Nhìn lại quá trình phát triển có thể thấy, từ một "cơ thể phân bào" - Đàng Trong là vùng đất của những con người mới, trong một không gian xã hội mới và một thời đoạn lịch sử mới.. Với s
Trang 1MODÈLES DU DÉVELOPPEMENT ÉCONOMIQUE ET SOCIAL DE LA
NHÌN LẠI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÀNG TRONG THẾ
En revisitant son processus de développement, on peut trouver que, issue d’une « division cellulaire », la Cochinchine est le territoire des hommes nouveaux dans un espace sociale nouvelle et dans une nouvelle époque historique La terre et les hommes d’ici nous font voir un nouveau modèle pour les comportements de caractère explorateur malgré sa dérivation d’un ancien modèle
Dans la réalité de l’histoire, « l’époque de la Cochinchine » est une période de temps assez complexe avec des croisements La vie « à deux visages cachées » ont des impacts sur la vie de l’intérieur jusqu’à l’extérieur des demeures des Seigneurs: on accepte la réalité tout en essayant de lutter contre la domination traditionnelle La population est soumise à la domination des régimes nouveaux et anciens en essayant de se libérer des règlements de l’Etat pour retourner aux coutumes traditionnelles Dans les régions qui ont été vietnamisées les règlements officiels sont demandés selon des cadres restreints du Confucianisme et des avis des conquéreurs De même, le processus d’acquisition et d’adaptation s’est réalisé avec des ouvertures accompagnés des réticences, d’un état d’esprit instable dans les efforts de s’évader en même temps que les tentations de rapprochement… c’est le défit dans le traitement des situations socioculturelles en générale des Seigneurs Nguyen
Cependant, les Seigneurs successeurs d’une part ont hérité des résultats de leurs prédécesseurs,
et ont été éduqués selon des modèles du Confucianisme qui va du système de concentration partielle des pouvoirs (concentration proche au peuple) au système de concentration des pouvoirs au plus haut degré, d’autre part ont dû peser le pour et le contre pour exister dans les conditions favorables et les nouvelles situations
1 Institut de l’Histoire, Institut de Science sociale du Vietnam
Trang 2
C’est une région d’ouverture qui a nourri des hommes de talent comme Đào Duy Từ mais qui a
vu aussi naître Trương Phúc Loan, lettré ambitieux, produit de l’ancien système féodal ou, d’une vision plus large, du modèle de « Grande tradition » Le déclin de l’autorité de la Cochinchine pose plusieurs problèmes à étudier, parmi lesquels on doit insister sur la politique dynamique, flexible des Seigneurs successeurs, surtout le retour au modèle de l’agriculture traditionnelle ou la combinaison inefficace entre le commerce et l’agriculture, politique qui contient des risques potentiels accumulés depuis le 18ème siècle, a entrainé la chute du régime après 200 ans d’existence
Le temps a changé, une demande qui a été réalisée pour devenir une réalité n’est plus une demande à l’heure actuelle Avec l’évolution de l’histoire, devant la nouvelle tendance du développement de la région et de toute une époque, le retour à un modèle ancien et traditionnel-modèle politique et idéologique qui a été rétabli et renforcé sous la dynastie Nguyen (1802-1945) malgré des épreuves, des moments de faiblesse et de chavirement dans le passé, est une des causes principales qui ont entrainé des conséquences historiques Ainsi le choix d’un modèle de développement a-t-il encore
des significations à présent et dans l’avenir
Tóm tắt
Quá trình tồn tại và phát triển của Đàng Trong là một hiện tượng chưa từng diễn ra và chỉ xuất hiện duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Lần đầu tiên việc nhu cầu phát triển đã hiện thực hóa, phù hợp với đặc điểm và xu hướng của thời đại, và thực tế đã được thực thi rất thành công trong thời gian đầu ở Đàng Trong
Nhìn lại quá trình phát triển có thể thấy, từ một "cơ thể phân bào" - Đàng Trong là vùng đất của những con người mới, trong một không gian xã hội mới và một thời đoạn lịch sử mới Đất và người nơi đây cho thấy một chuẩn hệ hành xử mang tính chất khai phá, tuy trong một dị bản mô hình cũ
Từ thực tế lịch sử, "Thời đại Đàng Trong" là một thời gian hết sức phức tạp, đan xen Cuộc sống hai mặt ẩn đã chi phối suốt cuộc sống từ trong phủ chúa ra ngoài dân chúng: cố gắng chấp nhận thực tế, lại vừa đấu tranh với truyền thống áp chế Người dân chịu sự cai trị của chính quyền mới, cũ, nhưng cũng cố gắng thoát ra ràng buộc của định chế nhà nước, quay về với tập tính cổ xưa Ở những vùng vốn đã Việt hóa cao độ đòi hỏi định chế chính thống, theo khuôn khổ chật hẹp của Nho giáo ở ý chí của kẻ đi chinh phục Hay như quá trình tiếp thu, tiếp biến cũng trên những tâm trạng vừacởi mở, e
dè, tâm lý bất ổn cố gắng thoát khỏi lại vừa bị lôi cuốn chế ngự Đó là thách thức trong việc xử lý và ứng đối với những cảnh huống văn hóa - xã hội nói chung của các chúa Nguyễn
Tuy vậy các chúa về sau, một mặt được rèn luyện, thừa hưởng thành tựu của tiên chúa, được giáo dục theo khuôn mẫu nho giáo trong bộ máy từ tập quyền bộ phận (tập quyền-thân dân) đến tập quyền cao độ; mặt khác các chúa sống điều kiện thuận lợi, trong bối cảnh mới lại phải cố gắng cân nhắc để tồn sinh Là vùng đất mở, nơi dung dưỡng nhân tài như Đào Duy Từ nhưng cũng sản sinh ra Trương Phúc Loan đậm chất một nho quan tham lam, sản phẩm của chế độ phong kiến cũ, hay rộng hơn là mô hình của "truyền thống lớn" (great tradition) Sự suy tàn của chính quyền Đàng Trong đặt
ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu; trong đó, có thể nhấn mạnh đến những chính sách năng động, linh
Trang 3hoạt của các chúa tiếp sau, nhất là việc trở về với mô hình kinh tế nông nghiệp truyền thống hay sự kết hợp không hiệu quả giữa thương nghiệp với nông nghiệp, chính sách ẩn chứa mối nguy tiềm tàng, tích
tụ nhất là từ đầu thế kỷ XVIII dẫn đến sụp đổ vỡ sau hơn 200 năm tồn tại
Thời thế thay đổi, một nhu cầu vốn được hiện thực hóa tới một hiện thực đến nay không còn là nhu cầu Với sự biến thiên của lịch sử dân tộc, trước xu hướng phát triển mới của khu vực và thời đại, việc trở về mới mô hình cũ truyền thống - mô hình chính trị - tư tưởng dù đã bị thử thách, chao đảo, suy yếu những vẫn không bị sụp đổ, mà lại được phục hồi, củng cố dưới triều Nguyễn (1802-1945) là một trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến nhiều hệ lụy lịch sử Thiết nghĩ việc lựa chọn mô hình phát triển vẫn có ý nghĩa trong hiện tại và tương lai
1 Bước ngoặt lịch sử giữa thế kỷ XVI
Các nguồn chính sử (và tư\dã sử) đều cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) với câu sấm
nổi tiếng "Hoành Sơn nhất đái - (Khả dĩ) vạn đại dung thân"2 là tác giả cho một thay đổi mà sau này
lịch sử đã cho thấy tầm mức ảnh hưởng của nó
Các nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được thực hiện trong nhiều năm qua nhất là nhân dịp kỷ niệm 400 và 500 năm ngày mất Các trước tác của ông phần nhiều được thể hiện bằng những sáng tác thơ văn, qua đó thấy được con người, cuộc đời và bối cảnh Đại Việt hiện tồn Dễ dàng nhận thấy ở Nguyễn Bỉnh Khiêm một con người điển hình trong bối cảnh cũng rất đặc biệt Nguyễn Bỉnh Khiêm là con người của thời đại, do thời đại sản sinh, một thời đại tao loạn, nội chiến Như một định đề tất yếu, trong cảnh huống đó tất dẫn đến sự chuyển biến cho dân tộc với những vận động nội tại cộng
hưởng yếu tố ngoại sinh mạnh mẽ Nhưng cần lưu ý là Nguyễn Bỉnh Khiêm đã góp phần tạo dựng lên
một thời đại: "giữ chùa thờ Phật được ăn oản", "Cao Bằng dẫu nhỏ cũng có thể hưởng phúc lâu được
vài đời" và "Hoành Sơn nhất đái, [khả dĩ] vạn đại dung thân"
Trong thời tao loạn, thế giới của nho sĩ-quan liêu (hiển nho hay ẩn nho) định hình nên những
tính cách kẻ sĩ3 Và, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà Nho, thấm nhuần đạo đức nơi 'cửa Khổng sân
Trình', một nho sĩ-quan liêu (hiển nho và ẩn nho) (khá) điển hình Phò Mạc (làm quan dưới triều Mạc),
người, Nguyễn Thiếp với sự nghiệp dạy dỗ trồng người Xem cụ thể Nguyễn Thừa Hỷ: Về nhân cách người nho sĩ-quan
liêu thời Lê-Trịnh Báo cáo Hội thảo quốc tế Việt Nam lần III: Việt nam - Hội nhập và phát triển Hà Nội, tháng 12-2008
Trang 4giúp họ Trịnh, rồi họ Nguyễn Không theo Mạc hẳn (nhiều lần từ quan), không về làm quan ở triều Trịnh hay Nam tiến cùng họ Nguyễn Nguyễn Bỉnh Khiêm, với những phẩm chất trội vượt, đã vượt qua thời đại, thể hiện thành công của một cách sống Đó phẩm cách của một nho sĩ thời tao loạn độc đáo,
Lê-chẳng giống ai, nhưng giống mọi người vì học thuyết hai mặt, chiết trung mang tính nhị trùng chăng!
Cũng chất chứa nỗi niềm của kẻ sĩ, chỉ biết dãi bày qua những áng thơ văn ngút trời xanh!
Cả Nguyễn Bình Khiểm và Nguyễn Hoàng chưa thể hình dung ra hết phần đất ở bên kia
"Hoàng Sơn" hay nói đúng hơn là trong tâm thức của họ dường như nó "đáng sợ hơn là đáng ở"
"Thoạt kỳ thủy, đấy chỉ là một sự trốn tránh, một sự chạy trốn để bảo toàn tính mạng của ông Hai Hoàng"4 Dường như họ đồng cảm trong việc nhìn nhận vùng đất phương Nam "chỗ đất hiểm trở xa khơi", nhưng đó là vùng đất tự do "miền đất hứa" một "Tân thế giới" Vậy tri thức về xứ sở đó đã khiến Nguyễn Hoàng "lập tức Nguyễn Hoàng tâu với chị" và Nguyễn Bỉnh Khiêm gặp nhau? Với Nguyễn Hoàng đang trong tình thế hiểm nghèo "Trịnh Kiểm có ý ám hại"5 thì có thể hiểu được, nhưng xuất
phát từ đâu Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đưa ra lời "sấm truyền" mang tính phi-nho như vậy
Trong một xã hội loạn lạc, khi hệ giá trị Nho giáo sa sút và ngày càng bị chỉ trích thì cũng là lúc tín ngưỡng dân gian hòa quyện trong Đạo giáo, tín ngưỡng dân gian phát triển hơn bao giờ hết ở thế kỷ XVI-XVIII Ngoài ra, đây là thời kỳ có thể nói là phát triển đến cao độ của đủ loại niềm tin, tín ngưỡng, với đủ cấp độ hiện sinh Trong triều ngoài nội thì đỡ nghẹt thở hơn thời độc Nho, ngoài "thiên hạ" thì thôi đủ mọi kiểu, thờ cúng đủ loại thần thánh nội ngoại sinh, hỗn hợp "tiền thần, hậu Phật, tiền Phật, hậu thần"
Tất cả những mô hình trên chỉ mang tính chất minh họa, sự đan xen và tương tác luôn diễn ra,
đó chỉ là sự co dãn của một xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XII-XVIII, trong đó, "ở thời loạn thì các tư tưởng phi Nho càng phát triển và đầu thế kỷ XVI khi Trạng Trình còn trẻ, đã có đủ thứ "lời sấm được tung ra thành bài hát, lời đồn trong thiên hạ"6
Chính sử chép về biến động lịch sử này không nhiều Cũng như khi đọc lại chính sử (và tư sử) đều không có nhắc tới lời phê hành động "bày\mách mưu" này của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nếu đặt như ngược lại, việc nhà Lê-Trịnh tiêu diệt họ Nguyễn và thiết lập chính quyền Lê hoặc Trịnh như sau này nhiều khả năng hành động này của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ nhận được những lời công kích, phê phán của sử quan triều Lê (Trịnh)
4 Trần Quốc Vượng: Dặm dài đất nước Tập II Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, tr 82
5 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2005, tr 275
6 Trần Quốc Vượng: "Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bối cảnh văn hóa Việt Nam thế kỷ XVI", trong Bộ VH-TT và
TT - Viện KHXH Việt Nam: Nguyễn Bỉnh Khiêm - Danh nhân văn hóa Hà Nội, 1991
Trang 5Trở lại vấn đề cần nghiên cứu, cho đến trước khi Nam tiến, Nguyễn Hoàng đã phần nào có được hiểu biết về vùng đất phương Nam sau những lần viễn chinh cùng họ Trịnh chống Mạc, hơn nữa
"Bấy giờ xứ Thuận Hóa mới dẹp yên, tuy nhà Lê đã đặt tam ty (Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) và phủ huyện
để cai trị, nhưng nhân dân vẫn chưa một lòng Kiểm đương lấy làm lo Lòng dân vẫn còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc"7 Còn Nguyễn Bỉnh Khiêm, cho đến năm 45 tuổi [ta] (năm 1535), mới xuất chính, đỗ Trạng nguyên, làm quan trải ba triều Mạc Thời gian trước đó, Bỉnh Khiêm dành nhiều cho việc học, quan sát, chiêm nghiệp thế sự, cuộc đời "An Nam Lý học hữu Trạng Trình"8, dưới
góc độ tiên tri lý học, vận dụng chữ thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thành công với họ Mạc, họ Trịnh, còn
bản thân ông "Tiên cơ hà dã thán lương cung", không bỏ Mạc (chỉ xa Mạc), cũng chẳng theo Lê\Trịnh hay Nguyễn Rất khó biết Nguyễn Hoàng ngay từ đầu đã hình dung ra việc mô hình đất nước thành hai miền chưa9, nhưng chắc chắn càng tiến sâu vào phương Nam, những điều chưa biết, hay chưa có điều kiện thẩm định càng củng cố quyết tâm "xẻ đôi sơn hà"10 Trong khi đó, khuynh hướng Nam - Bắc là nằm trong tính toán cục diện của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Lời Sấm ký Trạng Trình không
phải là kết quả của sự tiên tri-tiên nghiệm mang mầu sắc bí ẩn mà là "lời tiên tri của một người tinh
thông Dịch lý, biết suy nghiệm sự vật theo quy tắc của Dịch học"11,"hiểu sâu nghĩa lý Kinh dịch"12 hay
có tác giả cho là "theo quy luật biện chứng thô sơ của Dịch học"13 Sự gặp gỡ của hai ý tưởng, cùng số phận lịch sử ở phương diện nào đó đưa đẩy, đã tạo ra một bước ngoặt lịch sử đưa đất nước trải qua một thời kỳ Nam - Bắc, Đàng Trong - Đàng Ngoài phân chia lần thứ nhất, mở ra quá trình Nam tiến mạnh
mẽ lớn nhất trong lịch sử dân tộc
7 Đại Nam thực lục Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2004, tr 27-28
8 "Sứ nhà Thanh là Chua Xán cũng khen: Người Lĩnh Nam biết Lý học chỉ có ông Trình Tuyền [hầu] Phan Huy Chú: Lịch
triều hiến chương loại chí Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006 Phần: Nhân vật chí.
9 Chúng tôi cho rằng Nguyễn Hoàng chưa thể nghĩ xa hơn đến việc cát cứ sau này Lúc đó, vấn đề tiên quyết của Nguyễn Hoàng là tránh họa sát thân nếu còn ở lại Trung đô
10 Quan điểm đó được Nguyễn Hoàng bộc lộ trước khi lâm chung: "Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành Sơn)
và sông Gianh (Linh giang) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch bi sơn) vững bền Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời Vì bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn
của ta" Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 37
11 Đỗ Văn Hỷ: "Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nhà tiên tri hay nhà Lý học?", trong Bộ VH-TT và TT-Viện KHXH Việt Nam:
Nguyễn Bỉnh Khiêm - Danh nhân văn hóa Hà Nội, 1991
12 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí Sđd, phần: Nhân vật chí
13 Lê Thanh Thịnh: "Trạng Trình và những yếu tố của khoa học dự báo", trong Bộ VH-TT và TT - Viện KHXH Việt Nam:
Nguyễn Bỉnh Khiêm - Danh nhân văn hóa Hà Nội, 1991
Trang 62 Lựa chọn mô hình và chính sách phát triển
Trong công cuộc xây dựng một chính quyền mới, vấn đề đối với họ Nguyễn lại mang đặc thù hết sức riêng biệt Không phải là một tiểu vương quốc, không thể tự lập ra một chính quyền riêng mặc
dù họ Nguyễn muốn làm điều đó; thứ nữa, các điều kiện cần thiết cho việc quản lý lại thiếu thốn chưa
có bất cứ một tiền đề điều kiện nào Trong quãng thời gian đó, vấn đề bao trùm vẫn là đối nội hay thế ứng xứ với chính quyền trung ương Lê\Trịnh Mặt khác, trong bối cảnh không gian mới, tiếp biến với
"những trung tâm văn hóa có quá khứ huy hoàng"14, họ Nguyễn cũng phải dần từng bước họ Nguyễn trực tiếp xử lý các vấn đề bên ngoài phát sinh và va chạm với "cây đời" thực tiễn, nói cách khác đó là những vấn đề thuộc yếu tố nội sinh chi phối và ngoại sinh hết sức sống động
Trước hết, cần khẳng định ngay Nguyễn Hoàng xin vào được trấn vùng Thuận Hóa với mục tiêu cá nhân-dòng họ Trong bản thân ý tưởng của họ Nguyễn này, vào đó với hai mục tiêu bảo toàn tính mạng (an) và hy vọng có thể cầm cự được ở đây (lo) Hơn nữa, sử liệu Việt Nam không có thấy nhiều những hoạt động cụ thể của Nguyễn Hoàng ở đây, những qua những ghi chép đó có thể nhận thấy một thức tế rất là việc xác định một đường lối đối nội và ngoại là vấn đề nan giải Nguyễn Hoàng
"là một người khôn ngoan mà lại có lòng nhân đức"15, nhưng dường như họ Nguyễn sẽ gặp khó khăn nếu không có vai trò của những bề tôi - quân sự, trong giai đoạn đầu nổi bật nhất là Đào Duy Từ (1572-1634) "có tài văn võ, phàm đã mưu tính trù hoạch gĩ, hễ làm gì thì trúng thời cơ Giúp việc cho nước 8 năm mà công nghiệp rõ ràng, đứng đầu hàng công thần khai quốc"16
Trong tờ biểu, Trịnh Kiểm dâng lên vua Lê Trung Tông, việc cử Nguyễn Hoàng đi trấn đất Thuận Hóa là để bình định vùng đất miền Nam trọng yếu, "phòng ngừa giặc phía Đông" và "phàm mọi
việc đều ủy thác cả, chỉ mỗi năm nộp thuế mà thôi"17, "để cung việc chi dùng cả nước"18 Và trong thời gian đầu, "Đoan quận công thường nộp thuế má, không thiếu năm nào"19
Đối với một tướng 34 tuổi đi trấn thủ một vùng biên cương xa xôi, loạn lạc, nhưng bù lại mọi việc đều có quyền quyết định là những thách thức và thuận lợi cho Nguyễn Hoàng Thực tế cho thấy, từ
14 Tạ Chí Đại Trường, Thần người và đất Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2006, tr 203
15 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, sđd, tr 275
16 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 51
17 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 28
18 Đại Việt sử ký toàn thư Tập 2 Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2006, tr 595
19 Lê Quý Đôn: Phủ Biên tạp lục Nxb VHTT, Hà Nội, 2007, tr 62
Trang 7năm 1593, Trịnh Tùng đã lấy được Thăng Long, Nguyễn Hoàng cũng đưa quân ra Đông Đô "ở hàng 8
năm, giúp Trịnh Tùng để đánh họ Mạc, lập được nhiều chiến công Nhưng mà Trịnh Tùng vẫn có ý
ghen ghét không muốn cho ngài về Thuận Hóa, mà ngài cũng không có dịp gì mà về được"20
Cho đến năm 1600, sử cũ chép "Nguyễn Hoàng ngầm sai bọn Kế quân công Phan Ngạn mưa làm phản giả vờ xin đem quân đi đuổi đánh, rồi đốt hết doanh trại, trốn về Thuận Hóa"21, các nhà nghiên cứu cho rằng đây là mốc đánh dấu thời điểm công khai chống đối đầu tiên của Nguyễn Hoàng [khi đó đã 69 tuổi], vì "từ đó họ Nguyễn bề ngoài thì vẫn giữ nghĩa thân thuộc với nhà Lê, nhưng bề trong thì chuẩn bị để chống cực và cát cứ"22
Tuy nhiên, sau sự kiện đó, họ Trịnh biên thư ngay cho Đoan quận công Nguyễn Hoàng với ý trách tội Bức thư có đoạn "Nhiều lần gửi thư giục cậu [tức Nguyễn Hoàng, cậu của Trịnh Tùng lúc đó] đốc thu tiền thuế, vận tải lương thực để giúp việc chi dùng của nước, cậu thường lấy cớ đường biển giản hiểm mà từ không đợi mệnh lệnh, tự tiện bỏ về, làm dao động lòng dân địa phương, không biết
đó là bản ý của cậu chăng, hay nghe lầm gian kế của bọn phản nghịch nên sai người mang thư đến hành tại bái bẩm, rồi đốc nộp tiền thuế lấy công chuộc tội Nếu không thể thì lấy thuận đánh nghịch, triều đình đem quân đánh có cớ lắm rồi, danh tiết của cậu rồi sẽ ra sao?23 Diễn biến sự kiện sau đó đã
khiến cho mưu kế của Nguyễn Hoàng tan vỡ với hành động được coi là "tùy tiện" của mình: làm nhục
sứ thần, sai quân đến chỗ trọ cướp chiếu thư, rồi đốt nhà trọ của sứ thần Sau sự việc đó, "không có ý ngấp nghé gì nữa"24, "Đoan quận công xin ở đấy để trấn thủ, được y cho"25
Như vậy, trong việc xử lý các mối quan hệ đối nội, họ Nguyễn trong nửa sau thế kỷ XVI đã từng bước xác lập được ảnh hưởng, uy tín ngày càng cao trong triều đình trung ương, biết xử lý sớm những vấn đề phát sinh trong hoàn cảnh hiểm nghèo, nhưng cũng dễ đi đến những quyết định chủ quan,
coi thường, ảnh hưởng đến mục tiêu của mình Sự kiện đầu tiên của thế kỷ XVII đã mở ra một khuynh
hướng ứng xử mới trong một tham vọng cát cứ, cân bằng với chính quyền trung ương
Trong khi chính quyền Đàng Trong đã củng cố được hơn 70 năm, nhưng "thành quách chưa bền vững, quân sĩ chưa luyện tập"26, năm 1629, trong thế mà họ Trịnh thay mặt vua Lê yêu cầu họ Nguyễn
20 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, sđd, tr 276
21 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 687-688
22 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 688
23 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 689-690
24 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 690
25 Lê Quý Đôn: Phủ Biên tạp lục Nxb VHTT, Hà Nội, 2007, tr 63
26 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 44
Trang 8đem quân ra Bắc để đi đánh họ Mạc ở Cao Bằng, mưu thần Đào Duy Từ dự tính rằng nhận sắc mà không đến cũng không được, không nhận sắc thì họ Trịnh có cớ động binh "Chi bằng hãy tạm nhận chọ họ không ngờ để ta chuyên việc phòng thủ, rồi sau dùng kế trả lại, bấy giờ họ không làm gì được ta nữa"27 Sau khi tiên chúa mất được 7 năm (Nguyễn Hoàng mất năm 1613, trấn thủ 56 năm, thọ 89 tuổi), từ năm 1620, Nguyễn Phúc Nguyên đã bỏ nộp phú cống, xây thành có ý cát cứ Năm 1627, Trịnh Tráng dẫn quân chinh phục nhưng không thành28 Với việc họ Trịnh mưu tính triệt hạ sức mạnh, họ Nguyễn đã từng bước vượt khó, đáp ứng nhu cầu binh, vật lực Gánh nặng lên họ Nguyễn Đàng Trong ngày càng lớn, nhưng cũng góp phần tạo động lực mạnh mẽ đáp ứng đòi hỏi qua những chính sách phát triển, khai mở hơn nữa ở đây
Năm sau, 1630, Đào Duy Từ chính thức khuyên chúa Nguyễn dừng việc nộp thuế cho họ Trịnh Thực tế lúc đó, Đàng Trong "đất đai binh giáp lại không bằng một phần mười Đông Đô", theo ý mưu
sư họ Đào, chúa Nguyễn cho đắp lũy Trường Dục, từ chân núi Trường Dục đến bãi cát Hạc Hải, đó là
kế vạn toàn Công việc hoàn thành trong một tháng Ngay sau đó, chúa Nguyễn cử Văn Khuông "trả lại sắc" cho họ Trịnh Tháng 9, chúa Nguyễn đánh chiếm châu Bố Chính (lập dinh Bố Chính), chia sông Gianh làm hai phần Như vậy, cho đến hết năm 1631, lũy Nhật Lệ đã được đắp xong "chia hẳn Nam Bắc Lại đặt xích sắt chắn ngang các cửa biển Nhật Lệ và Minh Linh"29 Từ đó, như sử cũ chép lại
"Chúa cùng Đào Duy Từ ngày đêm mưu tính chống họ Trịnh"30, "bàn tính giữ đất để chống mệnh"31
Ở đây cần lưu ý là, cho đến thời điểm năm 1630 (có ý kiến là từ năm 1627), chúa Nguyễn chưa thực sự có ý định kháng cự họ Trịnh hay đúng hơn là đang dần tình cách thoát dần ảnh hưởng của họ
Trịnh Lệ thần Trần Trọng Kim chép "Khi những đồn lũy đã kiên cố, binh lương đã đủ rồi, chúa Sãi
mới ra mặt không thần phục họ Trịnh nữa, và sai tướng ra chiếm giữ lấy đất Nam Bố Chính Từ đấy
họ Trịnh và họ Nguyễn đánh nhau tai hại trong khoảng 45 năm ở đất Quảng Bình, Hà Tĩnh bây giờ"32 Chắc chắn "Cả đời mình, Nguyễn Hoàng chưa từng ra mặt chống đối Trịnh, nhưng ông đúng là chúa Tiên với nghĩa tạo nền cho con chống Trịnh"33
27 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 44
28 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 711-712
29 Nhật Lệ cửa Đồng Hới, Minh Linh là cửa Tùng Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 48
30 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 48
31 Lê Quý Đôn: Phủ Biên tạp lục Nxb VHTT, Hà Nội, 2007, tr 65
32 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, sđd, tr 283
33 Trần Quốc Vượng: Dặm dài đất nước Tập II Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, tr 82
Trang 9Từ thực tế lịch sử, cuộc chiến giữa hai tập đoàn phong kiến trên diễn ra 7 trận đánh lớn (trước
đó liên minh tập đoàn này đã có 40 cuộc giao tranh lớn nhỏ với nhà Mạc)34 Phải đến cuộc giao chiến lần thứ 5, họ Nguyễn mới chính thức "quyết ý đem quân ra đánh họ Trịnh"35 sau một thế kỷ tích lũy
Trong thời gian đã 7 thập kỷ vào trấn thủ Thuận Hóa, đây là là quãng thời gian không dài song cũng không phải là ngắn với họ Nguyễn Mặc dù ý định chỉ để phòng thân, nhưng chúa Nguyễn cũng ý thức được rằng không tự cường thì tất yếu sẽ bị tiêu diệt, hay họa hoằn có thể lợi dụng sự suy yếu của chính quyền trung ương Hơn nữa, trẳn trở về "phàm cử động gì cũng bị bọn họ kiềm chế, nên tiên vương phải nhẫn nại như thế", trong khi "Nay chúa thượng chuyên chế một phương, quan liêu lại tự quyền cắt đặt, một lời nói ra, còn ai dám trái"36 Việc cho đắp lũy ngăn biệt Đàng Trong - Đàng Ngoài
là một quyết sách chiến lược, từ đó có thể tập trung vào phát triển kinh tế-xã hội, thuận lợi cho việc phòng ngự lâu dài, có hiệu quả
- Tích cực mở rộng phát triển vùng đất phương Nam, thu phục nhân tâm
"Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều yên
cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp Thuyền buôn các nước đến nhiều Trấn trở nên
một nơi đô hội lớn"37 Với dân chúng "dân hai trấn đều cảm lòng mến đức thay đổi phong tục, chợ
không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng"38 Trong thư gửi Nguyễn Hoàng sau sự kiện năm 1600, triều đình Lê\Trịnh đều thừa nhận "vỗ yên dân địa phương thực có công"39
Sau khi trở về năm 1600, Nguyễn Hoàng quyết định gắn bó cơ nghiệp với vùng đất phương Nam Cùng với việc chuyển dinh từ Trà Bát sang Dinh Cát, Nguyễn Hoàng cho dựng Dinh Chiêm, tích cực mở rộng hơn nữa và xác lập quyền lực của mình tại Thuận Quảng, đưa con trai Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn thủ Quảng Nam Năm 1611, quyết định mở cuộc Nam tiến, họ Nguyễn bình định và lập đất Phú Yên, biên giới Thuận Quảng từ đèo Cù Mông đến tận mũi Đại Lãnh
Năm 1627, chúa Nguyễn hỏi Trần Đức Hòa về tình hình trăm họ ở Quảng Nam, Hòa đáp "Chúa thượng rộng ra ân huệ, hiệu lệnh nghiêm minh, trăm họ không ai chẳng an cư lạc nghiệp"40, "thu dùng
34 Nguyễn Danh Phiệt: Việt Nam thời Mạc: Cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai tập đoàn phong kiến Lê-Trịnh và
Mạc Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử 9 (340) - 2004, tr 3-13
35 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, sđd, tr 287
36 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 44
37 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 31
38 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 606
39 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 689
40 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 43
Trang 10hào kiệt, yên ủi nhân dân, cho nên lòng người ai cũng mến phục".41 Trong bản tấu của Nguyễn Danh Thế lên Trịnh Tráng năm 1629 thừa nhận "Nay phương Nam vua tôi hòa thuận, nước giàu binh mạnh,
mà ta thì hàng năm đói kém, quân nhu không đủ"42 Trong hoàn cảnh đó, nói như cố GS Trần Quốc Vượng, "Hoàn cảnh ly tổ tha hương để toàn mạng càng khiến 'Ông Hai' phải biết kiềm chế những tật xấu (nếu có) và phát huy phần tốt đẹp của bản tính mình"43
Trong phương cách ứng xử và cai trị của chính quyền Đàng Trong, có thể tóm lược một số đặc điểm sau đây:
- Lo cho dân cho xứ, Nguyễn Phúc Nguyễn cho "sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu đâu cũng phục", cho nên "đồn lũy chắc chắn, tướng sĩ hết lòng";
- Về mặt kinh tế, ông đã cho đặt "nhà Đồ44, thu các hàng hóa phẩm, giao cho Nội lệnh sử ty giữ"
- Về chính trị-xã hội: nghiêm trị khi "ngai vàng" bị lung lay hay tình hình đất nước giao động:
đã thẳng tay trừng trị hai em làm loạn; tỏ ra khoan hồng và có mưu lược an dân, vỗ về dân, như việc
đánh dẹp người Man hay Cao Miên và bắt được nhiều tù binh, năm 1621 Thực lục ghi: "Quả nhiên bọn
người Man đến cướp, kéo vào cửa động, phục binh nổi dậy, bắt được hết đem về Chúa muốn lấy ấn tín
vỗ về ngừơi đất xa, sai cởi trói ra và cấp cho quần áo lương thực, răn dạy rồi thả về Quân Man cảm phục, từ đấy không làm phản nữa" - Về văn hóa: Là một xứ mới, tứ xứ tụ quần, kẻ thù lẩn khuất45, việc xử lý các mối quan hệ khéo léo đã giúp cho họ Nguyễn trong việc hòa hợp các sắc\chủng tộc, dẫn
tới "dời đổi phong tục"46 Trong thế ứng đối đó, "sự tàn tạ của quyền lực thế tục càng làm tăng độ uy
hiếp tinh thần đối với những người mới đến làm chủ Sự quần tụ cư dân tứ xứ ở Đàng Trong với khối
người Trung Hoa lưu vong, mang đến cho người Việt ly khai các yếu tố mới của một nền văn minh
quen thuộc, nhưng không phải là một loại của chốn triều đình sang cả mà là của một tập hợp thương
nhân không bằng nho gia về mặt triết lý tinh tế, nhiều ý thức tự do hơn, của đám bình dân có tin tưởng
41 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, sđd, tr 275
42 Đại Nam thực lục Tập 1, sđd, tr 44
43 Trần Quốc Vượng: Dặm dài đất nước Tập II Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006, tr 83
44 Nhà đồ: Xứ Thuận Quảng duy không có mỏ đồng, mỗi khi những thuyền buôn Phúc Kiến, Quảng Đông hay Nhật Bản chở đồng đỏ đến bán thì nhà nước thu mua, cứ 100 cân thì trả 40 hay 50 quan tiền"
45 "Nhân dân Thuận Hóa lúc bấy giờ gồm những thành phần rất phức tạp Ngoài những người chăm lo cày cấy, làm ăn, còn
có những người theo nhà Mạc, hoặc khuấy động cho nhà Mạc, những người tù đày, những du đảng, phiêu lưu những quan quân bất mãn họ Trịnh những thổ hào, thổ tù cường ngạnh, nhũng nhiễu lương dân, những người Chăm ở lại" Phan
Khoang: Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001, tr 110
46 Lê Quý Đôn: Phủ Biên tạp lục Nxb VHTT, Hà Nội, 2007, tr 62
Trang 11theo chiều hướng ma thuật, sẵn sàng chống lại bất cứ chính quyền nào không dung chứa một nhân sinh quan như thế"47
Trong thế ứng xử với đạo Kitô du nhập, các chúa tỏ ra không ngăn cấm hay trừng phạt, còn bản thân các quan lại cao cấp tỏ ra có thiện cảm với Kitô giáo, ví như trấn thủ Quy Nhơn ưu đãi Buzomi và đoàn truyền giáo, sứ thần Zegrô tự do theo Kitô giáo, thậm chí sự cởi mở, rộng lượng và hơn hết là bà Minh Đức Vương thái phi, công chúa Ngọc Đỉnh, công chúa Ngọc Liên đã theo đạo Kitô C.Borri có lần khen chúa Nguyễn khéo xử sự trong vụ người ta vu oan cho đoàn giáo sĩ vì "ngài rất quý các cha và trọng người Bồ" Đàng sau đó, C.Borri nhận ra việc "quý các cha", "trọng người Bồ", vì thực ra có thể nói trong giai đoạn này, hai sự việc có ảnh hưởng tương hỗ Nhà chúa muốn có người Bồ tới buôn bán
ở đây thì cũng phải ban ân cho các cha làm tuyên uý Sãi vương cũng cần các giáo sĩ để thương lượng với người Bồ Vì thế trong việc khó xử này, Sãi vương rất khôn khéo, "cho vời các cha vào và rất thân tình nói với các cha…" Trên hết, như nhiều nhận xét của chứng nhân đương thời "thế kỷ XVII, giáo dân ở Đàng Ngoài bị đe dọa hơn ở Đàng Trong, sang thế kỷ XVIII cũng như vậy"48
Khi chưa đi sâu hơn nữa đến bản chất của nhưng chính sách "thu phục nhân tâm", đất Đàng Trong, "nối dài cả sau khi thống nhất ở thế kỷ XIX qua thế kỷ XX, là nơi của những cố gắng tu tập, pha trộn tín ngưỡng"49 Trong ý nghĩa đó, việc lựa chọn và đi đến quyết định giao hòa với văn hóa bản địa
"mượn quan niệm thần thánh của địa phương sẽ mang lại hiệu quả hơn, vì vừa cắt đứt được với quá khứ, vừa thâm nhập với hiện tại, chưa kể những thu hoạch của tương lai"50 là giải pháp tối ưu, phù hợp với tập đoàn ly khai di cư này
- Xây dựng, củng cố chính quyền họ Nguyễn
Năm 1572, sử thần nhà Lê thừa nhận "Hoàng [Nguyễn Hoàng] trị nhậm mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thưởng ban ơn huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn bản bộ, cấm trập những kẻ hung ác"51 Đã được tôi rèn trong môi trường chính trị xứ Bắc, thầu hiếu lòng người buổi tao loạn, hơn ai hết, vị Tiên chúa càng tích cực ổn định xã hội, mong chóng tự cường, do vậy từ khi họ Nguyễn vào trấn thủ, tuy bề ngoài vẫn chưa ra mặt chống đối nhưng bên trong thì hết sức lo sợ đề phòng
47 Tạ Chí Đại Trường, Thần người và đất Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2006, tr 203
48 Charles B.Maybon: Những người châu Âu ở nước An Nam Nxb Thế giới, Hà Nội, 2006, tr 78
49 Tạ Chí Đại Trường, Thần người và đất Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2006, tr 203
50 Tạ Chí Đại Trường, Thần người và đất Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2006, tr 205
51 Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, tr 606
Trang 12Ngay khi vào xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng cho lập dinh ở Ái Tử, còn "quan lại Tam ty do nhà
Lê đặt đều phải theo lệnh chúa"52, nghĩa là thuộc tướng ở ba ty đều do họ Trịnh cắt đặt Năm 1570, Nguyễn Hoàng được kiêm quản thêm xứ Quảng Nam (tổng trấn tướng quân), sau đó rời dinh về Trà Bát Chính quyền vẫn giữ nguyên đơn vị hành chính cũ của họ Trịnh Theo đó, xứ Thuận Hóa gồm 2 phủ, 9 huyện, 3 châu Quảng Nam gồm 3 phủ, 9 huyện53 Biến động chính trị năm 1600 đã làm dẫn đến những thay đổi trên nhiều phương diện Đối với họ Nguyễn, 8 năm ở đất Bắc, đất nước đã bước vào ổn định cũng là lúc Nguyễn Hoàng quyết tâm trở về Thời điểm Nguyễn Hoàng "trốn về" Thuận Quảng bắt đầu những thay đổi rõ rệt với một chính sách cai trị mới hòng dần tách khởi sự ràng buộc của họ Trịnh
Theo đó, Nguyễn Hoàng dời đến Dinh Cát, cho con là Nguyễn Phúc Nguyên trấn thủ Quảng Nam Năm 1604 thay đổi khu vực hành chính bằng việc thay đổi các phủ, huyện Một năm sau khi tiên phụ băng hà, năm 1614 Nguyễn Phúc Nguyên bãi bỏ tam ty, lập ra ba ty mới, cùng với đó là thải hồi các tướng ba ty cũ; sắp đặt lại hệ thống quan chức mới Chính quyền Trung ương Nguyễn ở chính dinh (Dinh Cát) bên dưới là rất nhiều dinh, cắt đặt phiên chế, hoàn thiện giáo dục khoa cử, thuế má, hình thành hệ thống chính quyền Trung ương giai đoạn 1614-174454
Cùng với việc xây dựng, củng cố chính quyền mới, năm 1702, chúa Nguyễn sai sứ sang nhà Thanh cầu phong, nhưng thất bại Năm 1744, chúa Nguyễn bắt đầu xưng vương, từ bỏ tước công của vua Lê, đúc quốc ấn "Quốc vương" thay cho "Tổng trấn tướng quân" hay "Tiết chế thủy bộ chư dinh", đổi ba ty thành lục bộ (lại, hộ, lễ, binh, hình, công) trên đó là 'tứ trụ đại thần', chính thức xây dựng Đàng Trong thành một triều đình riêng "Đến năm giáp-tí (1744) Vũ vương mới xưng vương hiệu đổi phủ ra làm điện, sửa sang phép tắc, và định lại triều phục", "Nhưng người ngoại quốc thường gọi đất
chúa Nguyễn là Quảng Nam quốc Đấy là vì ở Quảng Nam có phố Hội An (Faifo) là chỗ người Tàu và
người các nước ra vào buôn bán, cho nên mới lấy tên Quảng-nam mà gọi"55 Để có thể tiếp tục gia tăng sức mạnh, chúa Nguyễn mở mang vào phía Nam, song cũng từ đó bộ máy quan liêu được bổ mới, ngày càng trở nên cồng kềnh, mang nặng tính quân sự trong thời kỳ đầu Đến lúc này, Đàng Trong được chia thành 12 dinh và 1 trấn (trấn Hà Tiên, đứng đầu là Đô Đốc) Cấp chính quyền địa phương dưới dinh và Trấn là phủ, huyện, tổng, xã (ở đồng bằng) và thuộc (miền núi, ven biển)
Gạt qua những hệ lụy của một bộ máy chính quyền mới như chưa hoàn chỉnh, thống nhất, tập trung, hà lạm nhất là từ nửa sau thế kỷ XVIII trở đi, họ Nguyễn đã từng bước thiết lập vững chắc một
Trang 13chính quyền riêng Trong nhiều thời điểm, chính quyền đó đã phát huy tác dụng tích cực đưa Đàng Trong phát triển mạnh mẽ, hội lưu vào khu vực và thế giới "Còn những công việc họ Nguyễn làm ở phía nam quan trọng cho nước Nam ta hơn cả, là việc mở mang bờ cõi, khiến cho nước lớn lên, người nhiều ra"56
Như vậy, từ thực tiễn lịch sử trên, các nguồn sử liệu của Việt Nam đương nhiên không cho biết tình hình đối ngoại của họ Nguyễn Hay nói đúng ra, chính sách đối nội là nét nổi bật nhất của họ Nguyễn trong thời gian đầu Xin nói thêm là, việc xây dựng củng cố bộ máy chính quyền là một quá trình tổng hợp, hay bộ máy đó chỉ là bề nổi của một cuộc vật lộn của những yếu tố 'vô hình' khác Như một định đề tất yếu, họ Nguyễn là người ngoại, di cư đến và đặt ở vị trí cai trị sẽ đụng độ, va chạm với những yếu tố mới, "khác với nền văn minh quen thuộc"; cho nên, việc hòa nhập, vay mượn, tiếp biến,
áp chế, đồng hóa (với một nên văn minh cao hơn) nền văn hóa bản địa ở cả phương diện kinh tế (hải thương) và tôn giáo - tín ngưỡng (Phật giáo mang màu sắc bản địa) dần được các chúa Nguyễn nhận ra
và thực thi thành công, cho dù ở mức độ, thời điểm, đối tượng không giống nhau Trong thế ứng xử với
"xã hội mới, nền văn hóa mới"57, lúc này yếu tố thần thánh, siêu phàm đã được tính đến như một phương cách để củng cố và chính thức hóa sự cai trị, do vậy, hiện tượng "qua cơn mơ" diễn ra "những cuộc gặp gỡ các vị thần mới và thiết lập mối quan hệ cá nhân với họ"58
Trên thực tế, vốn xuất phát từ tư tưởng quan phương chính thống Nho giáo nên vấn đề đối ngoại là với thiên triều Trung Hoa không được đặt ra cho các "tổng trấn tướng quân" họ Nguyễn Mặt khác, thói quen cũng như nhu cầu chính trị-xã hội không cho phép họ Nguyễn dành tâm trí cho những vấn đề trên Hơn nữa, như chúng tôi đã trình bày ở trên, việc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ diễn ra trên
quy mô không gian và thời gian hết sức đặc biệt Do vậy, những gì gọi là hạn chế, lực cản mang tính
truyền thống đã bị thay thể bởi xu thế mới của thời đại Chính điều này chi phối đến khuynh hướng đối ngoại mới mẻ của chính quyền Đàng Trong
Một số nghiên cứu đã chỉ ra khá mạch lạc 'thế tương tác quyền lực khu vực' của chính quyền Đàng Trong59 Theo đó, chính quyền Đàng Trong được nhìn nhận là một chính quyền mở, nắm chủ động trong thế ứng đối với bên ngoài, trở thành một "thể chế biển" Chính điều kiện đó đã củng cố
56 Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, sđd, tr 327
57 Li Tana cho rằng sự hình thành Đàng Trong không đơn thuần là sự hồi sinh của một dòng họ, mô hình cũ mà là một mô
hình khác Li Tana "Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII, một mô hình khác của Việt Nam Trong Những vấn đề lịch sử
Việt Nam Nguyệt san Xưa và Nay-Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr 186
58 Keith W.Taylor "Nguyễn Hoàng và bước mở đầu cuộc Nam tiến của người Việt" Trong Những vấn đề lịch sử Việt Nam
Nguyệt san Xưa và Nay-Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr 181-182
59 Nguyễn Văn Kim: Xứ Đàng Trong trong các mối quan hệ và tương tác quyền lực khu vực Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,
số 6 (362), tr 19-35