dựa trên những nguyên tắc, những bình diện sau:

(i) Đối chiếu ờ đây là đối chiếu song ngữ Cả tiếng Anh và tiếng Việt dều vừa là ngôn ngữ đối tượng vừa là ngôn ngữ phương tiện trong việc đối chiếu Trong trường hợp cần thiết, để làm sáng rõ những đặc điểm cụ thể, một trong hai ngôn ngữ sẽ được coi là ngôn ngữ đối tượng và ngôn ngữ còn lại sẽ là ngôn ngữ phương tiện

(ii) Cũng như bất cứ mọi sự nghiên cứu, việc nghiên cứu đối chiếu dấu hiệu là điều tất yếu

vì, để có cơ sở cho việc so sánh tổng quát và hệ thống hoá, bắt buộc phải phân tích các yếu tố, tiểu loại, các phương diện, các cấp độ, các thuộc tính cụ thể của đối tượng được khảo sát Xét về mặt bản thể, câu hỏi chính danh là một thực thể thống họp nhiều yếu tố: cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng Vì vậy, để có được bức tranh toàn cảnh về đối tượng nghiên cứu, công trình này nghiên cứu câu hỏi của hai thứ tiếng về ngữ nghĩa - ngữ dụng Các đặc trưng về cấu trúc được quan tâm trong chừng mức / quan hệ cần thiết để làm sáng

tỏ những đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng Nếu nhìn nhận cấu trúc dưới góc độ ngữ dụng thì sẽ hiểu thêm về cấu trúc Và, nếu dùng cấu trúc đê nhìn nhận vấn đề ngữ dụng thì sẽ, ờ mức độ nhất định, khách quan hoá được các nhân xét, các kết quả nghiên cứu

(iii) Phạm vi đối chiếu được tiến hành trên các bình diện chính sau đây

+ Đối chiếu các phạm trù ngữ nghĩa - ngữ dung tồn tai trong câu hỏi như tính lựa chọn/ khôns; lựa chọn, tính hiển ngôn/ ngầm ẩn, sự khẳns định/ khỏns khẳng định/ phu định, tình thái nhận thức/ tình thái trách nhiệm, thông tin đã biết/ thông tin chưa biết - cần biết

Trang 11

+ Đối chiếu cấu trúc - hệ thống nhằm làm sáng rõ những tương đổng và khác biệt về khuôn hỏi, mẫu câu, các dấu hiệu ngữ vi như động từ ngữ vi, tác tử cấu trúc-tình thái và các phương tiện ngữ dụng bổ trợ khác.

+ Đối chiếu chức nãng - hoạt động để tìm ra sự tương đổng và khác biệt về chức năng mà các kiểu loại câu hỏi ờ hai thứ tiếng đảm nhận trong giao tiếp cũng như khả nănơ chuyển đổi, hành chức trong giới hạn cùng cấp độ hoặc xuyên cấp độ của các câu hỏi khi gắn vói các chủ thể giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp sinh động, đa dạng, khả biến

đa dạng, sự dung hợp ở các mức độ nông, sâu khác nhau của các kiểu thông tin ngữnghĩa - ngữ d ụ n g Các hiện tượng được nghiên cứu trong chuyên khảo thuộc về bìnhdiện ngữ nghĩa - ngữ dụng của hành vi hỏi Hành vi hỏi xuất hiện là do hai nhân tố có tính nguyên tắc M ột là tình trạng thiếu thông tin Hai là nhu cầu muốn biết thông tin đó Hai nhân tố này có sự liên quan trực tiếp đến chủ thể của hành vi hỏi, với tư cách là chủ thể của tình trạng trên và cũng là nguồn của nhu cầu muốn khắc phục tình trạng đó Hành vi hỏi sẽ khỏng được hiện thực hoá nếu thiếu đối tượng để hỏi Đối tượng được hỏi phải là người mà theo đánh giá của người hỏi là, có hoặc không có khả năng "sở hữu" thông tin này Và người hỏi cho rằng, nếu không hỏi, thì sẽ không được cung cấp thông tin Như vậy, vai trò của chủ thể hỏi và người được hỏi đối với hành vi hỏi là rất quan trọng Bên cạnh đó, các nhân tố như hoàn cảnh giao tiếp, môi trường xã hội, vị thế giao tiếp, hay nói cách khác là ngữ cảnh (hiểu theo nghĩa rộng) giao tiếp, cũng tham gia, tác động vào quá trình giao tiêp Tính chất của chả đề giao tiếp cũng có những ảnh hưởng nhất định Hỏi thủ trường khác với bạn bè Hòi người nhà khác với hỏi người qua đường Hỏi ờ trong hội nghị khác với hỏi ờ hành lang v.v, Mật khác, việc tạo câu hỏi bị chi phối, quy định bởi rất nhiều nhân tố như: ý đổ ciao tiếp, chiến lược giao tiếp, năng lực ciao tiếp của chu thể Tính chất của chủ đề eiao tiếp, những đặc điếm cá nhân và xã hội của đối tượnq giao

Trang 12

tiếp như giới tính, độ tuổi, trình độ văn hoá cũng có những tác động, ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng cáu hỏi của chủ thể Nói tóm lại, chủ thể giao tiếp ]à những con người với những đặc trưng cá nhân, xã hội hết sức da dạng, phức tạp Ngữ cảnh và chủ

đề giao tiếp với tính khả biến cao là những nhân tố "bên ngoài" có ảnh hưỏng lớn tới hành

vi hỏi Mặt "bên trong" của hành vi hỏi là tính đa dạng, phức tạp của các loại nội dung mệnh đề và của các phạm trù tình thái luôn nằm trong tình trạng tác động qua lại, quy định lẫn nhau, là các kiểu loại thông tin cần biết trong tương quan với những kiểu loại cáu hỏi khác nhau, và các cách thức xây dựng tâm điểm thông báo Vai trò của tiền giả định trong việc xây dựng câu hỏi, sự dung hợp đan xen ở những mức độ nông sâu của các thông tin phụ, v.v cũng là mặt bên trong của hành vi hỏi Tất cả những yếu tố đó tạo nên một bức tranh cực kỳ phức tạp và đa dạng về hành vi hỏi Tinh hình càng trờ nên phức tạp khi đối chiếu các đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng của hành vi hỏi thuộc hai ngôn ngữ khác nhau: tiếng Anh và tiếng Việt Với sự khác biệt khá lớn về môi trường hành chức, truyền thống vãn hoá, đặc trưng dân tộc, cơ chế ngôn ngữ , hành vi hỏi, tuy mang tính phổ quát, nhưng chắc chắn sẽ có những cách thức hiện thực hoá khác nhau, và có những điểm khác biệt về ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa tiếng Anh và tiếng Việt

5.2 QUY TRÌNH, THỦ PHÁP NGHIÊN c ứ u

Do những đặc trưng trên đây của đối tượng nghiên cứu kết hơp với mục đích phân tích đối chiếu, nên trong chuyên khảo, phương pháp khai thác đối lập các hiện tượng liên quan đến câu hỏi của từng thứ tiếng được sử dụng triệt để làm cứ liệu cho việc đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Qúa trình thực hiện đề tài, về đại thể, có thể được phân chia thành hai bước

và luôn có sự vận dụng một cách linh hoạt giữa các bước như sau:

Bước 1: Trons quá trình khảo sát tư liệu, các hành vi ngôn ngữ được phân tích trong mối tương quan với hoàn cảnh, ngữ cảnh với tất cả những nhân tố bên trong và bên ngoài ngỏn ngữ như người nói, người nghe, ý đồ giao tiếp, tiền giả định, các thao tác suy luận, lập luận bằng việc sử dụng một cách linh hoạt các thủ pháp phân tích như cải biến, so sánh, đối lập trong tương quan đối chiếu với các kiểu ngữ cảnh nhằm tìm ra các yếu tố cần yếu của ngữ cảnh sử dụng Từ đó, tập hợp các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, phân tích và chọn lọc một cách thích hợp, có tính kế thừa, các thành tựu nahiên cứu của các tác giả đi trước nhằm dựng lên một bức tranh chung về những biểu hiện cụ thế, các đặc trưng CO' bản của câu hòi chính danh trong tiếng Anh cũng như tiếns Việt

Trang 13

Bước 2: Dựa vào các thành quả đã đạt được ờ bước một, tiến hành đối chiếu các đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng của các câu hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt, tìm ra những điểm tương đồng, những nét khác biệt về tất cả các mặt như cơ chế vận hành có tính đều đặn của từng hệ thống ngổn ngữ liên quan đến hành vi ngôn ngữ, các biểu hiện hình thức của các đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ dụng, các loại nhân tố chi phối ảnh hưởng câu hỏi như: người sử dụng, ngữ cảnh, kiểu loại trọng tâm thông báo, tiền giả định, Chuyên khảo này

sẽ sử dụng đồng thời các thủ pháp phân tích định tính và định lượng, v ề mặt định lượng, thủ pháp phân tích này dựa vào các kết quả thống kê nhằm chỉ ra những phương tiện, những xu thế phổ biến liên quan đến đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở đó, thủ pháp định tính được sử dụng nhằm bổ sung cho những hạn chế của thủ pháp định lượng bằng cách đánh giá về tính cần yếu, tách cái cần yếu ra khỏi cái ngẫu nhiên, loại bỏ những nhân tố

có tính cá nhân, hạn hẹp của của ngũ cảnh dể làm nổi bật những xu thế chủ yếu chi phối

sự hình thành và hoạt dộng của đối tượng nghiên cứu

5.3 NHỮNG PHƯƠNG THỨC Đ ổ i CHIẾU CHỦ YÊU ĐƯỢC TUÂN

THỦ TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI:

(i) Phương thức đồng nhất / khu biệt cấu trúc:

Đối chiếu các các yếu tố, các đơn vị, các cấp độ, các phương diện tạo nên cấu trúc - hệ thống câu hỏi trong tiếng Anh và Việt Sự đối chiếu có thể bắt đầu từ đon vị, yếu tố đến tiểu hệ thống rồi đến hệ thống lớn hơn của các loại hình câu hỏi hoặc có thể là quá trình ngược lại nhầm bóc tách các đặc điểm cùa các kiểu loại câu hỏi Trong quá trình đối chiếu, luôn có sự vận dụng một cách linh hoạt giữa diễn dịch và quy nạp

(ii) Phương thức đổng nhất / khu biệt chức nâng:

Đối chiếu chức nãng tạo câu của các phần tử, bộ phận cấu thành câu hỏi như từ hỏi, các tác tử cấu trúc, tác tử tình thái, tác tử cấu trúc - tình thái, khuôn hỏi, Phương thức dối chiếu chức năng giúp xác định vai trò của các yếu tố được sử dụng cũng như đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng của sự khuyết vắng các yếu tố cấu thành càu hỏi, ,

(iii) Phương thức đồng nhốt / khu biệt hoạt động:

Phương thức này xác định sự thông dụng, phổ biến của các kiểu loại câu hỏi Phưons thức đổng nhất / khu biệt hoạt động là một bước cụ thê hoá hơn những đặc điểm cấu trúc và chức năng của câu hỏi trong hai thứ tiếng, giúp đi sâu vào việc sử dung ncóii ngữ Đáy là một trong những phương thức đặc thù trong nghiên cứu ngữ dụng học

5.4 THỦ PHÁ P LÀM VIỆC VÓI T Ư LIỆU:

Trang 14

(i) Khảo sát câu hỏi tiếng Anh và Việt trẽn phiếu tư liệu ở tất cả các bình diện: phương tiện biểu hiện, nội dung ngữ nghĩa, trật tự xuất hiện theo tuyến tính, Từ đó, cố gắng phát hiện những tương đồng và khác biệt giữa câu hỏi của hai thứ tiếng.

(ii) Xem xét chi tiết tùng phiếu tư liệu ở từng cấp độ để tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa câu hỏi tiếng Anh và Việt về số lượng đơn vị từ vựng, tầm tác động của từ hỏi, sự tương hợp vái ngữ cảnh, khả năng thay thế từ vựng và kết cấu trên trục hệ hình (trục liên tưởng) Sự quan sát tỉ mỉ như vậy sẽ cho phép phát hiện mức độ chính xác, khéo léo của việc chuyển dịch cụ thể trên phiếu tư liệu song ngữ Anh - Việt

(iii) Việc miêu tả, so sánh đối chiếu được tiến hành có trình tự theo tùng nhóm vấn đề, sử dụng các thủ pháp như phân tích đối lập, phân tích thành tố, phân tích cải biến, thống kê định lượng,

5.5 KHÁI QUÁT HOÁ VÀ HỆ THỐNG HOÁ K ẾT q u ả k h ả o SÁT:

Các hiện tượng, kết quả khảo sát được xếp thành những nhóm vấn đề để miêu tả và so sánh tương phản Trong các nhóm vấn đề, các phần tử được phân loại theo tiêu chí định tính và định lượng nhằm tìm ra những yếu tố chi phối, tác động đến hàm lượng ngữ nghĩa

và và hiệu quả hướng đích (ngữ dụng) của câu hỏi tiếng Anh và Việt

6 NGUỔN TƯ LIỆU ĐƯỢC s ử DỤNG:

- Các bản dịch song ngữ Anh - V i ệ t

- Các sách, báo đcm ngữ tiếng Anh, tiếng V i ệ t

- Các loại từ điển và công trình nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt

- M ột số phim có phụ đề

- Các cuộc thoại trực tiếp với người bản ngữ, phiếu khảo sát trên đốị

tượng người bản ngữ (nghiệm thể viên)

7 BỐ CỤC CỦA CHUYÊN KHẢO.

Trừ phẩn M ở đầu, phần Kết luận, phần Phụ lục và phần Sách tham khảo, chuyên khảo này gổm ba chương được sắp xếp theo trật tự sau đâv :

Chương 1: Những vốn đề lý luôn chung của việc phân tích đối chiếu c á c phương tiện ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trơ trong câu hỏi chính danh tiếng Anh và tiếng Việt.

Trang 15

Chương 2: Nghiên cứu đối chiếu m ột số kiểu loại phưong tiên biểu đạ t thông tin ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trợ liên quan đến vai trò, vị thế của những người tham gia giao tiếp.

Chưcmg 3: Nghiên cứu đối chiếu c á c phương tiện thông tin ngữ nghĩa - ngữ dụng bổ trợ hàm chứa thông tin định hướng trà lòi và thông tin về cá c

đ ặ c điểm của cảnh huống.

15

Trang 16

PHẦN B:

PHẦN PHÁT TRIỂN

Trang 17

CHƯƠNG 1

^ Đ A Ỉ H Ọ C Q U Ố C G IA HÁ NỘI TRUNG TÂM THÒNG TIN THƯ VIÊN

O T / 4 ^ 6

NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU CÁC PHƯƠNG TIỆN NGỮ

NGHĨA - NGỮ DỤNG B ổ TRỢ TRONG CÂU HỎI

CHÍNH DANH TIẾNG ANH VÀ TIÊNG TIÊNG VÍÊT.

1.1 NGỮ DỤNG HỌC, HÀNH VI NGÔN NGỮ VÀ VIỆC PHÂN TÍCH

ĐỐI CHIẾU CÁC HÀNH VI NGÔN NGỮ.

1.1.1 Ngữ dụng và ngữ nghĩa.

Thuật ngữ "dụng học" (pragmatics) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp rip'aym a với nghĩa

"công việc" "hành động" do một trong nhũng nhà sáng lập ký hiệu học là Charles Morris

đề xướng và áp dụng vào việc phân chia ký hiệu học thành các ngành học khác nhau Xuất

phát từ những tư tường của Ch Peirce, Ch Morris đã phân chia ký hiệu học thành: (i)

Nghĩa học: học thuyết về quan hệ giữa các ký hiệu và khách thể hiện thưc; (ii) Kết học:

học thuyết vể quan hệ hình thức giữa các ký hiệu; (iii) Dụng học: học thuyết vể quan hệ

giữa ký hiệu với người sử dụng chúng Dụng học nghiên cứu hành vi của ký hiệu trong

quá trình giao tiếp thực tế Người sử dụng ký hiệu là những cơ thể sống, là con người với

tất cả các hiện tượng, đặc điểm sinh học, tâm ]ý học và xã hội học Các định nghĩa về

dụng học có thể tìm thấy ở G Gazdar [111], S.T.Levinson [131], Nguyễn Đức Dân [18]

và nhiều tác giả khác Hiện nay, định nghĩa về dụng học trên đây cũng đã có nhiều thay

đổi Từ trước cho đến nay, người ta thường nghĩ rằng giao tiếp chủ yếu chỉ có chức năng

thỏng till về hiện thực khách quan bên ngoài nsôn ngữ Các công trình nghiên cứu trong

những năm gần đây đã chỉ ra rằng: Khi giải thuyết câu, phải cảnh giác với “áo giác miêu

tả” (fallacy - cách dịch từ thuật ngữ tiếng Anh của GS TS Diệp Quang Ban) Ao giác

miêu tả là quan điểm cho rằng đích duy nhất khi ncười nói thực hiện một xác tín là miêu

tả một sự tình nào đó Thực tế là, một câu - phát ngôn bao giờ cũng nói nhiéu hơn nội

dung miêu tả (nội duns tường minh) Muốn hiểu đưọc nghĩa tường minh, muốn đánh giá

17

Trang 18

tính chân/ ngụy của một câu cũng phải xác định được hệ quy chiếu trong thế giới khả hữu (possible worlds - cách chuyển dịch của GS TS Đỗ Hữu Châu) Một thông tin đưa ra không phải chỉ để miêu tả mà bao giờ cũng có chủ định (intention), thể hiện niềm tin (belief), theo một kế hoạch (plan) nhất định và bằng một loạt hành động (actions) Dụng học nghiên cứu ý định khi nói, niềm tin theo một k ế hoạch và một loạt các hoạt động hướng đích khi phát ngôn Có thể đặt những cáu hỏi sau về thông tin trong phát nsôn: Thông tin được nói ra với mục đích gì ? Thông tin dó là gì ? Thông tin là lõi của phát ngôn Người nói, thông qua lõi thông tin này (bao gồm cả thông tin mệnh đề, thõng tin tình thái, thông tin về lực ngôn trung), nhằm thực hiện hàng loạt mục đích khác nhau Vì vậy, không thể tách ngữ nghĩa khỏi ngũ' dụng Nội dung ngữ nghĩa được tổ chức dể phục

vụ ngữ dụng Thông tin được tổ chức theo các kiểu khác nhau để đạt đích Không có đường ranh giới rõ nét giữa ngữ nghĩa và ngữ đụng Trong ngữ nghĩa có ngữ dụng và trong ngữ dụng có ngữ nghĩa Nói cách khác, ngữ nghĩa được thống hơp (Thuật ngữ của

GS, TS Đỗ Hữu Cháu [11]) trong ngữ dụng Ngữ dụng được tích họp vào ngữ nghĩa Ngữ dụng thống họp ngữ nghĩa và cú pháp Trong cuốn Linguistics (Ngôn ngữ học), Jean Aitchison cho rằng ngữ dụng học có vai trò tổng hợp, bao trùm đối với các lĩnh vực ngôn ngữ học tiền dụng học, và Aichison mô tả mối quan hệ đó một cách khái quát trong lược

đồ ở phụ lục 1 của công trình này này Chúng tôi sử dụng thuật ngữ “ngữ nghĩa - ngữ dụng” với cách hiểu như vậy về mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ đụng

Cho đến nay, đã xuất hiện hàng loạt công trình nghiên cứu về dụng hoc của các tác giả như: S.T Levinson [131], I.s Allwood [96], G Gazdar [111] ở Việt Nam có thể nói đến các Giáo sư Hoàng Phê [55], Nguyễn Đức Dàn [18],[19], Cao Xuân Hạo [37], Đỗ Hữu Châu [11], Diệp Quang Ban [2], Nguyễn Thiện Giáp [35] và Lê Đông [31], Theo chúng tôi, từ các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu trên, có thể rút ra những nhận xét sau:

(1) Phạm vi quan tâm của ngữ dụng học rất rộng Khái niệm “ngữ cảnh” nằm trong mối quan hệ bổ sung với “ hành vi ngón ngữ “ và, sự tương tác giữa hai khái niệm này tạo thành lõi cơ bản cửa các công trình nghiên cứu ngữ dụng Việc trình bày các quy tắc của

sự tưong tác này là nhiệm vụ của ngữ dụng học

(2) N gữ dụng học đáp ứng được cách tiếp cân thons hop đối vói ngôn nsữ Nó khắc phục được nhũng hạn chế của một thời kv mà châm ngôn vé tính khu biệt dã tro thành hòn đá tảng của ngôn ngữ hoc cấu trúc Với sự xuất hiên và phát triến cua ngữ dunc học,

Trang 19

khoảng cách giữa ngốn ngữ và đời sống ngày càng được rút ngắn hơn qua việc người ta nhận thức được rằng không chỉ ngón ngữ vẽ nên bức tranh về thế giới mà dời SỐI12 cũng cho chìa khoá để hiểu nhiều hiện tượng của ngón ngữ và lời nói Chiều thứ hai của mối quan hệ này có tính quyết định cho sự thành công của các công trình nghiên cứu neữ dụng học [1], Từ nhận xét trên , có thể thấy ràng, cần phải hiểu rõ về phần cốt lõi trong nghiên cứu ngữ dụng học : khái niệm ngữ cảnh và hành vi ngôn ngữ Ngữ cảnh, dưới góc

độ dụng học, được hiểu không chỉ là mối tương quan định vị trong văn bản, trong không gian, thời gian giao tiếp, mà còn bao gồm những mối quan hệ với các chủ thể giao tiếp, với vốn tri thức nền và ý kiến cùa họ, với mục đích, định hướng giao tiếp, tiền giả định Phức thể các nhân tố đã nêu tạo thành một bức tranh đa dạng về ngữ cảnh Sử dụng từ

"phức thể", chúng tôi muốn nói đến mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố này - chẳng hạn như giũa người nói và người nghe với tất cả các đặc trưng: giới tính, lứa tuổi, trình độ học vấn, tính chất của mối quan hệ, vị thế xã hội - gia đình V V Liên quan đến ngữ cảnh còn có rất nhiều nội dung quan trọng khác Nhiều nhà nghiên cứu đã có nhận xét rằng "Sự quan tâm đến dụng học được bắt đầu ở những nơi mà mối dây liên hệ giữa ngữ cảnh và hành vi ngôn ngữ căng tới mức tối đa" [1, 6] Cách diễn đạt này có thể được hiểu một cách cụ thể hơn khi chúng ta xác định được một số nội dung cụ thể mà nhận xét này hướng tói:

T h ứ n h ấ t, đây là phạm vi của những yếu tố "phi miêu tả" Chẳng hạn, khi bạn muốn giải thích cho con bạn từ "sư tử", bạn có thể dẫn con bạn vào vườn thú và nói rằng "Hãy nhìn này, đây là con sư tử" Nhưng, không có vườn thú nào mà ở đó bạn có thể chỉ ra cho con bạn các từ "nếu", "này" hoặc "tuy nhiên" (Ví dụ của B Rassel - dẫn theo [1, 6])

T h ứ hai, đày là phạm vi của các từ tình thái, nhữns yếu tố thường đaợc dùng để biểu thị thái độ của người nói Thủ pháp phân tích cơ bản là vạch ra những ngữ cảnh điển hình của chúng, những điều kiện và các quy tắc sừ dụng Từ đó, có thê thấy rằng, ờ những trườns hợp nhất định, ý níĩhĩa của các yếu tố gắn bó chặt chẽ với cách sử dụng Việc chú trọng vào nhân tố con người cũng cho thấy một số nội dung quan trọng khác của ngữ cảnh Trong đó, có sự phụ thuộc cùa ý nghĩa vào các nhân tố tâm lý và logic Chẳng hạn như các cấp so sánh tính từ xét trons tương quan đối với người sử dụnc Mặt khác, người ta cũng thường lưu ý đến sự phân biệt giữa ngữ cảnh hướns xã hội (societal context) và ngữ cảnh nảy sinh do quá trình tương tác bằng lời nói (social context) cũng đươc xem xét Loại ngữ cảnh hướng xã hội này là nhân tố tạo nên "sự khác biệt giữa các ngôn ngữ trong cách

19

Trang 20

dùng" [18, 12] Đây là loại ngữ cảnh có tác dụng chi phối cách thức sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp với từng loại xã hội nhất định Vai trò của ngữ cảnh và việc phân tích ngữ cảnh là rất quan trọng Có thể nói rằng chính ngữ cảnh vừa mở ra con đường đi vào dụng học, vừa đảm bảo cho dụng học một sứ mệnh tổng hợp Việc phân tích n°ữ cảnh trờthành phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong các cõng trình nghiên cứu dung học.

1.1.2 Hành vi ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ hỏi.

1.1.2.1 Khái lược về HVNN và bản chất của HVNN hỏi.

Ở mức độ khái quát nhất, ngôn ngữ có thể được định nghĩa "là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người" (V Lênin) Việc quan niệm ngôn ngữ trước hết là một phương tiện để thực hiện hoạt động hướng đích nào đó đã khiến người ta phải quan tăm tới những khả năng làm công cụ của các phát ngôn Quan niệm này dã mang đến cho các phát ngồn ý nghĩa có tính "hành vi" Thuật ngữ “hành vi ngôn ngữ” lần đầu tiên được đề cập trong các công trình nghiên cứu của J Austin (1961) và đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học theo trường phái chức năng sử dụng Ở giai đoạn những năm I960, losic học vẫn có sự ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ học Đơn vị câu thường dược đánh giá theo logic lưỡng trị (đúng / sai), và việc phân tích câu chủ yếu được dựa vào các khái niệm thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ Trong tình hình đó, việc xem xét các hoạt động của lời nói theo thuyết hành vi ngôn ngữ cho phép phát hiện bản chất của nhiều hiện tượng ngôn ngữ m à cho tới lúc dó vẫn còn bị xem nhẹ Cho đến nay, có nhiều cách phân loại vể hành vi ngôn ngữ nhưng cách phân loại của J Searle [146], J Austin [98],[157] và A.Wierzbieka [155] được chú ý nhất Đây là những cách phân loại dựa vào biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi Hành vi ngôn ngữ hỏi là một loại hành vi điển hình trong bảng phân loại của các tác giả trên Bản chất của hành vi hỏi là loại hoạt động bằng lời với đích ngữ dạng chủ yếu ]à thu nhận thông tin hoặc gây ra các phản ứng hồi đáp khác nhau từ tiếp thê / chủ thể tiếp nhận (recipient / affected participant) Thành phẩm của hành vi ngôn ngữ hỏi là các “câu - phát ngôn’’ hỏi Câu hỏi chính danh thường là sản phẩm của hành vi hòi với mục đích thu nhận thôns tin

Thuyết hành vi ngôn ngữ, khi được áp dụng vào nghiên cứu, đã dẫn đến sự thay đổi lớntrong quan niệm về ý nghĩa Ý nghĩa, xét trong tương quan với hành vi nsón ngữ, được coi như là thành phần quan hệ nguyên nhân trong mô hình có tính biểu tượng và đon giản hoá của thuyết hành vi luận: "kích thích - phản ứng" Dưới góc độ này, ý nghĩa được xem xét

Trang 21

dựa vào khả nãng tác động của nó đến người tiếp nhận và gây nên một phản ứng hồi đáp (hành động - tâm lý) nào đó Đó là quá trình dụng học hoá ý nghĩa Quá trình này là hệ quả về mặt nhận thức của việc vận dụng khái niệm hành vi ngôn ngữ vào nghiên cứu ngữ nghĩa Thông qua khái niệm này, người ta thấy rõ tính bị khống chế (sự ]ệ thuộc vào các quy tắc, quy ước sử dụng) và tính có mục đích rõ nét của ngôn ngữ Từ đó, ý nghĩa được gắn với quy tắc sử dụng Nói cách khác, ý nghĩa được ngữ pháp hoá Sự dụnơ học hoá ý nghĩa này đã dẫn đến những hệ quả có tính thực tiễn sâu sắc Ý nghĩa của các phát ngôn ngày càng được xem như không thể tách khỏi ngữ cảnh (hoàn cảnh) dune học “Còn ý nghĩa của nhiều từ thì bắt đầu được định nghĩa qua việc chỉ ra mục đích giao tiếp của hành vi ngôn n g ữ ” [1,6].

thoại (Conversational implicature) Ví dụ: A - Người ủn chay có ăn thịt bám viên không?

B- Gù có m ôi không ? [157], Trong mẩu thoại này, việc B không trả lời trực tiếp vào câu

hỏi của A m à đưa ra một câu hỏi khác có thể được xem như là sự đi chệch khỏi quy tắc hỏi - trả lời, vi phạm phương châm quan hệ (relation maxim [157]) trong hội thoại một cách có chủ ý Các nhân tố phi quy ước trong ý nghĩa của hành vi ngón ngữ là rất đáng quan tâm đối với dụng học Vì vậy, trong cách hiểu hẹp về nhiệm vụ của dụng học, người

ta thường giới hạn đối tượng nshiẽn cứu của nó trong phạm vi các hàm ngôn cá thể hoá (particularized implicature)

1.1.2.3 Khái niệm chủ thể phát ngôn.

Liên quan trực tiếp đến khái niệm hành vi nsôn ngữ là khái niệm chủ thê phát ngòn (speaker) Khái niệm này hao chứa nhiều nhất những vấn để cần yếu cua dụng học Chủ

Trang 22

thể phát ngốn, dù có thể chịu sự chi phối, chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, từ nhiều phía khác nhau, nhưng luôn giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với hành vi ngôn ngữ Chủ thể phát ngôn là trung tâm cùa hành vi ngôn ngữ Việc hướng tới chủ thể phát ngôn trong nghiên cứu ngôn ngữ là biểu hiện cùa sự chuyển biến từ việc phân tích ý nghĩa tĩnh sang nội dung biến động của phát ngôn Với sự chuyển biến này, con người như một phức thể tâm lý, đã trở thành trung tâm tổ chức của “ không gian ngữ nghĩa” [1],

đó là hướng phân loại của Austin và hướng phân loại của Searle Dựa vào các động từ ngữ

vi, J Austin phân loại các hành vi tại lời thành năm lớp lớn: phán xét (verdictive), hành

xử (exercitive), cam kết (commissive), ứng xử (behabitive), bày tỏ (expositive) Searle, dựa vào biểu thức ngữ vi, phân loại các hành vi tại lời thành nãm lớp lớn: Tường giải / biểu hiện (representative), chi phối / điểu khiển (directive), cam kết (commissive), biểu cảm (expressive), tuyên bố (declaration / declarative) [146],[157], Hành vi hỏi thuộc lớp

“chi phối” của Searle ở phạm vi chúng ta quan tâm thì năm loại hành vi ngôn ngữ chủ yếu trong sự liên quan đến việc phân chia các loại câu theo mục đích nói năng của ngữ pháp truyền thống, thường được ghi nhận về mặt ngữ pháp một cách phân biệt và thường xuyên nhất trong các ngôn ngữ của nhân loại Theo T Givón, các " nguyên mẫu / điển dạng" hành vi ngôn ngữ (speech act prototypes) bao gồm: a Tuyên bố (declarative); b Cầu khiến (imperative); c Nghi vấn (interrogative) Thành phẩm của điển dạng nghi vấn

là: (i) câu hỏi có/khôn? (YeslN o q u estio n ); (ii) câu hỏi có đại từ nghi vấn (W h question)

Đê tiện cho việc phân tích đối chiếu, chúng tôi dựa vào cách phán loại của T Givón Dựa vào hệ thốn2 khái niệm cùa n 2 ữ pháp chức năng, hành vi ngón nsữ bước đẩu dươc phân thành: - Tuyên bố (declarative); - Phi tuyên bố (non-declarative) Loai phi tuyén bố lại

Trang 23

được phân thành: Cầu khiến (imperative); Nghi vấn (interrogative) Loại nghi vấn lại

phân thành: (i) Yes /N o q u estio n ; (ii) W h question.

1.1.3 Cơ sỏ lý thuyết của việc so sánh đôi chiểu hành vi ngôn ngữ theo quan điểm ngữ dụng

1.1.3.1 So sánh lịch sử, so sánh loại hình và so sánh đối chiếu.

ở mức độ khái quát, việc so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ thường được tiến hành trêncác lĩnh vực cơ bản khác nhau: (i) So sánh lịch sử (cội nguồn), nhằm thiết lập nên mối quan hệ họ hàng giữa các ngón ngữ (có cùng nguồn gốc); (ii) So sánh loại hình, nhằm thiết lập nên mối quan hệ có tính đồng hình (đẳng cấu) giữa các ngôn ngữ Hai lĩnh vực nghiên cứu này tạo thành hai chuyên ngành nghiên cứu khác nhau, với nhũng phương pháp nghiên cứu riêng biệt; (iii) Ngôn ngữ học hiện đại, với những bước phát triển mới, không chỉ dừng lại ờ những mức độ, mục đích nghiên cứu nói trên, không chỉ dừng lại ở mức độ so sánh có tính chất kiểu loại về mặt ngữ pháp, mà đã và đang tiến hành những công việc so sánh ở phạm vi chức năng ngữ nghĩa - ngữ dụng với các mục đích lý thuyết

và thực tiễn Trong nhũng năm gần đây, việc so sánh đối chiếu các ngôn ngữ thường hướng tới những úng dụng trong lĩnh vực dạy tiếng và trong lý thuyết dịch bằng cách xác định những tương đồng và khác biệt ở các bình diện cấu trúc và hoạt động Việc nghiên cứu đề tài này nằm trong xu thế chung đó Vị trí của đối chiếu miêu tả và đối chiếu đặc trưng vì mục đích giảng dạy ngoại ngữ được thể hiện trong lược đồ (Nguồn: Nguyễn Văn Chiến [13,23]) ở trang 31 sau đây

1.1.3.2 Chức năng của ngôn ngữ.

Về mặt lý thuyết, xuất phát điểm quan trọng nhất ]à ở chỗ, ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội có tính phổ quát cho toàn thể nhân loại Chức nâng của ngôn ngữ mang tính phổ quát

Đó là cóng cụ tư duy, phương tiện giao tiếp của xã hội loài người Nói cách khác, bản chất "công cụ" của ngôn ngữ là phổ quát Ngôn ngữ trước hết là một hệ thống ký hiệu ám thanh Nói đến kí hiệu là nói đến tính hai mặt, mặt biểu hiện và mặt được biểu hiện Điểu này cũng mang tính phổ quát Những mục đích cụ thể có tính phân loại cũns có tính phổ quát (hỏi, cầu khiến, tườns thuật, cảm thán) Nói tóm lại, chức năng, phương tiện cũng như các mục đích cụ thể khác nhau của ngôn ngữ là manc tính phổ quát Đi vào tìm hiểu nhũng nội dung cụ thê hơn, luôn có thể nhận thấy rằng, các ngón ngữ khác nhau cũng có cách ứng xử với các hiện tượng được phản ánh cơ bản là giống nhau Việc so sánh đối

Trang 24

chiếu giữa các ngôn ngữ cũng cho thấy chúng cùng chia sẻ các đặc trưng ngữ nghĩa giống nhau ờ các hiện tượng cụ thể Đấy cũng chính ]à cái đã khiến người ta gọi chúng là các lớp tương ứng giao thoa ngôn ngữ học (cross - linguistic equivalence classes) Điều này

có nghĩa là, có ít nhất một sự tương ứng bộ phận về phương diện nghĩa giữa một hệ thống ngôn ngữ này với một hệ thống ngôn ngữ khác và có một vài (lớp) tưong ứng dịch thuật (translational equivalence) Nhũng điều vừa đề cập trên đây bàn về những phạm vi rất cụ thể của một ngôn ngữ, như các đặc trưng ngữ nghĩa của một kiểu loạiđơn vị ngữ pháp - ngữ nghĩa nào đó như thời hiện tại, dạng bị động của động từ, số nhiều của danh

từ Thuật ngữ ý nghĩa (meaning) được sử dụng ở đây với nghĩa rộng, gồm cả ý nghĩa tình thái - loại nghĩa thường được phân biệt như là nghĩa ngữ dụng Mục đích của sự nghiên cứu như vậy là hết sức rõ ràng về mặt lý thuyết Các ngôn ngữ không chỉ giỏng nhau về bản chất, chức năng, phương tiện mà ngay trong những phạm vi cụ thể, nơi mà tính đặc thù có thể đứng ra tranh giành ngôi vị số một thì những sự tương ứng có tính phổ

quát cũng được bộc lộ ở những mức độ nhất định.

1.1.3.3 Tính đồng nhất của HVNN như là co sỏ lý thuyết của nghiên cứu đối chiếu hành vi ngôn ngữ.

1.1.3.3.1 Tính chất "hành vi" của các phát ngôn, như đã nói, bắt nguồn từ chức năng công

cụ giao tiếp của ngôn ngữ Các phát ngôn được tạo ra nhằm đạt được một hiệu quả nào đó Hiệu quả này là một phản ứng nào đó của người nghe Cách thức sử dụng hành vi ngôn ngữ có tính mục đích này là chung cho mọi ngôn ngữ, chung cho mọi quá trình giao tiếp hiện thực, là tiền đề cho việc so sánh đối chiếu hành vi ngôn ngữ giữa các thứ tiếng.1.1.3.3.2 Hành vi ngôn ngữ, trong mô hình "kích thích - phản ứng", mang tính đồng nhất, bất kể việc chúng được xem xét ờ phương diện thông điệp (message) hay trao đổi (exchange) Có thể phân biệt hành vi ngôn ngữ thành hai loại cơ bản: Loại có tính vật dụng - dịch vụ (goods & service) và loại có tính thông tin (information) Ví dụ:

+ Loại có tính vật dụng và dịch vụ: 1 a Pass me the suit ! (Hãy chuyển hộ rói lọ muối);

ỉ b Get out o f nix duy light! (C út cho khuất m ắt lao).

+ Loại có tính thông tin: 2u Is it Tuesday today? (Hỏm nay ìủ thứ ba ù?); 2b When did

YOU last see your fa th e r? (Anil gặp bỏ anil lần cuối vào lúc nào?).

Với ví dụ (1), phản ứng của người nghe có thể không thành lời (non - verbal), mà là một hành động, chẳng hạn như: Đối với la: chuyển lọ muối cho người nói; Đối với lb: bỏ đi

Trang 25

Với ví dụ (2), phản ứng là các câu trả lời, chẳng hạn như: Đối với 2a: khẳng định / phủ định (hôm nay là thứ ba); Đối với 2b: cung cấp thời điểm (gặp bố lần cuối) Như vậy có thể thấy rõ rằng, hành vi ngôn ngữ với mô hình "kích thích - phản ứng", có chức năng, mục đích, hiệu quả trong giao tiếp là đồng nhất trong các ngôn ngữ Chính sự đồng nhất

về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa, chức năng trong việc thực hiện các hành vi ngôn nsữ để giao tiếp là tiền đề cơ sở thứ hai cho việc nghiên cứu đối chiếu

1.1.3.3.3 Mỗi câu - phát ngôn đều được cấu thành từ hai bộ phận cơ bản: Nội dung mệnh

đề và nội dung tình thái Nội dung tình thái là những thông tin về mục đích phát nsôn và những thông tin phụ khác như các thông tin về người nói, người nghe, các thông tin có tính đánh giá hay bằng chứng, các thông tin về khả năng, về trách nhiệm inà chủ yếu là thông tin về thái độ của người nói

Hai bộ phận nội dung cơ bản của hành vi ngôn ngữ như đã trình bày ờ trên là phổ quát cho tất cả các hành vi ngôn ngữ trong các ngôn ngữ Đây là tiền đề cơ sở thứ ba cho việc nghiên cứu đối chiếu

1.1.3.3.4 Giữa các ngôn ngữ khác nhau, hành vi ngôn ngữ mang tính đồng nhất vể bản chất, chức năng, cơ cấu nội tại và điều kiện thích dung (felicity condition) Mỗi hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi những điều kiện nhất định mới có thể thực hiện được Muốn di xe đạp thì phải có xe đạp, có thể cầm ghi đông để lái, có thể đạp được, có thể nhìn rõ đường,

có kỹ năng để đưa xe đi mà không mất thăng bằng và dù ở mức độ nào, thì ít nhất, cũng phải biết cái xe đạp được dùng để làm gì, cách sử dụng ra sao Điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ cũng vậy Trước hết phải biết ngôn ngữ đó, biết cách sử dung nó, phải có đối tượng để giao tiếp Đối tượng cũng phải biết ngôn ngữ đó (có thẻ nghe, và hiểu được) Chẳng hạn, muốn sử dụng một hành vi mệnh lệnh, người nói phải ờ vào vị thế có thể ra lệnh được và người nghe cũng phải ở vào tư thế nhận lệnh Nội dung của mệnh lệnh cũng phải có khả năng thực hiện được J Austin gọi những điều kiện như vậy là những điểu kiện thích dụng (felicity conditions), Đây là những điều kiện cần cho hành vi ngồn nsữ có thể được thực hiện Tất cả những cái đó là chung, là phổ biến cho toàn nhân loại, cho mọi hành vi ngôn ngữ ỏ' bất kỳ ngôn ngữ nào

1.1.3.3.5 Nói như vậy không có nehĩa là mọi cái liên quan đến hành vi neón ngữ đều có tính đổng nhất Có rất nhiều nội dung ngữ dụns; liên quan đến hành vi ngón ngữ có sự khác biệt, thậm chí khác biệt rất lớn giữa các ngôn n sữ khác nhau Sư khác biệt này, thông thường, được thể hiện ỏ nôi dung tình thái của phát neón Chi cán so sánh sơ lược

25

Trang 26

giữa tiếng Anh và tiếng Việt cũng có thể thấy rang tiếng Việt có một loạt các tiểu từ tình

thái với những ý nghĩa biểu cảm, cách sử dụng linh hoạt như: à, ư, n hỉ, nhé, Từ "ạ"

chẳng hạn, thường dùng để nói với người có vị thế cao hơn, hoặc để bày tỏ tình cảm thân

mật, gần gũi Ví du: ỉa Chán chào ông a (ss * ôtig chào cháu ạ!) 3b M ục áo vào cho

ấm con ạ "À" chủ yếu dùng để cấu tạo câu hỏi, có khi kèm theo ý ngạc nhiên Ví dụ: 4

M ui đ ũ đi rồi à ? Nhưng cũng có khi dùng trong câu tường thuật Ví dụ:5 Chuyện lù như vậy đó, anh à "Ư ” cũng dùng để hỏi, có khi kèm theo ý suy tư, ngạc nhiên hay hoài

nghi: 6a Anh muốn nói chuyện này ư ? ób.Châng l ẽ sự đời lại phức tạp đến th ế ư ?

óc.Bắt đầu rồi ư ? Trong tiếng Anh, không có một yếu tố từ vựng nào tương ứng với

những tiểu từ này Tuy vậy, sự khác biệt đó vẫn có thể chuyển dịch bằng những phương tiện khác nhau ở một mức độ nào đó Người ta có thể chuyển dịch các thức của tiếng Latin sang tiếng Anh bầng cách sử dụng những phương thức biểu hiện khác với độ chính xác cao, cũng như có thể chuyển dịch các câu hỏi tiếng Việt sang tiếng Anh mà không gặp trở ngại lớn với các tiểu từ tình thái Hai đối tượng hoàn toàn giống nhau mà đem ra

so sánh thì bản thân sự so sánh không có mấy giá trị, nếu không nói là một việc làm vô nghĩa So sánh đối chiếu là để tìm ra những nét tương đổng, những điểm khấc biệt Tương đồng hay khác biệt, vể mặt nguyên tắc, đểu có giá trị như nhau đối với bất kỳ sự so sánh nào Tuy nhiên, ở đây có vấn để của tương quan so sánh do mục đích đối chiếu quy định Khi sự tương đổng có tính phổ biến thì những sự khác biệt thường được chú ý, đánh giá cao hơn về mặt giá trị và ngược lại Trong ngôn ngữ học, sự so sánh đối chiếu cũng không có gì xa lạ với những điều đã nói ở trên Mặc dù, trong một số trưcmg hợp cụ thể nào đó, những nét khác biệt lại tỏ ra có nhiều giá trị "thông tin" hon

Trên đây là một phần trong những nội dung liên quan đến cơ sở lý thuyết của việc so sánh đối chiếu các hành vi ngôn ngữ về mặt ngữ dụng Để kết thúc phần này, chúng tôi xin trích dẫn một số ý kiến của F Palmer đã trình bày trong công trình "Thức và tình thái"- một công trình khảo cứu sâu rộng về nội dung có tính ngữ dụng ở hàng loạt ngôn ngữ khác nhau rất xa về loại hình cũng như địa bàn hành chức Công trình này có thẻ đưọc coi

là mẫu mực trong việc so sánh đối chiếu về một phạm vi nội dung thuộc vào loại quan

trọng nhất của ngữ dụng học: tình thái ở các ngôn ngữ đã được điều tra trên thé giới

Những ý kiến này được chúns tỏi xem như là những lời chỉ dẫn, biện hộ cho cống việc nghiên cứu đang được thực hiện trong luận án này: “Nhưng với tư cách là một cơ sơ lý luận chuns, dường như có lý để giả định rằng những chức năng cơ bản của ngón ngữ là rất

Trang 27

giống nhau trong những xã hội khác nhau, cho dù có những tập quán ngôn ngữ khác nhau

ờ khắp nơi trên thế giới, bời vì tất cả mọi người đều có nhu cầu giống nhau Thực sự đã

có bằng chứng cho thấy rằng các ngôn ngữ khác nhau đểu có mổt bộ phận giống nhau Dĩ nhiên, Sapir (1929) và W horf (1940) cũng đã nêu lên quan điểm đối lập Họ lập luận rằng ngôn ngữ quy định bản chất "thế giới" của mỗi xã hội, và vì vậy những sự khác nhau vể ngôn ngữ ngụ ý những "thế giới" khác nhau Tuy nhiên, cho dù điều đó có thật ờ một mức

độ nào đó, thì cái sự thật mà chúng ta có thể học các ngổn ngữ khác nhiều so với tiếng mẹ

dẻ và có thể địch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác với một mức độ chính xác khá cao

đã khiến người ta nghĩ rằng giữa các ngôn ngữ khác nhau có rất nhiều cái chung, rằng chúng ta có thể đồng nhất hoá ngữ nghĩa qua các ngôn ngữ và rằng chúng ta có thể đặt vấn đề về việc các ngôn ngữ khác nhau đã ứng xử như thế nào với cùng một hiện tượng" [138],

1.2 BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG CỦA VIỆC s o SÁNH

ĐỐI CHIẾU HÀNH VI NGÔN NGỮ HỎI.

1.2.1 Mối quan hệ giữa hỏi và trả lòi.

Trước hết, cần phải nói rằng, trọng tâm nghiên cứu của chuyên khảo là tập trung vào hành

vi hỏi Nhưng, công việc này khó có thể dược thưc hiện tốt nếu không đặt nó vào trong mối quan hệ thường trực với hành vi trả lời, vì hỏi và trả lời luôn gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong hoạt động giao tiếp đối thoại Tiến sĩ Lê Đòng, trong công trình của mình [31], đã trình bày một cách hệ thống và biện chứng mối quan hệ giữa hỏi và trả lời / đáp Mối quan hệ này có thể được hình dung như sau: Hỏi chính danh muốn lấy trả lời làm hiệu quả của hành vi, làm lý do để tồn tại Không mấy ai đưa ra câu hỏi nếu như biết chắc là sẽ không nhận được câu trả lời, đáp hoặc các tín hiệu phản hồi (feedback) Trả lời xuất hiện là do hỏi Nội dung của trả lời là phần còn chưa rõ nên bị bỏ trống ờ hỏi Nói tóm lại, hỏi và trả lời giả định sự tồn tại cho nhau vì hỏi là phương thức tìm kiếm kiến thức, còn trả lời là phương thức cung cấp kiến thức Hỏi thường nắm vai trò chủ động hơn trong hoạt động giao tiếp Bên trong mối quan hệ này chứa dưng rất nhiéu vấn đề liên quan đến quy tắc tổ chức câu hỏi và câu trả lời hay nói cách khác là quy tắc tổ chức liên kết đối thoại: hỏi cái gì thì trả lời cái ấy, Mối quan hệ này cũng chứa đựng những kiểu tương tác ngữ nghĩa - ngữ dụng hết sức đa dạng, có tính đặc trưnq cho các hành vi giao tiếp Hỏi và trả lời là các hành vi thể hiện rõ nhất mối quan hệ giao tiếp bằng ngôn ngữ

Trang 28

Bởi lẽ, các hành vi ngôn ngữ khác như mệnh lệnh, cam kết, khẳng định, biểu cảm thườns không đòi hỏi một "phản ứng” bằng lời Có thể nói rằng, ngoài hỏi và trả lời, người ta khó có thể tìm ờ các loại hành vi ngôn ngữ khác sự tương tác chặt chẽ về phương diện ngữ nghĩa - ngữ dụng như vậy Do đó, nghiên cứu hành vi hỏi trong mối tương quan có tính thường trực với hành vi trả lời là một điểu hết sức cần thiết Bằng cách đó, có thể phát hiện, phân tích một cách đầy đủ các đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dung liên quan đến hành

vi hỏi

1.2.2 Vai trò của ngưòi hỏi và hành vi hỏi.

Khi hỏi, người hỏi đảm nhiệm vai trò của người tìm kiếm thông tin và yêu cầu người nghe đảm nhiệm vai trò là người cung cấp thông tin đã được yêu cầu Xét trong tương quan đó, hành vi hỏi có thế được xem là cùng một lúc đảm nhiệm một số vai trò sau đáy: (i) Hiện thực hoá nhu cầu tìm kiếm thông tin của người hỏi; (ii) Hiển thị các vai tạm thời do người hỏi và người nghe đảm nhiệm; (iii) Khu trú phạm vi thông tin cần tìm kiếm - cần giải đáp Thuật ngữ “khu trú” ở đây được sử dụng với nghĩa: Phát ngôn hỏi, bằng việc xử lý các sự kiện ngôn ngữ trong tương quan với ngữ cảnh, giúp cho người được hỏi thông qua hành

vi này có thể xác định một cách chính xác thông tin mà người hỏi đang tìm kiếm Hay nói cách khác, câu hỏi, bằng một cách thức nào đó, giúp người nghe xác định được trọng tâm thông báo của câu hỏi Điểu này liên quan đến cách thức tổ chức câu hỏi Ân dấu trong hành vi hỏi, cũng giống như các loại hành vi ngôn ngữ khác, là hàng loạt thông tin ngữ nghĩa - ngữ dụng về người hỏi, ngữ cảnh, người tiếp nhận, mối quan hệ tương tác giữa người hỏi và người nghe Trong đó, phần thông tin quan trọng là thông tin tình thái Vì tính chất quan yếu của tình thái đối với câu hỏi, chúng tồi sẽ trình bày thêm những nội dung tình thái thường được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau

1.2.3 Một sô' nội dung, quan điểm liên quan đến vấn đế tình thái.

1.2.3.1 o J e s p e rs e n (1949) nhận xét vể các thức tườna giải / trực thuyết, giả định và

cầu khiến trong cuốn “ ,4 M odern English Gram m ar 01) H istorical Prim iph'S I - IV London and Copenhagen” như sau: "Chúng biểu thị những thái dó nhất định cua người nói hướng về nội dune của câu, dù rằng, trong một số trường họp, sự lua chon thức dược quyết định không phải bời thái độ cùa người nói mà bời đặc điểm cùa bản thán mệnh dẻ Ovà mối quan hệ của nó với chuỗi (mệnh đề) liên hệ chính mà nó lệ thuộc vào” [Dẫn theo

Trang 29

138, 9] Theo nhận xét của F Palmer, những đề xuất của o Jesperson là ít quan trọna về mặt lý thuyết, ngoại trừ nhận thức của ông về hai loại "thức": (1) Bao gồm yếu tỏ' ý chí-(2) Không bao gồm gồm yếu tố ý chí (Thực ra, o Jespersen cũng đã chỉ rõ "thức" là một

sự phân loại của ngữ pháp)

1.2.3.2 V W r ig h t (1951), trong một công trình có tính khai sáng về logic tình thái, đa phân chia tình thái thành bốn loại: a.Tinh thái hiện thực (the alethic modes); b.Tình thái nhận thức (the epistemic modes); c.Tình thái trách nhiệm (the deontic modes); d.Tình thái tồn tại (the existential modes) Điểu đáng lưu ý ở đây là sự phân biệt giữa tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm Sự phân biệt này có thể được minh hoạ bằng sự so sánh cập

đôi các cách sử dụng "m ay" và “m ust" trong tiếng Anh như: a l John may be there by

now (Có lẽ lúc lìày John đung ở đó); u2 You may come in now (Bày giờ anh có th ể vào được); b ì John m ust be there by now (John chắc lù đ ã ở đó lúc này); b2 You m ust come ill now (buy giờ anh p hủi I’ào) Tuy “m ay” biểu thị khả năng, nhưng “m ay” ở a2 còn diễn

tả ý nghĩa "được phép", "cho phép" (làm một việc gì) Tương tự, “m ust" ở b l khác với

“m ust" ở b2 ở chỗ trong khi “m ust” ờ bl diễn tả khả năng (possibility) hay có sự suy

đoán logic thì “must” ở b2 mang hàm nghĩa bắt buộc Do đó “m ay” al và “m ust” bl biểu thị tình thái nhận thức, còn “m ay" a2 và “m ust" b2 biểu thị tình thái trách nhiệm Hai loại

tình thái trên đây được coi là quan trọng và phổ biến trong các ngôn ngữ khác nhau nên hầu như công trình nào nghiên cứu về tình thái sau này đều đề cập và phân tích vể chúng một cách khá chi tiết

1.2.3.3 N R esch er (1968), trong giới hạn của khung logic được trình bày trong cuốn

“Topics in philosophical logic”, đã đề nghị một hệ thống mờ vể tình thái Những nhận

xét của ông vể các loại tình thái được mờ đầu bằng câu: "Một phán đoán được trinh bày bằng một câu thường thuật Cái mà được nhận thức như một tổng thể, sẽ là đúng hoặc

sai” Ví dụ: The cut is on the m ut (Con mèo ở trên turn thủm)" Và khi một phán đoán

như vậy tham gia vào một kết cấu lớn hon cùng loại mà toàn bộ kết cấu phức tạp này, một lần nữa tự nó là một phán đoán, thì kết cấu lớn hơn này được xem như đại diện cho một tình thái đối với phán đoán gốc như: X believes "the cat mat" Cách hiểu như vậy

về tình thái tạo ra nhiều vấn đề về mặt lý thuyết Bẽn cạnh các loại tình thái hiện thực, nhận thức, trách nhiệm, ỏng để cập đến các loại tình thái biểu thời (temporal), tình thái vọng cảm (boulomaic), tình thái đánh giá (evaluative), tình thái nguyên nhãn (causal) và tình thái điểu kiện (conditional)

29

Trang 30

1.2.3.4 J R S earle (1979) là người đã phát triển nội dung khái niệm tình thái lên một bước mới Sự tiếp cận của Searle hướng đến vấn đề hành vi ngôn ngữ Sự tiếp cận này cung cấp một khung ngữ nghĩa hữu ích cho việc thảo luận về tình thái Lý thuyết hành vi ngôn ngữ quan tâm tới mối quan hệ giữa người nói và cái mà anh ta nói Mối quan hê này như đã biết, chứa đựng rất nhiểu vấn đề nội dung tình thái Chẳng hạn, hành vi khẳng định (assertives) được mô tả theo phương diện lòng tin (belief) Nhưng, mức độ cùa “lòng tin”

có thể ở mức zero Nội dung này liên quan đến tình thái nhận thức Hay, loại chi phối (directives) có sự tương ứng rất lớn với tình thái trách nhiệm Có thể nói rằng, cái mà Searle gọi là "khẳng định" và "chi phối" thực sự ]à trung tâm của bất kỳ sự thảo luận nào

về tình thái Đối với ba loại còn lại thì loại cam kết (commissives) không có sự phân biệt

rõ ràng với loại chi phối (directive) vì chúng đều có khuynh hướng “ sẽ thực hiện một cái

gì đó" Loại này chỉ khác với loại trên ở chỗ là người nói "cam kết" làm, còn loại dưới là người nghe "phải" làm Do vậy, hai loại này cùng nằm trong phạm vi tình thái trách nhiệm Loại biểu cảm (expressive) tương ứng với phạm trù tình thái đánh giá (evaluative) cùa Rescher Có rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đánh giá là một phạm trù tình thái Chẳng hạn Volf, E.M (1985) đã nhận xét rằng "có thể xem đánh giá như là một trong những dạng của tính tình thái, tức là cái được đặt chóng thêm cho một nội dung mô tả trong sự thể hiện bằng ngôn ngữ" Theo Arutiunova (1988), thì “đánh giá "được coi là biểu hiện rõ ràng nhất của ý nghĩa ngữ dụng"[l,62] Loại tuyên bố (declaration) tương đối giống loại khẳng định về phương diện hiệu lực tại lời Nói tóm lại, qua hệ thống phân loại các hành vi tại lời của Searle, có thể nhận thấy rằng có một sự tương hợp giữa các hành vi tại lời với các phạm trù tình thái Điều này tạo ra những tiền để lý thuyết cho việc nghiên cứu về khung tình thái trong mối tương quan với nội dung mệrih đề, một mối tirong quan có tính thống nhất và tính phán loại

1.2.3.5 M A.K H allỉd ay [116],một tác giả khá quen thuộc trong lĩnh vực ngữ pháp chức năng, cũng đã có nhiều ý kiến bàn vể tình thái Theo ông, tình thái là khái niệm dùng để

chỉ những phạm vi ngữ nghĩa nằm giữa "Y es' và "N o ", một phạm vi có tính truns gian

giữa hai phân cực dương tính (positive) và âm tính (negative) [116, 86] Givón, T (1993) diễn đạt quan niêm của ông về tình thái khá ngắn gọn: "Tinh thái biểu thị thái độ của người nói đôi với phát ngôn” Theo ỏng, thái độ bao gồm hai loại đánh giá của người nói

về thông tin (phát nsôn) được chuyển tải qua nội dung mệnh để: a Những đánh giá nhận thức về tính hiện thực, khả năng, lòng tin, sự chắc chấn hay bằng chứng; b Những đánh criá oiá trị về ước muốn, sự ưa thích, ý định, năng lực, sự ràng buỏc hay sự điều khiến

Trang 31

Cũng theo T Givón, bốn tiểu loại chính của tình thái nhận thức sau đây được thể hiện rõ nét nhất trong ngôn ngữ của nhân loại: - Tiền giả định (presupposition); - Xác nhận hiện thực (realis assertion); - Xác nhận phi hiện thực (irrealis assertion); - Xác nhận phủ định (negative assertion) [113 (tập 1), 171] Theo w Frawley (1992), "phạm vi ngữ nshĩa liên quan đến vị thế hiện thực của phát ngón là tình thái"[110, 382] Tinh thái ảnh hường tới toàn bộ nội dung của một sự diễn đạt nào đó Và như vậy, nó liên quan đến toàn bộ phán đoán Tinh thái gợi lên không chỉ các mức độ nhận thức khách quan về hiện thực, mà cả các thái độ và sự định hướng chủ quan đối với nội dung của sự biểu đạt Frawley cho rằng

"hiện thực” (realis) và "phi hiện thực" (irrealis) là hai thuộc tính cơ bản của tình thái, tương tự như nhận xét của M.A.K Halliday vừa được trình bày ở trên Ông cũng cho rằng, ba lớp tình thái thường được nói tới trong tất cả các ngôn ngữ là: - Sự phù định (tình thái phủ định) được cấu thành bời sự tách rời giữa thế giới được biểu đạt và thế giới tham chiếu (the expressed world and the reference world); - Tình thái nhận thức bao gồm sự hội nhập tiềm tà n g giữa thế giới được biểu đạt và thế giới tham chiếu; - Tình thái trách nhiệm quan tâm đến sự hội nhập bát buộc giữa thế giới biểu thị và thế giới tham chiếu.1.2.3.6 F P a lm e r [138] là người đã khảo cứu một cách cụ thể, với tư liệu có được từ rất nhiều ngôn ngữ khác nhau, về các nội dung của tình thái Sau đây, chúng tỏi điểm qua một số luận điểm được coi là quan trọng nhất Theo Palmer, tình thái là một hiện tượng ngữ nghĩa còn thức (mood) là một hiện tượng ngữ pháp Sự khác biệt giữa chúng cũng giống như sự khác biệt giữa thời gian (time) và thì (tense), giữa giới tính (sex) và giống (gender) Palmer đã định nghĩa tình thái như là thông tin ngữ nghĩa gắn kết với thái độ và

ý kiến của người nói về cái được nói Các nội dung tinh thái được Palmer đề cập rất đa dạng Nhưng trọng tâm vẫn là tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm Theo Palmer, tình thái nhận thức được chia thành hai lớp cơ bản : đánh giá (judgement) và bẳng chứng (evidence) Tinh thái đánh giá gồm tất cả các khái niệm nhận thức, tính khả năng và sự cần thiết Ông còn phân lớp tình thái đánh giá dựa vào mức độ tin tưỏns mà nsười nói có trong khi khẳng định thành hai tiểu lớp: đánh giá sư cần thiết và đánh siá k há năng Mỗi tiếu loại trên, theo thứ tự, dưa vào suy luận (inference) và xác tín hay đánh giá mạnh yếu Ông cho rằng, các ngôn ngữ, xét vể kiểu dạng, có thể là thiên về đánh giá, thiên về bằng chứng, hoặc pha trộn cả hai Chẳng hạn, tiếng Anh là ngôn neữ co' bán thiên về đánh giá Trong khi tình thái nhãn thức đươc liên hê với lòng tin, tri thức, sư thát trong mối quan hệ với phát ngôn, thì tình thái trách nhiệm lại đưoc liên hệ với hành đỏng Tinh thái

31

Trang 32

trách nhiệm thường có một thuộc tính quan trọng, đó là tính phi thực hữu (non - factual)

F Palmer cũng đã đề xuất một loại tình thái thứ ba là tình thái “dynamic ” (có thể tạm địch là tình thái động, tình thái linh hoạt hoặc tình thái trạng huống) như là một dạng trung gian giữa tình thái nhận thức và tình thái trách nhiệm, một dạng tình thái có tính

"tình huống" Ví dụ: ss: - You m ust come here at once (Anh phải đến đây ngay); - You

m ust go now i f you wish to catch the bus (Anh phải đến ngay nếu anh muốn đón được chuyến xe buýt) 0 ví dụ thứ hai, người nói đề cập đến việc người nghe phải làm một việc,

nhưng việc đó có tính bắt buộc hay không lại tuỳ thuộc vào người nghe “Đ i” hay “không đi” ở đây được đặt vào trong một tình huống liên quan với việc nội dung mệnh để đi sau

có mang tính hiện thực hay không

I.2.3.7 Tình thái và nội dung mệnh đề.

Những nội dung trình bày ở trên cho thấy, khái niệm tình thái tỏ ra khá mơ hồ và đang còn để ngỏ cho một loạt các định nghĩa có thể có, nhung việc xác định rằng nó là một cái

gì đó phản ánh "thái độ” hay “ý kiến" của người nói dường như được tán đồng hơn cả Giữa tình thái và nội dung mệnh đề phát ngôn có những mối quan hệ nhất dịnh Tuy tình thái có thể được xem như là những thông tin đi kèm với nội dung mệnh đề nhưng phạm vi ảnh hưởng của nó liên quan, bao chứa toàn bộ mệnh dề Nó lấy nội dung mệnh để làm chỗ dựa để thực hiện chức nãng của mình (đánh giá, nhận xét) Trong những ý kiến trình bày về mối quan hệ này, cách hình dung của T Givón là cụ thể và dễ hiểu hơn cả Óng viết: "Tinh thái phát ngôn kết hợp với mệnh đề có thể giống như một cái vỏ ốc bao chứa ruột ốc (mệnh đề) nhưng không quấy nhiễu đến phần cốt lõi bên trong Khung phát ngôn của các mệnh để - các tham tố, kiểu loại động từ, tính chi phối - cũng như các yếu tố từ vựng dùng để lấp đầy các vị trí khác nhau của khung mệnh đề vẫn không chịu nhiều ảnh hưởng của tình thái bao bọc quanh nó ” [113, 170] Cách diễn đạt này khiến ta nghĩ đến một tương quan có tính ẩn dụ khác là, nếu không có sự che chở bao bọc của vỏ ốc, thì bản thân COI1 ốc cũng không thể tồn tại như một cơ thể sống được Nội dung mệnh đề cẩn có

sự che chờ, bao bọc của tình thái để có thể tồn tại như ]à một phát ngôn sống động trong hoạt động giao tiếp Vì vậy, luôn có xu hướng xem tình thái như là một yếu tố cần thiết đế cho một đơn vị thông tin của ngôn ngữ có thể xuất hiện với tư cách là một phát ngón Sau đây, chúng tôi sẽ bàn đến các thành tô của khune tình thái trong câu hòi

1.2.3.8, Chủ thế giao tiếp, nội dung mệnh đề và tình thái.

Trang 33

1.2.3.8.1 Người nói được xem như là chủ thể tình thái gắn liền với hoạt độns nói năng Tình thái được xác lập bời người nói và nó luôn phản ánh về bản thân người nói: vị thế, mục đích, ý định nói năng , vốn tri thức nền, những đặc điểm tâm lý, xã hội cố hữu hay tạm thời trong lúc nói, cách thức đánh giá, quan niệm cụ thể đối với nội duno mệnh đề trong phát ngón Với tư cách là chủ thể của hành vi phát ngòn, người nói luôn "hiện diện" trong câu, dù sự hiện diện đó là tường minh (cụ thể qua đại từ ờ ngôi thứ nhất, các động từ ngữ vi) hay ngầm ẩn.

1.2.3.8.2 Biểu thức ngôn ngữ vể thái độ, ý kiến của người hỏi đối với nội dung mệnh đề, đối với người được hỏi, giữ vai trò như ỉà vị từ tình thái trong khung tình thái Vị từ tình thái trong hành vi hỏi thường được thể hiện qua những trạng thái, sự đánh eiá khác nhau của người hỏi gắn với mục đích (hỏi) của phát ngôn: Người hỏi thể hiện nhu cầu muốn thu nhận thông tin và sự đánh giá nhất định đối với nội dung mệnh đề như: tin tưởng, hoài nghi, ngạc nhiên, Vị từ tình thái cũng được thể hiện qua kiểu tác động đến người nói, cách thức để cập đến nội dung mệnh đề của phát ngốn Chẳng hạn, khi hỏi, ý đồ, mục đích hỏi có thể được thể hiện một cách lịch sự, nhẹ nhàng, không bắt buộc, bắt buộc, chất vấn, thô lỗ, xúc phạm, Đối tượng giao tiếp - tức người được hỏi - cũng được xem như là một thành tố trong khung tinh thái của hành vi hỏi Cũng như chủ thể giao tiếp, đối tương giao tiếp có thể được đề cập đến một cách tường minh hoặc ngầm ẩn trong phát ngôn hỏi Người được hỏi luôn "hiện diện" trong phát ngôn với tư cách là một trong số các đối tượng của tình thái đánh giá, tác động Trong khung tình thái còn có rất nhiều yếu tố khác như không gian, thời gian với những vai trò nhất định Không gian giao tiếp, khoảng cách giữa các đối tượng giao tiếp có những tác động nhất định đến cuộc thoại, đến các yếu tố định vị không gian được sử dụng trong phát ngôn

1.2.3.8.3 Giữa khung tình thái và khung mệnh đề phát ngốn hỏi có sư thống nhất Việc

xử lý tốt những thành tố liên quan trong khung tình thái có vai trò như là yếu tố quyết định sự thành công của hành vi hỏi Việc xử lý khôns tốt những thành tố này có thể phương hại đến sự thành công của hành vi hỏi Mặt khác, nếu xem xét mối quan hệ giữa khung tình thái của hành vi hỏi và khung tình thái của hành vi trả lời ta sẽ thấy giữa chúng có sự tương hợp, thống nhất rất chặt chẽ

1.2.4 Vấn dề tiến giả định trong câu hỏi.

Một bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng quan trọng khác liên quan đến hành vi hỏi là tiền giả định Tiền giả định là một thuộc tính (property) cùa cáu - phát ngón Mỏi mót cáu - phát

Trang 34

ngôn có thể có một hoặc nhiều tiền giả định Có thể nói rằng tiền giả định có một vai trò rất quan trọng trong việc xác định, hình thành cấu trúc thông báo của phát ngôn hỏi, đặc biệt là với những câu hỏi mà trọng tâm thông báo rơi vào một thành tố bộ phận nào đó của cấu trúc mệnh đề hỏi Nội dung này sẽ được trình bày cụ thể hơn dưới đây.

+ Tiền giả định xác định cấu trúc thông báo của phát ngôn hỏi Xét ví dụ sau: - Who did

it? (Ai đ ã làm việc này ?) Phát ngôn này có tiền giả định là "Someone did it" (M ột người Ì1ÙO đó đ ã làm việc này) Người hỏi, do không biết cụ thể là ar, nên đã có câu hỏi như

trên, với mục đích muốn biết cụ thể là "người nào" đã làm điều đó So sánh tiển giả định

và cấu trúc mệnh đề câu hỏi trên, ta thấy chúng có chung bộ phận "did it" Điều này cũng

có nghĩa là trong cấu trúc mệnh đề câu hỏi trên, nếu gạt bỏ phần nằm trong phạm vi của tiền giả định, thì sẽ còn lại bộ phận thống báo của câu hỏi Nói các khác, tiền giả định có vai trò xác định trọng tâm thông báo của câu hỏi Nó góp phần giúp cho người được hỏi xác định đúng trọng tâm thông báo này để có thể có hành vi trả lời thích hợp Điều này hết sức quan trọng, đặc biệt là đối với những câu hỏi không dùng đại từ nghi vấn

+ Tiền giả định tham gia hình thành cấu trúc thông báo trong phát ngôn hỏi Trờ lại ví dụ:

- Who did it ? với tiền giả định ''Someone did it" ta có thể thấy chính bộ phận “did it” đã

được sử dụng để tham gia hình thành nên nội dung mệnh đề của câu hỏi Trong những trường hợp mà tình huống cho phép, có thể chỉ sử đụng một mình trọng tâm thông báo để

đặt câu hỏi Chẳng hạn, ví dụ trên có thể xuất hiện ở dạng: Who? (Ai ?) Tương tự, "Did

John Jo it ?“, trong trường hợp trọng tâm thông báo rơi vào John, sẽ có tiền giả định là

"Some one did it, maybe John" (Một người nào đó đã làm điều này, và người đó có thể là

John) Khi ngữ cảnh cho phép, nó có thể xuất hiện dưới dạng: - John? ở dạng câu đầy đủ

"Did John do it?" thì bộ phận "Did do it" rơi vào trong phạm vi tiền giả định Từ những

điều trình bày trên, có thể thấy rằng, việc nghiên cứu bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu hỏi ở phạm vi tiền giả định là cần thiết Nó giúp cho việc hình thành lý thuyết hỏi cũng như việc giải thuyết mối quan hệ ngữ nghĩa - ngữ dụng giữa hỏi và trả lời

1.2.5 Bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng của cấu trúc thông báo.

Cấu trúc thông báo của hành vi hỏi thường bao gồm hai bộ phận chủ yếu là: trọng tâm thõng báo và phần còn lại với những thông tin ngữ nghĩa liên quan đến trọng tám này Câu hỏi, ngoài việc thể hiện mục đích muốn được cung cấp thông tin có tính quy chiếu, còn có thể tạo ra giới hạn cần thiết để người nghe xác định được nội dung m à người hỏi

Trang 35

đang muốn anh ta cung cấp Thông tin này có thể được lược bỏ khi ngữ cảnh cho phép Tuy nhiên, hiện tượng này khổng có tính phổ biến, bởi lẽ không phải bao giờ người hòi cũng xác định được khả năng này Có những khả năng người hỏi xác định được, nhưng người nghe lại không xác định được Khả nãng này được thấy rõ ngay cả trong nhữns câu hỏi tưởng chùng như hết sức dễ hiểu và hợp lý Ví dụ: (Ngữ cảnh: một người đàn ông

A đang trình bày với luật sư B về việc anh ta bị cấp trên là nữ giới quấy rối tình dục Khi

kể đến đoạn ông A đang bị cấp trên tiến đến ôm hôn, luật sư B hỏi): B - W hat d id you say

to her? (Anh đ ã nói gì với có tu?); A - Like what? (Theo kiểu nùo chứ?); B - D id you say anything to her? (Anh cổ nói bất kỳ điều gì đó vói cô tu khôiìg?); A - Like what? I don't know (Theo kiểu nào chứ? Tôi không biết ); B - I'm ju s t asking whether you said anything

at all? (Tôi chỉ hối anh cá nói m ột điều gì đó không thôi?); A - / said something, Ị d o n ’t know I was feeling very uncomfortable (Tôi đ ã nói cúi gì đó, tôi không biết Lúc ứy tỏi cùm thúy rất bất tiện.); B - Do you rem em ber what you said? (Vậy anh có nhớ mình đ ã nói gì không?) Trong ví dụ này, có thể thấy rõ rằng, câu hỏi của B đưa ra hết sức đầy đủ

Vậy mà B cũng phải tìm đủ mọi hình thức để giải thích cho A hiểu, nhưng kết quả không như mong muốn Vì lý do nói trên, trong giao tiếp, ngay cả những lúc ngữ cảnh cho phép, không phải khi nào khả năng này cũng được tận dụng Liên quan đến vấn đề này còn có vấn để focus (có thể tạm dịch là tiêu điểm / điểm nhấn hoặc trọng tâm thông báo) thường

hay được sử dụng trong tiếng Anh Ví dụ: D id JO H N kill the gout ? (Chính John đ ã giết

con dê ù ?) Vấn để có tính nguyên tắc trong việc thiết lập cấu trúc thông báo của câu hỏi

là phải xác định được đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ dụng nào được coi là chủ yếu, là quan trọng nhất

1.2.6 Sự tương hợp giữa hỏi và trả lòi vế khung tình thái, nội dung mệnh

đế, cấu trúc thông báo.

Trong hoạt động giao tiếp, không phải bất kỳ một hành vi hỏi nào cũng nhận được một phản ứng là một hành vi trả lời (theo đúng nghĩa của nó) Do vậy, đây cũ n s ]à một vấn đề cần được lưu ý Sau đây là sự trình bày về các nội dung cơ bản của mối quan hệ ngữ nghĩa

- ngữ dụng giữa hai loại hành vi này

1.2.6.1 Sự tương họp về khung tình thái muc đích phát ngôn

Trong đối thoại, đích tác động của hành vi hỏi là chủ thể trả lời, và đích tác đỏng của hành vi trả lời là chủ thể hỏi Như vậy, sư tương hợp về mặt chủ thế tình thái và đích

35

Trang 36

hành vi là rất rõ ràng Giữa hỏi và trả lời luôn có một quy tắc chi phối Đó là hỏi cái gì thì trả lời cái đó Một khi câu trả lời được đưa ra, người trả lời đã mặc nhiên chấp nhặn tất

cả các thông tin tình thái được thể hiện trong câu hỏi Trong trường hợp không chấp nhận, người trả lời có thể phản bác lại thông tin tình thái đó Nói chung, câu trả lời thực thụ sẽ khỏnơ được đưa ra, nếu người được hỏi khóng chấp nhận những thông tin tình thái ờ trong câu hỏi “Các vị từ tình thái luôn có sự đối lập tương ứng: Không biết / biết; Muốn được biết/ muốn đáp ứng mong muốn được biết; Nói để được người đối thoại làm cho biết/ nói để làm cho người đói thoại được biết theo mong m uốn” [31,19] Các yếu tố khác như không gian, thời gian cũng có sự tương ứng mang tính đồng nhất: Câu trả lời bao giờ cũng được thực hiện sau câu hỏi Nội dung mệnh đề, với tư cách là chỗ dựa của thông tin tình thái, cũng có sự thống nhất tương ứng với thông tin tình thái

I.2.6.2 Sự tương hợp về nội dung mệnh để

Ở trên đã đề cập đến nguyên tắc: hỏi cái gì thì trả lời cái đấy Điểu này có nghĩa là câu trả lời phải hướng đến cùng một sự tình, một phân đoạn thực tại với câu hỏi Đây cũng chính

là lý do khiến s Dick (1978) xem loại câu hỏi có sử dụng từ hỏi của tiếng Anh như một

hình thức m ở (open form) Chẳng hạn, câu hỏi Where is John going? (John đung đi đâu

?), dược Dick chuyển thành: - John is going to (Please, fi ll in the blank)

[107, 279] Cùng hướng đến một sự tình, một phân đoạn thực tại cũng có nghĩa là mặc nhiên chấp nhận những thành tố về hoàn cảnh, những mối quan hệ có tính quy chiếu, định vị liên quan đến hành vi hỏi và hành vi trả lời- Hay nói cách khác, khi hỏi, người hỏi vừa tự xác định cho hành vi hỏi vừa ấn định luôn cho hành vi trả lời tất cả những cái

đã đề cập ờ trên Người trả lời phải chấp nhận tất cả nhũng cái đó, nếu arth ta muốn đảm bảo rằng những thông tin mà anh ta cung cấp đúng là thông tin mà người hỏi cần Đây là

lý do khiến người trả lời có thể chỉ cần cung cấp bộ phận/phân đoạn thông tin cần thiết mà

thôi Chẳng hạn, trở lại ví dụ trên, để trả lời câu: - W here is John going ? Câu trả lời có thê chỉ là: - To the market Tất cả những cái đó chính là một dạng sử dụng có tính phân

biệt triệt để giữa thông tin cũ và thông tin mới trong việc xử lý, cung cấp thông tin, theo nguyên tắc thông tin cũ có thể được lược bỏ Trường hợp ngược lại, không có sự tưong họp về nội dung mệnh đề, sẽ dẫn đến tình trạng "ỏng nói gà, bà nói vịt" Sư tương hợp trên

bề mặt nội dưn£» mệnh đề không phải là nhân tố hữu hiệu đế ngăn cản tình trạng "ỏng nói

gà, bà nói vịt" Ví dụ: (Ngữ cảnh: thầy giáo đang giảng bài, thấy có cậu học sinh lo đãng

quay mặt ra đường Bực quá, thầy bước xưốc véo tai cậu và hỏi): T ai nủy âé lùm gì hả?

Trang 37

-Dạ, đ ể đeo kính ạ ! [165, 18] Các câu hỏi không phải bao giờ cũng cung cấp đù các

thông tin quy chiếu, định vị liên quan đến trọng tâm thông báo của câu Do vậy, người được hỏi, nếu muốn cộng tác giao tiếp thực sự, thì sẽ hỏi lại nhằm xác định rõ quy chiếu

Ví dụ: - C ủi nhà ông em ông chủ còn ở trườììg này không? - Ông nào? - Ông em ông chít

tức là cái cậu lại đây tháng trước mù ông phủi dọn phòng ấy mù ; - Dọn lén p h ố được m ột tuần rồi [31, 21] Trong trường họfp người được hỏi, tuy muốn cộng tác nhưng mắc lỗi

trong sự xác định trọng tâm thông báo, thì sẽ có câu trả lời lệch hướng Đối với trường hợp cố tình vi phạm sự tương hợp nội dung mệnh đề thì, tuy câu trả lời có vẻ phù hợp trên

bề mặt nội dung mệnh đề, nhưng chẳng ăn nhập gì với sự tình, phân đoạn thực tại mà câu hỏi đang hướng đến Do những thông tin tình thái thường có tính ngầm ẩn nên cũng có trường hợp người ta vin vào đó để lý sự cùn, để bắt bẻ, hoặc để ngụy biện

I.2.6.3 Sự tuong hợp về cấu trúc thông báo.

Khái niệm cấu trúc thông báo là khái niệm có tính dụng học Nói cụ thể hơn, một cấu trúc mệnh để có thể có nhiều cấu trúc thông báo khác nhau khi nó được hiện thưc hoá trong các phát ngôn Điểu này chủ yếu tuỳ thuộc vào việc Erọng tâm thông báo nằm ở bộ phận, chiết đoạn nào trong cấu trúc mệnh đề Ví dụ: Điểm nhấn có thể rơi vào bất cứ từ nào

trong câu sau với những hàm nghĩa khác nhau: D id John kill the gout?[ 113 {tập 2), 248],

Người ta cũng thường hay đề cập đến trường hợp cùng một câu nói ở dạng tường thuật có thể dùng để trả lời cho nhũng câu hỏi khác nhau, tuỳ thuộc vào từng ngữ cảnh cụ thể Trong trường họp đó, người ta sẽ có những cấu trúc thống báo khác nhau và đồng thời có những cách trả lời rút gọn khác nhau tuỳ thuộc vào việc điểm hỏi rơi vào bộ phận nào của

cấu trúc mệnh để sự tình Chẳng hạn, với sự tình: "Yesterday M avy sneakily gave a kiss to

John in her fa th er's burn" (Hôm qua, M ary đ ã lên tặng cho John m ột nụ hôn ở trong kho lúa của b ố cô tu), người ta có thể đặt những câu hỏi như: a - W ho gave John a kiss? (Ai

đ ã tụiìg cho John nụ hôn?); b - W hat did M ary give to J o h n 9 (M ary đ ã tặng cho John cái gì?); c - To whom did M ary give a kiss? (M ary đ ã tặng cho ui m ột 1111 hỏn?); LÌ - H ow did

M ary give John u kiss? (M ary đ ã Ì1ÔIĨ John như tliê nào?); e - When did M ary give John

a kiss? (M ary đ ã Ììôìì John kììi 11ÙO?); f - Where did M ary give John a kiss? (M ary đ ã hỏn John ở đàn?); i> - Whose barn was it? (Kho lúa của ai?) Tương ứng với các câu hỏi này,

những câu trả lời rút 2ỌI1 có thể là: u' - M ary; b' - A kiss (m ột nụ hôn); c' - John ; d' -

Sneakily (mộr cách thầm lén/vụng trộm); e' - Yesterday (ngày hôm qua); f - hì the burn (trong kho lúa); g' - M ary's fa th e r's (B ố của M ury) Việc quan sát các cảu trên cho thấy

37

Trang 38

rằng hễ điểm hỏi của câu hỏi rơi vào bộ phận nào trong cấu trúc của sự tình thì câu trả lời cho bộ phận đó sẽ có thể trở thành câu trả lời rút gọn tương ứng Ngay cả trong trường hợp đưa ra câu trả lời dầy đủ, thì bộ phận tương ứng với điểm hỏi cũng vẫn là trọng tâm thông báo của câu và không thể bị lược bỏ Câu hỏi, như một hành vi kích thích, là điểm xuất phát để hình thành nên câu trả lời Người hỏi bao giờ cũng đảm nhiệm vai trò hướng đích về mặt trọng tâm thõng báo Người trả lời bao giờ cũng được cho biết trước điều này trước khi trả lời Cấu trúc thông báo được xác lập trong câu hỏi đã ấn định, cấu trúc hoá trước thông tin của câu trả lời Những ví dụ nêu trên là để minh hoạ cho các trường họp

mà câu hỏi có sự tập trung điểm hỏi vào một bộ phận nào đó của cấu trúc mệnh đề sự tình đang được nói đến Trong trường hơp câu hỏi không có một điểm hỏi cụ thể thì thông tin (được yêu cầu giải đáp) có giá trị thông báo được phân bô' trên toàn bộ các bộ phận của

cấu trúc mệnh đề, và, người trả lời không thể trả lời theo cách rút gọn Ví dụ: - What

happened? (Chuyện gì thêl đ ã xảy ra chuyện gì?); - Yesterday M ary sneakily gave a kiss

to John in her father's burn (Hôm qua, M ary đủ lén tặng cho John m ột nụ Ììôìì ỏ trong nhà kho của bô' cô ta) Giữa câu hỏi và câu trả lời luôn có sự tương ứng chặt chẽ về cấu

trúc thông báo Một câu trả lời không đảm bảo một cấu trúc thông báo tương ứng với câu hỏi sẽ không phải là một câu trả lời thực sự, mà sẽ là một câu trả lời lệch hướng, lạc đề hay một hiện tượng bất thường, hoặc đơn giản chỉ là một câu đáp

I.2.6.4 Trả lòi và đáp.

Lê Đông [31] đưa ra sự phân biệt giữa câu trả lời và câu đáp Vì đây là sự phân biệt cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, nên chúng tôi xin lược thuật lại một số điểm quan trọng sau đây: + Đáp là phát ngôn dùng để phản ứng lại -một phát ngón, một kích thích có trước nào đó (không nhất thiết là câu hỏi); + Nó không đáp ứng những yêu cầu thông tin của câu hỏi Do vậy, nó thường có thể phá vỡ chương trình đối thoại.Câu đáp thường được sử dụng trong một số trường hợp sau: + Người đối thoại, vì một lý

do nào đó, không thể trả lời được hoặc không muốn trả lời; + Người đối thoại cho rang câu hỏi đã đặt ra không chính xác, không thích họp về một phương diện nào đó Do vậy cần hiệu chỉnh lại, phản bác lại; + Người đối thoại nhận ra một hành vi mượn lời hay một hành vi gián tiếp nào đó ỏ' câu hỏi Câu đáp dùng để trả lời trực tiếp vào các hành vi này chứ không phải nhằm vào hành vi tai lòi trực tiếp của càu hỏi; + Người đối thoại đỏng tình với nsười hỏi ỏ' một phương diện nào đó (chẳng hạn, tính chân thực của tiền giá định), nhưng không có thống tin để đáp lại

Trang 39

1.3 TIỂN GIẢ ĐỊNH VÀ THÔNG TIN CHƯA BIÊT, CẤN BIẾT LÀ

TRỤC NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG c ơ BẢN CỦA CÂU HỎI.

1.3.1 Khái niệm tiền giả định.

Phần đông các tác giả dều cho rằng “Tiền giả định là phần thông tin nằm trong ý nghĩa của câu mà người nói cho là đương nhiên như vậy trước khi tạo ra một phát ngôn ” [157, 25] Tiền giả định liên quan đến chủ thể phát ngôn (Speakers, not sentences, have presuppositions) Khái niệm tiền giả định (presupposition) thường hay bị giải thuyết nhầm lẫn với hệ luận / thông tin kéo theo (entailment) “Hệ luận là thông tin logic được giải thuyết từ thông tin được truyền báo trong phát ngôn Câu nói chứ không phải người nói

có hệ luận” [157, 25]

1.3.2 TGĐ cấu trúc (structural presupposition).

Đây là những tiền giả định trực tiếp gắn với việc phân bố trọng tâm thông báo của câu Đối với hành vi hỏi, trọng tâm thông báo thường là bộ phận dùng để hỏi hoặc bộ phận liên quan đến điểm hỏi Thông thường, đại từ nghi vấn trong câu hỏi có xu thế không nằm trong TGĐ Việc trọng tâm thông báo đi kèm với điểm hỏi và mang đặc điểm nằm ngoài TGĐ cấu trúc là một thuộc tính ngữ dụng quan trọng của hành vi hỏi

1.3.3 Vai trò của TGĐ trong việc xây dựng lý thuyết hỏi.

TGĐ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lý thuyết hỏi vì [30]: a Không thể đặt câuhỏi mà không có TGĐ chân thực làm cơ sở cho nó; b Không thể đưa ra câu trả lời thực thụ mà không thừa nhận TGĐ của câu hỏi TGĐ của câu hỏi không chỉ tạo cho câu hỏi một cấu trúc ngữ nghĩa hợp lý, một vị thế hành chức bình thường, mà nó còn tạo nên sự thống nhất về logic - ngữ nghĩa giữa hỏi và trả lời, bảo đảm sự tương hợp về hiệu lực tại lời giữa hai loại hành vi này Ngoài ra, có một số tác động khác của tiền giả định đối với câu trả lời, dối với sự tương tác qua lại giữa hỏi - trả lời và một số hiệu lực ngữ dụng trong việc vi phạm (lợi dụng) TGĐ một cách có chủ ý nhằm thực hiện những chiến thuật giao tiếp được lựa chọn (biện thuyết, hỏi cung, bắt nọn, hay điều tra dư lụân xã hội .)

1.3.4 Thông tin chưa biết, cần biết.

Phần này sẽ trình bày về vai trò, đặc điểm của thông tin chưa biết, cần biết như mót cơ sở

đê phân tích, đánh giá, phân loại các câu hỏi

1.3.4.1 Thông tin chưa biết - cần biết giữ vai trò quyết định trong viêc sàn sinh câu hỏi.

39

Trang 40

Thông tin chưa biết, cần biết là một bộ phận của hành vi hỏi Không có nhu cầu được biết

về nó thì không có hành vi hỏi Nhu cầu này nảy sinh từ sự thiếu/ không biết thông tin Mật khác, hành vi hỏi cũng không thể có được nếu không dựa vào sự tin tườns (giả định) rằng người được hỏi biết thòng tin chưa biết, cần biết đó TGĐ cấu trúc trong câu hỏi đã

cung cấp cho câu hỏi một khung ngữ nghĩa - ngữ dụng xác định Cái chưa biết - cần biết

cung cấp phần trọng tâm thông báo (điểm hỏi) Đó là hai bộ phận chính yếu của câu hỏi Thông tin chưa biết, cần biết ở những kiểu câu hỏi khác nhau thì có những đặc điếm nsữ nghĩa - ngữ dụng khác nhau Các kiểu câu hỏi có chung đặc điểm là mang xu thế đưa thông tin chưa biết, cần biết vào một kiểu quan hệ: Quan hệ lựa chọn Câu hỏi có khả năng lựa chọn bị giới hạn ờ mức tối thiểu (thường ở hai khả năng), ở mức thấp (nhiều hơn hai khả năng) và ở mức không giới hạn

a Mức không giới hạn: Câu hỏi có chứa đại từ hỏi (trong tiếng Anh là W h- question)

Loại cãu hỏi này có thể xem như là một hàm mệnh đề có chứa biến tố X (đại từ hỏi) có vô

số khả năng lựa chọn ( về mặt ]ý thuyết), và người trả lời có nhiệm vụ lựa chọn một/ một vài khả năng để trả lời

b Mức bị giới hạn: Câu hỏi không chứa đại từ hỏi (trong tiếng Anh là Yes-N o question)

Nhiều người cho rằng cách xem xét như vậy là nặng về logic Một cách xem xét khác được hlnh thành dựa vào mối tương quan giữa cái chưa biết, cần biết và cấu trúc hình thức của câu hỏi Theo cách nhìn nhận này, có thể có những loại sau đây: a Câu hỏi toàn bộ: Câu hỏi mà thông tin chưa biết, cần biết bao trùm toàn bộ mệnh đề cấu trúc câu hỏi Hay nói cách khác đây là câu hỏi lựa chọn sự kiện ở dạng: p hay không P; b Câu hỏi bộ phận: Thông tin chưa biết, cần biết ờ một bộ phận nào đó của câu Sự chia cắt này cũng không họp lý, nặng về hình thức Bởi vì, xét về mặt ngữ nghĩa - ngữ dụng, thông tin chưa biết trong câu hỏi toàn bộ thường nằm ở một bộ phận nào đó Một phát ngôn, dưới góc độ hành vi ngôn ngữ , có trọng tâm thông báo của nó không phụ thuộc vào cấu trúc, mà phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp Trường hợp người hỏi có ý muốn người trả lời (lựa chọn) xác nhận hay phủ nhận toàn bộ sự kiện được nêu trong câu hỏi toàn bộ thưòng ]à khônơ thõng dụng Do vậy, hai vấn đề nảy sinh sau đây cần được giải quyết: (i)'Có thể dựa vào thòng tin chưa biết đế qui tất cả các câu hỏi vào phạm trù lựa chọn hay không? (ii) Có những dạng lựa chọn nào trong câu hỏi? Đây chính là nội dưng chủ yêu của mục 1.3.4.2

và 1.3.4.3 dưới đây

1.3.4.2 Sự tương quan giữa tiền già định và thông tin chưa biết - cần biết.

Ngày đăng: 18/03/2021, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arutjunova, N . D . , Paducheva, E .v. N guồn gốc, vấn đé và phạm trù của n g ữ d ụ n g học. Nguyên Đức Tồn dịch. Lý Toàn Thắng hiệu đính. Phòng thông tin Ngôn ngữ học - Viện Ngôn ngữ hoc. Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N guồn gốc, vấn đé và phạm trù củan g ữ d ụ n g học
2. Diệp Quang Ban. B àn góp vê quan hệ chủ vị và quan hệ phần đé - phán thuyết. Ngôn ngữ số 4.1992 . tr 51 -56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: B àn góp vê quan hệ chủ vị và quan hệ phần đé - phán thuyết
3. Diệp Quang Ban & Hoàng Vàn Thung. N g ữ pháp tiếng Việt. Nxb GD. Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD. Hà Nội
4. Dương Hữu Biên. Giáo trình N g ữ nghĩa học thực hành tiếng Việt.Nxb Văn hoá - Thông tin, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình N g ữ nghĩa học thực hành tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
5. Lê Cận, Cù Đình Tú, Hoàng Tuệ. Giáo trình V iệt n g ữ ( tập 1 ) . NxbGD. Hà Nội, 1962 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình V iệt n g ữ ( tập 1 )
Nhà XB: NxbGD. Hà Nội
6. Nguyễn Tài cẩn . N g ữ p h á p tiếng Việt. Nxb ĐHQG Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ữ p h á p tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
7. Đỗ Hữu Châu. C ách x ử lý n h ữ n g hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ. Ngôn ngữ số 1, 1979. tr 20- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C ách x ử lý n h ữ n g hiện tượng trung gian trong ngôn ngữ
8. Đỗ Hữu Châu. Các y ế u tố d ụ n g học của tiếng Việt. Ngôn ngữ số 3, 1985. tr. 15-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các y ế u tố d ụ n g học của tiếng Việt
9. Đỗ Hữu Châu . N g ữ p h á p chứ c n ă n g dưói ánh sáng của dụng học hiện nay. Ngôn ngữ số 1,1992 tr. 1 -12 và Ngôn ngữ số 2, 1992. tr 6 - 1 3 . 10. Đỗ Hữu Châu. C ơ sở n g h ĩa h ọ c từ vựng. Nxb GD. Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ữ p h á p chứ c n ă n g dưói ánh sáng của dụng học hiện nay." Ngôn ngữ số 1,1992 tr. 1 -12 và Ngôn ngữ số 2, 1992. tr 6 - 1 3 .10. Đỗ Hữu Châu. "C ơ sở n g h ĩa h ọ c từ vựng
Nhà XB: Nxb GD. Hà Nội
11. Đỗ Hữu Châu. Giáo trìn h g iản y ế u về N g ữ d ụ n g học. Nxb Giáo dục. Huế, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìn h g iản y ế u về N g ữ d ụ n g học
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Huế
12. Đỗ Hữu Châu. T ừ vựng - n g ữ n ghĩa tiếng Việt. Nxb ĐHQGHN, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ừ vựng - n g ữ n ghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
13. Nguyễn Văn Chiến. N g ô n n g ữ đối chiếu và đối chiếu các ngón n g ữ Đ ông N am Ả . Trường ĐHSPNN xuất bản .Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ô n n g ữ đối chiếu và đối chiếu các ngón n g ữ Đ ông N am "Ả
14. Trương Văn Chình & Nguyễn Hiến Lê. K hảo luận vẽ n g ữ p h á p Việt N a m . Viện Đại học Huế, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: K hảo luận vẽ n g ữ p h á p Việt N a m
15. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến. Co sở ngớn ngữ học và tiến g Việt. Nxb ĐH&THCN, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Co sở ngớn ngữhọc và tiến g Việt
Nhà XB: Nxb ĐH&THCN
16. Hoàng Cao Cương. Bước đầu nhạn xét vé đặc điểm n g ữ điệu tiếng Việt. Ngốn ngữ số 3/1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nhạn xét vé đặc điểm n g ữ điệu tiếng Việt
17. Nguyễn Đức Dân. Logic - n g ữ nghĩa - cú pháp. Nxb ĐH & THCN . Hà N ộ i,1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic - n g ữ nghĩa - cú pháp
Nhà XB: Nxb ĐH & THCN . Hà N ộ i
18. Nguyễn Đức Dân . N g ữ dụ n g học (tập 1). NxbGD. Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ữ dụ n g học
Nhà XB: NxbGD. Hà Nội
19. Nguyễn Đức Dân. L ôgích và tiếng Việt. Nxb GD. Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L ôgích và tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD. Hà Nội
21. Nguyễn Cao Đàm. Đơn vị tạo càu và thành ph ầ n cáu đơn trong tiếng V iệt (Trong “Nhũng vấn đề ngữ pháp tiếng Việt”), Nxb KHXH. Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn vị tạo càu" và "thành ph ầ n cáu đơn trong tiếngV iệt" (Trong “Nhũng vấn đề ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb KHXH. Hà Nội
22. Vương Tất Đạt. Lôgic học. Nxb Giáo dục. Hà Nội 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic học
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w