1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút vốn nước ngoài ở các nước đang phát triển và bài học kinh nghiệm cho việt nam

102 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Đề tài này phân tích thực trạng và xu hướng của các dòng vốn đang được thu hút vào các nước đang phát triển như vổrt đầu tư trực tiếp nước ngoài: FDI; vốn đầu tư giá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘIrâưỜ N G ĐẠI HỌC KINH TE

ĐÈ TÀI CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

THU HÚT VỐN NƯỚC NGOÀI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC

Mã số: QK.06.06

H ọ v à tê n C h ủ t r ì: TS Nguyễn Thị Thư

Cán bộ phối họp nghiên cứu:

PGS TS Nguyễn Hồng Sơn

TS Nguyễn Bình Giang Ths Nguyễn Thế Hùng

Đ A í H O C Q U Ố C G I A H A N O I 1 TRUNG r_ Á ^ j Ị j Õ N G _ r IN t h l ; /IẾ:

Hà Nội, năm 2007

Trang 2

MỤC LỤC

TrangDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU SỐ LIỆU

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ Đ Ầ U 1CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHƯNG VỀ CÁC DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC THU HÚT VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 61.1 Các loại hình vốn nước ngoài và quan hệ giữa chúng 61.2 Tác động của vốn nước ngoài tới nền kinh tế của các nước đang pháttriển 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 252.1 Thực trạng thu hút dòng vốn FDI 252.2 Xu hướng gần đây của FPI vào các nước đang phát triển 292.3 Xu hướng gần đây của vốn vay ngân hàng nước ngoài ở các nước đangphát triển 30CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN TRONG VIỆC THƯ HÚT VÀ ĐIỀU TIẾT s ự DI CHUYỂN CỦA DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI 32

Trang 3

3.1 Một số kinh nghiệm chung rút ra từ chính sách thu hút và điều tiết của

các nguồn vốn nước ngoài của các nước đang phát triển 32

3.2 Kinh nghiệm về thu hút FDI dịch vụ 46

3.3 Kinh nghiệm thu hút FDI vào hoạt động nghiên cứu và triển khai 52

CHƯƠNG 4 THỰC TIỄN THƯ HÚT VỐN NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 57

4.1 Thực trạng dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 và triển vọng trong giai đoạn 2006-2010 57

4.2 Một sổ gợi ý chính sách cho Việt N am 63

KẾT LU Ậ N 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank)

BCC Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business cooperation contract)

BOT Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao (Build-Operate-Transfer)

BT Xây dựng-Chuyển giao (Build-Transfer)

BTO Xây dựng-Chuyển giao-Kinh doanh (Build-Transfer-Operation)

EPZ Khu chế xuất (Export processing zone)

eta l Và những người khác (et alii)

EU Liên minh châu Âu {European Union)

FBL Vay ngân hàng nước ngoài (Foreign bank lending)

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment)

FPI Đầu tư gián tiếp nước ngoài {Foreign portfolio investment)

GDP Tổng sản phẩm nội địa (Gross domestic product)

ICT Công nghệ thông tin và viễn thông {Information and

Communications Technology)

NTP Chính sách viễn thông mới (New Telecommunication Policy)

ODA Hỗ trợ phát triển chính thức (Official development dssistant)

Trang 5

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation fo r

Economic Co-operation and Development)

QFIIs Tổ chức đầu tư nước ngoài theo tiêu chuẩn

R&D Nghiên cứu và triển khai (Research and development)

STI Kỹ năng, công nghệ, và đổi mới {Skills, Technology and

Innovation)

SWOT Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức {Strengths,

Weaknesses, Opportunities, Threats)

TNC Công ty xuyên quốc gia (Transnational corporation)

UNCTAD Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển

{United Nation Conference on Trade and Development)

USD Đô-la Mỹ (United States Dollar)

WB Ngân hàng Thế giới ( World Bank)

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới ( World Trade Organisation)

iv

Trang 6

Bảng 1: Tổng số (triệu USD) và tỷ trọng (%) của vốn ODA trong các ngành,

lĩnh vực thòi kỳ 2001-2005 .82Bảng 2: ODA bình quân đầu người phân theo các vùng kinh tế-xã h ộ i 83Bảng 3: Phân bổ ODA theo ngành, lĩnh vực thòi kỳ 2006 - 2010 84

DANH MỤC CÁC BIÊU BẢNG SỚ LIỆU

Trang 7

TrangHình 1: Dòng vốn tư nhân gián tiếp vào ròng ở các nước đang phát triển

c2001-2005) 76

Hình 2: vốn vay ngân hàng nước ngoài ròng của các nước đang phát triển 77Hình 3; Thặng dư tài khoản vãng lai của các nước đang phát triển

(.1990-2005) 78 Hình 4: So sánh giá thuê một mét vuông văn phòng (u s $) giữa các thành phố

ở châu Á vào thời điểm năm 2004 79

Hình 5: Tỉnh hình cam kết ODA giai đoạn 2001-2005 (triệu USD) 80

Hình 6: số dự án đầu tư nước ngoài từng năm và số vốn đóng góp của nước

ngoài vào các dự án đó (tỉnh bằng triệu Dollar M ỹ) 81

DANH MỤC CÁC HÌNH

VI

Trang 8

M Ở ĐẦU Tính cần thiết của đề tài

Cải cách cơ cấu kinh tế, cố gắng hội nhập nền kinh tế khu vực và toàn cầu

để có thể tăng truởng nhanh, bền vững và trên cơ sở đó giải quyết các vấn đề xã hội khác như tạo công ăn việc làm, xoá đói, giảm nghèo, đang là những chiến

lược kinh tế mà nhiều nước đang phát triển {trong đó có Việt Nam) theo đuổi

Tuy nhiên, tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu và nguồn nhân lực còn kém phát triển đã kiến cho các nước đang phát triển gặp rất nhiều trở ngại trong việc thực thi những chiến lược kể trên Trong bối cảnh đó, nguồn vốn nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng Và vấn để đặt ra là không những làm thế nào để có thể thu hút được nhiều vốn nước ngoài mà còn là làm thế nào để

có thể sử dụng một cách có hiệu quả dòng vốn đó

Mục đích nghiên cứu

Đề tài này phân tích thực trạng và xu hướng của các dòng vốn đang được

thu hút vào các nước đang phát triển (như vổrt đầu tư trực tiếp nước ngoài: FDI;

vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài: FPI; vốn viện trợ phát triển chính thức: ODA;

và vốn vay thương mại: BL); cùng với kinh nghiệm của các nước đang phát triển

trong việc thu hút các dòng vốn này; cũng như thực tiễn thu hút các dòng vốn này ở Việt Nam; từ đó, đưa ra một vài gợi ý chính sách cho Việt Nam

Tình hình nghiền cứu

Có rất nhiều các công trình cả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về vấn đề

di chuyển của các dòng vốn nước ngoài Xung quanh vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài, trong nhiều năm qua ở cả phạm vi trong nước và quốc tế, đã có khá nhiều

đề tài, công trình nghiên cứu mổ xẻ vấn đề ở nhiều mức độ và góc cạnh khác nhau Mặc dù vậy, do mục đích và yêu cầu khác nhau, các công trình nghiên cứu

kể trên thường chỉ tập trung chủ yếu vào một khía cạnh của sự di chuyển vốn

nước ngoài {chỉ chủ yếu tập trung vào FDI và ODÁ) hay nghiên cứu sự di chuyển của các dòng vốn này ở một địa điểm nhất định (ở một nước hoặc một

khu vực nhất định), chưa có công trình nghiên cứu tổng thể về các dòng vốn này

nói chung để từ đó có được những so sánh, những phân tích mang tính tổng hợp

Trang 9

và khái quát hom Ngay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cũng chỉ mới tập trung ở từng khía cạnh riêng lẻ của các dòng vốn, thiếu một công trình nghiên cứu tổng thể về tất cả các dòng vốn để từ đó có thể đưa ra những gợi ý chính sách thiết thực hơn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đe tài này sẽ cố gắng phần nào lấp những chỗ trống kể trên Cụ thể, đề tài

sẽ tập trung làm rõ những vấn đề:

Thứ nhất, phân tích những xu hướng mới nhất của các dòng vốn nước

ngoài (FDI, ODA, FPI và FBL) đang được thu hút vào các nước đang phát triển;

Thứ hai, phân tích kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong việc thu

hút và quản lý sự di chuyển của các dòng vốn này;

Thứ ba, đánh giá thực trạng thu hút các loại vốn nước ngoài (bao gồm FDI, FPI và ODA) ở Việt Nam.

Thứ tư, đưa ra những gợi ý về chính sách và giải pháp nhằm thu hút và

quản lý có hiệu quả các dòng vốn nước ngoài ở Việt Nam

Bên cạnh những mục đích chính đó, đề tài này còn nhằm mục đích cung cấp một bộ tư liệu tham khảo dành cho giảng dạy và nghiên cứu về vốn quốc tế

và vốn nước ngoài ở Việt Nam

Để thực hiện được các mục tiêu đó, đề tài đặt ra cho mình các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây

Thứ nhất, phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của dòng vốn nước

ngoài được thu hút vào các nước đang phát triển thông qua việc phân tích các

dòng vốn khác nhau (FDI, FPI, ODA, BL) cũng như tương quan, tác động, ảnh

hưởng lẫn nhau giữa các dòng vốn này đối với các nước đang phát triển;

Thứ hai, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về bản chất, vai trò của

dòng vốn nước ngoài đối với các nước đang phát triển; mối quan hệ giữa các dòng vốn này; các chính sách thu hút và quản lý dòng vốn nước ngoài ở một số nước đang phát triển;

Thứ ba, khảo cứu thực trạng và kinh nghiệm thu hút, điều tiết sự di chuyển

của các dòng vốn này ở các nước đang phát triển để đưa những gợi ý về chính

2

Trang 10

sách nhằm giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả thu hút dòng vốn nước ngoài cũng như sử dụng một cách có hiệu quả các dòng vốn này Cụ thể, đề tài sẽ phân tích động thái, cơ cấu và xu hướng phát triển của dòng vốn nước ngoài vào các nước đang phát triển giai đoạn 2001 - 2005, và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; phân tích đặc điểm và triển vọng dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam

(tương ứng theo 2 giai đoạn 2001 - 2005 và 2006 - 2010)\ đưa ra một số khuyến

nghị chính sách và giải pháp thực hiện chính sách cho Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu

v ề đối tượng nghiên cứu, đề tài này tập trung vào dòng vốn nước ngoài

(bao gồm cả 4 hình thức FDI, FPI, FBL và ODA) đang được thu hút vào các

nước đang phát triển giai đoạn 2001-2005 và vào Việt Nam giai đoạn 2001 -

2010.

Phạm vi nghiên cửu

Phạm vi nghiên cứu {không gian) của đề tài bao hàm các nước đang phát triển theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (số liệu tổng hợp của 153 quốc

gia) và UNCTAD, có nhấn mạnh một số quốc gia điển hình (Trung Quốc, Ẩn

Độ, Thải Lan, Malaysia, ).

Phưoug pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng cách tiếp cận nghiên cứu sau: (i) Thu thập và hệ thống hóa

cơ sở dữ liệu về dòng vốn quốc tế và dòng vốn nước ngoài ở Việt Nam; (ii) Thực hiện đánh giá tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện trước đây, tập trung vào các nghiên cứu về dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam; và (iii) Tổng hợp, phân tích các số liệu thu thập được

Những đóng góp của đề tài

Đề tài dự kiến có những đóng góp sau đây:

* Chỉ ra mối quan hệ giữa các dòng vốn nước ngoài (FDI, ODA, FPI và BL)

đang được thu hút vào các nước đang phát triển; phân tích những xu hướng mới nhất của các dòng vốn này;

* Phân tích kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong việc thu hút và quản lý sự di chuyển của các dòng vốn này;

Trang 11

* Đánh giá thực trạng thu hút các loại vốn nước ngoài (bao gồm cả FDI, FPI, BL và ODA) ở Viột Nam.

* Đưa ra nhũng gợi ý về chính sách và giải pháp nhằm thu hút và quản lý có hiệu quả các dòng vốn nước ngoài ở Việt Nam

* Phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn của dòng vốn nước ngoài được thu hút vào các nước đang phát triển thông qua việc phân tích các dòng vốn khác

nhau {FDI, FPI, ODA, BL) cũng như tương quan, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau

giữa các dòng vốn này đối với các nước đang phát triển;

* Khảo cứu thực trạng và kinh nghiệm thu hút, điều tiết sự di chuyển của

các dòng vốn này ở các nước đang phát triển để đưa những gợi ý về chính sách

nhằm giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả thu hút dòng vốn nước ngoài cũng như

sử dụng một cách có hiệu quả các dòng vốn này;

* Cung cấp 1 bộ tư liệu tham khảo dành cho giảng dạy và nghiên cứu về vốn quốc tế và vốn nước ngoài ở Việt Nam

Kêt câu cua đê tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài được cấu trúc làm 4 chương:

Chương 1: Khái quát chung về các dòng vốn nước ngoài được thu hút vào

các nước đang phát triển Trong chương này, đề tài sẽ làm rõ khái niệm về các

hình thức vốn nước ngoài, quan hệ giữa chúng, những tác động tích cực và tiêu cực của chúng tới nền kinh tế của các nước đang phát triển

Chương 2: Thực trạng thu hút vốn nước ngoài vào các nước đang phát

triển Tại đây, đề tài sẽ trình bày xu hướng của các dòng vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài, vay ngân hàng nước ngoài vào các nước đang phát triển thời kỳ từ 2001 đến gàn đây

Chương 3: Kinh nghiệm của các nước đang phát triến trong việc thu hút và

điều tiết sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài Chương này trước tiên đúc kết

những kinh nghiệm chung của các nước đang phát triển về thu hút vốn nước ngoài Sau đó, nhừng kinh nghiệm về thu hút vốn nước ngoài vào dịch vụ và vào

4

Trang 12

lĩnh vực nghiên cứu và triển khai sẽ được trình bày thêm vì thu hút vốn vào hai lĩnh vực này là những xu hướng mới hiện nay.

Chương 4: Thực tiễn thu hút vốn nước ngoài ở Việt Nam và một số gợi ỷ

chính sách Các gợi ý chính sách được đề xuất trên cơ sở những kinh nghiệm thu

hút vốn nước ngoài được rút ra trong chương trước và nhu cầu cũng như điều kiện thu hút vốn nước ngoài ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ CÁC DÒNG VÓN NƯỚC NGOÀI

ĐƯỢC THU HÚT VÀO CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1.1 Các loại hình vốn nirớc ngoài và quan hệ giữa chúng

Đầu tư trự c tiếp nước ngoài (FDỈ) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân

hay công ty nước này vào nước khác bàng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sờ sản xuất kinh doanh này

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước

chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tứ) cùng với

quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường

hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi

là "công ty con" hay "chi nhảnh công /y".[l]

Quỹ Tiền tệ Quốc tế cung câp một định nghĩa rõ hom về FDI như sau:

FDI là một hình thức đầu tư bằng cách điều hành xí nghiệp bên ngoài nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là tạo được ảnh hưởng quan trọng tới việc quản lý xí nghiệp Tác nhân nước ngoài hay nhóm các tác nhân

nước ngoài tiến hành đầu tư theo hình thức như thế gọi là "nhà đầu tư trực tiếp"

Xí nghiệp mà nhà đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào và tham gia quản lý gọi là "xí

nghiệp đầu tư trực tiếp" Tỷ lệ sở hữu luôn gắn liền với mức độ ảnh hưởng tới

việc quản lý xí nghiệp IMF cho rằng, nếu nhà đầu tư nước ngoài nắm tỷ lệ sở hữu từ 10% trở lên thì anh ta là một nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài

Một khi xí nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài xác định được rồi, cần phải xác định dòng vốn giữa xí nghiệp và các chủ thể trong các nền kinh tế khác như thế nào thì được gọi là vốn FDI Vì đặc trưng chính của FDI là mưu cầu lợi ích lâu dài trong một xí nghiệp, nên chỉ có vốn do nhà đầu tư trực tiếp cung cấp, dù trực tiếp hay thông qua xí nghiệp khác có liên quan với nhà đầu tư mới được

6

Trang 14

xem là vốn FDI Các hình thức đầu tư sau đây của nhà đầu tư trực tiếp sẽ được xem là FDI: vốn cổ phần, tái đầu tư lợi tức và cho vay dài hạn hoặc ngắn hạn

trong nội bộ công ty {giữa công ty mẹ và công ty con).[51 ]

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng có định nghĩa tương

tự của IMF về FDI Riêng về tỷ lệ quyết định mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư, OECD nói rõ hom: nhà đầu tư nước ngoài phải nắm tối thiểu 10% tổng số cổ phiếu thường hoặc quyền bỏ phiếu của xí nghiệp; hoặc nhà đầu tư có thể nắm chưa tới 10% tổng số cổ phiếu thường hoặc quyền bỏ phiếu nhưng vẫn có ảnh hưởng đủ lớn tới quản lý xí nghiệp.[80]

Không phải nước nào cũng chấp nhận nguyên xi định nghĩa về FDI như trên của các tổ chức quốc tế Mỗi nước có thể có định nghĩa riêng về FDI và có những phương pháp thống kê không thống nhất về FDI Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng FDI vào Trung Quốc rất lớn một phần bởi Trung Quốc chấp nhận

cả các hình thức đầu tư khứ hồi và nhập khẩu máy móc là FDI Đầu tư khứ hồi nghĩa là xí nghiệp nội địa chuyển vốn của mình ra nước ngoài rồi đầu tư trở lại nội địa để được hưởng các ưu đãi dành cho FDI Lại có quan điểm cho rằng FDI vào Ấn Độ thực ra lớn hơn so với con số mà cơ quan thống kê của nước này đưa

ra bởi vì định nghĩa FDI của Ấn Độ không bao gồm một số yếu tố như định nghĩa của các tổ chức quốc tế, chẳng hạn như Ấn Độ không chấp nhận việc tái đấu tư lợi tức là FDI

Ở Việt Nam, khái niệm FDI được nêu trong Luật Đầu tư (2005) như sau:

"Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư, Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư Các hình thức đầu tư trực tiếp: 1) Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài 2) Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài 3) Đầu tư theo hỉnh thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT 4) Đầu tư phát triển kinh doanh 5) Mua cổ phần hoặc góp vốn đế tham gia quản lý hoạt động đầu tư 6) Đầu tư

Trang 15

thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 7) Các hình thức đầu tư trực tiếp khác."

Như các định nghĩa cho thấy, FDI lại gồm nhiều loại Nếu xét từ góc độ mục tiêu đầu tư, có các loại: (i) Đầu tư vào máy móc thiết bị mới hoặc mở rộng

cơ sở kinh doanh sẵn có (greenfield investment)', (ii) Mua lại và sáp nhập theo

đó các nhà đầu tư nước ngoài mua lại cơ sở kinh doanh của xí nghiệp trong nước; (iii) FDI theo chiều ngang theo đó xí nghiệp nước ngoài đầu tư vào cùng ngành trong nước; (iv) FDI theo chiều dọc theo đó xí nghiệp nước ngoài cung

cấp đầu vào cho xí nghiệp trong nước (FDI theo chiểu dọc ngược) hoặc giúp tiêu thụ đầu ra cho xí nghiệp trong nước (FDĨ theo chiều dọc xuôi).

Còn xét từ góc độ động cơ đầu tư, FDI gồm các loại: (i) FDI tìm tài nguyên theo đó nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước nhận đầu tư để tận dụng các yếu tố sản xuất tại địa phương rẻ hơn ở nước đầu tư Hình thức này rất phổ biến trong FDI vào các nước đang phát triển; (ii) FDI tìm kiểm thị trường theo

đó nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn ra để khai phá thị trường mới hoặc duy trì thị phần của mình ở thị trường đã khai phá Hình thức này thường đi cùng với các hoạt động mua lại và sáp nhập; (iii) FDI tìm kiếm hiệu quả thường thấy ở FDI vào các nước phát triển; (iv) FDI tìm kiếm tài sản chiến lược theo đó nhà đầu tư nước ngoài xuất vốn ra để dành được một tài sản nào đó có tính chiến lược đối với hoạt động kinh doanh của mình chẳng hạn như ngăn chặn đối thủ cạnh tranh

Đầu tư gián tiếp nước ngoài (thường được viết tắt là FPI) là hình thức

đầu tư gián tiếp xuyên biên giới Đây là các hoạt động mua tài sản tài chính nước ngoài nhằm kiếm lời Có hai hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài chính,

đó là đầu tư cổ phiếu và đầu tư trái phiếu FPI không kèm theo việc tham gia vào các hoạt động quản lý và nghiệp vụ của doanh nghiệp giống như trong hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư gián tiếp tiếp nước ngoài mang một số đặc trưng gồm: tính thanh khoản cao và ngắn hạn, bất ổn định và dễ bị đảo ngược, tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và rất phức tạp [3] Những đặc trưng này dẫn tới sự lo ngại về những tác động bất lợi của nó đối với nền kinh tế thu hút loại hình đầu tư này

8

Trang 16

Dòng vốn FPI chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ của các nhân tố như

bối cảnh quốc tế (hoà bình, ổn định vĩ mô, các quan hệ ngoại giao và môi

trường pháp lỷ quốc tế thuận lợi); nhu cầu và khả năng đầu tư của nhà đầu tư

nước ngoài; mức độ tự do hóa và sức cạnh tranh (chủ yếu là ưu đãi tài chính và

sự thân thiện, thuận tiện của quản lý nhà nước đối với nhà đầu tư) của môi

trường đầu tư trong nước; sự phát triển của hệ thống tiền tệ và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nói riêng, của các thể chế thị trường nói chung của nước tiếp nhận đầu tư v.v

FPI còn chịu ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn từ phía các nhân tổ, như sự phát triển và độ mở cửa của thị trường chửng khoán, chất lượng của các cổ phiếu, trái phiếu do doanh nghiệp và nhà nước phát hành, cũng như các chứng khoán có giá khác lưu thông trên thị trường tài chính; sự đa dạng và vận hành có

hiệu quả của các định chế tài chính trung gian (trước hết là các quỹ đầu tư

chứng khoản, công ty đầu tư tài chỉnh các loại, các quỹ đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ thành viên); sự phát triển và chất lượng của hệ thống

thông tin và dịch vụ chứng khoán, trong đó có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn và dịch vụ định mức hệ số tín nhiệm doanh nghiệp và chứng khoán;

Đặc biệt, dòng vốn FPI sẽ chảy mạnh vào trong nước theo mức tỷ lệ thuận

và cấp số nhân cùng với sự gia tăng quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỉ lệ nắm giữ

cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó

Vay ngân hàng quốc tế {foreign bank lending - FBL) là các khoản vay

thương mại của các chủ thể kinh tế trong nước đối với ngân hàng nước ngoài đang hoạt động ở nước ngoài hoặc các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động trong nước đi vay Kỳ hạn vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn

Trong khi định nghĩa về FDI và FPI có nhiều mơ hồ song vẫn có định nghĩa chuẩn mang tính tham khảo, thì định nghĩa chuẩn để tham khảo về vay ngân hàng nước ngoài không có Có cách hiểu rằng vay ngân hàng nước ngoài là

Trang 17

các chủ thể kinh tế trong nước đi vay của ngân hàng nước ngoài Đến đây, lại có quan niệm không thống nhất về ngân hàng nước ngoài là ngân hàng đang ở nước ngoài hay là ngân hàng thuộc sở hữu của nước ngoài có thể hiện diện hoặc không hiện diện ở nước đi vay, Lại cũng có cách hiểu rằng vay ngân hàng nước ngoài là ngân hàng trong nước đi vay của nước ngoài để cho vay lại trong nước Khía cạnh thời hạn của các khoản vay giữa các quan niệm cũng khác nhau Có quan niệm cho rằng vay ngân hàng nước ngoài chỉ tính các khoản vay ngắn hạn

(kỳ hạn dưới một năm) Song lại có quan niệm cho rằng không giới hạn thời hạn Ngân hàng Thế giới qua tài liệu Global Development Finance phát hành hàng năm tuy liệt kê số liệu về vay ngân hàng nước ngoài, nhưng không thấy nêu định nghĩa về loại hình tài chính này Các số liệu về vay ngân hàng trong tài liệu này bao gồm cả vay ngắn hạn, trung hạn lẫn dài hạn, cả vay ngân hàng ở nước ngoài lẫn vay của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động trong nước Tuy nhiên, khi phân tích động thái, các nhà nghiên cứu của World Bank lại chỉ dùng

số liệu về các khoản vay trung và dài hạn và vay của ngân hàng ở nước ngoài

(|cross-border).

Trong đề tài này, chúng tôi chấp nhận quan niệm rộng của Ngân hàng Thể giới thể hiện trong tài liệu Global Development Finance

Hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA), là một hình thức đầu tư nước

ngoài Gọi là Hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài Đôi khi còn gọi là viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư Gọi là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay

ODA có đặc trưng là (i) Lãi suất thấp (dưới 3%, trung bình từ 1-2%/nãm); (ii) Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài (25-40 năm mới phải hoàn

trả và thời gian ân hạn 8-10 năm); (iii) Trong nguồn vốn ODA luôn có một

phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA

Mặc dù có ưu điểm như vậy, song để nhận được các khoản ODA, các nước

đang phát triển có thể phải trả một sổ "chỉphí" Đó là:

10

Trang 18

v ề kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dờ bỏ dần hàng rào thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép

họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lời cao

Nguồn vốn ODA từ các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường gắn với việc mua các sản phẩm từ các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm chí là không cần thiết đối với các nước nghèo Ví như các dự án ODA trong lĩnh vực đào tạo, lập dự án và tư vấn kỳ thuật, phần trả cho các chuyên gia

nước ngoài thường chiếm đến hom 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu

trả lương cho các chuyên gia, cổ vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực

tế cần thuê chuyên gia như vậy trên thị trường lao động thế giới).

Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ Cụ thể là nước cấp ODA buộc nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất

Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử dụng ODA nhưng thông thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia

Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên

Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án khiến cho hiệu quả và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp có thể đẩy nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần

Giữa bốn hình thức vốn nước ngoài nói trên có quan hệ và liên kết với nhau Nhân tố tác động tới yếu tố này cũng sẽ tác động tới yếu tố kia Khuyến khích

Trang 19

một yếu tố này cũng có thể có tác dụng thu hút các yếu tố còn lại Giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài có những ranh giới không rõ ràng trong một số lĩnh vực, hay nói cách khác là có những lĩnh vực mà hai hình thức này hòa quyện vào nhau Chẳng hạn, các nhà đầu tư gián tiếp có thể hoạt động tích cực trên thị trường cổ phiếu những việc nắm giữ cố phiếu lại là một trong những đặc trưng cơ bản của đầu tư gián tiếp Hoặc, trái phiếu doanh nghiệp là hình thức điển hình của đầu tư gián tiếp và trong hầu hết các trường hợp không thể coi là đầu tư trực tiếp Tuy nhiên, có thể xảy ra trường hợp nhà tư bản rủi ro cấp cho một công ty mới bắt đầu hoạt động một lượng tiền lớn, đảm bảo mua hết một tỷ trọng lớn tài sản của công ty mới bắt đầu hoạt động Nhà tư bản rủi ro không nắm giữ bất kỳ một bằng chắng nào của sự sở hũu vì cổ phiếu chưa được phát hành mà chỉ nắm các chứng chỉ nợ Nhà đầu tư này cũng không nắm quyền kiểm soát công ty nhưng lại tích cực tham gia vào hoạt động quản lý nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh cao và nhằm thu được kết quả đầu tư tốt Trong trường hợp này, ở một chừng mực nào đó, nhà đầu tư nằm ở chỗ giao thoa giữa hai hình thức đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

Một cách khác, thông qua đó đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài liên kết với nhau đó là khi cả hai hình thức đầu tư này cùng được sử dụng Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia đầu tư gián tiếp khi

họ quản lý dòng tiền của mình Chẳng hạn nhà quản lý tài chính của một dây chuyền bán lẻ lớn sẽ liên tục ra vào thị trường tiền tệ cũng như thị trường vốn khi anh ta quản lý tiền mặt và các tài sản tài chính khác trong quá trình kinh doanh Bất kỳ một hình thức đầu tư trực tiếp cổ điền nào cũng đều có những chức năng tài chính tương tự và đó chính là đầu tư gián tiếp

Như vậy, trong nhiều trường họp sẽ không có sự phân biệt rõ ràng giữa đầu

tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp mà tồn tại sự giao thoa, liên kết giừa chúng

Hỗ trợ phát triển chính thức có tác động hỗ trợ các hình thức vốn nước ngoài khác Không ít khoản hỗ trợ phát triển chính thức của các nước phát triển cho các nước đang phát triển mang mục đích thúc đẩy các nước đang phát triển

củng cố thể chế (hoàn thiện luật pháp, cải cách hành chính, bồi dưỡng nguồn

12

Trang 20

nhản lực, ,) để các nước này mở cửa hơn cho đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp

cũng như việc tham gia thị trường của các ngân hàng nước ngoài của các nước phát triển Các khoản hỗ trợ phát triển chính thức nhằm mục đích phát triển cơ

sở hạ tầng ở các nước đang phát triển cũng sẽ tạo thuận lợi cho đầu tư trực tiếp vào các nước này Chẳng hạn, chính phủ Nhật Bản cấp ODA cho Việt Nam để

thực hiện Sáng kiến chung Nhật Bản-Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu

tư và nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như để giúp Việt Nam cải cách theo

định hướng thị trường có tác dụng thúc đẩy đầu tư nước ngoài nói chung và đầu

tư từ Nhật Bản nói riêng vào Việt Nam Việc chính phủ Nhật Bản cấp ODA để tỉnh Vĩnh Phúc phát triển cơ sở hạ tầng và cải cách hành chính rõ ràng có lợi cho các công ty lớn của Nhật Bản là Toyota và Honda đang đầu tư trực tiếp vào tỉnh này Việt Nam cũng nhận được một số khoản hỗ trợ phát triển chính thức để cải cách hệ thống ngân hàng.1 Điều này sẽ giúp ổn định hệ thống tài chính ở Việt Nam nên có tác dụng thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Để thu hút tốt nguồn vốn đầu tư trực tiếp, các nước đang phát triển thường chấp nhận cho những ngân hàng nước ngoài mở các chi nhánh tại nước mình Ban đầu, mục đích của việc này là để tạo thuận lợi cho các xí nghiệp có vốn đầu

tư trực tiếp của nước ngoài khi vay vốn Tuy nhiên, cùng với xu thế phi điều chỉnh khu vực tài chính, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được phép cung cấp dịch vụ ngân hàng cho cả các chủ thể kinh tế trong nước, và đây chính là vay ngân hàng nước ngoài

1.2 Tác động của vốn nước ngoài tới nền kinh tế của các nước đang phát triển

Vốn nước ngoài đem lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tể của các nước đang phát triển, điển hình là những lợi ích sau đây: (1) bổ sung nguồn tài chính cho phát triển kinh tế của các nước đang phát triển; (2) giúp bù đắp thiếu hụt về công nghệ, bí quyết quản lý, các chuẩn mực kế toán và kiến thức về thị trường quốc tế; (3) thúc đẩy đầu tư nội địa và cạnh tranh trong nước; (4) thúc đẩy sự

1 Từ năm 1993 đến 2006, ngành ngân hàng của Việt Nam nhận được tổng cộng 2,5 tỷ USD hỗ trợ phát triển chính thức song phương lần đa phương.[2]

Trang 21

phát triển của hệ thống tải chính nội địa; (5) giúp tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu; (6) tạo ra nhiều việc làm và giúp đào tạo công nhân; (7) thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ; (8) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; và (9) đem lại những lợi ích môi trường và xã hội.

Thứ nhất, vốn nước ngoài bổ sung nguồn tài chỉnh cho phát triển kinh tế của các nước đang phát triển Nhiều nước đang phát triển có thể không để dành

được nhiều để đáp ứng nhu cầu đầu tư nhằm đạt những mục tiêu tăng trưởng nhất định, vốn nước ngoài có thể giúp bù đắp thiếu hụt giữa mức đầu tư mong muốn để và mức để dành trong nước đó Đầu tư nước ngoài có thể giúp bù đắp

sự thiếu hụt giữa nhu cầu ngoại hổi cần có và lượng ngoại hối thu được từ xuất khẩu

Dòng vốn tư nhân nước ngoài chảy vào không những có thể giúp xóa bỏ một phần hay toàn bộ thâm hụt tài khoản vãng lai trong ngắn hạn, mà còn có thể xóa bỏ thâm hụt đó trong cả dài hạn nếu đầu tư đó giúp đem lại thu nhập bằng ngoại tệ cho các xí nghiệp.[7, tr 460]

Ở nhiều nước đang phát triển, ngân sách quốc gia thường thiếu hụt do số thu thực tế từ thuế của chính phủ không bằng số thu mong muốn Những khoản thuế do các xí nghiệp có vốn FDI nộp, những khoản thuế đánh vào việc tham gia các hoạt động tài chính trong nước của tư nhân nước ngoài trở thành một trong những nguồn bù đắp thiếu hụt ngân sách Ngay cả viện trợ phát triển chính thức cũng có ý nghĩa gián tiếp bù đắp thiếu hụt ngân sách Dựa dẫm vào ODA, chính phủ có thể giảm chi tiêu vào một số dự án và do đó giảm căng thẳng đối với công tác huy động nguồn thu trong nước Đấy là chưa kể tác động tích cực lan tỏa của vốn nước ngoài tới toàn thể nền kinh tế có tác dụng như nuôi dường nguồn thu ngân sách

Đổi với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vổn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006

Thứ hai, vốn nước ngoài giúp bù đắp thiểu hụt về cóng nghệ, bí quyết quản

14

Trang 22

lý, các chuẩn mực kế toán và kiến thức về thị trường quốc tế Trong một sổ

trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản

lý thì không thể có được bằng chính sách đó Mô hình tăng trưởng nội sinh có yếu tố FDI cho thấy các công ty đa quốc gia sẽ làm tăng hiệu suất đổi mới ở các nước có nhân công thấp Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công

ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bàng những khoản chi phí lớn Nhờ đó, năng suất lao động ở nước thu hút vốn nước ngoài sẽ được cải thiện Hầu hết các nghiên cứu kinh tế lượng đều cho thấy có sự phổ biến các công nghệ, bí quyết quản lý, kiến thức về thị trường quốc tế cũng như các tiêu chuẩn

kế toán từ FDI cho nước thu hút vốn đầu tư Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu kinh tế lượng cho thấy sự phổ biến này chỉ xảy ra khi khoảng cách công nghệ giữa nước đầu tư và nước thu hút đầu tư không quá xa và còn phụ thuộc vào trình độ của nguồn nhân lực ở nước thu hút

Thứ ba, đầu tư nước ngoài thúc đẩy đầu tư nội địa và cạnh tranh trong nước Nghiên cứu của Bosworth và Collins (1999) dựa trên kết quả phân tích từ

số liệu của 58 nền kinh tế trong thời kỳ 1978-1985 cho thấy một dollar đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể kéo theo hơn 0,8 dollar đầu tư nội địa [23] Hecht,

Razin và Shinar (2002) dựa trên kết quả phân tích từ số liệu của 64 nền kinh tế trong thời kỳ 1976-1997 (nghĩa là số quan sát nhiều hơn hẳn so với trong

nghiên cứu của Bosworth và Collins) cho thấy một dollar FDI có thể kéo theo

0,68 đến 0,76 dollar đầu tư nội địa.[47] Tuy nhiên, International Institute for

Sustainable Development (2002) lại cho rằng FDI chỉ thúc đẩy đầu tư nội địa

nếu là trong những ngành mới, nơi mà xí nghiệp trong nước rất ít và không có cạnh tranh trực tiếp với xí nghiệp có vốn FDI.[53]

Nhờ công nghệ vượt trội và bí quyết quản lý tiên tiến, các công ty nước ngoài có thể sản xuất hàng hóa rẻ hơn so với các công ty nội địa Điều này sẽ thúc đẩy các công ty nội địa phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, phải vươn tới những tiêu chuẩn công nghệ và quản lý tốt nhất của thế giới

Trang 23

Cạnh tranh trong nước trước sức ép của FDI sẽ buộc các xí nghiệp phải áp dụng công nghệ sản xuất mới và nâng cao nguồn nhân lực của mình Cạnh tranh sẽ giúp phân bố nguồn lực hiệu quả hom, tạo cơ sở cho tăng trưởng kinh tế trong nước bền vững.

Thứ tư, vốn nước ngoài thúc đẩy sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa Tác động tích cực này chủ yếu nhờ hai hình thức là vốn đầu tư gián tiếp và

vốn vay ngân hàng nước ngoài Cùng với sự xuất hiện của đầu tư gián tiếp nước ngoài, thị trường tài chính nội địa sẽ hoạt động hiệu quả hơn do có tính thanh khoản cao hơn Một khi thị trường trở nên có tính thanh khoản cao hơn, sâu hơn

và rộng hơn, một loạt các dự án đầu tư khác nhau sẽ có được tài trợ Chẳng hạn, những công ty mới sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc thu hút được nguồn vốn tài trợ ban đầu Người tiết kiệm sẽ có nhiều cơ hội đầu tư hơn với niềm tin ràng họ có thể quản lý được danh mục đầu tư cùa họ hoặc có thể bán chứng khoán đi rất nhanh một khi họ cần đến nguồn tiết kiệm của mình Bằng cách đó, những thị trường có tính thanh khoản cao sẽ khiến cho đầu tư dài hạn trở nên hấp dẫn hom

Vốn nước ngoài còn thúc đẩy sự phát triển của các thị trường cổ phiếu cũng như quyền biểu quyết của các cổ đông trong quá trình điều hành công ty, Một khi các công ty cạnh tranh nhau về nguồn tài trợ, thị trường sẽ ban thưởng cho những công ty có hiệu quả tốt hơn, có triển vọng tốt hơn về hiệu quả và có trình độ điều hành công ty tốt hơn Một khi tính thanh khoản cũng như hoạt động của thị trường được cải tiến, cổ phiếu sẽ ngày càng phản ánh giá trị thực của công ty và điều đó

sẽ thúc đẩy sự phân bổ vốn hiệu quả Những thị trường cổ phiếu hoạt động tốt sẽ khuyến khích mua lại và đây chính là giao điểm giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Mua lại có thể khiến cho một công ty kinh doanh kém hiệu quả trở nên

có hiệu quả và có lợi tức cao hơn Mua lại còn khiển cho công ty trở nên vững mạnh hơn và đem lại lợi tức cho các nhà đầu tư cũng như cho nền kinh tế nội địa

Sự hiện diện của các nhà đầu tư thể chế nước ngoài (công ty bảo hiểm, quỹ

tương hồ, quỹ tự bảo hiểm rủi ro, ) sẽ giúp cho các thể chế tài chính trong nước

có cơ hội tiếp cận được với các thị trường vốn quốc tế; áp dụng các công cụ và kỳ thuật tài chính mới như tương lai, quyền chọn, hoán đổi hoặc những công cụ bảo

16

Trang 24

hiểm khác; cải tiến các khuôn khổ giám sát và điều tiết, với kết quả là khả năng quản lý rủi ro của cả các nhà đầu tư nước ngoài lẫn các nhà đầu tư nội địa sẽ được tăng cường và sức cạnh tranh của các thể chế tài chính nội địa sẽ được nâng cao.Đầu tư nước ngoài giúp tăng cường kỷ luật đổi với các thị trường vốn nội địa Thực vậy, với một thị trường rộng hơn, các nhà đầu tư sẽ có được những khuyến khích mạnh hom trong việc mở rộng nguồn lực để tìm kiếm những cơ hội đầu tư mới hay đang xuất hiện Một khi các công ty cạnh tranh nhau về nguồn tài trợ, họ sẽ buộc phải đối mặt với nhu cầu về khối lượng và chất lượng thông tin tốt hơn Sức ép về tính công khai đầy đủ sẽ thúc đẩy tính minh bạch và điều này sẽ có tác động lan tỏa tích cực tới các khu vực khác của nền kinh tế Do không có lợi thế

về những thông tin nội bộ về các cơ hội đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đặc biệt yêu cầu một mức độ công khai hóa cao hơn, những chuẩn mực kế toán cao hơn và mang theo những kinh nghiệm của họ trong việc thực hiện những chuẩn mực này

Cạnh tranh trong việc cung cấp nguồn tài trợ hay các dịch vụ tài chính cũng như trong việc nhận được nguồn tài trợ hay các dịch vụ tài chính sẽ buộc các thể chế tài chính nội địa cũng như các công ty nội địa phải áp dụng những chuẩn mực

kế toán quốc tể, thực hiện minh bạch hoá thông tin và cải tiến hình thức quản lý, Điều này sẽ khiến cho thị trường tài chính nội địa hoạt động có kỷ luật hơn và có khả năng cạnh tranh cao hom do giảm thiểu được sự bất cân xứng của thông tin và qua đó là giảm được những hiệu ứng bất lợi như sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức Kết quả là người tiêu dùng sẽ có được các dịch vụ tài chính với chất lượng

cao horn và với chi phí thấp hom Chẳng hạn, Robert E Robin (nguyên bộ trưởng

tài chính Mỹ) đã chỉ ra rằng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đã khiến

cho người tiêu dùng Mỹ tiểt kiệm được 1-5% chi phí hay tương đương với 3-15 tỷ USD mỗi năm

Khi một ngân hàng nước ngoài cho một ngân hàng nội địa vay để cho các công ty trong nước vay lại, ngân hàng nước ngoài thường đòi hỏi những tiêu chuẩn nhất định đối với ngân hàng nội địa Nhờ đó các ngân hàng nội địa sẽ có động cơ hoàn thiện mình Điều này góp phần tăng cường sự ổn định của hệ

Đ A I H O C Q U Ố C G I A H A N O I Ị

Trang 25

thống tài chính của các nước đang phát triển Đương nhiên điều này chỉ có được nếu như không có sự đảm bảo ngầm của chính phủ các nước đang phát triển đối với đi vay quốc tế để khỏi xảy ra vấn đề rủi ro đạo đức.

Thông qua đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài có cơ hội chia sẻ rủi ro của mình với các nhà đầu tư nội địa vốn nước ngoài hình thức gián tiếp sẽ khiến cho thị trường vốn nội địa trở nên có tính thanh khoản cao hơn Nhờ đó, việc

đa dạng hoá rủi ro sẽ trở nên dễ dàng hom; và kết quả là nguồn vốn sẽ dồi dào hơn

và chi phí vốn đối vói các công ty sẽ giảm

Thứ năm, thu hút đầu tư nước ngoài giúp các nước đang phát triển tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu Khi thu hút vốn đầu tư từ các công ty đa quốc

gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các

xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có

cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu

Thứ sáu, đầu tư nước ngoài làm tạo ra nhiều việc làm và giúp đào tạo công nhản Vì một trong những mục đích của vốn nước ngoài là khai thác các điều

kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút vốn nước ngoài, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dường nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khi những lao động kỹ năng và chuyên môn này chuyển sang làm việc cho xí nghiệp khác hoặc mở doanh nghiệp riêng của mình, họ sẽ đem công nghệ, bí quyết quản lý, kỹ năng lao động và nghiệp vụ học được phổ biến ra cả nước

Khuynh hướng thuê ngoài gia công gần đây cho thấy có việc chuyển cả các

nhà chuyên môn và nhà quản lý từ các công ty thuê gia công (thường là công ty

18

Trang 26

nước ngoài hoặc cỏ vốn đầu tư nước ngoài) sang các công ty nhận gia công (thường là công ty trong nước) để hướng dẫn và giám sát làm theo đúng tiêu

chuẩn được đặt hàng Khi ấy, công nghệ, bí quyết quản lý và các kỹ năng, chuyên môn sẽ được phổ biến sang các công ty trong nước thông qua đào tạo nguồn nhân lực tại công ty trong nước

Thứ bảy, thu hút von nước ngoài sẽ thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao

kỷ luật đối với các chính sách của chính phủ Tính bất ổn định và dễ bị đảo

ngược của một số hình thức vốn nước ngoài sẽ buộc các chính phủ phải thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô lành mạnh nhằm giảm thâm hụt ngân sách, giảm lạm phát, giảm sự mất cân đối bên ngoài, cũng như các chính sách kinh tế thân thiện với thị trường nói chung và các nhà đầu tư nước ngoài nói riêng

Như vậy, thông qua các kênh khác nhau, vốn nước ngoài có thể bổ sung thêm nguồn vốn cho nền kinh tế cũng như thúc đẩy việc củng cổ và cải tiến hoạt động của các thị trường vốn nội địa Điều này sẽ khiển cho vốn và các nguồn lực trong nền kinh tể được phân bổ tốt hom; tạo cơ hội đa dạng hoá danh mục đầu tư, cải thiện khả năng quản lý rủi ro và thúc đẩy sự gia tăng của tiết kiệm và đầu tư với kết quả là nền kinh tế sẽ trở nên vững mạnh hơn và tăng trưởng kinh tế sẽ được thúc đẩy

Thứ tám, hàng loạt các lợi ích nêu trên của vốn nước ngoài sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế v ề lý luận, vốn nước ngoài, dù dưới hình thức nào,

bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế các nước đang phát triển, nên sẽ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế ở các nước đó vấn đề là vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng thế nào trong cơ cấu vốn toàn xã hội ở các nước đang phát triển

Những nghiên cứu thực nghiệm vĩ mô cho thấy FDI có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tể ở các nước đang phát triển Thậm chí ảnh hưởng của FDI còn lớn hơn cả của lao động và xuất khẩu Còn các nghiên cứu vi mô cho thấy FDI chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chừng nào đất nước có năng lực hấp thụ các công nghệ, bí quyết và chuẩn mực mà các công ty đa quốc gia mang vào [15]

Nghiên cứu thực nghiệm của Bekaert và Harvey (1998, 2002) cho thấy

Trang 27

dòng FPI chứng khoán có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực tới thành tích kinh tế

vĩ mô của các nền kinh tế đang nổi lên.[l 8] Durham (2004) cho thấy ảnh hưởng

trực tiếp tích cực của FPI chứng khoán đối với tăng trưởng lại phụ thuộc vào các biến số tài chính và pháp lý được sử dụng khi nghiên cứu Nó có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở những nước có thị trường chứng khoán còn nhỏ và có mức

độ tham nhũng thấp.[33]2

Tuy nhiên, Krugman {1993) lại chỉ ra rằng xét toàn bộ các nước đang phát

triển, vốn nước ngoài chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (3%) trong cơ cấu vốn của các nước này Vì thế, đóng góp của vốn nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế ở

các nước đang phát triển có thể coi là không đáng kể.[60] Levine (2001) chỉ

thừa nhận lý luận của Krugman là hợp lý nếu đơn thuần xét đến đóng góp của vốn nước ngoài ở khía cạnh tích lũy tư bản Song nếu nhìn theo các khía cạnh khác, như đóng góp qua công nghệ, kỷ năng quản lý, thu nhập cho lao động và cho ngân sách thì vốn nước ngoài dưới hình thức FDI vẫn đóng góp vào tăng trưởng [65]

Thứ chỉn, bên cạnh những lợi ích kinh tế, vốn nước ngoài có thể còn có những lợi ích môi trường và xã hội Những công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài tuy không luôn mang tới các nước đang phát triển những công nghệ mới nhất và những tiêu chuẩn cao nhất về bảo vệ môi trường và an toàn lao động, song vẫn có thể còn tiến bộ hơn các công nghệ và tiêu chuẩn của công ty trong nước Điều này rõ ràng có ích lợi cho môi trường và xã hội của nước thu hút

FDI Nghiên cứu của Beck, Demirguc-Kunt and Levine (2004) cho thấy phát

triển tài chính nhờ tự do hóa tài chính và mở cửa cho đầu tư nước ngoài giúp giảm bất bình đẳng và nghèo nhờ tăng thu nhập [17]

Tuy nhiên, vốn nước ngoài còn có thể gây ra những tác động tiêu cực

2 Tuy nhiên, Durham (2003) sử dụng số liệu về dòng FPI nói chung từ các nước OECD, dòng FPI nói chung không kể xuất sứ, lượng FPI (stock) vào các nước đang phát triển cho thấy FPI không có tương quan thống kê có ý nghĩa với tăng trưởng kinh tế (nhưng có tương quan với sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán)

20

Trang 28

Đáng chú ý nhất là, khả năng vốn nước ngoài làm giảm hiệu quả trong sử dụng

các nguồn lực địa phương Ở những nước có thị trường được bảo hộ, FDI có thể

có những tác động tiêu cực Nó dẫn đến việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn lực địa phương và làm giảm phúc lợi kinh tế địa phương Khi vào những nước tồn tại những quy định về tỷ lệ nội địa hóa, về chia sẻ công nghệ, về liên doanh, các công ty đa quốc gia thường chỉ mang theo những công nghệ sản xuất kém xa các công nghệ tân tiến quốc tế Mặt khác, FDI trong tình trạng các điều kiện bị bóp méo thường không giúp nước thu hút tham gia vào mạng lưới sản xuất, cung ứng quốc tế Thông thường, điều tiết FDI sẽ phối hợp với điều tiết mậu dịch cùng làm cản trở tăng trưởng kinh tế.[76]

International Institute for Sustainable Development (2002) cho ràng FDI có

thể kìm chế đầu tư nội địa do khả năng cạnh tranh của xí nghiệp có FDI áp đảo

so với các xí nghiệp trong nước.[53]

Thứ hai, vốn nước ngoài cỏ thể khiến cho nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng phát triển quả nóng Sự gia tăng mạnh mẽ của dòng vốn nước ngoài hình thức

gián tiếp vào trong nước sẽ làm xuất hiện “căn bệnh Hà Lan” với những đặc trưng

cơ bản là tỷ giá hối đoái danh nghĩa hoặc lạm phát gia tăng Lãi suất giảm do có sự gia tăng của mức cung tiền sẽ khiến cho nhu cầu nội địa gia tăng và đồng tiền lên giá thực tế Đến lượt mình, sự lên giá thực tế của đồng tiền nội địa sẽ thúc đẩy sự

phát triển của khu vực sản xuất hàng hoá phi thương mại (dịch vụ) và hạn chế sự phát triển của khu vực sản xuất hàng hoá thương mại {hàng chế tạo) Hậu quả là

cán cân tài khoản vãng lai sẽ bị xấu đi do khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trong nước giảm, nợ nước ngoài sẽ gia tăng Nói cách khác, nền kinh tế sẽ

bị rơi vào tình trạng phát triển quá nóng, bong bóng và dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng một khi gặp phải các cú sốc bên trong cũng như bên ngoài, hoặc khi dòng vốn đảo ngược mạnh

Có một điểm đáng lưu ý là những tác động kể trên của vốn gián tiếp đối với nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào việc dòng vốn thu hút được được sử dụng như thế nào và vốn đó được thu hút trên thị trường nội địa hay trên thị trường quốc tế Nếu vốn gián tiếp thu hút được được sử dụng để tài trợ cho đầu tư mới, tác động của nó

Trang 29

tới nền kinh tế cũng giống như tác động của vốn đầu tư trực tiếp Nếu vốn đó được dùng để trả nợ, áp lực đối với hệ thống ngân hàng sẽ giảm và dự trữ ngoại tệ

sẽ gia tăng Nếu vốn đó được đầu tư vào thị trường vốn nội địa hay được gửi vào

hệ thống ngân hàng, cung tiền nội địa và tín dụng sẽ gia tăng, kéo theo sự gia tăng

của nhu cầu về tài sản {bao gồm cả bất động sản) Nếu vốn thu hút được được sử

dụng để chi tiêu, tổng cầu sẽ tăng, kéo theo sự gia tăng của sản lượng và lạm phát Tất cả những điều đó sẽ khiến cho đồng tiền lên giá thực tế, lãi suất tăng và giá cả của khu vực sản xuất hàng hoá phi thương mại cũng như giá tài sản nội địa gia tăng với những hậu quả đối với nền kinh tế như đã trình bày ở trên

Sự thu hút vốn gián tiếp trên thị trường quốc tế sẽ ít có những tác động bất ổn định đối với thị trường tài chính nội địa bởi vì việc kinh doanh chứng khoán tiếp theo sẽ diễn ra trên thị trường nước ngoài và không ảnh hưởng tới sự di chuyển tiếp theo của vốn Tuy vậy, việc tiếp cận ổn định thị trường vốn quốc tế lại phụ thuộc vào đánh giá tích cực của các nhà đầu tư đối với tính thanh khoản của các chứng khoán của người vay nợ cũng như sự tuân thủ của người vay nợ đối với các nguyên tắc của thị trường Nếu giá cả chứng khoán bất ổn định trên thị trường quốc tế, việc phát hành mới sẽ khó có thể thực hiện được

Thứ ba, hệ thống tài chỉnh trong nước có thể trở nên dễ bị tổn thương và rơi vào khủng hoảng Nếu khu vực tài chính nội địa không có khả năng đương

đầu với sự di chuyển của vốn cũng như nếu khu vực này không được điều tiết, giám sát thận trọng, sự đảo ngược mạnh của dòng vốn đầu tư gián tiếp tư nhân sẽ dẫn tới khủng hoảng

Tuy nhiên, khủng hoảng còn có thể xảy ra mà không liên quan gì đến các nền tảng cơ bản của nền kinh tế như dưới tác động của sự không hoàn hảo của thị trường vốn quốc tế, những thay đổi bên ngoài và hiệu ứng lây lan

Tính không hoàn hảo của thị trường vốn quốc tể cùng với các hiệu ứng của

nó như sự lựa chọn nghịch, hành vi bầy đàn, rủi ro đạo đức sẽ tác động mạnh tới hoạt động của thị trường vốn nội địa và khuyến khích các chu kỳ bùng nổ-đổ vỡ của thị trường này Chẳng hạn, nếu các nhà đầu tư cho ràng tỷ giá hổi đoái của một nước là không bền vững thì đầu cơ sẽ xuất hiện với hậu quả là khủng hoảng tiền tệ

2 2

Trang 30

và cán cân thanh toán sẽ xảy ra với nhiều tác động tiêu cực tới nền kinh tế.

Thông qua sự di chuyển của dòng vốn gián tiếp những thay đổi mang tính

chu kỳ ở các nước công nghiệp phát triển {đặc biệt là sự thay đổi của lãi suất và tỳ

giả giữa các đồng tiền mạnh, ) sẽ nhanh chóng tác động tới hệ thống tài chính

nội địa và khủng hoảng sẽ xảy ra nếu hệ thống đó không kịp thòi thích nghi với những thay đổi đó

Vốn vay ngân hàng nước ngoài làm tăng tính dễ thất thoát vốn {capital

flights) và khi có một cú sốc kinh tế vĩ mô chẳng hạn như một sự lan truyền của

khủng hoảng từ nước ngoài, một vụ mất giá tiền tệ trong nước, một vụ tăng lãi suất ở nước ngoài, hay một sự suy giảm điều kiện thương mại quốc tế, thì sẽ dễ xảy ra tình trạng rút vốn ồ ạt ra khỏi đất nước gây ra khủng hoảng tiền tệ và đói

tín dụng Nghiên cứu của Van Rijckeghem and Weder (2000, 2001) cho thấy một hiện tượng gọi là “common lender effects” sau khủng hoảng đồng Peso

Mexico và khủng hoảng tài chính Đông Á, nghĩa là một ngân hàng nước ngoài

có thể cho nhiều nước đang phát triển vay và khi một nước đang phát triển bị khủng hoảng, ngân hàng nước ngoài chung này sẽ rút tiền cho vay khỏi các nước còn lại.[101] Thêm vào đó, do ngân hàng nước ngoài ít có cam kết với nước đi vay, nên họ dễ rút tín dụng một khi nước đi vay gặp khó khăn kinh tế hay chính nước có ngân hàng gặp khó khăn kinh tế

Thứ tư, vốn nước ngoài có thể làm giảm tỉnh độc lập của chính sách tiền tệ

và tỷ giá Điều này xảy ra bởi vì cùng với quá trình tự do hoá tài khoản vốn, ngân

hàng trung ương của các nước chỉ có thể thực hiện được 1 trong 2 mục tiêu còn lại: sự độc lập của chính sách tiền tệ hay sự độc lập của chính sách tỷ giá hối đoái Trong điều kiện tự do di chuyển của vốn, nếu ngân hàng trung ương muốn duy trì chính sách tiền tệ độc lập thì họ buộc phải thả nổi tỷ giá và ngược lại nếu họ muốn

cố định tỷ giá thì buộc phải từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập Việc không tuân thủ nguyên tắc này sẽ khiến cho các chính sách kinh tế vĩ mô trở nên trái ngược nhau

và đưa đến những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế

Vay ngân hàng có thể góp phần làm cho khủng hoảng tiền tệ thêm trầm trọng Khi đồng tiền của nước đang phát triển bị mất giá mạnh, nợ nước ngoài

Trang 31

của các xí nghiệp trong nước tính bằng nội tệ tăng lên Do đó, xí nghiệp có động

cơ bán nội tệ ra và mua ngoại tệ vào khiến cho tiền tệ của đất nước thêm mất giá Điều này đã từng xảy ra ở Indonesia và Hàn Quốc trong thời kỳ khủng hoảng tài chính Đông Á

Thứ năm, vốn nước ngoài làm tăng phụ thuộc vào kinh tế nước ngoài Điển

hình nhất là vốn vay ngân hàng nước ngoài Lượng cung vốn ngân hàng nước ngoài phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các nước cho vay Các nghiên cứu của

Goldberg (2001) về hành vi của những ngân hàng Mỹ cho thấy khi kinh tế Mỹ

tăng trưởng tốt, các ngân hàng Mỳ sẽ cho các nước Mỹ Latinh vay nhiều hơn Ngược lại, khi tăng trưởng chậm lại, ngân hàng Mỹ sẽ giảm cho vay đối với các

nước Mỹ Latinh.[42] Nghiên cứu của Jeanneau and Micu (2002) cho thấy chu

kỳ kinh tế của các nước công nghiệp phát triển có tương quan dương với lượng cho vay đối với các nước đang nổi lên.[54]

Thứ sáu, vốn nước ngoài cũng có thể có tác động giảm tăng trưởng kinh tế

Đó lả vì các hình thức vốn đầu tư gián tiếp và vay ngân hàng nước ngoài có tính hay thay đổi, nên nó sẽ làm tăng tính bất ổn định kinh tế vĩ mô ở các nước đang phát triển và do đó có ảnh hưởng gián tiếp tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế ở đó

24

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI VÀO

CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

2.1 Thực trạng thu hút dòng vốn FDI

Những năm đầu thế kỷ 21, dòng FDI vào các nước đang phát triển giảm mạnh Năm 2001, mức sụt giảm là 14% Năm 2002, mức giảm sút là 22% Đây

là đợt suy giảm nghiêm trọng nhất kể từ đầu những năm 1970

FDI vào các nước Mỹ Latinh và Caribbe giảm liên tục trong 4 năm từ 2000 đến 2003 bị giảm, trong đó năm 2003 ghi nhận mức sụt giảm tới 33% Những nước có mức FDI vào giảm nhiều nhất là Argentina, Brazil và Chile Châu Phi, khu vực Thái Bình Dương cũng có mức sụt giảm không nhỏ trong các năm2001-2002 FDI vào nhiều nước châu Á giảm trong các năm 2001-2002, nhưng FDI vào Trung Quốc lại tăng rất mạnh đã bù lại mức giảm của các nước khác và giữ cho khối lượng FDI vào toàn châu Á không bị giảm

Sự sụt giảm trên phản ánh sự suy thoái kinh tế toàn cầu Nhiều nước phát triển, những nước chủ đầu tư lớn đối với các nước đang phát triển gặp phải suy thoái kinh tế từ năm 2001, nền dòng FDI ra của họ giảm Nó còn xuất phát từ chủ trương giảm đầu tư do tỷ suất lợi nhuận giảm suốt từ năm 1999 của các công ty đa quốc gia Ngoài ra, sự chững lại của xu hướng tư nhân hóa ở các nước đang phát triển cũng là một nguyên nhân

Các nền kinh tế đang phát triển dẫn đầu sự phục hồi của dòng FDI toàn cầu

từ năm 2003 Môi trường chính sách được cải thiện và điều kiện kinh tế tốt hom

đã giúp các nước đang phát triển hấp dẫn FDI hom và từ đó làm cho tình hình kinh tế của mình tốt hom Kết quả thu hút FDI giữa các khu vực tuy không đồng đều, nhưng nhìn chung đều theo xu hướng tăng lên Tốc độ tăng thu hút FDI của các nước đang phát triển năm 2003 đạt 39%, năm 2004 đạt 40%

FDI vào khu vực châu Phi tăng liên tục từ năm 2003, và tăng đột biến với tốc độ 78% trong năm 2005 lên 31 tỷ USD và đóng góp tới 19% vào cơ cấu vốn của khu vực này Mười nước dẫn đầu châu Phi trong thu hút FDI lần lượt là

Nam Phi, Ai Cập, Nigieria (mỗi nước trên 3 tỳ USD), Marốc, Xuđãng (moi nước

Trang 33

trên 2 tỷ USD), Ghinê Xích đạo, Cộng hòa Dân chủ Cônggô, Algeria (mỗi nước trên ỉ tỷ USD), Tuynisia và Chad (mỗi nước trên 0,5 tỷ USD) Tuy nhiên, châu

Phi vẫn chỉ thu hút được 3% tổng FDI vào của thế giới

Một phần lớn số FDI mới là vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, do giá cả hàng hóa toàn cầu tăng và như cầu về kim cương, vàng, dầu mỏ, platinum và plalldium tăng FDI vào khu vực dịch vụ của châu Phi cũng tăng so với những năm trước Lao động thiếu kỹ năng, thị trường phân mảnh và thiếu đa dạng đã cản trở FDI vào lĩnh vực chế tạo ở châu Phi Và đây cũng là những nguyên nhân khiến cho FDI vào châu Phi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ bé trong tổng FDI vào của thế giới

Nâng cao nhận thức của nhà đầu tư và cải tiến khuôn khổ quy chế đóng góp đáng kể vào sự gia tăng nói trên Theo dõi của UNCTAD cho thấy, trong số 53 thay đổi về quy chế trong năm 2005 thì có tới 42 làm thuận lợi cho FDI Nhờ đó, các nước giàu tài nguyên như Algeria, Angola, Libi, Mauritania, Nigeria và Nam Phi thu hút được nhiều FDI hom các năm trước Riêng dòng FDI vào Libi tăng còn do cẩm vận kinh tế với nước này đã được bãi bỏ Giá các hàng hóa chủ chốt cao đã khuyến khích các TNC tiến hành các dự án khai thác mới ở các

nước châu Phi, dẫn tới sự gia tăng dòng FDI vào khu vực Việc mở rộng Đạo

luật Tăng trưởng và Cơ hội cho Châu Phi của Hoa Kỳ đến năm 2015 sẽ đẩy

mạnh sản xuất quốc tế ở châu Phi và hấp dẫn FDI

FDI vào châu Á và Thái Bình Dương năm 2004 tăng 46% so với năm kế trước, năm 2005 tăng 19% Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Hong Kong và Singapore là những nước dẫn đầu khu vực về thu hút FDI Tuy nhiên, điều này cho thấy phân bố FDI ở khu vực này là không đồng đều và chỉ tập trung vào một vài nền kinh tế Tất cả các khu vực đều thu hút được nhiều FDI hom những năm

trước Đông Bắc Á {chủ yếu là Trung Quốc và Hàn Quốc) tiếp tục chi phối dòng FDI vào khu vực (71% tổng FDI vào khu vực), tiếp theo là Đông Nam Á (22%)

Tốc độ tăng thu hút FDI của Đông Nam Á rất cao, 48% trong năm 2004, 45% trong năm 2005 Của Nam Á là 31% trong năm 2004 và 34% trong năm 2005 Của Đông Bắc Á là 46% trong năm 2004 và 12% trong năm 2005 Singapore

26

Trang 34

vẫn là nước chi phối dòng FDI vào Đông Nam Ả, trong khi ở khu vực Nam Á là

Ấn Độ Dòng FDI vào Trung Á và Tây Á tăng nhờ đầu tư vào dầu mỏ tăng FDI vào khu vưc Thái Bình Dương lúc tăng lúc giảm, nhưng đều với mức độ ít

Tình hình kinh tế sáng sủa hom, môi trường chính sách ưu đãi hơn và khả năng lợi nhuận cao, cũng như sự gia tăng các hoạt động mua lại và sáp nhập

{M&A) là những nhân tố chủ yếu tạo nên tình hình này Những hiệp định song

phương và khu vực liên tiếp được thành lập làm cho khu vực càng thêm hấp dẫn FDI Liên kết khu vực đã kích thích mạng lưới sản xuất và FDI nội bộ khu vực, đặc biệt là giữa khu vực Đông Bắc Á với khu vực Đông Nam Á Hiện toàn FDI nội bộ khu vực đã chiếm tới một nửa FDI vào ở khu vực Nỗ lực của khu vực trong cải tiến môi trường chính sách và tự do hóa đối với các ngành dịch vụ cũng là một nhân tổ giúp hấp dẫn FDI hơn Ví dụ, chính phủ Án Độ đã bắt đầu cho phép các công ty nước ngoài trong lĩnh vực bán lẻ được kinh doanh ở nước mình mà không bị yêu cầu phải liên doanh với một thương hiệu nội địa Các ngành truyền thông, viễn thông và xây dựng cũng được Án Độ mở cửa cho FDI Trong khi đó, FDI nới lỏng các quy định đối với FDI vào ngành dược

FDI vào khu vực Mỹ Latinh và Caribbe tăng liên tục từ năm 2004 Năm

2004, dòng FDI vào khu vực này tăng tới 44% so với năm kế trước Năm 2005, tăng 3 % so với năm 2004 Nếu loại trừ các hoạt động của các trung tâm tài chính hải ngoại, thì FDI vào khu vực này năm 2005 đạt 67 tỷ USD, tăng 12% Mexico, Brazil, thu hút được tới một nửa tổng FDI vào khu vực Những nước

thu hút được nhiều FDI khác (sau khi đã loại trừ hoạt động của các trung tâm

tài chính hải ngoại) là Colombia, Chile, Argentina Tuy nhiên, các nền kinh tế ở

khu vực này chung nhau một đặc điểm trong thành tích thu hút FDI, đó là năm tăng năm giảm không liên tục và các nước không cùng tăng hay cùng giảm

Cũng như ở các khu vực khác, tình hình kinh tế khả quan, môi trường chính sách được cải thiện và thủ tục được đơn giản hóa là những nhân tố chính tạo nên

sự gia tăng trong năm 2005 Các hiệp định thương mại tự do mà các nước trong khu vực ký với các nước ngoài khu vực đã thúc đẩy FDI vào khu vực này Gần đây, nhiều vấn đề xã hội như nghèo đói và bất bình đẳng được cải thiện góp

Trang 35

phần tạo nên ổn định chính trị ở các nước Điều này đã hấp dẫn FDI.

Xét đến phân bố ngành, đầu tư vào khu vực dịch vụ ở các nước đang phát triển ngày càng tăng Ở châu Phi, FDI dịch vụ tập trung trong các ngành viễn thông, điện, quản lý và thương mại Phần lớn sự gia tăng này là nhờ các chương trình tư nhân hóa Ở châu Á, khu vực dịch vụ thu hút được 50% FDI trong năm

2003 {năm Ỉ995 là 43%).[96] Phần lớn FDI dịch vụ vào các nước đang phát

triển châu Á tập trung vào các ngành tài chính, giao thông vận tải, viễn thông và dịch vụ kinh doanh Du lịch cũng là một ngành của châu Á thu hút được nhiều FDI Một số nền kinh tế đang phát triển ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á thu hút được nhiều FDI vào các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao Ở châu Á, sáp nhập và mua lại là hình thức chính của FDI dịch vụ Ở châu Mỹ Latinh, FDI vào khu vực dịch vụ cũng tăng và tăng nhiều trong các ngành Sự phát triển này là nhờ các chương trình tư nhân hóa

Đầu tư vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) đang có xu hướng

gia tăng toàn cầu bao gồm cả các nước đang phát triển Những nước đang phát triển thu hút được nhiều FDI vào hoạt động R&D là Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Mexico, và Chile Những nước này chiếm tới trên 90% dòng FDI vào R&D ở các nước đang phát triển Xét theo khu vực địa lý, Đông Nam Á và Đông Á cùng nhau chiếm tới gần 70,1%, Mỹ Latinh chiếm trên 16% dòng FDI vào R&D ở các nước đang phát triển Một số nước đang phát triển đã thu hút được các dự án FDI vào hoạt động R&D cao cấp, chẳng hạn Trung Quốc và Ấn Độ đã thu hút được Intel mở phòng thí nghiệm tại nước mình, Ấn Độ thu hút được các dự án R&D của IBM, Trung Quốc thu hút được dự án lập phòng thí nghiệm của Microsoft, hay Malaysia có

dự án phòng thí nghiệm của Fujitsu Ở Trung Quốc tính đến cuối năm 2004, có tới 700 trung tâm R&D có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động Trên 100 TNC đã

mở các cơ sở R&D ở Ấn Độ Singapore cũng thu hút được chừng đó TNC mở

cơ sở R&D ở nước mình Trong thời gian từ 2002 đến 2004, có khoảng 16 nước châu Á đã thu hút được các dự án FDI vào R&D FDI vào R&D ở Thái Lan

đang chuyển hướng từ luyện kim và phi kim sang cơ khí, vận tải và điện tử {nhất

28

Trang 36

là ổ cứng).

2.2 Xu hướng gần đây của FPI vào các nước đang phát triển

Dòng vốn cổ phần gián tiếp ròng chảy vào các nước đang phát triển đã tăng mạnh từ 6,4 tỷ USD năm 2001 lên 61,4 tỷ USD năm 2005.3 Trong đó, đáng lưu

ý là sự tăng mạnh mẽ của dòng vốn vào Trung Quốc từ 0,8 tỷ USD lên 19 tỷ

USD cùng thời kỳ và vào Ấn Độ từ 2,9 tỷ USD lên 12,2 tỷ USD Những nền

kinh tế khác có mức tăng thu hút FPI lớn bao gồm Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil,

và Nam Phi Tăng trưởng kinh tế nhanh ở các nền kinh tế mới nổi lên cùng với lãi suất thấp trên toàn thế giới là những yếu tố chủ chốt kích thích dòng vổn cổ phần gián tiếp chảy vào các nước đang phát triển Ngoài ra, sự gia tăng của dòng vốn nay còn được hỗ trợ trực tiếp bải sự ổn định của tỷ giá hối đoái của các đồng tiền ở các nước đó Bên cạnh đó là sự nới lỏng dần các hạn chế về quyền

sở hữu của nước ngoài ở các nền đang kinh tế đang phát triển

Những yếu tổ chủ chốt thúc đẩy dòng vốn nợ tư nhân gia tăng gồm có mức lãi suất của các khoản mục đầu tư tương đương ở các nước công nghiệp, chất lượng tín dụng của các nền kinh tế mới nổi được cải thiện và sự kiên trì của các nhà đầu tư tư nhân tại thị trường các nước đang phát triển Do ảnh hưởng của một loạt cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước đang phát triển trong những năm cuối thập niên 1990, vốn nợ tư nhân được rút khỏi các nước đang phát triển khiến cho dòng vốn vào ròng đạt giá trị -22,7 tỷ USD vào năm 2001 Tuy nhiên,

từ năm 2002, dòng vốn vào ròng đã tăng trở lại với một tốc độ khá nhanh Năm

2004, lượng vốn nợ tư nhân vào ròng ở các nước đang phát triển đạt 70 tỷ USD Trong đó, vốn nợ tư nhân vào ròng ở Trung Quốc là 29,3 tỷ USD.[99]

Một đặc điểm mới trong đầu tư gián tiếp vào các nước đang phát triển đó là dòng vốn từ các nước đang phát triển khác ngày càng tăng [99, tr 107] Các nhân

tổ tạo nên đặc điểm này bao gồm đổi mới công nghệ hồ trợ cho toàn cầu hóa tài chính, thu nhập ở các nước đang phát triển tăng lên, và chính sách mở cửa, tự do hóa ở các nước đang phát triển

3 Theo số liệu của World Bank trong bảng A.9 của Global Development Finance 2006.[99]

Trang 37

2.3 Xu hưởng gần đây của vốn vay ngân hàng nước ngoài ờ các nước đang

phát triển

Sau khủng hoảng tài chính Đông Á, vốn ngân hàng nước ngoài ròng vào các nước đang phát triển giảm nhanh chóng Thậm chí, các nước đang phát triển còn gửi tiền vào các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên, từ năm 2002, tình hình

đã đảo ngược Dòng vốn vay ngân hàng nước ngoài ròng của các nước đang phát triển đã tăng từ mức -2,8 tỷ USD năm 2002 lên 64,4 tỷ USD năm 2005.[99,

tr 45] Những nước vay ngân hàng nước ngoài nhiều nhất trong thời kỳ2002-2005 là Ấn Độ, Ba Lan, Brazil, Chile, Mexico, Nam Phi, Nga, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, và Trung Quốc Mười quốc gia này chiếm tới 70% tổng dòng vốn vay ngân hàng của các nước đang phát triển Hầu hết số vay của Nga và các nước Mỹ Latinh là cho lĩnh vực khai thác và chế biến khí đốt, dầu mỏ Trung Quốc vay với mục đích đa dạng, nhàm phát triển từ khai thác dầu, bất động sản, mua máy bay, Thái Lan vay để phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông và các dịch

vụ Ấn Độ vay để phát triển các sân bay và vì mục đích thương mại (tín dụng

xuất khẩu) Thổ Nhĩ Kỳ cũng vay để phát triển thương mại.

Từ đầu thập niên 1990 tới nay, vốn vay ngân hàng nước ngoài của các nước đang phát triển có hai giai đoạn bùng nổ Giai đoạn thứ nhất vào các năm 1992-1997 Giai đoạn thứ hai từ năm 2002 tới nay Ở cả hai giai đoạn, các điều kiện kinh tế vĩ mô và phản ứng chính sách kinh tế vĩ mô là những nhân tố quan trọng tạo ra sự bùng nổ Tuy nhiên, giữa hai giai đoạn có một số khác biệt quan trọng

Nếu như trong giai đoạn thứ nhất, nhiều nước đang phát triển đi vay ngân hàng nước ngoài bị thâm hụt tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, thì ở giai đoạn

thứ hai, họ lại có thặng đư (nhất là những nước xuất khấu dầu mỏ được lợi từ

giả dầu tăng và các nước đang noi lên ở châu Ả được lợi từ tăng mạnh xuất khẩu).

Nhờ có thặng dư tài khoản vãng lai, các nước đang phát triển đã tích lũy được nhiều hom dự trữ ngoại hối nhà nước Điều này tạo ra độ ổn định tài chính cao hơn cho các nước đang phát triển

30

Trang 38

Bên cạnh đó, nếu trong giai đoạn thứ nhất bùng nổ đi vay ngân hàng nước ngoài đi liền với sự bùng nổ nhu cầu trong nước và lạm phát, thì ở giai đoạn thứ hai chưa thấy có sự song hành như thế Có nghĩa là, ở giai đoạn thứ hai chưa thấy có sự hình thành các bong bóng kinh tế Điều này, lại làm cho độ ổn định tài chính ở các nước đang phát triển cao hơn.

Ngoài ra, trong giai đoạn thứ hai khu vực xí nghiệp của các nước đang phát triển hoạt động tốt hơn so với trong giai đoạn thứ nhất

Như vậy, trong giai đoạn thứ hai, cả độ ổn định cao của khu vực tài chính lẫn thành tích hoạt động của của khu vực xí nghiệp là những đảm bảo tốt cho vay ngân hàng nước ngoài

Trang 39

CHƯƠNG 3 KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIẺN

TRONG VIỆC THU HÚT VÀ ĐIỀU TIẾT s ự DI CHUYỂN

CỦA DÒNG VỐN NƯỚC NGOÀI

3.1 Một sổ kỉnh nghiệm chung rủt ra từ chính sách thu hút và điều tiết của

các nguồn vốn nước ngoài của các nước đang phát triển

3.1.1 Tạo dựng môi trưởng kinh tế vĩ mô ấn định và nhất quán

Nghiên cứu của Alfaro et al (2005) chi ra rằng những chính sách kinh tế vĩ

mô méo mó có thể cản trờ thu hút vốn đầu tư nước ngoài.[11] Điều hành chính sách kinh tế vĩ mô không tốt thường hay xảy ra ở các nước đang phát triển Chính sách kinh tế vĩ mô méo mó có thể gây ra bất ổn định kinh tế vĩ mô Những dấu hiệu của một môi trường kinh tế vĩ mô bất ổn định và thiếu nhất quán, như tăng trưởng tín đụng nội địa nhanh quá, tăng trưởng tiêu dùng nội địa nhanh quá, thâm hụt tài khoảng vãng lai lớn quá, lạm phát trong nước tăng tốc,

tỷ giá hối đoái thực tế tăng, giá bất động sản nóng, tiền gửi nước ngoài của hệ thống ngân hàng gia tăng, tỷ lệ vốn đầu tư ngắn hạn trong tổng vốn đầu tư nước ngoài tăng, dự trữ ngoại hối nhà nước không đủ, cơ cấu tiền tệ và kỳ hạn của nợ công, nợ khu vực tài chính, nợ khu vực doanh nghiệp không hợp lý, tỷ lệ thương mại xấu đi sẽ làm tăng đánh giá rủi ro của các nhà đầu tư, nhất là những nhà đầu

tư thể chế, và do đó sẽ khiến họ mất incentive đầu tư vào nền kinh tế

Một nền kinh tế với chế độ tỷ giá hối đoái cố định hay thả nổi tự do dẫn tới việc theo đuổi một chính sách tiền tệ nới lỏng đều dễ bị tổn thương trước tấn công đầu cơ

Những nền tảng kinh tế vĩ mô thiếu nhất quán (thám hụt ngân sách guốc

gia quá mức bình thường và trong thời gian dài, lạm phát tăng tốc theo thời gian, tín dụng được khuếch trương không ngừng) sẽ là tiền đề cho những cuộc

tấn công đầu cơ

Nợ công cộng phải được khống chế trong một giới hạn hợp lý, với kỳ hạn

và cơ cấu tiền tệ của nó phải được quản lý thận trọng Nợ quá mức của khu vực tài chính, hoặc khu vực xí nghiệp hay khu vực hộ gia đình đều dẫn tới nợ nước

32

Trang 40

ngoải gia tăng khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại về một cuộc khủng hoảng nợ.

Một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và nhất quán có tác dụng tích cực đối với thu hút vổn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vay nước ngoài

3.1.2 Đổi mới chỉnh sách thu hút đầu tư trực tiếp

Các nước đang phát triển vẫn thường sử dụng các ưu đãi đầu tư dưới hình thức miễn, giảm thuế, giảm thời kỳ khấu hao, v.v Đây là một yểu tố quan trọng trong chiến lược thu hút FDI ở một sổ nước đang phát triển, nhất là các

nước muốn thu hút FDI theo định hướng xuất khẩu Các hình thức “quy chế

công ty tiên phong” hay “ngành mũi nhọn” thường được sử dụng làm cơ sở để

cấp những lợi ích có tác dụng khuyến khích Chúng không chỉ nhằm thu hút nhiều FDI hom mà còn nhiều FDI chất lượng cao hơn

Singapore là nước đã và đang sử dụng thành công các ưu đãi (một thời kỳ

miễn thuế) có mục tiêu để khuyến khích sự tham gia sâu rộng của các TNC vào

một sổ ngành nhất định, nhất là những ngành công nghệ cao và các ngành có năng lực xuất khẩu Malaysia cũng dành một thời kỳ miễn thuế cho những công

ty nào đáp ứng được các điều kiện về quy chế tiên phong Những dự án FDI có nội dung công nghệ cao và giá trị gia tăng cao sẽ được chính phủ Malaysia dành cho nhiều ưu đãi Trung Quốc cũng dành thời kỳ có thuế suất doanh nghiệp thấp cho những chi nhánh công ty nước ngoài nào cam kết hoạt động lâu dài trên 10 năm ở Trung Quốc hay đăng ký hoạt động trong các khu chế xuất và khu phát triển công nghệ của nước này Một số nước lại chỉ dành các ưu đãi cho những

dự án FDI trong các ngành phi truyền thống nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia Nhất là gần đây khi mà FDI chuyển dịch sang khu vực dịch vụ,

các dự án FDI vào khu vực dịch vụ {du lịch, xây dựng văn phòng, dịch vụ kinh

doanh .) ở nhiều nước đang phát triển nhận được nhiều hình thức ưu đãi khác

Ngày đăng: 18/03/2021, 15:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Thọ Nam chủ nhiệm (2006), “Hội nhập và phát triển kinh tế đổi ngoại phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập và phát triển kinh tế đổi ngoại phục vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010” "Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
Tác giả: Đoàn Thọ Nam chủ nhiệm
Năm: 2006
2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2006), “Khai thác tiềm năng tài chính trung và dài hạn từ các tổ chức hỗ trợ phát triển song phương cho phát triển kinh tế của Việt Nam: trường hợp ngành ngân hàng”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, mã sổ VNH2004.01 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác tiềm năng tài chínhtrung và dài hạn từ các tổ chức hỗ trợ phát triển song phương cho pháttriển kinh tế của Việt Nam: trường hợp ngành ngân hàng”
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Năm: 2006
3. Nguyễn Hồng Sơn chủ biên (2005), Điều tiết sự di chuyển của dòng vắn tư nhân giản tiếp nước ngoài ở một sổ nước đang phát triển, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tiết sự di chuyển của dòng vắn tư nhân giản tiếp nước ngoài ở một sổ nước đang phát triển
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn chủ biên
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
7. Todaro, Michael p. (1998), Kinh tế học cho thế giới thứ ba, Trần Đoàn Kim, Nguyễn Quang Đức, Đặng Như Vân, Nguyễn Lâm Hòe biên dịch từ tiếng Anh, Nxb Giáo dục, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học cho thế giới thứ ba
Tác giả: Todaro, Michael p
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Adewumi, Sarumi (2006), “The Impact of FDI on Growth in Developing Countries: An African Experience,” available on-line at http://www.diva-portal.org/diva/getDocument7um nbn se hi diva-711-1fulltext.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of FDI on Growth in DevelopingCountries: An African Experience
Tác giả: Adewumi, Sarumi
Năm: 2006
9. Aggarwall R., Klapper L. and Wysocki p. (2003), “Portfolio Preferences of Foreign Institutional Investors,” Policy Research Working Paper Series 3101, The World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: Portfolio Preferences of Foreign Institutional Investors,”
Tác giả: Aggarwall R., Klapper L. and Wysocki p
Năm: 2003
10. Aizenman, J. and Noy I. (2005), “FDI and Trade ~ Two Way Linkages?” NBER Working Paper No. 11403, June Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI and Trade ~ Two Way Linkages?” "NBER Working Paper No. 11403
Tác giả: Aizenman, J. and Noy I
Năm: 2005
11. Alfaro, L., Kalemli-Ozcan, s. and Volosovych, V. (2005), “Capital Flows in Globaized World: The Role of Policies and Institutions,” NBERWorking Paper, No. W11696, October Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital Flows in Globaized World: The Role of Policies and Institutions,” "NBER Working Paper, No. W11696
Tác giả: Alfaro, L., Kalemli-Ozcan, s. and Volosovych, V
Năm: 2005
12. Alvin G. Wint, Densil A. Williams (2002), “Attracting FDI to developing countries: A changing role for government?” International Journal o f Public Sector Management, Vol. 15, No. 5, pp. 361-374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Attracting FDI to developing countries: A changing role for government?” "International Journal o f Public Sector Management
Tác giả: Alvin G. Wint, Densil A. Williams
Năm: 2002
13. Arena, M., Reinhart, c . and Vazquez, F. (2006), “The Lending Channel in Emerging Economics: Are Foreign Banks Different?” NBER Working Paper No. 12340 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Lending Channel in Emerging Economics: Are Foreign Banks Different?”
Tác giả: Arena, M., Reinhart, c . and Vazquez, F
Năm: 2006
14. Armbrecht, Ross F.M. (2003), “Siting Industrial R&D in China: Notes from the Pioneer,” paper presented at Center for International Science and Technology Policy, The George Washington University, March 12, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Siting Industrial R&D in China: Notes from the Pioneer
Tác giả: Armbrecht, Ross F.M
Năm: 2003
15. Asian Development Bank (2004), “Foreign Direct Investment in Developing Asia,” Asian Development Outlook 2004, Manila Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foreign Direct Investment in Developing Asia,” "Asian Development Outlook 2004
Tác giả: Asian Development Bank
Năm: 2004
16. Ayako Ariga & Chih Chia Lin (2005), “Vietnam: Mobilize the People to Sustain Boom,” SPP556 Country Analysis Paper, December, available on-line athttp://www-personal .umi ch ■ eduA~kathrvnd/V i etnam .pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam: Mobilize the People to Sustain Boom,” "SPP556 Country Analysis Paper
Tác giả: Ayako Ariga & Chih Chia Lin
Năm: 2005
17. Beck, T., Demirguc-Kunt, A. and Levine, R. (2004), “Finance, Inequality and Poverty: Cross-country Evidence,” NBER Working Paper 10979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Finance, Inequality and Poverty: Cross-country Evidence,”
Tác giả: Beck, T., Demirguc-Kunt, A. and Levine, R
Năm: 2004
18. Bekaert, G. and Harvey, c . (1998), “Capital Flows and the Behavior of Emerging Market Equity Returns,” NBER Working Paper Series No.6669 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Capital Flows and the Behavior of Emerging Market Equity Returns,”
Tác giả: Bekaert, G. and Harvey, c
Năm: 1998
19. Bhagwati J., (1998), “The Capital Myth: The Difference between Trade in Widgets and Dollars,” Foreign Affairs, Vol. 77, pp. 7-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Capital Myth: The Difference between Trade in Widgets and Dollars,” "Foreign Affairs
Tác giả: Bhagwati J
Năm: 1998
5. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định 290/2006/QĐ-TTg.6. VnExpress,http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/Chung-khoan/2007/05/3B9F5D3B Link
69. Marino, Andrea (2000), The Impact of FDI on Developing Countries Growth: Trade Polic Matter, available on-line athttp://smve2Q02.univ-parisl.fr/Drogram/Daper/dl mar.pdf 70. Mercer Human Resource Consulting (2004) Link
81. Parthapratim, Pal (2006), Foreign Portfolio Investment, Stock Market and Economic Development: A Case Study of India, available on-line at http://www.policvinnovations.org/ideas/policv librarv/data/o 1408/ res/id=sa Filel/Partha ACDC Paper.pdf Link
98. Unido - Field Office Vietnam 0 ODA and Aid Coordination, http://www.unido.org/doc/40675 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w