"Cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919" là cách diễn đạt nhằm trỏ "tổng thể các biện pháp, cách thức tiến hành, thực tế triển khai cũng như kết quả đạt được theo tiến trình thời gian từ
Trang 2MẢU 14/KHCN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /Q Đ -Đ H Q G H N ngày 24 thảng 10 năm 2014
của Giảm ãôc Đ ại học Q uôc gia Hà Nội)
Trang 3PHÀN I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Tên đê tài: Nghiên cứu Hán văn trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906 - 1919) 1.2 Mã số: QG 14.32
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiên dề tài
1 PGS TS Phạm Văn Khoái Đ ại học K H X H & NV Chù trì, K hỏi thảo ý tưởng; Triển
khai nghiên cứu
2 TS Hà Đăng Việt Đại học Sư phạm Hà Nội C ộng tác viên, Thực hiện các
nghiên cứu cụ thể
3 NCS Lê Văn C ương Đại học K H X H & NV C ộng tác viên, Thực hiện các
nghiên cứu cụ thê
1.4 Đon vị chủ trì:
1.5 Thòi gian thực hiện:
1.5.1 T heo hợp đồng: từ tháng 5 năm 2 0 14 đến tháng 5 năm 2 0 16
1.5.2 G ia hạn (nếu có): đen th á n g năm
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016
1.6 Những thay đổi so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):
( Vẽ mục tiêu, nội dung, phưcmg pháp, kết quả nghiên cứu và tô chức thực hiện; Nguyên nhân; Y kiến cùa Cơquan quàn lý)
1.7 Tống kinh phí được phê duyệt của đề tài: 150 triệu đồng.
Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí k_hoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:
1 Đặt vấn đề:
Khoa cử ờ nước ta mở đầu bằng khoa Ất Mãơ năm Thái Ninh thú tư (1075) Vua Nhân Tông triều Lý,
d ù n g thi Tam trường, tuyển “Bác học m inh kinh” , lấy Lê Văn Thịnh đồ đầu danh sách Đó là đầu nguồn cùa
k h o a mục nước ta
K hoa Kỷ M ùi, Khải Định năm thứ tư (1919), thi Hội cho cống sĩ, dùng cả quốc văn, Pháp văn, Hán
V ăn, ấy là khoa kết cho khoa cử nước ta Kể trước đến sau, gồm 844 năm cà thảy
K hoa cử là cách thức chọn nguòi ra làm quan theo học vấn và phẩm hạnh m à không chuyên về dòng dõi có tính quí tộc là một bước tiến bộ rất lớn ỏ' nhiều nước Đông Á thời trung đại Khoa cử cũng thuộc
p hạm trù giáo dục m ang tinh thần trung đại Cái được m ang ra học và thi ấy trước hết là các sách vở cổ, cái h'ỌC làm chính sự Hệ thống giáo dục khoa cử đã lấy thánh kinh hiền truyện làm đối tượng, lấy Hán văn làm
n g ô n ngữ, lấy Q uốc T ử Giám làm trường trung tâm, lấy dân gian làm trường thiên thành, lấy m ùa thu các ruăm Tý, N gọ, M ão, Dậu thi Hương, lấy m ùa xuân các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thi Hội và thi Điện Lấy cử
n ghiệp (chọn người ra quan) làm m ục đích C ả thi Hương và Hội đều qua 4 trường T uy có xuất nhập khác nhau một chút nào đó trong tiến trình khoa cử nhưng đại loại về cơ bản, phép thi được xác lập như sau:
T rư ờ n g thứ nhất thi Kinh nghĩa, tức là hỏi về ý nghĩa của các kinh điên Nho học ỏ' một vấn đề nào đó Thí
s inh phải làm sáng tò vấn đề nào đó đưọc hỏi Bài được làm theo lối văn Bát cổ Trường thứ nhì thi thi phú
T h í sinh phải làm th ơ làm phú theo cliủ đề và thể th ơ thè phú theo yêu cầu mà quan trường ra Trường thứ ba tlni chế, chiếu, biêu Thí sinh phải làm m ột bài chế, chiếu, biểụ theo chủ đề nào đó được đưa ra Trường thứ
tư thi môn văn sách Thí sinh phải làm một bài vặn sách mậ chủ đề của nó thường hướng về các vấn đề có liịện quan đến đạo trị nước an dâu số đỗ thi Hương Ctược lấy theo giải ngạch và được gọi là cử nhận Dỗ cù' ruhân thì được dự thi Hội và được bô làm quan Song sổ lượng thi quá đông, cử nhân bị giới hạn theo giai mgạch nên những ngưòi ta lấy thêm m ột số nữa và gọi đó là tú tài Tú tài hầu như chỉ là sự động viên nào đó c;ho thí sinh đê chò' kì thi H ương ba năm sau đó m à đi thi lại
Cái "nghề nghiệp" mà khoa cử dạy là nghề làm quan với nhiều đặc ân và vinh dự Danh xưng truyền 1(5, ban yến, du nhai, khán hoa sao mà thịnh thế Khoa hoành từ, chế khoa, nhã sĩ đợi chờ những tài năng phi tlhường K hoa đông các, sĩ vọng, m inh kinh chọn lấy các vị học sâu kinh điển V ới kẻ sĩ, mũ áo cờ biển vinh hiển tấm thân, bảng vàng bia đá lưu danh truyền mãi.
2
Trang 4Đã là sản phấm m ang đặc trưng trung đại thì nhất định khoa cử phải ra đi khi xà hội bước vào giai đoạn cận hiện đại vi xã hội cận hiện đại không phủ nhận tinh hoa nhưng đề cao tính phổ thông, đại chúng Các thành viên trong xã hội ai cũng phải được hương và phải đạt đến m ột mức độ chung được coi là phô thông cho tất cả về phương diện giáo dục Trên cái cơ sỏ' và phông nền chung đó của giáo dục phổ thông, các
cá nhân trong xã hội lại đưọ'c nhận giáo dục chuyên nghiệp theo các yêu cầu phân công lao động cùa xã hội dựa trên nguyện vọng của từng cá nhân và định hướng xã hội
ơ nhiều nước Đông Á, nhất là T rung Quốc, quê hương của khoa cư, vào giai đoạn cận đại đà xuất hiện phong trào phê phán khoa cử rầm rộ và dữ dội N gười ta cho cái học khoa cử là vô dụng N hững văn bài khoa cư và những ông quan từ trường khoa cử đã không bảo vệ được nhà Thanh, giúp được Trung Quốc khỏi bị uy hiêp trước sức mạnh tàu đồng đại bác của phương Tây tư bản chủ nghĩa Chính vì thế, ỏ' Trung
Q uốc, khoa cử từ chương bị bãi bỏ từ 1902, ở T riều T iên từ 1894 C òn nước ta, dưới chế độ thực dân phong kiến, khoa cử lạc hậu lại kéo dài thêm gần 2 0 năm nữa.
1.2 Cải lương giáo dục khoa cử (1906 - 1919)
Sau hoà ước Giáp Thân 1884, thực dân Pháp thiên về xu hướng duy trì những thiết chế, chế độ đang
có ở Việt Nam đê phục vụ cho quyền lợi của người Pháp như: duy trì triều đỉnh phong kiến nhà Nguyễn và chế độ cũng như bộ máy cùa nó
T rong khi chế độ thực dân vẫn duy trì khoa cử như một thứ mồi nhử tang lóp biết chữ thì lại xuất hiện một lớp nhà nho yêu nước tiếp nối sự nghiệp cứu nước của lóp nhà nho cần vương (1885 - 1897) trong điều kiện mới N hiều ngưòi trong số họ đã từng qua cử nghiệp đỗ đạt cao Họ đã được đón một luồng gió mới của thời đại thôi tói từ bốn phương Luồng gió mới cho tinh thần tự cường với gương Nhật Bản, gương Trung Hoa cũng như gương Âu M ĩ qua tân thư, tân báo, tân văn Các trước tác của K hang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Nghiêm Phục chở chuyên những tư tưởng mói trở thành sách mà họ đua nhau trao tay đọc vừa bí mật vừa công khai Họ nhận thấy mình đang sống ò' buổi "mưa Âu gió Mỹ" Các nước trên thế giới ỏ' thế cạnh tranh theo kiểu "ưu thắng liệt bại" do qui luật "thiên diễn" chi phối Họ nhận thấy nguyên nhân của m ất nước
là sự lạc hậu, là do cái học cử nghiệp sai lầm đă làm lầm lõ' bao thế hệ Họ chống hủ nho, kêu gọi canh tân đổi mới, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.
C hống khoa cử hủ bại đã thành m ột phong trào xã hội bồng bột, lan tràn, lôi cuốn khắp nước M ột mặt, thực dân phong kiến đàn áp, nhà tù đế quốc phong kiến đầy những tú tài, cứ nhân, tiến sĩ duy tân, những người đã nhận ra “bia mà chi, bảng m à chi” M ặt khác, chính bè lũ thực dân cũng thấy rằng chúng không thê duy trì m ãi cái mồi “cử nghiệp” cũ đế dụ dỗ thanh niên đưọc như trước được Hơn nữa, công cuộc khai thác thuộc địa của chù nghĩa tư bản Pháp cũng đòi hỏi những con ngưòi khác, không cần những người chi biết khoa cử từ chương nên lúc này chính quyền thực dân cũng không cần những tiến sT cử nhân cua nền cựu học nữa
Ngày 8 tháng Ba năm 1906, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản xứ (Conseil de Perfectionnemnt de I Enseignement indigene ).
Ngày 16 tháng 5 năm 1906, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định cho thành lập tại Bắc Kỳ, Trung
Kỳ, Nam Kỳ, Campuchia, Lào, mỗi nơi một Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ để nghiên cứu các vấn đề giáo dục có liên quan đến từng nơi một Hội đồng này trực tiếp làm việc vói ủy ban thường trực của Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục toàn Đ ông D ươ ng"1
Thực hiện nghị định trên, ngày 31 tháng 5 năm 1906 vua Thành Thái đã ra thưọng dụ về việc cải cách
H ọc pháp mà theo đó, Hội đồng cải cách học vụ của chính phù Nam triều đã được thành lập, có nhiệm vụ canh định phép học và phép thi cho hệ thống giáo dục khoa cử chữ Hán hiện hành
Ngày 6 tháng 7 năm Thành Thái 18 (1906), Viện C ơ Mật dâng tấu chương về canh định giáo dục và qui thức phép thi do Hội đồng cải cách học vụ soạn thảo m à theo đó hệ thống khoa cử truyền thống được đề xuất cãi định thành một hệ thống giáo dục gồm 3 cấp học Vua đã ban dụ chuẩn y tấu này
N gày 14-9-1906, Toàn quyền Đ ông Dương Broni chuẩn y chương trình cải định trên bàng văn bản mà trên đó còn có chữ kí của Giám đốc Học chánh Đông Pháp Góurdon và Khâm sứ Trung Kì Levecque"2.
N gàv 16 tháng 11 năm 1906, Thống sứ B ắc Kỳ tuân phụng thực hiện các khoản của thượng dụ đã được Toàn quyền Đông Dưong chuẩn y trên đầy để tiến hành cài định phép hoc và phép thi ở Bắc Kỳ
v ề phương diện tổ chức, hệ thống giáo dục khoa cử cũ đã dược cải định thành hệ thống giáo dục với 3 cap học như sau:
1 D ương Kinh Q uốc, sách đà dẫn, H., 200 6 , tr Jố3
2 N g u y ễn Q T hắng, K h o a c ử và G iá o d ụ c Việt N a m , tái bàn lần thứ IV , có b ổ sung, N xb T ổn g hợp TP H ồ Chí M inh,
2 0 0 5 , tr.367
3
Trang 5Ẩu học do các xã thôn tự trù thiết lập, thu nhận trẻ từ 6 tuổi đến ] 2 tuổi cả nam và nữ N hũng ai đứng
ra m ời thầy, lập trường tư cũng cho phép Các sĩ tử trường tư cũng đều được tham dự sát hạch ứng thí cũng như sĩ tử trường công Các xã thôn được tự tuyển lựa giáo sư cho hệ thống trường này nhưng phái được chính quyền chuẩn nhận Các viên giáo thụ và huấn đạo của các phu huyện có chức vụ kiểm sát tnrờng Ẩu học Ớ các tỉnh lỵ cũng thiết lập các trường theo qui thức của trường Ấ u học K inh phí của các trường ấy do các tỉnh chi cấp Giáo qui của trường Ẩu học có 2 loại G iáo qui chữ Hán dạy những chữ thường dùng và thiêt dụng về cái lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý Giáo qui Nam âm dạy chữ quốc ngữ và các độc bản chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, thiên văn địa lý và vệ sinh Tốt nghiệp Ẩu học thì được cấp văn bằng TU Y ÊN SINH Còn như phép đào tạo các giáo sư cho hệ Ẩ u học thì ỏ' tỉnh lỵ cua các tỉnh có thiết lập m ột trường quốc ngữ đế dạy cho các hương SU' không biết chữ quốc ngữ
T iểu học tố chức ở cấp huyện và phủ, thu nhận những ngưòi tuổi dưới 27, do quan huấn đạo (ở cấp huyện), quan giáo thụ (ở cấp phủ) coi sóc Vì vậy, loại trường này đưọc gọi là trường của quan huấn đạo, giáo thụ G iáo qui của trường T iểu học có 2 loại Giáo qui chữ Hán để dạy các môn luân lý, văn chương, Bắc
sử, Nam sử do giáo thụ, huấn đạo giảng giáo Giáo qui Nam âm để dạy các thư tịch về lịch sử thể giới, địa lý, cách trí, toán học cho được tiện Hoặc dạy cả thêm chữ Pháp Giáo qui Nam âm ấy nếu như các viên giáo thụ, huấn đạo không có thê dạy được thì có sự trợ giúp của các giáo sư các trường Pháp-V iệt Quan đốc học của các tỉn h có trách nhiệm kiểm sát các trường Tiểu học Học xong chương trình Tiểu học, quan đốc học làm quan chủ khảo tổ chức thi cho các học sinh Tiểu học Ai trúng tuyên sẽ được nhận văn bằng KHOÁ SINH
Trung học thiết lập ở tỉnh lỵ, thu nhận những người dưới 30 tuổi, do quan đốc học trực tiếp giảng giáo Criáo qui của trường có 3 loại: M ột là giáo qui chữ Hán Hai là giáo qui Nam âm Ba là giáo qui chữ Pháp
C hữ H án thì dạy theo các văn bản thư tịch chữ Hán tương đối cao và thể thức các hạng cỏna văn Nam âm thì dạy cho các môn như: lịch sử liệt quốc, địa lý và cách trí tân thời, toán pháp và tập làm văn chương chữ quỏc ngữ C hữ Pháp thì dạy Pháp văn tự thoại SO' đẳng Sau khi hoàn thành chương trình học, do tỉnh tổ chức thi tốt nghiệp lấy văn bằng THÍ SINH Có bằng này mới được đi thi Hương.
"Cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919" là cách diễn đạt nhằm trỏ "tổng thể các biện pháp, cách thức tiến hành, thực tế triển khai cũng như kết quả đạt được theo tiến trình thời gian từ năm 1906 đến năm 1919" để chuyên đôi hệ thống giáo dục khoa cử bằng chữ Hán có tính tinh hoa, thượng đẳng trung đại sang giáo dục phổ thông cận hiện đại trong các điều kiện lịch sử ỏ' Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
T rong các tư liệu đương thời, lúc đầu, quá độ giáo dục đó đưọc gọi là "chương trình hoàn thiện nền giáo dục ban xứ", "cải cách học vụ", "cải định học pháp, thí pháp" nhưng đồng thời cũng được gọi là "cải lương giáo dục" mà theo đó nhiều yếu tố của nền giáo dục khoa cử cũ vẫn được dùng như chữ Hán, Hán văn
hệ thống kinh truyện Nho học bằng Hán văn và thậm chí cả các hình thức thi cử kiểu cũ như thi Hương, thi Hội, thi Đ ình vân còn được dùng nhưng được cải đổi ở một m ức độ nhất định dê có thể đáp ứng ỏ' một mức
độ nào đó các yêu cầu của chương trình cũng như thực tế sử dụng.
Cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán (1906-1919) đã chuyển nền giáo dục khoa cử chữ Hán đã có ỏ' nước ta hơn 800 năm thành hệ thống giáo dục phân cấp, phân môn, đa ngữ, đa văn tự (chữ Hán và Hán văn; chữ Quôc ngữ và Nam âm; chữ Pháp và Pháp văn), chuyển đổi và quá độ
1.3 Hán văn trong chương trình cải lưoìig giáo dục khoa cử(1906 - 1919)
Trong hệ thống giáo dục đó, bộ phận giáo dục Hán văn đã được thiết kế trong các mối liên hệ đối lập
và tương ứng m ôn học và tương ứng ngôn ngũ'
Tương ứng môn học là ỏ' chỗ, trong hệ thống giáo dục này có các môn học cũ'1 có liên quan đến khoa
cử truyền thống và những m ôn học mới chưa từng có trong khoa cừ Các m ôn học có liên quan đến các ngành
xã hội, nhân văn như luân lý, văn chương, Bắc sử, N am sử v.v vốn có quan hệ trực tiếp với khoa cử truyền
th ố n g hay có quan hệ với các thư tịch Hán văn đà có Các môn có liên quan đến khoa học tự nhiên hay khoa học hiện đại như toán học, cách trí v.v lại là những môn mới chưa từng có trong khoa cử nhưng lại là những môn căn bản của giáo dục phô thông hiện đại Tương ứng môn học là tương ứng về phương diện kiên thức Tương ứng ngôn ngữ là ờ chỗ, trong hệ thống giáo dục này sử dụng 3 loại ngôn ngữ văn tự (chữ Hán, chữ Quôc ngữ, chữ Pháp) nhung môi loại ngôn ngừ văn tụ' này lại được phân công đê đảm nhận các môn học, các khối kiến thức khác nhau
Có hai loại giáo qui được áp dụng đe dạy kiến thức cho các môn học Giáo qui chữ Hán, Hán văn và giáo qui N am âm
D ạy bằng Hán văn trước hết áp dụng cho những nội dung và m ôn học thuộc phạm trù luân lý, văn
ch ư o n g có quan hệ với khoa cử truyền thống như Tứ Thư, Ngũ Kinh, Bắc sử, N am sử; các thể loại văn bản
3 Đó chỉ là cách "tạm gọi" mà thôi Tuy chúng có liên quan trực tiếp đến giáo dục khoa cử truyền thống nhưng chúng đă
có thay đổi
4
Trang 6công vụ cao cấp (chế, chiếu, biểu) hay văn thể khoa cử như văn sách, luận Cũ về m ôn học nên cũng cũ về ngôn ngữ được sử dụng.
D ạy bằng Nam âm là những môn chưa từng có trong khoa cử truyền thống như toán học, cách trí, địa
lý v.v M ới về m ôn học nên cũng mới về ngôn ngữ được sử dụng
ơ câp A u học, giáo dục Hán văn được thiết kế trong mối quan hệ tương hỗ với Nam âm Hán văn ỏ' cấp này dạy những chữ Hán thường dùng và thiết dụng về các lĩnh vực chính trị, địa lý, luân ]ý mà lúc bấy giờ đòi hỏi N am âm dạy chữ quốc ngũ' và các độc bản chữ quốc ngữ thiết yếu về các lĩnh vực chính trị, phong tục, luân lý, thiên văn, địa lý và vệ sinh
ơ câp T iếu học, giáo dục Hán văn được thiết kế cho sự hướng vào 4 nhóm môn học là luân lý, văn chương, Băc sử và Nam sử Trong khi đó, giáo qui Nam âm ở cấp học này để dạy các thư tịch về lịch sử thế giới, địa lý, cách trí, toán học Đối lập cũ m ói về kiến thức m ôn học dẫn đến đối lập cũ mới về việc sử dụng ngôn ngữ văn tự cho việc dạy các môn cũ mới đó.
Ớ cấp Trung học, Nam âm được dạy cho các môn lịch sử liệt quốc, địa lý, cách trí tân thời, toán pháp, tập làm văn chương chữ quốc ngữ G iáo qui N am âm thì sử dụng sách của trường Pháp Việt M ới m ôn học
và nội dung học nên cũng mới về ngôn ngữ sử dụng trong việc dạy và hoc
Có hai yêu cầu về năng lực giáo dục Hán văn Một là năng lực nắm bắt Hán văn Hai là năng lực sử dụng H án văn
N ăng lực nam bắt Hán văn lại bao gồm năng lực nắm bắt Hán văn và năng lực làm văn bằng Hán văn Năng lực nắm bắt Hán văn bao gồm khả năng nắm bắt vốn từ ngữ, chữ nghĩa, cú pháp, độc bản đê có thê đọc hiểu các nội dung chứa đựng trong độc bản đó Năng lực làm văn lại bao gồm các khả năng có thể tạo nên các văn bản Hán văn theo các thể loại Hán văn nhất định m à chương trình học và chương trình thi H ương, thi Hội đòi hỏi C ó thể coi hai loại năng lực này là năng lực Hán văn CO' bản
Năng lực sử dụng Hán văn cho việc học những môn học cụ thể có trong chương trình có tính bộ môn hon ơ đây có môi quan hệ trực tiếp đến các môn học cũng như các m ôn thi và văn thế được sử dụng trong thi Hương, thi Hội Có thể coi đó là năng lực Hán văn bộ môn Tất nhiên, quan hệ giữa năng lực nắm bắt và sử dụng Hán văn vói năng lực nắm bắt kiến thức chuyển tải trong Hán văn hay qua Hán văn thực khó tách rời Khi nói đến giáo dục Hán văn, phương diện năng lực nắm bắt và sử dụng Hán văn sẽ được nhấn mạnh hon so với phương diện nắm bắt các tri thức được Hán văn chuyển tải
Việc tạo nên các năng lực nam bắt và năng lực sử dụng Hán văn được thê hiện bằng các giáo qui của chương trình Theo nghị định cải định học pháp và thí pháp ban hành năm 1906, giáo qui chữ Hán và Hán văn được bố trí như sau:
ơ cấp Au học, giáo dục Hán văn nhằm dạy những chữ Hán thường dùng và những chữ Hán thiết dụng
về cái lĩnh vực chính trị, địa lý, luân lý Do vậy, giáo dục Hán văn ở cấp Ẩu học đà được biên soạn mới Công việc này được thực hiện bời Hội đồng Tu thư được thành lập trong Phủ Thống sứ Bắc Kỳ
Ở cấp Tiểu học, giáo dục Hán văn hướng vào 4 nhóm môn học là luân lý, văn chương, Bắc sử và Nam
sử Khi nói đến luân lý, tức là nghiêng về luân lý tu thân Khi nói đến văn chương, tức là nghiêng về phương diện cương thường, đạo lý vua tôi Do vậy, các môn Luân lý, Văn chương trong phạm trù Hán văn đà đưọcdạy qua 0 n Tứ Thư ( Ả ¥ Đại học, pf3 0 Trung dung, qffl m Luận ngừ, ã k ỉ Mạnh T ử) Các sách này vốn thuộc phạm trù sách giáo khoa của khoa cử truyền thống nhưng được tiết lược cho phù họp với yêu cầu cùa tình hình theo hai phương thức: tiết lược giản quát và tiết lược vựng biên
Bắc sử, Nam sử ở cấp Tiểu học được thiết kế như một khối kiến thức hay như một môn học độc lập
được học bằng Hán văn Hán văn Bắc sử và N am sử cũng đưọc biên soạn lại theo hướng tân ưóc toàn biên, tân san toàn biên, chú trọng đến tính hệ thống, tính liên tục lịch sử, tính chù đề v.v Công việc biên soạn tài liệu được thực hiện bỏ'i Hội đồng Tu thư được thành lập trong Phù Thống sứ Bắc Kỳ.
Ờ cấp Trung học, giáo dục Hán văn hướng vào dạy các văn bàn thư tịch chữ Hán tương đối cao như
Ngũ Kinh cũng như V iệt sử và văn thể các hạng công vãn như chế, chiếu, biếu và từ, trát cũng như các văn
thể phục vụ thi H ương, thi Hội, thi Đ ình như văn sách, luận Giáo dục Hán văn Ngũ Kinh cũng được xem là
giáo dục luân lý, văn chương Hán văn N gũ Kinh được tái cấu trúc theo hướng toát yếu
C ông việc biên soạn tài liệu được thực hiện bởi Hội đồng Tu thu được thành lộp trong Phù Thông sứ Bắc Kỳ
Ket quả là ở đây đà hình thành các phạm trù Hán văn và giáo dục Hán văn của riêng mình như: Hán văn căn bàn, được bố trí ở cấp Ắu học (Hán văn Au học) nhằm trang bị cho người đi học một năng lực Hán
văn nhất định về phương diện chữ nghĩa, văn pháp, văn thể, văn vận thông qua các bài học được thiết kế có tính sư phạm nhằm dạy các chù’ Hán thưòng dùng và thiết dụng về các lĩnh vực chính trị địa lý, luân lý theo
yêu cầu cùa thời đại; Hán văn kinh truyện, nhằm trang bị cho người đi học ở những mức độ nhất định các
kinh truyện của Nho học Hán văn kinh truyện là Hán văn Tứ Thư, Hán văn Ngũ Kinh, được dạy ỏ' các cấp
5
Trang 7Tiêu học và T rung học theo lối tiết lược và toát yếu; Hán văn Bắc sư, nhằm trang bị cho người học nhũng
mức độ nhất định về lịch sử T rung Quốc, được dạy ở cấp Tiểu học; Hán văn quốc sử, được dạy ỏ' cả ba cấp
học (Với cấp Ẩu học, quốc sử được dạy như là một bộ phận của Hán văn học chữ V ới cấp Tiểu học và Trung học, Q uốc sử được dạy thành môn độc lập); Hán văn bàn quốc địa dư tuy ỏ' hệ thống trường công chI được dạy ở cấp Ấu học nhưng lại khá phổ dụng trong xã hội để ngưòi đọc qua chữ Hán, Hán văn mà biết về đấl nước, quê hương mình
Đe cập đến các phạm trù Hán văn nói trên là nội dung của nghiên cứu này.
2 Mục tiêu:
Đe tài nghiên cứu Hán văn được sử dụng cho các môn học trong các cấp học cùa chương trình cải lương giáo dục khoa cử chữ Hán 1906 - 1919 qua hệ thống các tài liệu có tính văn bản được sử dụng trong giai đoạn đó như: hệ thống văn bản sách giáo khoa chữ Hán cho các môn học; hệ thống văn bài chừ H án của các kỳ thi Hương thi Hội; hệ thống các sách bổ trợ ); phân tích các nội dung chủ yếu về tính phân môn cũng như đặc tính Hán văn của các môn học này; qua đó góp phần làm rõ những biện pháp và cách thức đà được thực hiện cho bước chuyển đổi từ khoa cử truyền thống sang giáo dục phổ thông hiện đaị; cung cấp kinh nghiệm thực tế cận đại cho quá độ giáo dục và văn hóa ỏ' V iệt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu vận dụng phương pháp phân tích tài liệu Hán văn được Hội đồng Tu thư của Phù Thống
sứ biên soạn hay chấp nhận làm tài liệu giáo khoa cho hệ thống các môn học bằng Hán văn của chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 -1919 sau khi đã có những nghiên cứu cần thiết về phương diện văn bản học Hán N ôm và N gữ văn Hán Nôm
4 Tong kết kết quả nghiên cứu
Đe tài đã thực hiện đúng các nghiên cứu đã được phê duyệt cũng như nội dung của H ọp đồng nghiên cứu số 1242 / H Đ -K H C N ký ngày 30 tháng 5 năm 2014 giữa bên A: T rường Đại học K hoa học xã hội và
N hân văn và chủ nhiệm đề tài C ác nội dung và sản phẩm nghiên cứu như sau:
NỘI DUNG 1:
- Xây dựng đề cương chi tiết cho đề tài “Nghiên cứu Hán văn trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919” Đe cương chi tiết đã được xây dựng và đã được thông qua ỏ' bước thẩm định đề cương chi tiết và đã được phê duyệt
NỘI DUNG 2:
- Thu thập và viết tổng quan tài liệu cho đề tài “Nghiên cứu Hán văn trong chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919” gồm 01 báo cáo dài 50 trang, tổng quan các loại tài liệu sau đây cho đề tài: Tài liệu về lịch sử V iệt Nam của giai đoạn được nghiên cứu; Tài liệu có tính gợi ý về phương pháp luận cho việc lựa chọn đối tượng nghiên cún trong nghiên cứu chuyển đổi và quá độ; Tài liệu về lịch sử giáo dục của giai đoạn được nghiên cứu ( K hoa cử và G iáo dục nói chung); Tài liệu Hán văn được sử dụng trong chương trình này Báo cáo gồm 39 trang
NỘI DUNG 3: Những chuyên đề chủ yếu của đề tài:
Cluiyên đề 1: Hán văn Tú' Thư cho bậc Ẩu học và Tiểu học của Chương trình cải lương giáo dục
khoa cử 1906 - 1919 Chuyên đề nghiên cứu Hán văn Tứ Thư như một môn học thuộc nhánh các môn thuộc
phạm trù luân lý và văn chương mà theo đó, Đại học là "sơ học nhập đức chi môn; Trang dung là "Khổng
m ôn truyền thụ tâm pháp"; Luận ngữ và M ạnh T ử là nơi thể hiện chân dung cùa hai bậc thầy đạo đức Đẻ thực hiện m ình trong vai trò là m ôn học truyền thụ luân lý, văn chương vừa theo nghĩa cũ vừa theo nghĩa mói cua tên gọi này trong cơ cấu tổng thể của cả chương trình, Hán văn Tứ Thư đã được tái cấu trúc theo hai phưong thức: tiết lược giản quát và tiết lược vựng biên Tiết lược giản quát của Đại học là lối giàn quát giữ chương Tiết lược giản quát của Trung dung theo lối bỏ chương Những phần bị tiết lược di thường là những diễn đạt mỏ' rộng hay những trích dẫn từ Thi Thư Chuyên đề gồm 29 trang.
Chuyên đê 2: Hán văn Ngũ kỉnlt cho bậc Trung học của Chương trình cải lương giáo dục khoa cu
1906 - 1919 nhằm đề cập đến tính phân m ôn của Hán văn Ngũ kinh trong tống thể cơ cấu cùa cả chương
trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919, mà theo đó Ngũ kinh được coi là những môn học hay phàn môn học về luân lý, văn chương vừa theo nghĩa cũ, vừa theo nghĩa mới của hai cách gọi này Trong vai trò
đó, Kinh Dịch được học cho mực đích "thức thòi xét thế", "cách cố đỉnh tân"; Kinh Thơ được học cho mục
6
Trang 8đích xem xét tổ nguồn cùa nền chính trị N ho gia; Kinh Thi được học cho mục đích giáo hóa thấm đậm tinh thần quân chủ; Kinh Lễ được học cho mục đích biết được các nghi lễ cổ; Kinh Xuân Thu được học để biết thời biên Đê đạt được các yêu câu ây, Hán văn Ngũ Kinh đã được tái câu trúc theo hướng toát yêu nhăm
"tóm lấy những điều trọng yếu" Chuyên đề gồm 26 trang
Chuyên đê 3: Hán văn Bắc sir cho các cấp học của Chương trình cải lương giáo (lục khoa cử 1906
- 1919 nhằm đề cập đến môn lịch sử T rung Quốc từ thời Tam H oàng Ngũ Đe cho đến đương thời (1907) Đê thực hiện được yêu cầu đó, Hán văn Bắc sử đã được cấu trúc lại theo hướng phân kỳ lịch sử, vừa chú trọng đến các sự kiện chính trị và vừa chú ý đến tính hệ thống lịch sử theo chủ đề C ách tái cấu trúc Hán văn Bắc
sử như thế thể hiện tính quá độ của môn học Chuyên đề gồm 17 trang
Chuyên đề 4: Hán văn Quốc sử clio các cắp học của Chương trinh cãi lương giáo dục khoa cử 1906
- 1 9 1 9 nhằm đề cập đến m ôn quốc sử được học bằng Hán văn ở cả 3 cấp học mà theo đó, quốc sử được nhận thức là lịch sử chung cho quốc dân, là m ôn học thuộc phạm trù cái học phổ thông, thực học T heo tinh thần
đó, quốc sử cho cấp Àu học được dạy theo lối kể sử truyện, hạnh sự của các nhân vật lịch sử của các đời, kế thừa lối kỷ sự của sử học truyền thống nhưng theo hướng giản hóa Quốc sử ỏ' cấp T iểu học được tổ chức theo lối chương tiết Quốc sử ở cấp T rung học được trình bày theo lối toát yếu Hán văn quốc sử là m ột trong những dấu hiệu cho sự đột biến của giáo dục Hán văn đầu thế kỷ XX C huyên đề gồm 23 trang
Chuyên đề 5: Hán văn Địa (lư Nam quốc cho cúc cấp học của Chương trình cải lương giáo dục
khoa cu 1906 - / 9 / 9 nhằm đề cập đến việc sử dụng Hán văn cho việc học tập địa dư ban quốc đương thòi
C ùng với Hán văn quốc sử, Hán văn Nam quốc địa dư là một trong những biếu hiện cho sự đột biến trong giáo dục Hán văn của chương trình cải lương giáo dục khoa cử C huyên đề gồm 21 trang
Chuyên đề 6: Văn thế sách luận và hệ thong sách văn bài mẫu phục vụ cho khoa cử cải lương 1906
- 1919 nhằm đề cập đến hai loại văn thể Hán văn được sử dụng trong thi Hương, thi Hội đã làm nên sự khác
biệt của phép thi thời khoa cử cải lương so với thời khoa cử truyền thống Đó là văn thể sách văn và luận thể Sách văn Hán văn được dùng trong trường thi thứ nhất ỏ' thi H ương và thi Hội được dùng đế hỏi về kinh truyện, thòi vụ, quốc sử, B ắc sử, sử Thái Tây theo kim văn Luận thể Hán văn được dùng ở trường thi thứ hai của thi Hương và ỏ' trường thí thứ ba của thi Hội để luận về kinh truyện, Bắc sử và thời vụ Thích ứng với sir thay đối trong phép thi là sự xuất hiện của hệ thống sách văn bài m ẫu có tính luyện thi cho sĩ tử C huyên đề gồm 29 trang
Chuyên dê 7: Hán văn Đông kinh Nghĩa thục - Hán vàn Nhà trường xêu nước và cách mang; Hán
văn “cỗ máy đúc quốc hằn, linli đan bồi bổ quốc n ã o ” nhằm đề cập đến Hán văn cùa T rường Đ ông Kinh NghTa Thục, một trưòng tân học được thành lập nhân điều kiện cùa chương trình cải lương giáo dục khoa cử vào đầu năm 1907 V ưọt lên các trường nghĩa thục khác của cùng thời kỳ, Đ ông Kinh N ghĩa Thục với các hoạt động cùa mình đã hoạt động như m ột phong trào cải cách văn hóa đầu thể kỷ XX Hán văn Đ ông Kinh
N ghĩa Thục là Hán văn giáo dục tư cách quốc dân với các độc bản là các giáo trình, giáo khoa như : Quốc dân độc bản, Tân đính luân lý giáo khoa', Cải lương mông học quốc sử giảo khoa', Nam quốc địa dư; Nam quốc v ĩ nhân truyện; V.V VÓÍ lối viết tràn trề nhiệt huyết, thức tỉnh hồn dân tộc, lay động lòng người quả Iilur
là "cỗ máy đức quốc hồn, linh đan bồ bổ quốc não" Chuyên đề gồm 23 trang
Chuyên đề 8: Các phương thức và xu hướng tái cấu trúc Hán văn trong Chương trình cải lương
giáo dục klioa cử 1906 - 1919 đề cập đến các phương thức và xu hướng tái cấu trúc Hán văn trên các
p hương diện như: nguyên tác thiết kế các môn học bằng Hán văn; các phương thức tân biên, tân san, tân đính
để tạo nên tân thư Hán văn và xu hướng giản hóa các tài liệu kinh điển cổ qua phương thức tiết lược, toát yếu C huyên đề gồm 33 trang
Chuyên đề 9: Hán vă /1 trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919 : Hán văn của (ỊU(Í độ giáo dục từ giáo dục khoa cữ sang giáo (lục p lĩó thông cận hiện đụi qua nội (lung, chức năng và
phong cách nhằm đề cập đến tính quá độ của cả chương trình cài lương được thể hiện qua giáo dục Hán văn
Các môn học cùa chương trình cải lương giáo dục khoa cử được thiết kế theo tinh thần: mới về môn học thì mới về ngôn ngữ; cũ về môn học thì cũ về ngôn ngữ v ề cơ bản, những môn học bằng Hán văn là những
m ôn có liên quan đến nội dung và tư liệu của nền cựu học Tuy vậy, khi đi vào kết cấu của chương trình mói,
7
Trang 9các tư liệu này cũng đà được tái cấu trúc C huyên đề gồm 32 trang.
Chuyên đê 10: Hán văn trong Chương trình cái lương giáo dục khoa cù 1906 - 1919 và quá độ văn
đề Hán văn trong Chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919 như là một trong những minh chứng cho sự quá độ văn hóa từ truyền thống sang hiện đại ở V iệt Nam trong điều kiện thực dân phong kiến Giáo dục Hán văn ỏ' đây như là cái cầu nối giữa tính cao quý, tinh hoa của văn hóa trung đại sang văn hóa phổ thông, đại chúng hóa thời cận hiện đại
/
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận
Đề tài đã được theo các yêu cầu của H ợp đồng trên tất cả các m ặt ( ý tường nghiên cứu, việc hiện thực hóa ý tưởng nghiên cứu qua các nghiên cứu cụ thể theo chuyên đê cũng như các quy định và chế độ quản lý khoa học hiện hành)
6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)
Đe tài đã nghiên cứu Hán văn của chương trình cải lương giáo dục khoa cử 1906 - 1919 qua hệ thống các văn bản và tư liệu giáo dục bằng Hán văn được sử dụng trong chương trình này như: Hệ thống sách giáo khoa cho các môn học bằng Hán văn; hệ thống văn bài thi Hương, thi Hội, phân tích hệ thống Hán văn này
đế qua đó góp phân làm sáng tỏ bước chuyến đối và quá độ của giáo dục cũng như văn hóa từ truyền thống sang hiện đại ở V iệt Nam
Kết quả của đề tài:
- 01 báo cáo tổng hợp đề tài
o f these Han docum ents, contributes to clarify the m easures and m ethods w hich w ere im plem ented for the transition from traditional to m odem education
PHÀN III SẢN PIIẤM, CÔNG BÓ VÀ KÉT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TÀI
3.1 Ket quá nghiên cửu
sản phẩm)
Ghi địa chỉ
và cảni on sư tài trọ' cua ĐHQGHN đúng quy định
Đánh giá chung
(Đạt, không đạt)
Trang 101 C ông trình công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống I S I /S coị HIS
1.1
1.2
2 S ách chuyên khảo được xuất bản hoặc kỷ hợp đồng xuất bàn
2.1 Hán văn trong chương trình cải lương
giáo dục khoa cử (1906 - 1919)
Đã in S ô xuât bản: 1294- 2016/C X BIPH /03- 120/ĐHỌG HN, ngày 29/04/2016 Q uyết định xuất bản số: 523 LK -X H /Ọ Đ -
N X B Đ H Ọ G H N , ngày 17/05/2016
Đà ghi đúng quy định
5 B ài báo trên các tạp chí khoa học của
gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong
3H Ọ G H N , tạp chí khoa học chuyên ngành quôc
(ỷ yếu hội nghị quốc tế
5.1 Ba câp học trong chương trình cải
lương giáo dục khoa củ' chữ Hán
( 1 9 0 6 - 1919)
Tạp chí Hán Nôm , sô 4 (131)/2015, trang 6 6 - 7 3
Đạt
5.2 C uộc thí nghiệm hơn mười năm cho
sự bãi bỏ giáo dục khoa cử chữ Hán
Tạp chí H án Nôm , sô 2 (1 3 5 )/2 0 16, trang 2 9 - 4 0
Đã ghi đúng quy định
Đạt
5.3 T ứ Thư, Ngũ Kinh trong chương trình
cải lương giáo dục khoa cử chữ H án
(1906-1919) trên phương diện học
pháp và thí pháp
Tạp chí H án Nôm Bìa đã được biên tập Có giấy xác nhận cùa Phó Tổng biên tập phụ trách N guyễn Hữu Mùi
Đã ghi đúng quy định
Các ân phâm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo ) chì đươc chấp nhân nếu có ghi nhận địa chỉ và cám ơn tài trợ của ĐHQGHN theo đúng quy định.
Bàn phủ tô toàn văn các ấn phâm này phải đưa vào phụ lục các minh chứng của báo cảo Riêng sách chuyên khao cân có bân phô tô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin mã so xuất ban.
3.3 kết quá đào tao
Thòi gian và kinh phí tham
gia đề tài
(sổ thảng/số tiền)
Công trình công bố liên quan
(Sàn phàm KHCN, luận án, luận văn) t)à báo vệ
N g h ên cứu sinh
1
H ọ c viên cao học
Ọ
Trang 11Ghi chú:
Gĩri kèm bản photo trang bìa luận án/ luận văn/ khỏa luận và băng hoặc giấy chím g nhận Iighièn cứu sinh/thạc sỹ nếu học viên đà bảo vệ thành công luận á n / luận văn;
Cột công trình công bô ghi như mục III 1.
PIÍẢN IV TỎNG HỢP KÉT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐẢO TẠO CỦA ĐÈ TÀI
đăng ký
Sốlưọng đã hoàn thành
1 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống
ISI/Scopus
2 Sách chuyên khảo được xuất bản hoặc ký họp đồng xuất bản
3 Đăng ký sở hữu trí tuệ
4 Bài báo quôc tê không thuộc hệ thông ISI/Scopus
5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của Đ H Ọ GHN tạp
chí khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng
trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
6 Báo cáo khoa học kiên nghị, tư vàn chính sách theo đặt
hàng của đơn vị sử dụng
7 Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định
chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN
8 Đào tao/hô trơ đào tao NCS
9 Đào tạo thạc
PHÀN V TÌNH IIÌNH s ử DỤNG KINH PHÍ
Kỉnh phí được duyệt
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu đồng)
Chi chú
A Chi phí trực tiẻp
1 Thuê khoán chuyên môn
2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con
3 Thiêt bị, dụng cụ
4 Công tác phí
5 Dịch vụ thuê ngoài
6 Hội nghị, Hội thảo, kiểm tra tiến độ, nghiệm thu
7 In ân, Văn phòng phâm
Trang 12- 02 bài nghiên cứu trên Tạp chí H án Nôm.
- 01 bản sao Ọ uyết định nghiên cứu sinh có đề tài luận án được Đồ tài Ọ G 1432 hỗ trợ.
- Bìa của m ột số khoá luận tốt nghiệp đã được Đề tài Ọ G 1432 hồ trợ.
- 01 ch u y ên luận Hcm văn trong ch ư ơ n g trình cải lương giáo dục kh o a c ử 1906-1919, N xb
Dại học Q uốc gia, Hà N ội 2016, 194 trang.
Trang 13ISSN : 8 0 6 6 -8 6 3 9
Q U Ố C HIỆU CỦA V IỆT NAM TH Ờ I
NGUYỄN Q U A T ư LIỆU HÁN NÔM
DỊCH NÔM KINH ĐIỂN NHO GIA TẠI
V IỆ T NAM T Ừ GÓC NHÌN TƯ LIỆU, PHIÊN
DỊCH V À TH Ô N G DIỄN KINH ĐIỂN
CUỘC THÍ NGHIỆM HƠN MƯỜI NĂM CHO
S ự BÃI BỎ GIÁO DỤC KHOA c ử CH Ữ HÁN
NGUỒN TÀI LIỆU HÁN NÔM GHI DANH
N G Ư Ò I Đ Ỗ THI HƯƠNG
BÀI MINH MANG TÚẾN đ ạ i c à n t h ố n g
T H Ứ 19 (1 6 1 1 )H IỆ N CÒN TRÊN CHUÔNG
LỚN C H Ù A VĨÊN MINH Ở CAO BẰNG
2016
VIỆN NGHỈÊN CỨU HÁN NÔM
VĩÌẼN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ H ộ í VIỆT NAM
Trang 14TẠP CHÍ HÁN NỎM
Ỉ83 phố Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, Tp Hà Nội
Tel: 84-4 35.375780 - Fax: 84-4 38.570940
Phó Tổng biên tập Phụ trá ch : TS NGUYỀN HỮU MÙI
Phó T ổ n g biên tập: TS VƯƠNG THỊ HƯỜNG
trên c h u ô n g lớn ch ù a Viên M inh ờ C ao B ằng 52
NGUYẺN HỮU TÂM : Tư liệu mói phát hiện đính chính thời điểm đi sứ và năm mất
của Chánh sứ Nguyễn Trọng Thường 65
LÊ THỊ THÔNG - : Giá trị văn bia huỳện Sồc Sơn,.Hà N ội 73
PHẠM M INH ĐỨC
TIN TỨC
TRỊNH KHẮC MẠNH : Vò cùng thươntỉ tiếc Phó Giáo sư Trần N íih ĩa 82
: V ô c ù n g th ư ơ n sĩ tiế c N h à n g h iê n cứu H o à im Lẻ 83
Z(135) 2016
Trang 15c u ộ c TH Ỉ NGHIỆM HƠN MƯỜI NÃ IM
C U Ộ C T H Í N G H I Ệ M H Ơ N M Ư Ờ I N Ă M
C H O S Ụ B Ã I B Ỏ G I Á O D Ụ C K H O A c ủ C H Ữ H Á N
P H Ạ M V Ă N K H O Ả I '* 1
Tôm tắt: Bài viết nhằm hệ thống hóa một số sự kiện chú yếú cùa m ột cuộc thí nghiệm
loại bò khoa cừ chữ Hán mà chính quyền thực dân phong kiến đã thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1906 - 1919 như: triển khai cải đồi phép học, phép thi, cách thức phương
pháp ra đòn chí mạng để loại bỏ khoa cử; nguyên văn chữ Hán cùa 1 l ifìỉ íH f t /£ ' tằ-
í í - ặ t - 0 Thánh Dụ bãi khoa cừ pháp, Khái Định tam niên thập nhất nguyệt
tứ nhật (Thánh Dụ bãi phép khoa cử, ngày 4 tháng 11 năm Khải Định thứ 3, 1918).
Từ khỏa' Bãi bò giáo dục, khoa cử, phép thi, học õ ba cấp.
A b stra ct: The paper attempts to cod ify som e o f major events o f an official experiment
held by the feudal-colonial governm ent in tile period from 1906 to 1919 to abrogate Sino civ il service exam inations, such as: Operating the innovation on education, examination regulations It w as really a tough decision to eliminate Sino civil service exam inations, as on the governm ental Sino original document: Ẫ — + — $ ’-9 0
Thánh D ụ bãi kh oa c ừ pháp, K hài Đ ịnh tam niên thập nhất nguyệt tứ nhật (The Lord orders:
The abolition o f Sino civil exam ination regulations The 4 th day, 1 Ith month in Khai Dinh
D ynastic year 3rd , 191 8).
K eyw o rd s: A bolition o f education, S in ol*civit"service examination regulations, three-
degreed education.
Bãi bỏ giáo dục chữ Hán đã trải qua một quãng thơi khoa cứ từ chương
gian kéo dài hơn mười nám, từ năm
1906 đến năm 1919 Đó quá là một cuộc
thí nghiệm chứa đựng nhiều tính toán
nhàm tạo nên những nhận thức và trài
nghiệm xã hội về sự tự lụi tàn không
tránh khói của bàn thân cái học khoa cử
chữ Hán cũng như các cách thức ra đòn
chí m ạna khiển cho cái học ấy phải lụi
tàn Bài viết này nhàm hệ thông hóa một
29
so sự kiện chủ yếu thể hiện cách thức của euộe thí nghiệm loại bỏ khoa cử chữ Hán mà chính quyền thực dân phong kiến lúc đó đã thực hiện với các nội dung chủ yếu sau đây:
- Sự triển khai của m ột cu ộc thí
Trang 16T ẠP CHÍ HÁíN NÔM Số 2 (135) - 2016 PH Ạ M V ÃN KHO ÁI
- Dụ bái piìcp klíưtt lU, Khai Định
năm thứ 3 (1918)
1 Sựtrien kliai của một cuộc thí nghiệm
1.1 Triển khai bô máy điểu hành
Sau khi được Toàn quyền Đông
Dương chuẩn y bằng văn bản kí ngày
14 - 9 - 1906 của cùng với chữ ki của
Giám đốc Học chánh Đông Pháp Góurdon
và Khâm sứ Trung Kì Levecque"(l),
chương trinh cải định phép học, phép thi
của giáo dục khoa cử đã được thực hiện
trên thực tế<2)
Một loạt biện pháp để đưa ra đã được
triển khai trên thực tế trên lãnh thổ Trung
Ki và Bắc Ki nhàm hình thành bộ máy điều
hành mà Bắc Ki lại đi nhanh hơn
Năm 1907, thành lập Hội đồng Tu
thư ở Phủ Thống sứ Bắc Kì, phụng tập
nhiều sách cho các bậc học của chương
trình cải lương giáo dục khoa cừ trong
khoảng hai năm 1907 - 1908
Tháng 9, niên hiệu Duy Tân năm thứ
nhất (1907), chuần cho thành lập Bộ Học
trong chính phủ Nam triều Cao Xuân Dục
được bổ làm Thượng thư Bộ Học đảm
nhận công việc học hành, thi cử theo lôi
khoa cừ cũng như các công việc liên quan
đến giáo dục của thòi bay giờ nói chung
Trước kia, việc khoa cử do Ty Tân Hưng
thuộc Bộ Lễ xừ lí, 'nay có Bộ Học thí cho
Ty Tân H ưng thuộc Bộ Học cai quản
Từ n ă m 1909, chức n ă n g tổ chức
thi Hương, thi Hội thuộc về Bộ Học ờ
Huế đảm nhiệm
Duy Tân năm thứ 2 (1908), chinh phủ
Nam triều đã chọn Hội đồng Sở Tu thư để
!ần lượt biên tập các sách giáo khoa Tiểu
học, Trung học của chương trình giáo dục
khoa cử chữ Hán đã được cải lương
Với các biện pháp mang tính hoạch định và thực thi chính sách trên'đây, nền giáo dục khoa cừ truyền thông đã được cải biến thành nền giáo dục ba câp: Àu học, Tiểu học, Trung học với bộ máy điều hành có tính chuyên môn nghề nghiệp hơn quán xuyến từ triều đình cho đến hai xứ Trung Kì và Bắc Kì
1.2 Triến khai việc học ở 3 cấp
Trong ba cấp học (Ấu học, Tiểu học, Trung học), ngoại trừ Au học, còn hai cấp học tiếp theo (Tiểu học và Trung học) vẫn sử dụng nhiều yếu tố và cách thức quàn lý của khoa cử cũ Huấn đạo ở cấp huyện cũng như giáo thụ ờ cấp phủ chịu trách nhiệm đối với câp Tiếu học Đốc học ở cấp tỉnh trách nhiệm đối với cấp Trang học Công việc cùa các vị này trong khoa cừ cũ là coi sóc việc học trong một huyện, phủ hay m ột tình mà trọng tâm là tổ chức các kì thi khảo khóa, khảo hạch để kiểm tra trình độ cũng như tư cách những người đi thiH.ượng "Trước khi đến kỳ thi, các tỉnh lập thí khảo trước đã Đốc học, Giáo thụ phải khảo xét sĩ từ trong hạt đê xem ai 'đích thực có học hạnh mới cho ứng thí
H ễ ứ ế n k ỳ thi, thấng hoặc sĩ nhân có nhỡ dây lại vết nhơ thì học quan không sao chối tránh được trách nhiệm Phép khảo hạch thực là nghiêm thế Lấy bỏ tinh tường Những kẻ tầm thường, ngu tối khó có thể nói là gặp may được"'31.Trách nhiệm của Huân đạo, Giáo thụ, Đốc học sau năm 1906 về cơ bàn vẫn là chuẩn bị thí sinh cho các kỳ thi Hương nhưng cách làm có khác Họ !à người tổ chức các lớp học của câp Tiêu học và Trung học Được vào học ở cấp Tiểu học phải thỏa mãn yêu cầu về tuổi
Trang 17ở giói hạn trên !à dưới 27 tuôi còn
Trung học là dưới 30 tuôi Dưới sự
liUỎTig dân của các học quan Huân đạo
Ngay đâu năm 1907 đã diễn ra
nhữne cuộc thi phát băng câp cho học
trò trường Tiểu học và Trung học như đã
được đăng trên Đại Nam đồng văn nhật
báo (Đăng cổ tìing báoý4) Hai tin tức đó
đã cho ta thây những thông tin thú vị
cho việc dự thi tốt nghiệp bậc Tiểu học
và Trung học Thi được diễn ra theo
hình thức đăng kí qua đơn Hoàn toàn
không có những qui định chi tiêt vê điêu
kiện dự thi ngoài tuổi tác Trên 14 tuổi
thì được phép nộp đơn xin thi tốt nghiệp
Tiểu học Cũng không có qui định phải
có bằng Tiểu học rồi mới được đăng kí
đi thi Trung học Thê lả, ngay sau
chương trình cài định phép học được áp
dụng từ cuối năm 1906, đã có những
người tốt nghiệp ở cấp Tiều học và cấp
Trung học Thật là q u i nhanh đề cỏ
những đợt phát bàng, cấp Tiểu học và
Trung học đầu tiên, tạo nguôn thí sinh
cho thi Hương Tất nhiên, để có thể thi
đỗ thì người học phải đến trường cùa
quan Huấn đạo và Giáo thụ ỡ huyện và
phủ đề học trong dạng thức và trạng thái
luyện thi.
1.3 Thi H ương, thi Hội, thi Đình{ỉ)
Bốn khoa thi Hương: K.ỷ Dậu (1909);
Nhâm Tý (1912); Át Mão (1915); Mậu
Naọ (1918) và 4 khoa thi Hội, thi Đình:
Canh Tuất (1910); Quý Sừu (1913); Bính
Thìn (1916): Kỷ Mùi (1919) là những
khoa thi Hương Hội thuộc phạm tra khoa
cừ cái lư< 11« Đó là nhữne khoa thi mả ve
cu bản, môn kinh Ìiiihĩa, chơ phũ dã bị bỏ(<>) Số lượng người đi thi cũna, ít vi từ
khoa K ỷ D ậu (1 9 0 9 ) tuồi n gư ờ i đi thi
Hương bị hạn chế dưói 50 Đên khoa sau
đó khoa Nhâm Tỷ (1912) tuổi đi thi Hương bị £Ìới hạn trong vòng tuổi 40 trở xuống Do hạn ngạch vê tuôi đi thi, sô
lư ọng người thi cũng g iả m 'm ộ t cách dữ
dội so với trước năm 1906 Chăng hạn, trường thi Hà Nam, cũng khoa Nhâm Tý (1912) chi có hơn 1000 người được dự thi Con số này đã giảm đi 10 lần nếu như so với khoa Canh Tý Thành Thái thứ 12, tức
năm 1900, khi số thí sinh củ a tr r ò n g này
chi khoảng 10.000 người
Sổ thí sinh giảm đã kéo theo số giải ngạch cũng như số đỗ thật cũng giảm đi Điều đó cũng kéo theo và làm suy giảm địa vị của khoa cừ Có thế coi tình hình thi Hương, thi Hội như là đồng teầ chỉ báo cho sự lụi tàn của khoa cử tteo thời gian Thế nhưng đòn chí m ạng khiến cho khoa cử đi đến lụi tàn hẳn lại là ở chỗ sử dụng sản phẩm của khoa cử trên
4 phương diện bổ nhiệm làm quan
2 C ách thức và p h u tm g p h áp ra đòn chí m ạng loại bỏ khoa cử
Đ ể k h ẳn g định h ay phủ đ ịn h m ộ t hệ
th ố n g g ỉá o dục nào đó thì v â n đ ề đánh
giá và sử dụng sản phâm là mòt trong
n h ữ n g đ iề m m ấu ch ô t nhât Đ iể u n ày lại
càng quan trọng với một hệ thông giáo
Trang 18T Ạ P C H Í H Á N N Ô M s ố 2 { ỉ 3 5 ) - 2 0 i6 PH ẠM VÃN KHOÁI
bàn xứ theo hướng sang nền giáo dục
thong nhất toàn Đ ô n s D ương bằng tiếnẹ
Pháp" như ng về thực chất là nhăm bãi
bò giáo dục khoa cừ ch ữ Hán trong sự
tính toán k ĩ lưỡng của chính quyên thực
dân lúc đó Vậy sản phẩm đạt được là gi
và như thế nào trong đánh giá của các
nhà hoạch định chính sách? Xin được
dẫn ra dưới đây m ột cách đánh giá có
thế được coi là đại diện cho quan điểm
của Phủ Thống sứ Bắc Kì mà Nam
Phong[1) là người phát ngôn.
2.1 "N h ữ n g quà lép cùa cái cây đã
đến ngày cằn cỗi"
Đó là m ột trong những lời đánh giá
vê sản phẩm cúa cuộc thí nghiệm hon 10
năm về cải iương giáo dục khoa cử chữ
Hán được đăng trên Nam Phong số 12,
tháng 4 năm 1918(S> "Việc giáo dục
nước nào cũng coi là m ột vân-để quan-
trọng, m à ở nước N am ta ngày nay lại là
quan-trọng lam nữa Đ ương buôi m ới cũ
thay đổi, Â u-A giao nhau, lề lối trước đã
m ất, nền-nếp sau chưa thành, phải dạy
dỗ bọn thiểu-niên trong nước như thế
nào cho hợp thời, cho thành những
người hữu-đụng trong việc gây dựng lại
xã-hội sau này? Ke từ khi nhà nước Đại-
P háp m ới sang bào-hộ đây, những người
trí thức trong nước cũng đã thường jchú-
ý đến cái vấn-đề này ( ) M ột đàng thì
C hín h -p h ủ Bảo-hộ ( ) đặt ra các trường
P háp-V iệt !à chi chù gây lấy những
người biết chữ biết tiếng đủ dùng làm
v iệc trong các sở công tư ( )• Người
d ân vào học các trường ấy cũng là chi
ch ủ m ột đường cận- lợi, kế sinh-nhai
( )• S ong có m ột điều hiển nhiên !à hán-
học đã thành m ột cái học quá-độ rồi, nêu
c ứ giữ cái hình-thức cũ thì quyêt khôns
thẻ sinh-tồn đưọ-c trong thời-đại này Sự
đó khônR những ơ nước ta mói thê chính ngay ớ nước Tàu lá chôn tỏ của cái học ấy, người Tàu cũna đã công - nhận là không thích - hợp với thời - thế
và quyết bỏ để theo đòi học - thuật Thái- Tầy Tuy vậy Chính phủ vẫn còn quá tôn
- trọng cái tổ - truyền của nước ta, không muốn dùng cách bạo - động, muốn lấy cái thái - độ rất ôn hòa mà đối - phó với cái vấn - đề - giáo - dục trong quôc dân Chính-phủ tự nghĩ ràng, hán - học sớ dĩ không thích - họp với thời là trong hán- học có nhiều phần đã già - cỗi quá, vậy nên san - bỏ những phần ấy đi, đem tây-học m à tham -bố vào, như thế có nhẽ giải-quyết được cái vấn đề kia ( )■ Từ đó mới khởi ra cái nghị cải - lương sir học cũ, đem những học-khóa
m ới như cách-trí, địa - dư, toán - pháp,
thi - cừ cũng sửa đối lại theo một đưcrng như thế: từ khảo - khóa cho đến hương - thí, cho đến đình - thí, đều giảm phần chữ hán và tham -bác chữ quốc-ngữ, chữ pháp vào Chính-phủ thí - nghiệm như thế trong mười năm Đen sau xét ra thỉ cái kết, quả thực là chán thay Sự học cũ cải - cách Ịại không những là không tốt hơn ra m à lại xấu kém đi, cái trình - độ học trò không những là không cao hơn trước m à lại thap kém xưa, thật là đù khiến cho những người còn có bụng tồn
cổ sinh thất vọng trong lòng Mà quả cái
cổ ấy đã cố quá rồi, không sao bảo-tồn được nữa ! C ứ xem những học-trò đậu mấy khoa sau này, cựu học không dày, tân học cũng mòng, mới không ra mới, cũ không ra cũ, thời đủ biết, thực như nhời tây gọi là những quả lép của cái cây đã đến ngày cỗi vậy"
Trang 19CÓ thể co ì đó ià phát ngôn cho sự
đánh giá cửa Phủ Thống sứ Bắc Kì về sự
học sự thi củ a khoa cu trong giai đoạn
cài đổi phép học và phép thi Cải đổi
phép học và phép thi được nhắm cho
mục đích loại bò giáo dục khoa cừ chữ
Hán nên có sự đánh giá trên kia cũng
không có lạ lùng gì Nhận xét trên đây là
một sự biện minh cho các bước làm cúa
chinh quyền trước yêu cầu loại bó khoa
cử S a u h ơ n m ư ờ i n ă m , n g õ hầu n h ữ n g
gì thuộc về tính mục đích cùa những
người hoạch định chính sách đã được
thực hiện N hững nhận xét về chất lượng
bài thi như: "Đen sau xét ra thì cái kết
quả thực lả chán thay Sự học cũ cải-
cách lại không những là không tốt hơn
ra mà lại xâu kém đi, cái trình-độ học trò
không n h ãn g ỉà không cao hơn trước mà
lại thấp kém xưa, thật là đủ khiến cho
những n g rò ì còn có bụng tồn cổ sinh
thất vọng trong lòng." Hay những câu
sau cũng thể hiện tinh thần đỏ "Mà quà
cái cồ ây đ ã cổ quá rồi, không sao bào-
tồn được n ữ a ! Cứ xem những học-trò
đậu mấy khoa sau này, cựu học không
dày, tân học cũng m ỏng, mới không ra
mới, cũ không ra cũ, thời đủ biết, thực
như nhời tây gọi là những quả lép cùa
cải cây đ ã đến ngày cỗi vậy Cây đã cỗi,
không có phì-liệu nào bón cho tốt tưoi
được nữa" là những diễn đạt nhằm tạo
nên một cuộc trải nghiệm mang tính xã
hội để xã hội thấy, cho dù đã được cải
lương, giảo dục khoa cừ vẫn chỉ là thứ
"quả trải vụ" của một cái cây gốc đã tàn
2.2 M uốn làm quan phải qua
trường H ậu bổ
Nhảỉi tố có tính quyết định cho sự
suy giảna cú a khoa cử không chỉ ờ giải
noạch hav sô lav đỗ trên thực lể cúa từna khoa mà là ờ chỗ, sán phẩm khoa
cứ đó đã được sử dụnR cho việc bó dụng
ra làm quan trong bộ máy chính quvền như thế nào Các Tú tài, Cư nhân và sau
đó là cá Tiến sĩ và Phó bảng cúa hệ thống học vấn khoa cử phải qua hệ thốne trường Hậu bô, sĩ hoạn mới hy vọng có thê được bô dụng làm quan Trường Hậu bổ sĩ hoạn là hệ thống trường đào tạo lại cho những ai đã qua khoa cử từ chương mà muốn được bổ dụng ra làm quan, cho dù lúc đầu loại trường này có dấu hiệu là loại trường dành cho con em những người thân Pháp, có công với thực dân Pháp
Ngày 20-6-1903, Thống sứ Bắc Kì ra quyết định lập Trường Hậu bổ ờ Hà Nội (École dapprentis mandarins) die theo chi thị ngày 9-2-1897 của Tổng thư kí Toàn quyền Đông Dương Trường đặt dưới sự chi đạo, giám sát và kiểm soát của viên Cháiih phòng Nhì phủ Thống sứ Dắc Kì Mục đích của Trường: đào tạo Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo, Giáo thụ Điều kiện nhập học: Cử nhân, Tú tài (cựu học), hoặc ít-nhất cũng phải là Ẩm sinh (tức con quan lại caổ cắp và có công với thực dân Pháp) Thời gian học 3 năm Ra trường sẽ được
• phong: tòng bát phẩm (tối thiều), tòng thất phẩm (tối đa)
Ngày 5-5-1911, vua Duy Tân ra dụ thành lập Trường Hậu bồ ờ Huế, nơi bô túc những “kiến thức cai trị hiện đại” của thực dân Pháp cho các Tiến sĩ, Phó bảng, C ử nhân, Tú tài (cựu học), học trong thời gian 3 năm, trước khi được chính thức bổ nhiệm ra làm quan theo ngạch học chính và hành chính trong Chính phú Nam triều ớ Trung Kì
Trang 20T Ạ P CH! HÁN NỎM s ố 2 (135) - 20ió PH Ạ M VĂN KHOÁI
Trường này được thiết lập ihec sụ
(Logiou), Đ oc nọc Trường Quôc học
Huế lúc đó, và được Lápbê (Labbez)
quan cai trị hạng nhât ngạch dân sự, tích
cực chuẩn bị với sự bào trợ của hai đời
Khâm sứ: Grôbỏ (Groleau) và Xetxchiê
Ngày 18-4-1912, Toàn quyền Đông
Dương ra nghị định đổi cách gọi Trường
Hậu bô Hà Nội thành Trường Sĩ hoạn
(École des M andarins) (danh từ thường
gọi lúc bấy giờ) Bãi bỏ các chức thuộc
phạm trù Học quan như Đốc học, Điển
học, Huấn đạo, Giáo thụ|9) ở Bắc Kì.
Ngày Í3 - 1 1-1912 Vua Duy Tân ra
dụ thành lập ngạch Học quan ở Trung
Kỳ (Mandarins de 1’Enseignement) Điểm
này có khác so với Bắc Kì nhưng cũng là
dấu hiệu cho sự hạn chế phạm vi bổ
nhiệm của hệ thống Học quan Dụ có
một sổ điểm chính sau: Học quan phải là
người tốt nghiệp Trường Hậu bổ ở Huế,
khoa Sư phạm; hoặc các giáo viên các
trường “bảo hộ” có băng cấp, từ bàng
tiểu học Pháp-Việt trở lên; trường hợp
chì có bàng tiểu học Pháp-Việtr thôi, các
giáo viên đó phải có m ột thâm niên
giảng dạy ít nhất là 5 năm Ngạch Học
quan có các chức sau: Giám đốc (hàm
Ngoài ra cũng m ở một kỳ thi để
tuyển n g ư ờ i v à o n g ạ c h H ọ c quan: 8 m ôn
thi viết và 5 môn thi vấn đáp; thí sinh phải biết tiếng Pháp Dụ trên được Toàn quyền Đông Dương chuẩn y vào ngày 23- 12-191200'.
Ngày 15 - 10 - 1917, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định mở Trường Pháp-Chính Đông Dương (École de Droit et d'Administration) - lò đào tạo quan cai trị “ngạch Tâv”, thay cho Trường Hậu bổ Huế và Trường Sĩ hoạn
Hà Nội Tốt nghiệp sẽ được bổ dụng iàm Tham biện ờ các công sờ thực dân, hoặc
ra làm Tri phủ, Tri huyện
'Ngay 25 - 12 - 1918, Toàn quyền Đông Dương ban bố chương trình học của trường Hệ học 3 năm, riêng đối với bẩn Tài chính chỉ học 2 năm
Điều 17 của Nghị định ngày 25-12-
1918 quy định: Những học sinh đã được nhận vào Trường Hậu bổ Huế và Trường S ĩ hoạn Hà Nội từ trước ngày 1 - 11-1917 vẫn được tiếp tục học cho hết chương trình Kể từ ngày 1-11-1917, hai trường này không được nhận học sinh mới nữa Trong quá trình giải thể, Trường Hậu bồ Huế và Trường Sĩ hoạn
34
Trang 21H à N ộ i s ẽ đ ặt d ư ớ i sự k iêm so á t trực tiêp
củ a Ban G iám đ òe bậc C ao đ ă n s Đ ô n g
L / L l O i l g ^ Ư i i c c t ỉ ũ i i u c 1 J D lld C L g ilC -illC ilL
supéneur)*"1
2.4 " T ừ nay, chợ văn chưong thôi
k h ông họp n ữ a"
Băng việc thành lập các trường trên
cũng như sự bổ nhiệm trên thực tế,
chính quyên thực dân đã "vô hiệu hóa",
"hư danh hóa" các danh hiệu "Tiến sĩ",
"Cừ nhân" Học đề làm gi nếu không
được bổ nhiệm Đó là cái buồi chợ chiều
cùa khoa cừ từ chương chữ Hán Điều
ấy đã được Tú Xương diễn thành thơ:
"Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bàng đì học làm ông phán
Tối rượu sâm banh sớm sữa bò"
Học hành theo khoa cử mong cầu
bổng lộc, thể m à giờ đây chi "nằm co"
thì còn có ai đi học nữa Đó thật là cách
"không bào" và "không ép" hò khoa cử
mà sĩ từ "tự bỏ"
Trước kỳ thi Tiến sĩ cuối cùng, Ký
Mùi, Khai Định năm thứ 4 (1919), trên
Nam Phong số 17 (11-1918) có thông
báo: “Kì Hội thí sang năm này (tức năm
1919) các ông Cừ nhân ngoài Bắc Kì
cũng vẫn được vào ứng thí như xưa
Nhưng phủ Thống sứ Bắc Kì có nói
trước cho Bộ Học trong Kinh biết rằng
người nào đỗ Tiến sĩ hay Phó bảng, tuy
vẫn còn giữ các danh dự cũ mà không
đù quyền được bổ vào quan trường như
trước nữa Quan trường ngoài Bắc Kì đã
sừa đổi theo các chương trình học mới,
không có ngạch nào riêng cho các ông
nghè ông bảng sang năm”
Bằng cách ra đòn như thế, "Cái học
cũ kia thời không cần phải hạ lệnh bỏ
k h ô n s cân phai c h ú V đên, c ứ đ ê y nhiên
m à rồi tât tự m ỗ i n e à y m ò n m ó i đi vậy
l i o t i g cái oáiìu-ỉuỢ iìH v ă n -ciiư ư fiií đ êu
naày tàn-cục, nhũng nhà hiếu-cổ tất không khỏi rầu lòna Nhưng sao được?
C hính phủ c ó m u ô n hại c h i cái cự u h ọc
của ta, không những không muốn hại,
mà trong bao lâu lại hết sức duy trì cho nữa Quôc dân cũng không có phụ chi
cái tổ truyền củ a đ ờ i trư ớ c N h ư n g cái
thế tất nhiên như thế không thê nào vãn hồi được nữa Thế giới ngày nay là một thế giới đương biến đối, có biến mới có tiến, không tiến thời tất thoái, cái công lệ của loài người như thế Có nhẽ đâu cả các nước đều như thế mà duy một nước mình
cử khư khư giữ cũ mãi hay sao ?"('2).
Do vậy, cài lương giáo dục khoa cừ
là cuộc thí nghiệm mang tính trài nghiệm
xã hội cho sự loại bò khoa cử “Năm
1915, bãi thi Hương ờ Bắc-kỳ, tức là hồi trống sau cùng để báo, từ nay chợ văn- chượng thôi không họp nữa, ai còn gồng nặng gánh nhẹ quẩy về mà giờ xoay nghề
khác C ứ thực thời g ồ n g nào gánh nấy đã
vợi cả rồi, nên nghe tiếng ừống tuy không aị„yui mà cũng không ai buồn, ai cũng biêt ràng buổi' chợ này là buổi chợ chiêu, mà
đồ hàng kia không phải là đồ hàng bán -được trên thị-trường thế-giới Cái thần Cừ nghiệp bắt đầu chia tay với người Nam- Việt từ đấy vậy”(l3)
3 Dụ bãi phép khoa cửNgày 21 tháng 12 năm 1917, Toàn quyền Albert Pierre Sarraut đã kí Nghị định ban hành Học chính Tổng
q u y ^ ’gom 558 điều, chia làm 7 thiên1151, nhằm đưa ra những qui tắc chung vê việc học trong toàn cõi Đông Dương Theo đó giáo dục trẻn íoàn cõi Đông
35
Trang 22T Ạ P C H Í HÁN N Ô M s ố 2 (135) - 2016 P H Ạ M VÃN KH O ÁI
Dương có hai loại: giáo dyc phô thóng
và giáo dục thực nghiệp C á giáo dục
phổ thòng và giáo dục chuvên nghiệp
đều sử dụng tiếng Pháp "Phàm các
trường học không phải của chính phù
Bảo hộ lập ra, đối với Tồng qui mới này,
đều coi là trường riêng cả, dù là trường
của giáo hội, của triều đình, hay của
người tư dân cũng vậy Tức như trường
Quốc-tử-giám ở Huế cũng coi là một
trường riêng của triều đình An-nam(l6)"
Đương nhiên, đó cũng là dấu chấm hết
cho giáo dục khoa cừ.
Tuân theo tinh thần và lời văn cùa
Học chính Tồng qui, ngày 4 tháng 11
năm K hải Đ ịnh thứ 3 (1918), vua Khải
Định đ ã xuống Dụ bãi phép khoa cử mà
trong đ ó cho phép, đến năm sau có khoa
thi H ội cuôi cùng X in được dẫn ra ở
đây nguvên văn bản Dụ đó
Phiên âm:
Thănii du bãi khoa c ử p h á p {l )
“K hải Đ ịnh tam niên thập nhất
nguyệt s ơ tử nhật H ọc Bộ phụng
(châu điểm ) Thượng Dụ C ứ bản
niên cửu Iỉguyệl nhị thập nhị nhật (tức
tây lịch nhất thièn cửu bách thập bát
niên thập nguyệt nhị thập lục nhật) Cơ
Mật Viện thần kê nghị; thập nguyệt thập
bát nhật (tức tây thập nhất nguyêt nhị
thập nhất nhật) Học Bộ thần phiến thinh
các lý Chiếu chi khoa cử chi pháp, cồ
thời sở học thị kim thời sở dụng bất
đồng Tuy lịch đại diệc hữu thu đắc hứa
đa dĩnh đ ạt, k hả vi bản quốc cập lịch sừ
thượng chi quang vinh, nài tuần chí kim
thời, bất thi hoa nhi bất thực Phàm hữu
quốc gia dục kỳ văn minh tiến hoá công
lý cỉuroĩìg minh, tất tu trục tiệm cải
lương chế đệ Thả cứu nghi thính tòng
dân sĩ nguyện vọng, bá tương Cách trí hạch tứ sứ chi biến thông quốc ngữ tự cập Pháp tự, nhi ư học khoá chương trình nội, Hán tự diệc bất thiên phế Cái tương lai dụng nhân đương thủ tự tối phổ thông học thức trung nhân dã.Chuẩn định:
Đệ nhất khoản Đình bãi khoa cử pháp
Đệ nhị khoản Lượng lưu lai niên Hội thí, vi tối hậu chi nhất khoa
Đệ tam khoản Phàm tuyển bồ văn
ban quan lại tịnh h ọ c pháp thí p h áp kỳ
chương trinh lánh các định lệ
Đệ tứ khoản Cơ mật viện thần tịnh Học Bộ thần, các tuỳ quyền phận, chiếu giá chương trình thi hành
Khâm thừ
Đệ nhất bách nhị thập tam hiệu.Học Bộ cung lục.
Dịch nghĩa:
Thảnh dụ bãi phép khoa cử
Khải Định năm thứ 3 (1918) tháng 11 ngày 4, Bộ Học tuân phụng Thượng Dụ này.Căn cứ các nhẽ trong Kê nghị cùa
V iệ n ‘Cơ mật ngày 22 tháng 9 (tức ngày
26 tháng 10 năm 1918 tây lịch) và tờ Phiến của Bộ Học đứng xin ngày 18 tháng 10 (tức ngày 21 tháng 11 năm
1918 tây lịch) năm nay;
Chiểu theo phép khoa cừ, cái học của ngày xưa xem với cái được dùng bây giờ thực quá khác nhau Dầu ràng trong quá khứ nhờ cách đó cũng đã lấy được nhiều người thông thái, làm vé vang cho nước nhà và lịch sử, nhưng đến bây giờ thực chẳng khác nào như cây có hoa mà lại không có trái Phàm
36
Trang 23ẵ m ^
Ễ L M £
-iW i.K.n cho
x tngqĩ èr Tuesday xingqisỡn Wednesday xmgqĩsì Thursday
(Linh kỳ nhị) th ứ 3 (tinh kỳ tam ) th ứ 4 (tinh kỳ tứ)
A yL|i5i I nursday (tinh kỳ tứ) th ứ 5 xTngglwu Friday c -ộ€ ^ i n g ĩ ỷ n£ũ) MU q V a c '"
^ Ị iã > iĩs u ố n c h o > ^ p | t ì w | ) ( j n <5aVa ' rr] K h o a n th ứ hai: C h o p h é p đ ê n năm
yụ> rõ ràng- phái n ê n cai liromgcne có khỚMỈỈlbộí lụcOcung th ứ 7
J a ^ \a f c dần
sô’2
5 _ ^ o c , cũng k(htog\h^,h0Jian chữ Hán Đại Khoan thứ tư: Viện C ơ mạt và Bộ
Uuii, dung íg u ơ i trong tương la ^ e ÍẼ H(?c th e ộ ^ m ^ n phận của nỳghg chiểu
ILJ, ■ fiHfr \ > ■ I _ F)n thi hành
W fỉÊ L 3 8 ■#ô i*t a o ’ tô ’ m ì n h
hơn mười năm đã được thực hĩện, khởi
) p ĩ 0 ẫ u
R
Ảnh nguyên văn “Thánh dụ bãi Ịchoa cừ pháp”
.-này cuôc thí nghiệm rằng, những gì mà khoa cử cải lương đạt
x V ồ v ^ o Ịd à i P f r F f r W f r ^ ' í t ó ^ ák C ÌỈL đã đến
- L Í ’ ig ay COI vỊỹ® T rềir S ự í làm
cho khoa cử lụi tàn là không bổ nhiệm làm quan cho các sàn phẩm của khoa cừ.
Hãy để "Ông nghè, ông cống nằm co"
thì cái học cũ ấy "không cần phải hạ lệnh bỏ mà người ta cũng tự bỏ./.
P.V K
uơn uen (un ) uang ueng
Initial-final combinations P h i ê n â m
28
Trang 24* B à i viết được thực hiện với sự hỗ
trợ của Đại học Quốc oia Hà Nội trong
khuôn khổ của đề tài: “N ghiên cứu Hán
văn trong chương trình cải lương giáo
quyền Đ ô n g D ư ong ra nghị định thiết lập Hội
đồng hoàn thiện nền giáo dục bản xứ N gày
16 tháng 5 năm Ĩ9 0 6 , Toàn quyền Đ ông
D ương ra nghị định ch o thành lập tại Bắc Kì,
Trung Kì, N am Kì, Cam puchia, Lào, m ỗi nơi
m ột Hội đ ồn g hoàn thiện giáo dục bàn xứ để
nghiên cứu các vẩn đề giáo dục c ó liên quan
đến từng nơi một N g à y 31 tháng 5 năm 1906,
Cải cách học vụ Hội đồng (H ội đồng cải cách
h ọc vụ) của N am triều đã được thành lập
N gày 6 tháng 7 năm Thành Thái thứ 18
(1906), V iện C ơ mật dâng tẩu chư ong về canh
định giáo dục và qui thức phép thi đã đưọc
Cải cách học vụ H ội đ ồ n g soạn thảo mà thẻò
đó, nền giáo dục khoa cử truyền thống được
cấu trúc lại thành nền giảo dục 3 cấp Âu học,
T iểu học, Trung học.
(3 ) N g u y ễ n Văn Đ ào, H o à n g Việt khoa
c ừ kinh, bản d ịch, in trong sách K h o a thì
Tiến s ĩ c u ố i cù n g tro n g lịc h s ừ kh oa c ừ Việt
Nam (Ký Mùi, Khải Định năm thứ tư,
"Đến 24 tháng sáu tây là ngày 14 tháng năm ta, ờ Hà nội sẽ có thi phát bằng cấp cho học trò Trung học ( ) M ười tám tuổi dờ lên được dự thi, giấy xin thi cũ n g phải biên tên, họ, chỗ ờ và tên làng mình vào, rồi cũng gửi lên quan Sứ hay là quan Đ ố c học tình mình Hạn đến m ồng 10 tháng sáu tây, là ngày
30 tháng 4 ta thì thôi, không nhận đon nữa” (5 ) v ề các khoa thi Hirong, Hội, Đình thuộc phạm trù khoa cử cài lư on g xin xem:
Phạm Văn K hoái, K h oa th i Tiến s ĩ cu ố i cùng tro n g lịch s ử khoa c ừ Việt N am ÍKỷ
Mùi, Khải Đ ịnh năm thứ tư, 1919), N xb Đại học Q u ốc g ia Hà N ộ i, H , 2 0 1 0 , trang 62-69 Ở đây ch ú n g tôi chi đ iểm lại vấn đề này khi xem x ét sự triển khai củ a giáo dục khoa cử cải lương trên bình diện phép thi
mà thôi.
(6) Việc bò các môn trên, ờ Bắc Kì áp
dụiTg cíio trường thi Hà N am (H à N ộ i và
N am Định thi chung) từ khoa K ỷ Dậu (1909), còn ờ Trung Kì áp dụng tử khoa
N h â m T ý (1 9 1 2 ).
(7) N am P h on g tạ p c h í rỉ] iH Í(í it-
(1 9 1 7 -1 9 3 4 ) là tạp chí hàng tháng, gồm 210
sổ Số 1 ra ngày ] tháng 7 năm 1917 s ố cuối cùng - số 2 1 0 , ra ngày 16 tháng 12 năm
1934 Tạp chí gồm : Phần Q u ố c n g ữ - Phần chữ Nho - Phụ trư ơn g P h á p ngữ (T ừ số